|
Bước Đầu Học Phật THÍCH THANH TỪ
Thường ChiếuẤn Tống - PL. 2543 - 1999 LỜI ĐẦU SÁCH
Chúng tôi viết quyển sách này cho những người mới bắt đầu học Phật. Bước đầu tuy tầm thường song không kém phần quan trọng, nếu bước đầu đi sai, những bước sau khó mà đúng được. Người học Phật khi mới vào đạo không hiểu đúng tinh thần Phật giáo, về sau sẽ hỏng cả một đời tu. Người có trách nhiệm hướng dẫn không thể xem thường kẻ mới học, cần phải xây dựng có một căn bản vững chắc, đi đúng đường hướng của Phật dạy. Hiểu Phật giáo một cách đúng đắn, mới mong thành một Phật tử chân chánh. V́ muốn chỉ lẽ chánh tà để người mới vào đạo khỏi lầm lẫn, nên chúng tôi mạnh dạn chỉ thẳng những điều sai lầm hiện có trong Phật giáo. Làm như thế, không có nghĩa chúng tôi muốn vạch lưng chỉ thẹo cho kẻ khác thấy, mà cốt yếu muốn gầy dựng lại một nếp sống Phật giáo phù hợp với hiện tại và mai sau. Chúng ta sống trong thời khoa học, cần phải truyền bá Phật giáo thích ứng với chân lư gần với sự thật. Bản chất của Phật giáo đă là chân lư, là sự thật, chúng ta đừng làm méo mó khiến kẻ bàng quan hiểu lầm Phật giáo. Với nhiệt t́nh, chúng tôi một bề đả phá những mê tín đang ẩn náu trong Phật giáo, để cho bộ mặt Phật giáo trắng sạch hơn, không c̣n những thứ lọ nhơ làm lem luốc. Tinh thần tồi tà phụ chánh, chúng tôi chịu trách nhiệm những ǵ chúng tôi đă nói và hoàn toàn chịu trách nhiệm với những ai không hài ḷng phiền trách chúng tôi.
Kính ghi Thích Thanh Từ ĐẠO PHẬT
I.- MỞ ĐỀChúng sanh đang ch́m đắm trong biển khổ sanh tử, dong thuyền ra cứu vớt họ là sự ra đời của đạo Phật. Đêm tối vô minh che phủ tất cả chúng sanh, cầm đuốc sáng soi đường cho họ là trách nhiệm của đạo Phật. Đạo Phật đến với chúng sanh trong một niềm khát vọng vô biên, một sự trông chờ tột độ. Nhưng, con thuyền có giá trị cứu mạng khi nào người sắp chết ch́m biết bám lấy nó. Ngọn đuốc là một cứu tinh, khi nào những kẻ lạc đường trong đêm tối khao khát muốn ra. Con thuyền và ngọn đuốc sẽ vô bổ, nếu những kẻ sắp chết ch́m và người lạc trong đêm tối chấp nhận cái ǵ ḿnh đang chịu. Cũng thế, đạo Phật sẽ vô ích với những chúng sanh chấp nhận sanh tử và an phận trong vô minh. V́ thế, đạo Phật có mặt trên thế giới này đă hơn hai ngàn năm trăm năm, c̣n biết bao nhiêu người nh́n nó với cặp mắt xa lạ. Song những kẻ đă nếm được pháp vị, thấy công đức của đạo Phật đối với ḿnh vô vàn không sao kể hết. Thật đúng với câu “Phật hóa hữu duyên nhân”. II.- ĐỊNH NGHĨAĐứng về hành động, đạo Phật là con đường đưa người trở về cố hương giác ngộ. Hoặc đạo Phật là phương pháp giúp người tiến tu đến giác ngộ. Đứng về thực thể, đạo Phật là tánh giác sẵn có của tất cả chúng sanh. Những kẻ phiêu lưu ở tha phương viễn xứ ước mơ khao khát trở về cố hương, đạo Phật là tấm bản đồ vẽ rơ con đường trở về cố hương, do bàn tay của người đồng cảnh ngộ đă trở về đến tận quê nhà, đức Thích-ca Mâu-ni. Nếu ư thức được cảnh khổ của người xa quê, một ḷng quyết chí trở về cố hương được người trao tay cho tấm bản đồ, biết rơ con đường về quê th́ c̣n sung sướng nào hơn. Không cam ch́m sâu trong đêm tối vô minh, người cương quyết tiến lên con đường giác ngộ, nắm vững những phương tiện tiến tu, chắc chắn sớm chiều sẽ được măn nguyện. Đứng trên bờ biển thấy toàn biển đều là sóng, bởi cơn gió mạnh, người ta ngơ ngác không biết làm sao t́m ra nước biển. Nếu đây là sóng th́ nước biển ở đâu ? Những lượn sóng đuổi nhau lặn hụp ḥ hét ầm ́, mặt biển là những cái biến động ấy sao? Người sáng suốt nghe thế, bảo họ rằng: “Chính sóng ấy tức là nước”, “cái biến động kia chỉ là hiện tượng của mặt biển tĩnh lặng”. Hăy ngay nơi sóng, chúng ta nhận ra nước, trên cái biến động biết được thể tịnh. Hiện tướng vô minh và tánh giác cũng thế. Tất cả những vọng tưởng điên đảo là hiện tướng vô minh, vọng tưởng lặng lẽ là tánh giác thanh tịnh. Tuy hai tên hai tướng khác nhau, song không thể rời vô minh t́m được tánh giác, như sóng với nước. Tánh giác là cái thể chẳng sanh chẳng diệt của mỗi con người chúng ta, hằng tàng ẩn trong con người vô thường sanh diệt này, như thể tĩnh lặng của mặt biển sẵn có trên tướng biến động ầm ́. Bởi chúng sanh sẵn có tánh giác mà quên, nên đức Thích-ca thương xót giáo hóa chỉ dạy cho thức tỉnh, đó là đạo Phật. Chủ yếu của đạo Phật là giác ngộ, nên được biểu trưng bằng phóng quang, ngọc minh châu, cây đuốc, ngọn đèn. Nói đến đạo Phật là nói đến giác ngộ; mọi h́nh thức mê tín hiện có trong đạo Phật, do người sau ứng dụng sai lầm, chớ không phải thực chất của đạo Phật. III.- LƯ THUYẾTPhần lư thuyết của đạo Phật rất phong phú, nói chung là Tam Tạng giáo điển, gồm Tạng Kinh, Tạng Luật và Tạng Luận. Tam Tạng này hiện ấn hành có hai văn hệ: Bali Tạng, Hán Tạng. Bali Tạng thuộc Nam truyền Phật giáo, Hán Tạng thuộc Bắc truyền Phật giáo. Ở đây, chúng tôi nói về hệ thống Hán Tạng. Bộ Hán Tạng hiện do Nhật Bản và Đài Loan ấn hành gồm trên năm ngàn quyển. Thật là một kho tàng văn hóa dồi dào, chính những người tu sĩ Phật giáo cũng chưa chắc đă đọc hết. Trong ba Tạng, quan trọng nhất là tạng Kinh, v́ tạng Luận là giải thích lại tạng Kinh, c̣n tạng Luật nói rơ về nghi thức luật lệ của người tu. Trong tạng Kinh tổng quát chia làm ba phần : hệ thống A-hàm, hệ thống Bát-nhă, hệ thống Pháp Hoa, Niết-bàn, Hoa Nghiêm. Hệ thống A-hàm giải thích về triết lư vô thường, khổ, không, vô ngă. Hệ thống Bát-nhă giải thích tự tánh các pháp là Không, chỗ tánh Không ấy là tướng chân thật. Hệ thống Pháp Hoa, Niết-bàn, Hoa Nghiêm giải thích chúng sanh sẵn có tánh giác gọi là Trí tuệ Phật, Tri kiến Phật, Niết-bàn. Tuy nhiên, v́ truyền bá lâu xa khó tránh khỏi những tư tưởng tập tục sai lầm chen lẫn trong chánh pháp. Chúng ta muốn phán định chánh tà, trong kinh có dạy dùng Tứ pháp ấn, Tam pháp ấn, Đệ nhất pháp ấn để ấn định đúng sai. Tứ pháp ấn là vô thường, khổ, không, vô ngă. Tất cả những kinh thuộc hệ thống A-hàm nói không ngoài bốn lư này, nếu nói khác bốn lư này là tà thuyết. Tam pháp ấn là chư hạnh vô thường, chư pháp vô ngă, Niết-bàn tịch tịnh. Đây là trùm cả Tiểu thừa lẫn Đại thừa đều nằm gọn trong ấy. Đệ nhất pháp ấn là Nhất tâm chân như. Phần này chỉ riêng hệ thống Pháp Hoa..., không can hệ đến hai hệ thống kia. Nắm được cái căn bản này, chúng ta tạm biết cương yếu học Phật. Phần lư thuyết của đạo Phật khác hẳn với thuyết lư của những triết gia, học giả khác. Bởi v́ họ dùng suy tư nghĩ tưởng biện thuyết, c̣n đây do đức Phật sau khi giác ngộ thấy lẽ thật như thế, tùy hoàn cảnh trường hợp đem ra chỉ dạy cho người. Người khéo ứng dụng lời Phật dạy vào cuộc sống sẽ được kết quả tốt đẹp, hoàn toàn không họa hại. Cho nên, trong kinh nói “lời Phật nói trước, giữa, sau đều thiện”. IV.