Bước Đầu Học Phật

HT THÍCH THANH TỪ

  

Thường Chiếu

Ấn Tống - PL. 2543 - 1999

 

LỜI ĐẦU SÁCH

 

Chúng tôi viết quyển sách này cho những người mới bắt đầu học Phật. Bước đầu tuy tầm thường song không kém phần quan trọng, nếu bước đầu đi sai, những bước sau khó mà đúng được. Người học Phật khi mới vào đạo không hiểu đúng tinh thần Phật giáo, về sau sẽ hỏng cả một đời tu. Người có trách nhiệm hướng dẫn không thể xem thường kẻ mới học, cần phải xây dựng có một căn bản vững chắc, đi đúng đường hướng của Phật dạy. Hiểu Phật giáo một cách đúng đắn, mới mong thành một Phật tử chân chánh.

            V́ muốn chỉ lẽ chánh tà để người mới vào đạo khỏi lầm lẫn, nên chúng tôi mạnh dạn chỉ thẳng những điều sai lầm hiện có trong Phật giáo. Làm như thế, không có nghĩa chúng tôi muốn vạch lưng chỉ thẹo cho kẻ khác thấy, mà cốt yếu muốn gầy dựng lại một nếp sống Phật giáo phù hợp với hiện tại và mai sau. Chúng ta sống trong thời khoa học, cần phải truyền bá Phật giáo thích ứng với chân lư gần với sự thật. Bản chất của Phật giáo đă là chân lư, là sự thật, chúng ta đừng làm méo mó khiến kẻ bàng quan hiểu lầm Phật giáo. Với nhiệt t́nh, chúng tôi một bề đả phá những mê tín đang ẩn náu trong Phật giáo, để cho bộ mặt Phật giáo trắng sạch hơn, không c̣n những thứ lọ nhơ làm lem luốc. Tinh thần tồi tà phụ chánh, chúng tôi chịu trách nhiệm những ǵ chúng tôi đă nói và hoàn toàn chịu trách nhiệm với những ai không hài ḷng phiền trách chúng tôi.

 

Kính ghi

Thích Thanh Từ


 

ĐẠO PHẬT

 

I.- MỞ ĐỀ

            Chúng sanh đang ch́m đắm trong biển khổ sanh tử, dong thuyền ra cứu vớt họ là sự ra đời của đạo Phật. Đêm tối vô minh che phủ tất cả chúng sanh, cầm đuốc sáng soi đường cho họ là trách nhiệm của đạo Phật. Đạo Phật đến với chúng sanh trong một niềm khát vọng vô biên, một sự trông chờ tột độ. Nhưng, con thuyền có giá trị cứu mạng khi nào người sắp chết ch́m biết bám lấy nó. Ngọn đuốc là một cứu tinh, khi nào những kẻ lạc đường trong đêm tối khao khát muốn ra. Con thuyền và ngọn đuốc sẽ vô bổ, nếu những kẻ sắp chết ch́m và người lạc trong đêm tối chấp nhận cái ǵ ḿnh đang chịu. Cũng thế, đạo Phật sẽ vô ích với những chúng sanh chấp nhận sanh tử và an phận trong vô minh. V́ thế, đạo Phật có mặt trên thế giới này đă hơn hai ngàn năm trăm năm, c̣n biết bao nhiêu người nh́n nó với cặp mắt xa lạ. Song những kẻ đă nếm được pháp vị, thấy công đức của đạo Phật đối với ḿnh vô vàn không sao kể hết. Thật đúng với câu “Phật hóa hữu duyên nhân”.

II.- ĐỊNH NGHĨA

Đứng về hành động, đạo Phật là con đường đưa người trở về cố hương giác ngộ. Hoặc đạo Phật là phương pháp giúp người tiến tu đến giác ngộ. Đứng về thực thể, đạo Phật là tánh giác sẵn có của tất cả chúng sanh.