- THỰC HÀNHỨng dụng phần lư thuyết trên vào cuộc sống hiện tại, sẽ được kết quả tùy theo khả năng phương pháp ḿnh thực hành. Sự thực hành có chia nhiều thứ bậc: Ngũ thừa, Tam thừa, Nhất thừa. Chữ thừa ở đây ví dụ cỗ xe chở người đi. Từ vị trí con người chở đến con người là Nhân thừa. Từ vị trí con người chở đến quả vị chư thiên gọi là Thiên thừa. Từ vị trí con người chở đến quả vị Thanh văn gọi là Thanh văn thừa. Từ vị trí con người chở đến quả vị Duyên giác gọi là Duyên giác thừa. Từ vị trí con người chở đến quả vị Bồ-tát gọi là Bồ-tát thừa. Đó gọi là Ngũ thừa. Bỏ hai phần Nhân thừa và Thiên thừa c̣n lại ba thừa sau gọi là Tam thừa. Từ vị trí con người phàm phu chở thẳng đến quả vị Phật gọi là Phật thừa hay Nhất thừa. Từ vị trí con người đến vị trí con người mai hậu là, ứng dụng tu hành Tam qui Ngũ giới và những nề nếp sống hiền lành chân thật của con người. Từ vị trí con người đến quả vị chư Thiên, ứng dụng pháp Thập Thiện vào đời sống tu hành và Thiền định từ Sơ thiền đến Tứ thiền. Từ vị trí con người đến quả vị Thanh văn, ứng dụng pháp Tứ đế để tu hành. Từ vị trí con người đến quả vị Duyên giác ứng dụng pháp Thập nhị nhân duyên tu hành. Từ vị trí con người đến quả vị Bồ-tát ứng dụng pháp Lục độ tu hành. Từ vị trí con người phàm phu thẳng đến quả vị Phật ứng dụng phương pháp “tức tâm là Phật” tu hành. Ví như chúng ta muốn đi đến vị trí nào, khi ra bến xe liền t́m xe đi về vị trí ấy leo lên, sẽ đưa chúng ta đi đến đích như chỗ mong muốn. Đạo Phật cũng thế, tùy theo sở thích của người mà lập nhiều pháp môn, ưng pháp môn nào ứng dụng tu hành đều kết quả đúng như sở nguyện. Đó là phương tiện tùy cơ của đức Phật trên phương pháp giáo hóa chúng sanh. Nếu nói thẳng bản hoài của Ngài, chỉ muốn chúng sanh thành Phật là mục tiêu duy nhất. Đao Phật truyền sang Trung Quốc lại chia thành nhiều tông phái, mỗi tông phái y cứ trên những bộ Kinh hay Luận làm chủ yếu cho sự tu hành. Nếu nói rộng có cả thảy mười tông, nói hẹp theo sự truyền bá hiện tại có bốn tông. Hiện nay c̣n bốn tông đang lưu hành là Thiên Thai tông, Thiền tông, Mật tông, Tịnh Độ tông. Phật giáo Việt Nam chịu ảnh hưởng Phật giáo Trung Quốc, sự lưu hành các tông phái cũng tương tợ Trung Quốc. V.- TRUYỀN BÁỞ đây nói truyền bá là đi thẳng vào phương pháp, không căn cứ trên lịch sử. Những lời dạy của đức Phật được gọi là Kinh, bởi hai lư do: hợp lư và hợp cơ. Một chân lư dù cao siêu đến đâu, nếu không ứng dụng được vào cuộc đời, chân lư ấy trở thành không nền tảng, chỉ lơ lửng trên không trung. Chân lư không áp dụng được cho người sẽ là vô ích. Truyền bá sự vô ích thật là làm một điều vô nghĩa. Lời Phật dạy đúng chân lư gọi là hợp lư, song lời dạy ấy cũng phải hợp căn cơ tŕnh độ của con người đương thời th́ họ ứng dụng mới được. Hợp lư hợp cơ là hai điều kiện không thể thiếu trên phương diện truyền bá. Nếu chỉ dạy thích hợp sự ưa thích của người mà không có chân lư sẽ đưa đến mê tín và tội lỗi. Một trọng trách của người truyền bá, phải nhận định sáng suốt, để không bị lỗi thời hay sai chân lư. Chính đây là ư nghĩa “tùy duyên mà bất biến” của tinh thần Đại thừa. Bất biến là hợp lư, tùy duyên là hợp cơ. Thật là một h́nh ảnh linh động đi vào cuộc đời của chánh pháp. Người truyền bá chánh pháp lúc nào cũng linh động mà không sai chân lư. Bởi cuộc đời là một ḍng biến thiên, mỗi thời đều mỗi khác, chúng ta không thể mang h́nh thức cổ lỗ đi vào thời đại văn minh. Làm thế, chỉ chuốc sự chán chê của thiên hạ, không lợi ǵ cho ḿnh, cho chánh pháp cả. Cũng không thể mang h́nh thức rất hợp thời trang, mà bỏ mất chân lư. Tùy duyên mà bất biến, quả là chân lư ngàn đời của người đi ra giáo hóa. Lại nữa, con người sống lúc nào cũng dung ḥa giữa t́nh cảm và lư trí. T́nh cảm là quả tim, lư trí là khối óc. Quả tim và khối óc phải nhịp nhàng ḥa điệu th́ con người mới thanh thản an vui. Nghiêng một bên nào cũng làm mất thăng bằng, khiến con người dễ mất b́nh thường. Đạo Phật muốn c̣n măi trên nhân gian với con người, sự truyền bá cũng phải làm thỏa măn hai phần ấy. Để thỏa măn phần khối óc, người truyền bá chánh pháp phải thường giảng dạy Kinh Luận cho Phật tử nghe. Thấm nhuần triết lư cao siêu của Phật giáo, người Phật tử mới khỏi nghi ngờ khi nghe một lư thuyết khác. Sự tu hành vững chăi, cũng nhờ hiểu thấu giáo lư siêu thoát của Phật dạy. Giáo lư là ngọn đuốc sáng đưa người ra khỏi rừng vô minh u tối. Có sẵn trong tay ngọn đuốc sáng, người Phật tử chắc chắn sẽ thoát khỏi rừng mê. Để thỏa măn con tim, những h́nh thức nghi lễ tán tụng ở nhà chùa, giúp người Phật tử niềm tin được sung măn. Những buổi lễ tại chùa đều có mang tính chất tín ngưỡng, phổ nhạc trong những lời tụng tán đều là đi thẳng vào t́nh cảm của con người. Tuy chưa hiểu ǵ về Phật pháp, chỉ đến chùa tụng một thời kinh, người ta cũng thấy ḷng được nhẹ nhàng lâng lâng. Hoặc những đêm khuya tĩnh mịch, những lời tụng tán thâm trầm ḥa với tiếng khánh tiếng mơ nhịp nhàng, khiến người nghe tâm hồn dường như bay bổng trên không trung. Tuy nhiên như thế, hai phần lư trí và t́nh cảm đều phải quân b́nh nhau, lệch một bên đều là khuyết điểm lớn. Nếu chỉ có lư trí mà thiếu t́nh cảm trở thành khô khan. Nếu chỉ có t́nh cảm mà thiếu lư trí trở thành mê tín. Người truyền giáo phải khéo léo quân b́nh hai điều này. VI.- KẾT LUẬNĐạo Phật có mặt ở thế giới này đă trên hai mươi lăm thế kỷ, sự truyền bá này quả thật lâu dài. Sở dĩ được như thế, do Phật giáo là chân lư không lư thuyết nào bẻ găy nổi, người tu hành theo Phật giáo được kết quả lợi ích thiết thực không nghi ngờ, phương pháp truyền bá của Phật giáo rất linh động. Chúng ta hữu duyên hữu phước mới được gội nhuần chánh pháp, đừng cô phụ phước duyên của ḿnh, mỗi chúng ta phải nỗ lực tiến tu. Có thưởng thức được pháp vị rồi, chúng ta mới tùy duyên lợi ích kẻ sau. Làm thế nào cho ngọn đèn chánh pháp nối tiếp măi không tắt trên cơi thế gian này. Đền ơn Phật Tổ không ǵ hơn cứu độ chúng sanh. Sự cứu độ thực tế nhất, phải ngay cơi đời này, với những người có mặt hiện nay, khiến họ chuyển mọi khổ đau trở thành an lạc. Phật giáo không phải cái ǵ xa vời, không phải sự ước mơ viển vông, mà hiện tại thực tế. Nhận định như thế, mới có thể đem đạo Phật vào cuộc đời một cách hữu hiệu. ] TAM QUI
I.- MỞ ĐỀSống trong cuộc đời muôn mặt, người muốn chọn lấy một lối đi, vạch ra một cuộc sống đầy đủ ư nghĩa và an lành, thật không phải là việc dễ. Chúng ta là khách lữ hành đang đứng trước ngă tư ngă năm, mà chưa biết cuối cùng các con đường ấy sẽ đưa đến đâu? Chọn lấy một con đường để đi đến suốt đời, phải khôn ngoan sáng suốt lắm mới khỏi hối hận về mai sau. Nhưng mà bắt buộc chúng ta phải chọn lấy, đừng nhờ nhơi, đừng nghe lời xúi giục, v́ đây là con đường tự ta đi không ai thế ta được. Chọn kỹ rồi sẽ đi, là thái độ của kẻ khôn ngoan; nhắm mắt đi càn phó mặc đến đâu hay đến đó, là kẻ khờ dại, mang cả cuộc đời làm một tṛ chơi. Người trí phải nh́n kỹ, phải xem xét tường tận trước khi ḿnh cất bước đi trên một con đường nào. Qui y Tam Bảo quả là đă đặt ḿnh trên một con đường đi đến tận cùng. Đến tận đầu đường là suốt cuộc đời của chúng ta. Việc làm này cần phải hiểu biết rơ, nhận thức tường tận, mới phát tâm Qui y. Phát nguyện Qui y là chúng ta đă đặt định hướng cho cả cuộc đời. Nếu không hiểu biết ǵ th́ việc Qui y mất hết ư nghĩa của nó.
II.- ĐỊNH NGHĨATam qui nói đủ là Qui y Tam Bảo. Tam Bảo là Phật bảo, Pháp bảo và Tăng bảo. Phật là chỉ đức Phật Thích-ca Mâu-ni, do trước kia Ngài tu hành giác ngộ thành Phật. Pháp bảo là giáo pháp do đức Phật nói ra chỉ dạy đường lối tu hành. Tăng bảo là những vị tu hành theo giới luật và chánh pháp của đức Phật. Tại sao gọi là Phật bảo? - Từ một kẻ phàm phu như chúng ta tu hành thành Phật thật là chuyện ít có trên nhân gian này. Thế nên trong kinh thường nói Phật ra đời khó gặp, như hoa Ưu-đàm một ngàn năm mới trổ một lần. Bởi ít có khó gặp nên nói là báu. Hơn nữa, giác ngộ thành Phật tự bản thân Ngài đă thoát khỏi sanh tử luân hồi, đem chỗ giác ngộ ấy dạy lại cho người cùng ra khỏi sanh tử, là điều cao cả nhất trần gian nên gọi là báu. Thế nào gọi là Pháp bảo? - Chánh pháp xuất thế hi hữu do đức Phật dạy lại, người nghe rất khó hiểu khó thấu đáo được. Nhưng một khi đă hiểu, ứng dụng tu hành có thể chuyển đời phàm phu trở thành thánh nhân, pháp như vậy c̣n ǵ quí báu bằng. Pháp của Phật dạy là chân lư, dù trải thời gian bao lâu chân lư ấy vẫn rạng ngời như ḥn ngọc báu. Những kẻ đang lạc lối trong đêm đen, bất thần gặp được ngọn đuốc, vui mừng quí tiếc thế nào, người học đạo gặp được chánh pháp cũng như thế. Người đang bị ch́m đắm ngoài bể cả, trông thấy một con thuyền đến vớt, vui mừng sung sướng quí mến thế nào, người học đạo gặp được chánh pháp cũng như thế. Cho nên nói “trăm ngàn muôn kiếp khó t́m gặp”. Thế nào gọi là Tăng bảo? - Tăng là chỉ cho một nhóm tu sĩ học theo Phật, sống chung nhau đúng tinh thần Lục ḥa. Sống đúng tinh thần Lục ḥa là việc ít có trên nhân gian này. Bởi v́ người thế gian sống đua đ̣i giành giật hơn thua với nhau, không bao giờ họ sống ḥa thuận như thế được. Lục ḥa là: thân ḥa chung ơ,û miệng ḥa không tranh căi, ư ḥa đồng vui, giới luật ḥa cùng giữ, hiểu biết ḥa cùng giải, lợi ḥa chia đồng. Sáu điều này là tinh thần của Tăng. Nếu có người đầu tṛn áo vuông mà không sống theo tinh thần Lục ḥa cũng không gọi là Tăng. Ở trong tập thể từ bốn người trở lên, hằng ḥa thuận chung sống đúng tinh thần Lục ḥa, việc này rất khó làm đối với người thế gian. V́ thế, tu sĩ sống khuôn theo tinh thần Lục ḥa, thật là một điều quí báu ở trên nhân gian. Vả lại, trên sự tu hành, các vị ấy tự ḿnh đă vơi cạn phiền năo, c̣n dạy bảo kẻ khác dẹp bỏ phiền năo. Chính những vị ấy đă được phần nào an ổn thanh tịnh, lại hướng dẫn người đến chỗ an ổn thanh tịnh. Bởi lẽ ấy, gọi các ngài là Tăng bảo. Thế nào là Qui y? - Qui là trở về, y là nương tựa. Trở về nương tựa với Phật, Pháp và Tăng gọi là Qui y Tam Bảo. Từ lâu, chúng ta măi chạy theo dục lạc tạo nghiệp đau khổ, nay hồi tâm thức tỉnh quyết định trở về nương tựa với Tam Bảo. Tam Bảo là chỗ cứu kính để cho đời chúng ta nương tựa, không c̣n tạo nghiệp đau khổ, mà thường đem sự an lạc lại cho chúng ta. Đây là sự hồi tâm tỉnh giác phát nguyện trở về của chúng ta. Sự tỉnh giác này là nền tảng của lâu đài trí tuệ, nó là bước đầu trên con đường về quê hương giác ngộ. Đặt nền tảng này vững chắc th́ lâu đài trí tuệ mới được lâu dài. Đó là sự hệ trọng của tinh thần Qui y. III.- QUI Y TAM BẢO BÊN NGOÀIPhật Pháp Tăng là đối tượng để chúng ta Qui y. Nguyện noi theo con đường đức Phật đă đi là Qui y Phật. Quyết thực hành những lời chỉ dạy của Ngài c̣n ghi trong kinh điển là Qui y Pháp. Thuận theo sự hướng dẫn tu hành của chúng Tăng là Qui y Tăng. Từ đây bước đi, cuộc sống của chúng ta lấy Tam Bảo làm mẫu mực, nhắm thẳng theo đó mà tiến tới, khỏi phải nghi ngờ ḍ dẫm như thuở nào. Chúng ta là hoa tiêu, Tam Bảo là ngọn hải đăng. Cứ nhắm theo hải đăng mà lái con thuyền thân mạng của chúng ta cho đến đích. Song Phật pháp, người Phật tử quyết định tin theo không c̣n chút do dự, c̣n Tăng th́ phải cẩn thận để khỏi nhận lầm. Tăng là tập đoàn Tăng lữ sống đúng tinh thần Lục ḥa, không phải tính cách cá nhân. Nếu một vị sư đứng ra làm lễ Qui y cho Phật tử, chính vị ấy đại diện cho tập đoàn. Qui y Tăng là qui y với những vị sư sống đúng tinh thần Lục ḥa, không phải cuộc hạn riêng vị sư truyền tam qui ngũ giới cho ḿnh. Nếu vị đại diện truyền qui giới ấy có tu được hay không tu được, người thọ pháp qui giới vẫn đă Qui y Tăng rồi. Khi qui y một vị Tăng tức là đă qui y tất cả chư Tăng, nếu vị nào sống đúng tinh thần ḥa hợp. Phật tử có quyền học hỏi tất cả Tăng chúng, không nên hạn hẹp nơi ông thầy của ḿnh. Được vậy mới đúng tinh thần Qui y Tam Bảo bên ngoài. IV.- QUI Y TAM BẢO TỰ TÂMPhật pháp bao giờ cũng phải đủ hai mặt, Tam Bảo bên ngoài là đối tượng, Tam Bảo tự tâm là bản chất. Nương Tam Bảo bên ngoài, chúng ta phát triển Tam Bảo của tự tâm. Trong ngoài hỗ tương để viên măn công phu tu hành, là mục tiêu chánh yếu của đạo Phật. Thế nào là Tam Bảo tự tâm? Tánh giác sẵn có nơi chúng ta là Phật bảo. Ḷng từ bi thương xót cứu giúp chúng sanh là Pháp bảo. Tâm ḥa hợp thảo thuận với mọi người là Tăng bảo. Nhờ Phật bảo bên ngoài, chúng ta đánh thức tánh giác của ḿnh, trở về nương tựa tánh giác của ḿnh là Qui y Phật. Nhờ Pháp bảo bên ngoài, chúng ta dấy khởi ḷng từ bi đối với chúng sanh, trở về nương tựa với ḷng từ bi của ḿnh là Qui y Pháp. Do chư Tăng bên ngoài gợi lại cho chúng ta có tinh thần ḥa hợp thuận thảo, trở về nương tựa với tinh thần ḥa hợp thuận thảo của ḿnh là Qui y Tăng. Phật Pháp Tăng bên ngoài là trợ duyên giúp chúng ta phát khởi Phật Pháp Tăng của tự tâm. Ví như ông thầy giáo làm trợ duyên cho đứa học tṛ mởø mang kiến thức của nó. Có ông thầy giáo cần cù, mà đứa học tṛ lười biếng không chịu học, ông thầy cũng trở thành vô ích. Cũng thế, có Tam Bảo bên ngoài, người Phật tử không cố gắng đánh thức Tam Bảo của chính ḿnh, Tam Bảo bên ngoài cũng thành vô nghĩa. Tam Bảo bên ngoài là điều kiện tối thiết yếu với người Phật tử, nhưng có được giác ngộ giải thoát chính là khả năng của Tam Bảo tự tâm. Chỉ biết có Tam Bảo bên ngoài là chấp sự bỏ lư. Một bề tin vào Tam Bảo của tự tâm không cần biết đến Tam Bảo bên ngoài, là chấp lư bỏ sự. Người Phật tử chân chánh phải viên dung sự lư mới khỏi trở ngại trên đường tu. V.