            Những kẻ phiêu lưu ở tha phương viễn xứ ước mơ khao khát trở về cố hương, đạo Phật là tấm bản đồ vẽ rơ con đường trở về cố hương, do bàn tay của người đồng cảnh ngộ đă trở về đến tận quê nhà, đức Thích-ca Mâu-ni. Nếu ư thức được cảnh khổ của người xa quê, một ḷng quyết chí trở về cố hương được người trao tay cho tấm bản đồ, biết rơ con đường về quê th́ c̣n sung sướng nào hơn. Không cam ch́m sâu trong đêm tối vô minh, người cương quyết tiến lên con đường giác ngộ, nắm vững những phương tiện tiến tu, chắc chắn sớm chiều sẽ được măn nguyện.

            Đứng trên bờ biển thấy toàn biển đều là sóng, bởi cơn gió mạnh, người ta ngơ ngác không biết làm sao t́m ra nước biển. Nếu đây là sóng th́ nước biển ở đâu ? Những lượn sóng đuổi nhau lặn hụp ḥ hét ầm ́, mặt biển là những cái biến động ấy sao? Người sáng suốt nghe thế, bảo họ rằng: “Chính sóng ấy tức là nước”, “cái biến động kia chỉ là hiện tượng của mặt biển tĩnh lặng”. Hăy ngay nơi sóng, chúng ta nhận ra nước, trên cái biến động biết được thể tịnh. Hiện tướng vô minh và tánh giác cũng thế.

            Tất cả những vọng tưởng điên đảo là hiện tướng vô minh, vọng tưởng lặng lẽ là tánh giác thanh tịnh.

            Tuy hai tên hai tướng khác nhau, song không thể rời vô minh t́m được tánh giác, như sóng với nước. Tánh giác là cái thể chẳng sanh chẳng diệt của mỗi con người chúng ta, hằng tàng ẩn trong con người vô thường sanh diệt này, như thể tĩnh lặng của mặt biển sẵn có trên tướng biến động ầm ́. Bởi chúng sanh sẵn có tánh giác mà quên, nên đức Thích-ca thương xót giáo hóa chỉ dạy cho thức tỉnh, đó là đạo Phật.

            Chủ yếu của đạo Phật là giác ngộ, nên được biểu trưng bằng phóng quang, ngọc minh châu, cây đuốc, ngọn đèn. Nói đến đạo Phật là nói đến giác ngộ; mọi h́nh thức mê tín hiện có trong đạo Phật, do người sau ứng dụng sai lầm, chớ không phải thực chất của đạo Phật.

III.- LƯ THUYẾT

Phần lư thuyết của đạo Phật rất phong phú, nói chung là Tam Tạng giáo điển, gồm Tạng Kinh, Tạng Luật và Tạng Luận. Tam Tạng này hiện ấn hành có hai văn hệ: Bali Tạng, Hán Tạng. Bali Tạng thuộc Nam truyền Phật giáo, Hán Tạng thuộc Bắc truyền Phật giáo. Ở đây, chúng tôi nói về hệ thống Hán Tạng. Bộ Hán Tạng hiện do Nhật Bản và Đài Loan ấn hành gồm trên năm ngàn quyển. Thật là một kho tàng văn hóa dồi dào, chính những người tu sĩ Phật giáo cũng chưa chắc đă đọc hết. Trong ba Tạng, quan trọng nhất là tạng Kinh, v́ tạng Luận là giải thích lại tạng Kinh, c̣n tạng Luật nói rơ về nghi thức luật lệ của người tu. Trong tạng Kinh tổng quát chia làm ba phần : hệ thống A-hàm, hệ thống Bát-nhă, hệ thống Pháp Hoa, Niết-bàn, Hoa Nghiêm. Hệ thống A-hàm giải thích về triết lư vô thường, khổ, không, vô ngă. Hệ thống Bát-nhă giải thích tự tánh các pháp là Không, chỗ tánh Không ấy là tướng chân thật. Hệ thống Pháp Hoa, Niết-bàn, Hoa Nghiêm giải thích chúng sanh sẵn có tánh giác gọi là Trí tuệ Phật, Tri kiến Phật, Niết-bàn.