- NGHI THỨC QUI YTrọng tâm chủ yếu trong buổi lễ Qui y, chính lúc Phật tử qú trước Tam Bảo, ba lần phát nguyện: “Đệ tử... xin suốt đời qui y Phật, qui y Pháp, qui y Tăng.” Câu phát nguyện này tự đáy ḷng Phật tử phát xuất, không do sự ép buộc xúi giục nào. Ba lần phát nguyện như vậy là gieo hạt giống vào sâu trong tàng thức, khiến đời đời không quên. Đây là tinh thần tự giác tự nguyện. H́nh thức nghi lễ chỉ giúp thêm ấn tượng quan trọng cho giờ phút phát nguyện ấy thôi. Khi chúng ta tỉnh giác nguyện theo Tam Bảo th́ đời ta được lợi ích. Nếu trên đường tu có lúc nào bị vô minh che đậy không nhớ Tam Bảo, chúng ta tự chịu thiệt tḥi. Nhà Phật không bắt buộc chúng ta thệ những ǵ nặng nề để không bỏ đạo. Của báu cho người nếu ưng nhận lời th́ được lợi ích, không ưng nhận th́ thôi, bắt buộc làm ǵ. Trừ ra có hậu ư ǵ, mới bắt buộc những câu thề nặng để không dám bỏ. Người hiểu được chỗ này mới thấy giá trị chân thật của đạo Phật. Tất cả sự dụ dỗ ép buộc để theo đạo, nhà Phật hoàn toàn phản đối. Mỗi người tự nhận thức rơ ràng về đạo Phật rồi phát tâm đến với đạo, mới đúng tinh thần Phật tử. Hiểu rồi mới theo là hành động đúng với tinh thần giác ngộ. Dùng thuật hay, phép lạ để dẫn người vào đạo, đó là mê tín. Dùng mọi quyền lợi để dụ người ta vào đạo, đó là cám dỗ kẻ ngu si, không phù hợp với tinh thần giác ngộ. Chúng ta có bổn phận giải thích để người khác hiểu phát tâm qui y là, người truyền đạo chân chánh. Nghi thức trịnh trọng trong buổi lễ qui y, chỉ là trợ duyên cho lời phát nguyện của chúng ta được thành tựu viên măn. Nghi lễ này không có nghĩa là Phật sẽ ban ơn cho chúng ta trọn đời được an lành. VI.- KHẲNG ĐỊNH LẬP TRƯỜNGSau khi qui y Tam Bảo, chúng ta khẳng định lập trường một cách tỏ rơ: “Qui y Phật không qui y thiên, thần, quỉ, vật.” Chúng ta đă nhận định kỹ càng quyết chí theo Phật là đấng giác ngộ, không lư do ǵ lại theo thiên, thần, quỉ, vật. Bởi v́ thiên, thần, quỉ, vật vẫn chưa giác ngộ, c̣n bị luân hồi như chúng ta. Song cũng có một số Phật tử đă qui y Phật, mà vẫn chạy theo quỉ thần. Những người này v́ tham lợi lộc, v́ thích mầu nhiệm, nên đă đi sai đường Phật pháp. Thậm chí v́ sự mê tín của họ, họ trở lại kính trọng quỉ thần hơn Phật. Đây là hiện tượng xấu xa để khách bàng quang phê b́nh Phật giáo. “Qui y Pháp không qui y ngoại đạo tà giáo.” Chánh pháp của Phật là chân lư, cứu giúp chúng sanh một cách thiết thực, như ông thầy thuốc đối với bệnh nhân. Hiểu được lẽ chân thực này, c̣n lư do ǵ chúng ta chạy theo ngoại đạo tà giáo. Chúng ta tự nhận ḿnh yêu chuộng chân lư, cầu mong sự thoát khổ thiết thực, ngoại đạo tà giáo c̣n ǵ hấp dẫn được chúng ta. Chỉ có những kẻ ba phải nghe đâu chúc đó, mới có những hành động đổi thay vô lư như vậy. Dù có những phép tà ngoại linh thiêng muốn ǵ được nấy, chúng ta cũng không khởi ḷng tham theo họ. Hoặc họ có những phương thuốc linh mầu nhiệm bệnh ǵ cũng cứu khỏi, là Phật tử chân chánh thà chịu chết chớ không cầu xin. Thân này có giữ ǵn khéo mấy, cuối cùng cũng tan hoại, lạc vào đường tà kiếp kiếp khó ra khỏi. “Qui y Tăng không qui y bạn dữ nhóm ác.” Chúng ta đă chọn lựa những vị hiền đức nương theo, khiến đời ḿnh về gần với đức hạnh. Bạn dữ nhóm ác đối với người biết đạo cần phải tránh xa. Bởi v́ “gần mực th́ đen gần đèn th́ sáng”, hay “gần đồ tanh hôi ḿnh bị hôi lây, gần vật thơm tho ḿnh được thơm lây”. V́ thế, chúng ta phải can đảm đi đúng đường của ḿnh đă chọn, dù có bị khinh khi mạ lỵ, ta cũng cứ thế mà đi. Bởi v́ chúng ta đâu phải là kẻ mù quáng, mà đành bỏ cái tốt gần cái xấu. Khẳng định lập trường rơ ràng là người có ư chí cương quyết. Nếu người tu hành mà thiếu ư chí này, dễ bị gió lung lay. VII.- KẾT LUẬNQui y Tam Bảo là nền móng ṭa nhà giác ngộ, là nấc đầu trên cây thang giải thoát, là những bước đầu trên con đường về quê hương vô sanh. Muốn ṭa nhà vững chắc, cần phải có nền móng kiên cố. Cần vượt tột cây thang giải thoát, nấc đầu phải bước cho vững. Thích sự an lành ở quê hương vô sanh, những bước đầu trên con đường trở về phải đi cho đúng. Thiếu nền móng Tam Qui th́ ṭa nhà giác ngộ không sao xây cất được. Không có nấc đầu, khó ai có thể leo tận cây thang giải thoát. Những bước đầu trên con đường về quê đă sai, trăm ngàn bước sau cho đến càng đi càng sai. V́ thế, Qui y Tam Bảo có tầm quan trọng vô cùng. Mỗi người muốn đến với đạo Phật phải từ cửa Qui y mà vào, không như thế th́ học Phật mất căn bản. Bởi nó đóng một vai tṛ quan trọng như vậy, nên người Phật tử phải thận trọng trong việc phát nguyện Qui y. Đừng v́ là Qui y cho có phước, cho khỏi bệnh hoạn, cho Phật gia hộ qua tai ách..., đều là lư do mê tín trái với tinh thần tự giác tự nguyện của Đạo Phật. ] NGŨ GIỚI
I.- MỞ ĐỀCon người là đối tượng của đạo Phật, bao nhiêu luật, bao nhiêu pháp môn, đức Phật đều v́ con người lập bày. Đem lại sự an vui hạnh phúc cho con người, là mục tiêu chánh yếu của đạo Phật. Song quan niệm đạo Phật, không phải được nhiều của cải, nhiều t́nh yêu v.v... là con người có hạnh phúc. Hạnh phúc là người sống biết tiết chế, biết tôn trọng hạnh phúc của mọi người, biết thành thật thương mến nhau. Một dân tộc văn minh là biết tôn trọng sanh mạng của nhau, tôn trọng những quyền tự do căn bản của con người. V́ thế, ngũ giới là nền tảng căn bản đem lại hạnh phúc cho con người, xây dựng con người sống đúng ư nghĩa văn minh của nhân loại. Ngũ giới là cơ bản đạo đức của người Phật tử, khi bắt đầu bước chân trên con đường giác ngộ giải thoát. Thiếu căn bản đạo đức này, dù chúng ta có nói đạo đức cao siêu đến đâu cũng là lối nói rỗng. Sự tu hành thiết thực phải gầây dựng cơ bản trước, sau mới tiến lên những bậc cao siêu. Đó là tầm quan trọng của ngũ giới. II.- ĐỊNH NGHĨANgũ giới là năm điều ngăn cấm do đức Phật chế ra, bảo các Phật tử phải tuân hành theo. Sau khi qui y người ấy đă tự nhận là đệ tử Phật, để đủ tư cách một Phật tử cần phải ǵn giữ năm giới. Năm điều răn cấm này, Phật v́ thương xót chúng sanh mà chế ra, cốt khiến đời sống họ được an lành hạnh phúc. Ǵn giữ năm giới này là v́ ḿnh, không phải v́ Phật. H́nh thức năm giới: 1. Không sát sanh: Không sát sanh nghĩa là không được giết hại mạng sống của con người. Chúng ta tự quí sanh mạng của ḿnh, vô lư lại sát hại sanh mạng kẻ khác. Trên lẽ công bằng nhân đạo không cho phép chúng ta làm việïc ấy. Nếu làm, chúng ta đă trái lẽ công bằng thiếu ḷng nhân đạo, đâu c̣n xứng đáng là đệ tử Phật. Giết hại mạng sống người có ba: trực tiếp giết, xúi bảo người giết, tùy hỉ trong việc giết hại. Phật tử không tự tay ḿnh giết mạng người, không dùng miệng xúi bảo đốc thúc kẻ khác giết, khi thấy họ giết hại nhau chỉ một bề thương xót không nên vui thích. Đó là giữ giới không sát sanh. Nhưng suy luận rộng ra, chúng ta quí trọng mạng sống, những con vật cũng quí trọng mạng sống, để ḷng công bằng tràn đến các loài vật, nếu không cần thiết, chúng ta cũng giảm bớt giết hại sanh mạng của chúng. 2. Không trộm cướp: Của cải tài sản của chúng ta, không muốn ai xâm phạm đến, của cải tài sản của người, chúng ta cũng không được giựt lấy hay lén lấy. Bởi cướp giựt hay lén lấy của người là hành động trái nhân đạo, phạm luật pháp chánh quyền, phải bị trừng phạt. Trộm cướp là do ḷng tham lam ác độc, chỉ nghĩ lợi ḿnh, quên nỗi đau khổ của người, mất cả công bằng và nhân đạo, người Phật tử quyết định không được làm. 3. Không tà dâm: Người Phật tử có vợ chồng đôi bạn như mọi người thế gian khác. Khi có đôi bạn rồi tuyệt đối không phạm đến sự trinh bạch của kẻ khác. Nếu phạm th́ mắc tội tà dâm. Bởi v́ đây là hành động làm đau khổ cho gia đ́nh ḿnh và gia đ́nh người, tạo thành nguy cơ tán gia bại sản. Do một chút t́nh cảm riêng tư của ḿnh, khiến nhiều người khổ đau liên lụy, quả là thiếu ḷng nhân. Để bảo đảm sự an ổn của gia đ́nh ḿnh và hạnh phúc của gia đ́nh người, Phật tử nhất định không phạm tà dâm. 4. Không nói dối: Nói lời trái với sự thật để mưu cầu lợi ḿnh, hoặc hại người là nói dối. Do động cơ tham lam ác độc, sự kiện xảy ra thế này lại nói thế khác, sửa trái làm mặt, đổi phải thành quấy, khiến người mắc họa. Người nói như thế trái với đạo đức, mất cả ḷng nhân, không xứng đáng là một Phật tử. Phật tử là người đạo đức nên ăn nói có mẫu mực, thấy biết thế nào nói thẳng thế ấy, không điêu xảo dối trá. Trừ trường hợp v́ lợi người lợi vật, không nỡ nói thật để người bị hại hoặc khổ đau, do ḷng nhân cứu người cứu vật nói sai sự thật mà không phạm. Không nói dối là giữ ḷng tin đối với mọi người chung quanh. 5. Không uống rượu: Đạo Phật chủ trương giác ngộ, muốn được giác ngộ trước phải điềm đạm tỉnh sáng, uống rượu vào gan ruột nóng bức, tâm trí quay cuồng, mất hết b́nh tĩnh không c̣n sáng suốt, trái hẳn mục đích giác ngộ. Chính v́ nóng bức cuồng loạn, có những người khi say sưa tội lỗi họ cũng dám làm, xấu xa ǵ họ cũng không sợ, mất hết lương tri. V́ thế, người biết đạo đức phải tránh xa không uống rượu. Uống rượu chẳng những làm mất trí khôn, lại gây nên bệnh hoạn cho thân thể, c̣n di hại cho con cái sau này đần độn. Quả là một họa hại cho cá nhân và xă hội. Người Phật tử v́ sự nghiệp giác ngộ, v́ lợi ích cho ḿnh cho người quyết hẳn không uống rượu. Trừ trường hợp mắc bệnh y sĩ bảo phải dùng rượu ḥa thuốc uống mới lành, Phật tử được uống thuốc rượu đến khi lành bệnh th́ chấm dứt, cần phải tŕnh cho chư Tăng biết trước khi uống. III.- LỢI ÍCH BẢN THÂNNgười biết giữ ǵn năm giới đă tạo thành căn bản đạo đức và sự an lành cho bản thân. Không sát sanh, bản thân ta không bị người giết, hoặc tù tội về giết người, cũng không có thù hận về nợ máu với nhau. Thế là sống chúng ta không kinh hoàng sợ hăi do thù hằn gây nên. Không trộm cướp, bản thân ta không mắc tội tù về trộm cướp, ở đâu hay đi đến chỗ nào khỏi sợ người theo dơi nghi ngờ. Tới lui tự do, đến đi an ổn, không phải hạnh phúc là ǵ? Không tà dâm, bản thân ta khỏi phải lao thần tổn trí, khỏi sợ ai bàn tán dở hay, mọi người đều tín nhiệm và tin cậy ta. Bản thân ta trinh bạch, khiến người tự quí mến. Tự ḿnh an ổn, gia đ́nh cũng an ổn. Không nói dối, chính ta không phải hối hận, lời nói tự có giá trị, gây được niềm tin của mọi người. Người hay nói dối sẽ bị xă hội đánh giá thấp, đề xướng điều ǵ đều bị nghi ngờ, làm việc ǵ ít ai tán trợ. Không uống rượu, chính ta khỏi bị cái tệ điên cuồng mất trí, khỏi gây cho cơ thể bệnh hoạn suy yếu, khỏi bị người khinh thường trong lúc say sưa. Trái lại, bản thân ta điềm đạm b́nh tĩnh, thân thể khỏe mạnh, đối với mọi người đều được quí kính, sanh con cũng thông minh sáng suốt. Đó là lợi ích bản thân ngay trong hiện tại. Nếu về mai sau, không sát sanh thân tráng kiện sống lâu; không trộm cướp, được tài sản sung túc; không tà dâm, thân thể đẹp đẽ; không nói dối, ăn nói khôn ngoan mọi người yêu chuộng; không uống rượu, trí tuệ sáng suốt. IV.- LỢI ÍCH GIA Đ̀NH XĂ HỘIMọi người trong nhân loại đều tự nhận sanh mạng là tối thượng. Biết tôn trọng sanh mạng là nếp sống văn minh, chà đạp trên sanh mạng là con người dă man. Biết giữ năm giới là nguồn hạnh phúc của gia đ́nh, là nếp sống văn minh của xă hội. Đức Phật nh́n thẳng vào con người, đem lại cho con người một đời sống an lành, một gia đ́nh hạnh phúc, một xă hội văn minh, Ngài chế ra năm giới. Sanh mạng là giá trị tối thượng của con người mọi người đều phải tôn trọng, v́ tôn trọng sanh mạng con người, Phật cấm Phật tử không được sát sanh. Sanh mạng con người được tồn tại vững bền, nhờ tài sản nuôi dưỡng, v́ tôn trọng tài sản của người, Phật cấm Phật tử không được trộm cướp. Sự sống của con người cần có gia đ́nh, gia đ́nh là tổ ấm của nhân loại, tổ ấm ấy bị lung lay là mất hạnh phúc, v́ tôn trọng hạnh phúc của gia đ́nh, Phật cấm Phật tử không được tà dâm. Sự sống chung đụng trong gia đ́nh và ngoài xă hội cần phải tin tưởng nhau, thiếu ḷng tin th́ không thể thông cảm thân yêu, v́ đem sự tin yêu lại cho mọi người, Phật cấm không được nói dối. Trật tự của gia đ́nh và xă hội là sự an ổn, một duyên cớ gây xáo trộn trong gia đ́nh và ngoài xă hội là làm mất trật tự chung, v́ tôn trọng trật tự của gia đ́nh và xă hội, Phật cấm Phật tử không được uống rượu. Chỉ trong năm giới thôi, nếu gia đ́nh nào ǵn giữ trọn vẹn là gia đ́nh ấy có hạnh phúc, trên thuận dưới ḥa, tin yêu thuần cẩn. Nếu mọi người trong xă hội ứng dụng triệt để là một xă hội văn minh, chan ḥa sự cảm thông và thương mến. Chúng ta v́ lợi ích bản thân, v́ hạnh phúc của gia đ́nh, v́ sự an lạc của xă hội, nỗ lực ǵn giữ năm giới. Ǵn giữ năm giới là tôn trọng nhân bản, là nếp sống văn minh, là nền tảng đạo đức vậy. V.- KẾT LUẬNSự khổ đau tột độ của con người không ǵ hơn, khi họ nghĩ đến sanh mạng họ bị đe dọa, tiền của họ bị mất mát, người yêu họ bị xâm phạm. Chính đây là nỗi thống khổ khắc nghiệt nhất của con người. V́ cứu khổ đem vui lại cho con người, Phật cấm người Phật tử không được làm ba điều ấy. T́nh thương vĩnh viễn không có, nếu con người không tin tưởng và cảm thông nhau. Điều này cũng là nỗi đau khổ thứ yếu của con người. Bởi v́ trong cuộc sống mà không có t́nh thương, là loài người đang lạc loài ở giữa băi sa mạc hay chốn rừng hoang, c̣n đâu sự đùm bọc thân yêu chia sớt cay đắng ngọt bùi. Muốn đem t́nh thương cho nhân loại, trước tiên phải có tin tưởng thông cảm nhau, nên Phật cấm người Phật tử không được nói dối. Chính bao nhiêu đó, chúng ta đă thấy ḷng từ bi lênh láng của đức Phật. Tinh thần cứu khổ ban vui của đạo Phật đă thể hiện rơ ràng trong năm giới này. V́ thương ḿnh thương người, Phật tử chúng ta phải cố gắng ǵn giữ và khuyên người ǵn giữ. Đó là căn bản của Đạo làm người hiện tại và mai sau. ] ĐI CHÙA LỄ PHẬT