            Tuy nhiên, v́ truyền bá lâu xa khó tránh khỏi những tư tưởng tập tục sai lầm chen lẫn trong chánh pháp. Chúng ta muốn phán định chánh tà, trong kinh có dạy dùng Tứ pháp ấn, Tam pháp ấn, Đệ nhất pháp ấn để ấn định đúng sai. Tứ pháp ấn là vô thường, khổ, không, vô ngă. Tất cả những kinh thuộc hệ thống A-hàm nói không ngoài bốn lư này, nếu nói khác bốn lư này là tà thuyết. Tam pháp ấn là chư hạnh vô thường, chư pháp vô ngă, Niết-bàn tịch tịnh. Đây là trùm cả Tiểu thừa lẫn Đại thừa đều nằm gọn trong ấy. Đệ nhất pháp ấn là Nhất tâm chân như. Phần này chỉ riêng hệ thống Pháp Hoa..., không can hệ đến hai hệ thống kia. Nắm được cái căn bản này, chúng ta tạm biết cương yếu học Phật.

            Phần lư thuyết của đạo Phật khác hẳn với thuyết lư của những triết gia, học giả khác. Bởi v́ họ dùng suy tư nghĩ tưởng biện thuyết, c̣n đây do đức Phật sau khi giác ngộ thấy lẽ thật như thế, tùy hoàn cảnh trường hợp đem ra chỉ dạy cho người. Người khéo ứng dụng lời Phật dạy vào cuộc sống sẽ được kết quả tốt đẹp, hoàn toàn không họa hại. Cho nên, trong kinh nói “lời Phật nói trước, giữa, sau đều thiện”.

IV.- THỰC HÀNH    

Ứng dụng phần lư thuyết trên vào cuộc sống hiện tại, sẽ được kết quả tùy theo khả năng phương pháp ḿnh thực hành. Sự thực hành có chia nhiều thứ bậc: Ngũ thừa, Tam thừa, Nhất thừa. Chữ thừa ở đây ví dụ cỗ xe chở người đi. Từ vị trí con người chở đến con người là Nhân thừa. Từ vị trí con người chở đến quả vị chư thiên gọi là Thiên thừa. Từ vị trí con người chở đến quả vị Thanh văn gọi là Thanh văn thừa. Từ vị trí con người chở đến quả vị Duyên giác gọi là Duyên giác thừa. Từ vị trí con người chở đến quả vị Bồ-tát gọi là Bồ-tát thừa. Đó gọi là Ngũ thừa. Bỏ hai phần Nhân thừa và Thiên thừa c̣n lại ba thừa sau gọi là Tam thừa. Từ vị trí con người phàm phu chở thẳng đến quả vị Phật gọi là Phật thừa hay Nhất thừa.

            Từ vị trí con người đến vị trí con người mai hậu là, ứng dụng tu hành Tam qui Ngũ giới và những nề nếp sống hiền lành chân thật của con người. Từ vị trí con người đến quả vị chư Thiên, ứng dụng pháp Thập Thiện vào đời sống tu hành và Thiền định từ Sơ thiền đến Tứ thiền. Từ vị trí con người đến quả vị Thanh văn, ứng dụng pháp Tứ đế để tu hành. Từ vị trí con người đến quả vị Duyên giác ứng dụng pháp Thập nhị nhân duyên tu hành. Từ vị trí con người đến quả vị Bồ-tát ứng dụng pháp Lục độ tu hành. Từ vị trí con người phàm phu thẳng đến quả vị Phật ứng dụng phương pháp “tức tâm là Phật” tu hành. Ví như chúng ta muốn đi đến vị trí nào, khi ra bến xe liền t́m xe đi về vị trí ấy leo lên, sẽ đưa chúng ta đi đến đích như chỗ mong muốn. Đạo Phật cũng thế, tùy theo sở thích của người mà lập nhiều pháp môn, ưng pháp môn nào ứng dụng tu hành đều kết quả đúng như sở nguyện. Đó là phương tiện tùy cơ của đức Phật trên phương pháp giáo hóa chúng sanh. Nếu nói thẳng bản hoài của Ngài, chỉ muốn chúng sanh thành Phật là mục tiêu duy nhất.

            Đao Phật truyền sang Trung Quốc lại chia thành nhiều tông phái, mỗi tông phái y cứ trên những bộ Kinh hay Luận làm chủ yếu cho sự tu hành. Nếu nói rộng có cả thảy mười tông, nói hẹp theo sự truyền bá hiện tại có bốn tông. Hiện nay c̣n bốn tông đang lưu hành là Thiên Thai tông, Thiền tông, Mật tông, Tịnh Độ tông. Phật giáo Việt Nam chịu ảnh hưởng Phật giáo Trung Quốc, sự lưu hành các tông phái cũng tương tợ Trung Quốc.