I.- MỞ ĐỀNgười xưa nói “làm việc có nghĩa do tâm tỉnh ngộ, làm việc vô nghĩa do tâm mê mờ”. Chúng ta thao thức ước mơ có th́ giờ rảnh đi chùa để được nghe những lời chỉ dạy đạo lư của Tăng, Ni. Quả là do tâm tỉnh ngộ làm động cơ thúc đẩy chúng ta. Nếu chúng ta mong có lúc rảnh để đến hí trường, lại tửu điếm, chính do tâm mê mờ làm động cơ thúc đẩy chúng ta. Chọn lấy một hành động có nghĩa là để làm theo, đích thực là người trí. Chạy theo những hành động vô nghĩa hư hèn, quả là kẻ ngu. Đă có mặt trên cơi đời, chúng ta phải chọn lấy một lối đi để đưa đời ḿnh đến chỗ rạng ngời tươi đẹp. Vô lư, chúng ta măi đua đ̣i theo sự ăn mặc vui đùa, đến một ngày kia thân này sắp hoại, tự ta nghĩ sao về thân phận ḿnh? V́ thế, sự đi chùa lễ Phật là một việc làm do động cơ tỉnh ngộ thúc đẩy, với một tinh thần cố gắng vươn lên, gầy dựng cho ḿnh một ngày mai sáng đẹp. II.- ĐI CHÙAMục đích đi chùa không phải là để cúng lạy, mà v́ học hỏi chánh pháp, tập tu đức hạnh. Người Phật tử mới đến với đạo chưa thấm nhuần Phật pháp, nếu không được sự chỉ dạy của Tăng Ni th́ làm sao hiểu đạo tu hành. Muốn hiểu đạo lư, Phật tử tới lui Tự viện để thưa hỏi học tập là sự đương nhiên không thể thiếu. V́ sự sống bận rộn ngoài xă hội, Phật tử đâu đủ th́ giờ nghiên cứu giáo lư, chỉ gặp Tăng, Ni trong nửa giờ, một giờ, Phật tử có thể học được nhiều điều trước kia chưa biết. V́ thế, đến chùa để gặp Tăng, Ni là điều thiết yếu không thể thiếu, đối với mỗi Phật tử tại gia. Đi chùa có hai trường hợp, đi chùa ngày thường và đi chùa ngày lễ vía. Đi chùa ngày thường: Bất cứ ngày nào thấy rảnh việc nhà, người Phật tử có thể đi chùa. Khi đi chùa, Phật tử phải nhắm thẳng mục đích thưa hỏi đạo lư. V́ hỏi đạo lư, Phật tử phải ghi lại những điều ǵ ḿnh chưa hiểu để đem ra hỏi. Mỗi lần đến chùa, Phật tử phải có ít nhất đôi ba vấn đề thưa hỏi Tăng, Ni. Những vấn đề ấy, hoặc do thấy nếp sống sanh hoạt nhà chùa chưa hiểu đem ra hỏi, hoặc đọc trong kinh sách chỗ nào không biết đem ra hỏi. Biết thưa hỏi như vậy, người Phật tử học đạo rất chóng tiến. Đi chùa hỏi đạo là đúng tinh thần học vấn của người Phật tử. Nhưng cũng có những khi không v́ hỏi đạo mà vẫn đi chùa. Đây là trường hợp v́ đua chen trong cuộc sống, người Phật tử thần kinh bị căng thẳng, vội vàng bỏ việc đến chùa. Đến đây để ngồi yên trên tảng đá dưới bóng mát tàn cây, nghe tiếng gió th́ thào trên ngọn cây, giọng chim líu lo trong cành râm, khung cảnh tịch mịch của nhà chùa, khiến tâm hồn lắng xuống thần kinh dịu lại. Không cần gặp ai, chẳng màng thưa hỏi, chỉ cần mắt ngắm mấy cội tùng xanh, mũi ngửi mùi hương nhẹ của hoa lan, hoa nguyệt quới, ngồi đặt lưng tựa bên vách chùa, chúng ta cảm nghe ḷng nhẹ nhàng khoan khoái, những giờ phút này gánh nợ đời oằn oại đôi vai bỗng dưng như quẳng mất. Chính cảnh cô liêu tịch mịch của nhà chùa đă giải tỏa xoa dịu phần nào nỗi bực dọc năo phiền của Phật tử. Đến chùa ngày lễ vía: Cùng Phật tử với nhau như con một cha, những ngày lễ vía là ngày huynh đệ sum họp. Ngày thường mỗi Phật tử có hoàn cảnh riêng gia đ́nh riêng, ít khi gặp được nhau để thăm hỏi sự tu hành, nhắc nhở nhau về đức hạnh. Nhân ngày lễ vía ở chùa, toàn thể Phật tử tụ hội về cùng thăm hỏi nhau trong t́nh đạo bạn, cùng giăi bày nhau về kinh nghiệm tu hành, thật là một cơ hội quí báu. Chúng ta đâu không nghe ông cha chúng ta đă nói “ăn cơm có canh, tu hành có bạn”. Đoàn tụ dưới mái chùa, huynh đệ ngồi gần nhau đàm đạo mật thiết thân t́nh, đây là một niềm vui để dắt d́u nhau trên con đường đạo đức. Mến thương nhau, đoàn kết nhau, khích lệ nhau, cùng nỗ lực leo lên cho đến tận đỉnh ngọn giác ngộ. Càng cao cả hơn, khi chúng ta nghe Tăng, Ni kể lại hành trang nhuộm mùi từ bi đượm màu giác ngộ của chư Phật, Bồ-tát, hoặc nghe giải thích giáo lư cao siêu thoát tục của Phật dạy, làm sáng tỏ thêm đường lối tu hành. Thật là những cơ hội hiếm có để Phật tử thấm nhuần chánh pháp. Vắng mặt trong những ngày lễ vía, là một thiệt tḥi đáng kể của người Phật tử. Có nghe giáo lư, có học công hạnh của Phật, Bồ-tát, Phật tử mới biết phương hướng tu hành, mới thấy những gương sáng ngời để noi theo. Dù đă qui y mấy mươi năm, không chịu học hỏi giáo lư, không siêng nghe giảng dạy, Phật tử này vẫn mờ mịt không hiểu ǵ về đạo Phật. Là Phật tử phải tỏ ra xứng đáng với danh nghĩa của ḿnh, nghĩa là học và hành đúng với đường lối Phật dạy. V́ thế, đi chùa nghe giảng là điều tối cần thiết của người Phật tử. III.- LỄ PHẬTLạy Phật không v́ van xin tha tội, không v́ cầu mong ban ân, chỉ v́ quí kính một đấng ḷng từ bi tràn trề, trí giác ngộ viên măn. V́ quí kính công đức trí tuệ của Phật nên chúng ta lạy Ngài. Lạy Phật để thấy ḿnh c̣n thấp thỏi ti tiện, bỏ hết những thói ngạo mạn cống cao. Quí kính gương cao cả của Phật để ḿnh noi theo. Phước đức lạy Phật là tại chỗ đó. Lễ Phật v́ dẹp ngă mạn - Bản chất con người chúng ta lúc nào cũng tự cao tự đắc, vênh váo nghênh ngang. Đó là tánh xấu khiến mọi người chán ghét, tiêu ṃn công đức. Phật tử biết được cái dở này, kính lạy Phật, Bồ-tát, các bậc tôn túc, để diệt trừ tâm ngă mạn của ḿnh. Kính lạy các ngài là tự ḿnh thấy không b́ kịp các ngài, biết ḿnh thấp th́ tánh ngạo mạn từ từ biến mất. Khi lạy các ngài không mong một ân sủng nào, chỉ v́ một ḷng kính trọng đức hạnh của các ngài, tự thấy ḿnh hèn hạ thấp thỏi, thế là mọi công đức từ đó phát sanh. Bởi đứa ăn trộm th́ phục kẻ ăn trộm giỏi, chàng vơ sĩ th́ nể tay vô địch, kính trọng Phật, Bồ-tát, các bậc tôn túc tự nhiên chúng ta có dự phần trong ấy rồi. Quả như câu nói “kính thầy mới được làm thầy”. Chúng ta muốn dẹp bỏ những tánh xấu, tập tành đức hạnh, kính lễ những bậc đức hạnh là điều cần thiết vậy. Lễ Phật v́ noi gương - Kính lạy Phật, chính v́ chúng ta muốn học đ̣i noi theo gương của Ngài. Tại sao chúng ta phải học đ̣i theo gương đức Phật? Bởi v́, Phật đă đầy đủ mọi công đức, trí tuệ từ bi viên măn, nên chúng ta phải học theo. Đây chúng tôi đơn cử một công hạnh nhỏ xíu của Ngài, thử xem chúng ta có theo kịp không? Một hôm, đức Phật một ḿnh mang b́nh bát vào thôn xóm khất thực, bỗng có một người ngoại đạo biết Ngài và biết rơ Phật đi đến đâu ắt đệ tử của chúng đều bỏ đạo qui kính Phật. Nổi tức, ông đi theo sau lưng Phật mạ lỵ đủ điều, Phật vẫn chậm răi tiến bước đều đều không một lời đối đáp. Đến đầu đường, ông ta chạy đón trước mặt Phật, chặn lại hỏi: Cù-đàm thua ta chưa? Phật ung dung trải tọa cụ xuống đất, ngồi kiết già đọc bài kệ:
Kẻ hơn th́ thêm oán Người thua ngủ chẳng yên Hơn thua hai đều xả Ấy được an ổn ngủ. (Kinh Trung A-hàm) Ngoại đạo hối lỗi ăn năn lễ tạ. Thử hỏi hành động này của đức Phật, chúng ta có ai dám tự hào cho ḿnh làm được. Nếu đem danh vọng giá trị so sánh, đức Phật là một vị giáo chủ trong tôn giáo, một vị Thái tử ở thế gian, chúng ta hiện nay là một tín đồ trong tôn giáo, một kẻ tay trắng ở thế gian, đức Phật bị mạ lỵ mà không tức giận, chúng ta bị mạ lỵ có tức giận chăng? Nếu chúng ta không tức giận cũng chưa dám b́ với đức Phật, v́ giá trị danh vọng của chúng ta có ra quái ǵ. Huống là, bị mạ lỵ chúng ta liền nổi giận ầm ầm. Nh́n lại đức Phật thử xem chúng ta cách Ngài bao xa? Thế th́ lạy Ngài bao nhiêu mới xứng đáng trong việc noi gương theo Ngài? Đến như tâm từ bi, trí giác ngộ của Phật, sánh với chúng ta thật là trời cao vực thẳm. Đời đời kính lễ Ngài, cũng là cái hănh diện của chúng ta, biết kính người đáng kính. Thế mà, có một ít người thấy chúng ta lạy Phật, họ tỏ vẻ ngạo nghễ. Hăy nghe câu chuyện đối đáp này: Một em gái đi chùa lễ Phật, lễ xong em vừa ra đến sân chùa, gặp một quân nhân đứng ngắm cảnh. Thấy em, quân nhân liền hỏi: Em đi đâu thế? Bé gái đáp: Em đi chùa lễ Phật. Quân nhân hỏi: Tượng Phật bằng gỗ bằng xi măng, em lễ cái ǵ? Bé gái hỏi lại: Ở doanh trại anh mỗi sáng có chào cờ không? Quân nhân đáp: Sáng nào cũng chào cờ. Bé gái hỏi: Cờ bằng vải bằng màu, tại sao phải nghiêm trang chào? Quân nhân đáp: Chào tinh thần Tổ quốc được tượng trưng qua lá cờ, chớ không phải chào vải màu. Bé gái nói: Cũng thế, em lạy tinh thần từ bi giác ngộ của Phật được tượng trưng qua h́nh tượng chớ không phải lạy gỗ lạy xi măng. Quân nhân đành thôi.
VI.- KẾT LUẬNChọn một hành động có ư nghĩa là con người tỉnh sáng. Khi đă nhận định kỹ việc làm của ḿnh, dù có bị chê khen, chúng ta vẫn an ổn thực hành. Chỉ có những kẻ xu thời, thấy ai khen cái ǵ chạy theo cái nấy, mới bàng hoàng khi bị ai phê b́nh hành động của ḿnh. Đi chùa lạy Phật đă mang sẵn những ư nghĩa của nó, dù có ai chê là mê tín..., ta vẫn an nhiên. Đạo đức có hay không, do ḷng ta biết kính trọng người đạo đức hay không. Do ḷng kính trọng mới thúc đẩy chúng ta học đ̣i và bắt chước theo người đức hạnh. Lạy Phật là động cơ đẩy mạnh chúng ta tiến măi trên đường giác ngộ.
]
SÁM HỐI
I.- MỞ ĐỀMắc bệnh ung nhọt làm mủ trong thân, người bệnh cần phải gan dạ mời giải phẫu sư mổ ra và cạo rửa mủ máu cho sạch, có thế th́ bệnh chóng lành. Nếu bệnh nhân hèn nhát không dám cho mổ, để ấp ủ lâu ngày, ung nhọt có thể làm nguy hiểm đến tánh mạng. Cũng như thế, người tu lỡ phạm những điều tội lỗi, gan dạ đến những bậc đức hạnh thành tâm phát lồ sám hối th́ tội lỗi chóng sạch. Ngược lại, kẻ ấy hèn nhát cứ một bề che giấu, tội lỗi càng ngày càng trầm trọng, đến mai kia có thể sa đọa không thể cứu. Chúng ta là phàm phu, là kẻ đang tập tu, không sao tránh khỏi những điều sai lầm tội lỗi, chỉ quí ở chỗ có lỗi biết thành tâm sám hối, không dám tái phạm, khiến tội lỗi sạch dần cho đến ngày nào đó hoàn toàn thanh tịnh. Hèn nhát không chịu sám hối là kẻ chấp nhận sự lui sụt của ḿnh, tự hủy bỏ đời sống tu hành của chính ḿnh. Sám hối là phương pháp sách tiến mạnh mẽ nhất, đối với người chân thật tu hành, bỏ sám hối khó ai từ phàm phu tiến lên thánh được. II.- ĐỊNH NGHĨASám hối là ăn năn hối cải. Những tội lỗi đă làm, chúng ta hổ thẹn, ăn năn không dám tái phạm; những tội lỗi đang làm và sẽ làm, chúng ta hứa sửa đổi không làm. Không phạm tội cũ, không tạo lỗi mới, là chủ yếu của pháp sám hối. Sám hối cũng nói là phát lồ sám hối. Phát lồ là vạch trần những tội lỗi ḿnh đă làm phơi bày trước bậc đức hạnh để thành tâm sám hối. Làm thế, do tâm hổ thẹn, cầu tiến mới dám gan dạ đến trước bậc đức hạnh phơi bày hết tội lỗi của ḿnh cầu xin sám hối. Giá trị căn bản nhất là, hổ thẹn và cầu tiến, hai tâm này là động cơ chính yếu trong việc sám hối. V́ hổ thẹn và cầu tiến chúng ta mới sám hối, sau khi sám hối dứt khoát không tái phạm gây tạo nữa. Trọng tâm của sám hối là ở chỗ này. III.- H̀NH THỨC SÁM HỐISám hối tương tợ nghĩa xin lỗi của người thế gian. Người thế gian lỡ phạm lầm lỗi với ai khiến họ phiền muộn, biết ḿnh có lỗi gan dạ đến xin lỗi, lỗi lầm ấy liền được tha thứ, nếu người rộng lượng, hoặc giảm bớt buồn phiền, nếu người cố chấp. Biết nhận lỗi ḿnh và gan dạ đi xin lỗi, quả là người tiến bộ đáng khen. Người tu cũng thế, nếu v́ ba nghiệp không khéo ǵn giữ, có ngôn ngữ hành động làm cho người chung quanh ḿnh phiền năo, nhận rơ lỗi ḿnh, gan dạ đến ngay đương sự thành tâm sám hối. Nếu người thật tu hành, không ai chẳng tha thứ cho người đă biết lỗi sám hối. Thế là tội lỗi liền đó dứt sạch. Nếu người tu v́ si mê che đậy lỡ phạm những giới của ḿnh đă thọ, cần phải hổ thẹn gan dạ đến trước những vị đức hạnh phát lồ sám hối. Do ḷng thành của ḿnh và nhờ sự chứng minh của bậc trưởng thượng, chúng ta nỗ lực cố gắng không tái phạm những lỗi lầm cũ và không tạo tội lỗi mới. Các bậc đức hạnh không thể tha tội lỗi cho chúng ta, song nhờ các ngài làm đối tượng cao quí khiến những lời hứa nguyện của chúng ta có thêm sức mạnh, cho đến cả đời không quên. Biết ăn năn lỗi cũ, không tạo tội mới, đây là lư do hết tội của người sám hối. Trên đường tu hành, chúng ta thấy chướng nhiều thuận ít, hoặc trong khi phát nguyện tu hành gặp toàn những trở ngại, hoặc thân thể bệnh hoạn ngăn trở sự tu, hoặc túc nghiệp ác duyên khiến mờ mịt ngu tối... gặp hoàn cảnh này, chúng ta nên đến trước h́nh tượng Phật, Bồ-tát thành tâm sám hối. Bởi những nghiệp duyên đời trước, hiện nay chúng ta không nhớ không biết, chỉ thấy những hiện tượng bất tường, nhận ra ḿnh c̣n nhiều ác chướng, đến trước Phật, Bồ-tát thành tâm sám hối. Với ḷng thiết tha tâm chân thành, chúng ta đảnh lễ Phật, Bồ-tát, qú gối chí thành phát lên những lời chí thiết sám hối và hứa nguyện, cầu Phật, Bồ-tát chứng minh. Bởi ḷng thành khẩn thiết tha này, nên sám hối tội lỗi chóng sạch. Lời văn sám hối những nghiệp chướng cũ thu gọn trong bốn câu này: Xưa con đă tạo bao ác nghiệp Đều bởi muôn thuở tham sân si Từ thân miệng ư mà phát sanh Tất cả, nay con xin sám hối. IV.