V.- TRUYỀN BÁ

Ở đây nói truyền bá là đi thẳng vào phương pháp, không căn cứ trên lịch sử. Những lời dạy của đức Phật được gọi là Kinh, bởi hai lư do: hợp lư và hợp cơ. Một chân lư dù cao siêu đến đâu, nếu không ứng dụng được vào cuộc đời, chân lư ấy trở thành không nền tảng, chỉ lơ lửng trên không trung. Chân lư không áp dụng được cho người sẽ là vô ích. Truyền bá sự vô ích thật là làm một điều vô nghĩa. Lời Phật dạy đúng chân lư gọi là hợp lư, song lời dạy ấy cũng phải hợp căn cơ tŕnh độ của con người đương thời th́ họ ứng dụng mới được. Hợp lư hợp cơ là hai điều kiện không thể thiếu trên phương diện truyền bá. Nếu chỉ dạy thích hợp sự ưa thích của người mà không có chân lư sẽ đưa đến mê tín và tội lỗi. Một trọng trách của người truyền bá, phải nhận định sáng suốt, để không bị lỗi thời hay sai chân lư. Chính đây là ư nghĩa “tùy duyên mà bất biến” của tinh thần Đại thừa. Bất biến là hợp lư, tùy duyên là hợp cơ. Thật là một h́nh ảnh linh động đi vào cuộc đời của chánh pháp. Người truyền bá chánh pháp lúc nào cũng linh động mà không sai chân lư. Bởi cuộc đời là một ḍng biến thiên, mỗi thời đều mỗi khác, chúng ta không thể mang h́nh thức cổ lỗ đi vào thời đại văn minh. Làm thế, chỉ chuốc sự chán chê của thiên hạ, không lợi ǵ cho ḿnh, cho chánh pháp cả. Cũng không thể mang h́nh thức rất hợp thời trang, mà bỏ mất chân lư. Tùy duyên mà bất biến, quả là chân lư ngàn đời của người đi ra giáo hóa.

            Lại nữa, con người sống lúc nào cũng dung ḥa giữa t́nh cảm và lư trí. T́nh cảm là quả tim, lư trí là khối óc. Quả tim và khối óc phải nhịp nhàng ḥa điệu th́ con người mới thanh thản an vui. Nghiêng một bên nào cũng làm mất thăng bằng, khiến con người dễ mất b́nh thường. Đạo Phật muốn c̣n măi trên nhân gian với con người, sự truyền bá cũng phải làm thỏa măn hai phần ấy. Để thỏa măn phần khối óc, người truyền bá chánh pháp phải thường giảng dạy Kinh Luận cho Phật tử nghe. Thấm nhuần triết lư cao siêu của Phật giáo, người Phật tử mới khỏi nghi ngờ khi nghe một lư thuyết khác. Sự tu hành vững chăi, cũng nhờ hiểu thấu giáo lư siêu thoát của Phật dạy. Giáo lư là ngọn đuốc sáng đưa người ra khỏi rừng vô minh u tối. Có sẵn trong tay ngọn đuốc sáng, người Phật tử chắc chắn sẽ thoát khỏi rừng mê. Để thỏa măn con tim, những h́nh thức nghi lễ tán tụng ở nhà chùa, giúp người Phật tử niềm tin được sung măn. Những buổi lễ tại chùa đều có mang tính chất tín ngưỡng, phổ nhạc trong những lời tụng tán đều là đi thẳng vào t́nh cảm của con người. Tuy chưa hiểu ǵ về Phật pháp, chỉ đến chùa tụng một thời kinh, người ta cũng thấy ḷng được nhẹ nhàng lâng lâng. Hoặc những đêm khuya tĩnh mịch, những lời tụng tán thâm trầm ḥa với tiếng khánh tiếng mơ nhịp nhàng, khiến người nghe tâm hồn dường như bay bổng trên không trung. Tuy nhiên như thế, hai phần lư trí và t́nh cảm đều phải quân b́nh nhau, lệch một bên đều là khuyết điểm lớn. Nếu chỉ có lư trí mà thiếu t́nh cảm trở thành khô khan. Nếu chỉ có t́nh cảm mà thiếu lư trí trở thành mê tín. Người truyền giáo phải khéo léo quân b́nh hai điều này.

VI.- KẾT LUẬN

Đạo Phật có mặt ở thế giới này đă trên hai mươi lăm thế kỷ, sự truyền bá này quả thật lâu dài. Sở dĩ được như thế, do Phật giáo là chân lư không lư thuyết nào bẻ găy nổi, người tu hành theo Phật giáo được kết quả lợi ích thiết thực không nghi ngờ, phương pháp truyền bá của Phật giáo rất linh động. Chúng ta hữu duyên hữu phước mới được gội nhuần chánh pháp,  đừng cô phụ phước duyên của ḿnh, mỗi chúng ta phải nỗ lực tiến tu. Có thưởng thức được pháp vị rồi, chúng ta mới tùy duyên lợi ích kẻ sau. Làm thế nào cho ngọn đèn chánh pháp nối tiếp măi không tắt trên cơi thế gian này. Đền ơn Phật Tổ không ǵ hơn cứu độ chúng sanh. Sự cứu độ thực tế nhất, phải ngay cơi đời này, với những người có mặt hiện nay, khiến họ chuyển mọi khổ đau trở thành an lạc. Phật giáo không phải cái ǵ xa vời, không phải sự ước mơ viển vông, mà hiện tại thực tế. Nhận định như thế, mới có thể đem đạo Phật vào cuộc đời một cách hữu hiệu.

]


 

TAM QUI

 

I.- MỞ ĐỀ

Sống trong cuộc đời muôn mặt, người muốn chọn lấy một lối đi, vạch ra một cuộc sống đầy đủ ư nghĩa và an lành, thật không phải là việc dễ. Chúng ta là khách lữ hành đang đứng trước ngă tư ngă năm, mà chưa biết cuối cùng các con đường ấy sẽ đưa đến đâu? Chọn lấy một con đường để đi đến suốt đời, phải khôn ngoan sáng suốt lắm mới khỏi hối hận về mai sau. Nhưng mà bắt buộc chúng ta phải chọn lấy, đừng nhờ nhơi, đừng nghe lời xúi giục, v́ đây là con đường tự ta đi không ai thế ta được. Chọn kỹ rồi sẽ đi, là thái độ của kẻ khôn ngoan; nhắm mắt đi càn phó mặc đến đâu hay đến đó, là kẻ khờ dại, mang cả cuộc đời làm một tṛ chơi. Người trí phải nh́n kỹ, phải xem xét tường tận trước khi ḿnh cất bước đi trên một con đường nào. Qui y Tam Bảo quả là đă đặt ḿnh trên một con đường đi đến tận cùng. Đến tận đầu đường là suốt cuộc đời của chúng ta. Việc làm này cần phải hiểu biết rơ, nhận thức tường tận, mới phát tâm Qui y. Phát nguyện Qui y là chúng ta đă đặt định hướng cho cả cuộc đời. Nếu không hiểu biết ǵ th́ việc Qui y mất hết ư nghĩa của nó.

 

II.- ĐỊNH NGHĨA

            Tam qui nói đủ là Qui y Tam Bảo. Tam Bảo là Phật bảo, Pháp bảo và Tăng bảo. Phật là chỉ đức Phật Thích-ca Mâu-ni, do trước kia Ngài tu hành giác ngộ thành Phật. Pháp bảo là giáo pháp do đức Phật nói ra chỉ dạy đường lối tu hành. Tăng bảo là những vị tu hành theo giới luật và chánh pháp của đức Phật.

            Tại sao gọi là Phật bảo?

            - Từ một kẻ phàm phu như chúng ta tu hành thành Phật thật là chuyện ít có trên nhân gian này. Thế nên trong kinh thường nói Phật ra đời khó gặp, như hoa Ưu-đàm một ngàn năm mới trổ một lần. Bởi ít có khó gặp nên nói là báu. Hơn nữa, giác ngộ thành Phật tự bản thân Ngài đă thoát khỏi sanh tử luân hồi, đem chỗ giác ngộ ấy dạy lại cho người cùng ra khỏi sanh tử, là điều cao cả nhất trần gian nên gọi là báu.