- TINH THẦN SÁM HỐISám hối đúng ư nghĩa của nó phải có đủ tâm hổ thẹn và cầu tiến. V́ hổ thẹn, chúng ta không thể chứa chấp tội lỗi măi, cần thành tâm sám hối rồi mới an ổn. Với tinh thần cầu tiến chúng ta phải dứt khoát những lỗi lầm đă qua bằng cách sám hối, để vui vẻ tiến lên con đường đạo đức. Có thế, sự tu hành tinh tấn không bị chướng ngại. Bởi hổ thẹn và mong mỏi vươn lên, sau khi sám hối, chúng ta tuyệt đối không để tái phạm những lỗi cũ. Chính khi sám hối không phải bị ai bắt buộc, chỉ do tâm hổ thẹn thúc đẩy, chí thành tha thiết sám hối. Ḷng chí thành tha thiết sẽ giúp chúng ta sạch hết mọi tội lỗi. Tuy nhiên, đă thành tâm sám hối lư đáng không được tái phạm lỗi ấy nữa, song v́ hoàn cảnh bất khả kháng, hoặc v́ tâm yếu mềm chống chọi không lại, rồi dẫm lại vết xưa. Thế đă dở lắm rồi, nhưng chúng ta cũng thành tâm sám hối đừng nản. C̣n biết sám hối, chúng ta c̣n thấy đó là tội lỗi, nếu buông xuôi luôn, tội lỗi càng ngập đầu. V́ thế, có khi một lỗi phạm đến đôi ba lần, lần nào chúng ta cũng vẫn mạnh dạn sám hối, đừng v́ tự ái không dám sám hối những lỗi đă tái phạm, tự ái này là gốc khiến ta buông lung tột độ. Tinh thần sám hối buộc chúng ta phải thành khẩn thiết tha, hổ thẹn cầu tiến, vạch trần những lỗi lầm đă làm, cầu xin sám hối. V́ vậy, khi sám hối đương sự phải cần cầu tha thiết, lời lẽ tŕnh bày chân thành rành rơ thiết yếu, phát nguyện chừa cải một cách mạnh dạn, mới đúng ư nghĩa sám hối. Nhưng gần đây các chùa cứ theo lệ xưa, chiều mười bốn và chiều ba mươi tổ chức lạy sám hối Hồng Danh, sau khi lạy qú xuống tụng nguyên bản văn dịch âm chữ Hán, Phật tử đọc thuộc ḷng mà không hiểu biết ǵ hết. Như thế, cứ lạy tụng xong gọi là xong thời sám hối. Sám hối như thế mất hết tinh thần cao cả, ư nghĩa thâm sâu của nó. Hằng ngày Phật tử làm những tội lỗi ǵ cũng được, miễn đến ngày mười bốn và ba mươi đi sám hối một thời là sạch. Quả là một việc làm lấy lệ không đúng tinh thần đạo Phật. V.- LỢI ÍCH SÁM HỐINếu người phạm tội một ḷng thành khẩn thiết tha sám hối, sau khi sám hối tuyệt đối không tái phạm, người này chưa phải là thánh, nhưng đă là bậc hiền. Bởi v́ tất cả thế gian này có ai không có tội lỗi, chỉ khác nhau nhiều hay ít, biết chừa cải hay không biết chừa cải ấy thôi. Đă có tội lỗi mà biết ăn năn hối cải, tội lỗi ấy sẽ giảm xuống dần dần, cho đến hết, người như thế không phải bậc hiền là ǵ? Cho nên trong cuộc sống này, chúng ta đừng đ̣i hỏi ḿnh hay mọi người không có tội lỗi, chỉ cần khi lỡ phạm tội lỗi ḿnh cũng như mọi người phải hổ thẹn ăn năn thành tâm sám hối, nguyện chừa cải hẳn sau này. Được thế, chúng ta đều là con người tiến bộ, là kẻ sẽ vươn lên bậc Hiền Thánh ở mai kia. Sám hối muốn hết tội phải nhắm thẳng động cơ chánh yếu của nó. Như bài kệ này: Tánh tội vốn không do tâm tạo Tâm nếu diệt rồi tội sạch trong Tội trong tâm diệt cả hai không Thế ấy mới là chân sám hối. Hành động ăn cướp ăn trộm, tự nó không thể thành nghiệp phải do ḷng tham thúc đẩy. Ḷng tham là động cơ chánh yếu của hành động trộm cướp. Thế nên nói “tánh tội vốn không do tâm tạo”. Ḷng tham dứt rồi th́ hành động trộm cướp làm ǵ c̣n. Quả là cả tâm cả tội đều sạch, sự sám hối này mới là chân chánh sám hối. Chân chánh sám hối th́ tội lỗi nào mà chẳng sạch. Hoặc khi sám hối th́ thành khẩn tha thiết, song sau đó lại mau quên thỉnh thoảng lại tái phạm. Tái phạm lại sám hối, năm lần mười lượt như vậy, tuy tội không sạch được, mà do bền chí sám hối nó cũng ṃn dần. Đây có thể là trường hợp của hạng trung b́nh chúng ta. Chúng ta chưa được một lần sám hối là dứt khoát không phạm, mà lâu lâu lại tái phạm tội cũ. Đừng thối chí đừng nản ḷng, chúng ta lại dập đầu sám hối nữa. Biết như thế là dở, song dở phải chịu dở chớ sao; biết dở chịu dở c̣n hơn người không biết không chịu. Có sám hối là có suy giảm tiêu ṃn, chúng ta hằng ngày mang tâm hổ thẹn, ḷng thiết tha sám hối măi. Nhắc đi lập lại đôi ba mươi lần, nó cũng có sức mạnh, đây là hành động thấp ḿnh khiến tâm ngạo mạn tiêu mất, lâu ngày công đức cũng được đầy đủ. Dám sám hối cũng là một việc làm can đảm, nó là sức mạnh đẩy chúng ta tiến lên. Tu mà không gan dạ sám hối, quả là người hèn nhát che dấu không thể nào tiến lên được.
VI.- KẾT LUẬNNgười đời đa số có tội lỗi t́m mọi cách khéo léo che giấu đắp điếm cho người khác đừng thấy lỗi ḿnh, chúng ta có lỗi can đảm nhận chịu và can đảm phơi bày cho người khác biết để sám hối. Thế đă vượt hơn người đời một bậc đáng kể rồi. Huống là, biết lỗi rồi ăn năn hổ thẹn quyết tâm chừa cải để khỏi phạm lại lần thứ hai, người này hẳn đă đi theo bước đường của Hiền Thánh. Căn bản của sự tu hành là sửa đổi những điều dở, nếu chúng ta không c̣n dở th́ ai cần tu. Sửa đổi những điều dở, sám hối là thượng sách. Người biết sám hối, là biết tu, ngược lại có lỗi mà không biết sám hối, dù có mang h́nh thức nhà tu kẻ ấy cũng chưa biết tu. Sám hối với một tâm chí thành, với một ḷng tha thiết, xấu hổ những lỗi đă làm, quả quyết không tái phạm, người này không c̣n tội lỗi nào mà chẳng sạch. Dù có tạo tội bao nhiêu, họ vẫn là người tốt ở mai sau.
]
I.- MỞ ĐỀThấy người làm việc lành việc phải, ḿnh tán thán bằng lời, hoặc góp một phần công, giúp một phần của để thành tựu công việc lành ấy. Quả là người này đă có ḷng lành đáng quí đáng mến. Huống nữa, Tam Bảo là cây cầu đưa chúng sanh từ bến mê qua bờ giác, Tam Bảo là con thuyền cứu vớt chúng sanh đang ch́m trong bể khổ đưa đến bờ Niết-bàn, Tam Bảo là ngọn đèn sáng soi đường cho chúng sanh khỏi lạc trong rừng tối vô minh. Người phát tâm tán trợ bồi bổ tô đắp cho Tam Bảo thường c̣n ở thế gian th́ công đức biết bao kể xiết. V́ Tam Bảo thường c̣n ở thế gian, chúng ta phát tâm cúng dường, quả là việc làm tự lợi lợi tha đầy đủ. II.- ĐỊNH NGHĨACúng dường là nuôi dưỡng khiến Tam Bảo hằng c̣n ở đời. Tất cả những sự bảo bọc giúp đỡ ǵn giữ để |