            Thế nào gọi là Pháp bảo?

            - Chánh pháp xuất thế hi hữu do đức Phật dạy lại, người nghe rất khó hiểu khó thấu đáo được. Nhưng một khi đă hiểu, ứng dụng tu hành có thể chuyển đời phàm phu trở thành thánh nhân, pháp như vậy c̣n ǵ quí báu bằng. Pháp của Phật dạy là chân lư, dù trải thời gian bao lâu chân lư ấy vẫn rạng ngời như ḥn ngọc báu. Những kẻ đang lạc lối trong đêm đen, bất thần gặp được ngọn đuốc, vui mừng quí tiếc thế nào, người học đạo gặp được chánh pháp cũng như thế. Người đang bị ch́m đắm ngoài bể cả, trông thấy một con thuyền đến vớt, vui mừng sung sướng quí mến thế nào, người học đạo gặp được chánh pháp cũng như thế. Cho nên nói “trăm ngàn muôn kiếp khó t́m gặp”.

            Thế nào gọi là Tăng bảo?

            - Tăng là chỉ cho một nhóm tu sĩ học theo Phật, sống chung nhau đúng tinh thần Lục ḥa. Sống đúng tinh thần Lục ḥa là việc ít có trên nhân gian này. Bởi v́ người thế gian sống đua đ̣i giành giật hơn thua với nhau, không bao giờ họ sống ḥa thuận như thế được. Lục ḥa là: thân ḥa chung ơ,û miệng ḥa không tranh căi, ư ḥa đồng vui, giới luật ḥa cùng giữ, hiểu biết ḥa cùng giải, lợi ḥa chia đồng. Sáu điều này là tinh thần của Tăng. Nếu có người đầu tṛn áo vuông mà không sống theo tinh thần Lục ḥa cũng không gọi là Tăng. Ở trong tập thể từ bốn người trở lên, hằng ḥa thuận chung sống đúng tinh thần Lục ḥa, việc này rất khó làm đối với người thế gian. V́ thế, tu sĩ sống khuôn theo tinh thần Lục ḥa, thật là một điều quí báu ở trên nhân gian. Vả lại, trên sự tu hành, các vị ấy tự ḿnh đă vơi cạn phiền năo, c̣n dạy bảo kẻ khác dẹp bỏ phiền năo. Chính những vị ấy đă được phần nào an ổn thanh tịnh, lại hướng dẫn người đến chỗ an ổn thanh tịnh. Bởi lẽ ấy, gọi các ngài là Tăng bảo.

            Thế nào là Qui y?

            - Qui là trở về, y là nương tựa. Trở về nương tựa với Phật, Pháp và Tăng gọi là Qui y Tam Bảo. Từ lâu, chúng ta măi chạy theo dục lạc tạo nghiệp đau khổ, nay hồi tâm thức tỉnh quyết định trở về nương tựa với Tam Bảo. Tam Bảo là chỗ cứu kính để cho đời chúng ta nương tựa, không c̣n tạo nghiệp đau khổ, mà thường đem sự an lạc lại cho chúng ta. Đây là sự hồi tâm tỉnh giác phát nguyện trở về của chúng ta. Sự tỉnh giác này là nền tảng của lâu đài trí tuệ, nó là bước đầu trên con đường về quê hương giác ngộ. Đặt nền tảng này vững chắc th́ lâu đài trí tuệ mới được lâu dài. Đó là sự hệ trọng của tinh thần Qui y.

III.- QUI Y TAM BẢO BÊN NGOÀI

            Phật Pháp Tăng là đối tượng để chúng ta Qui y. Nguyện noi theo con đường đức Phật đă đi là Qui y Phật. Quyết thực hành những lời chỉ dạy của Ngài c̣n ghi trong kinh điển là Qui y Pháp. Thuận theo sự hướng dẫn tu hành của chúng Tăng là Qui y Tăng. Từ đây bước đi, cuộc sống của chúng ta lấy Tam Bảo làm mẫu mực, nhắm thẳng theo đó mà tiến tới, khỏi phải nghi ngờ ḍ dẫm như thuở nào. Chúng ta là hoa tiêu, Tam Bảo là ngọn hải đăng. Cứ nhắm theo hải đăng mà lái con thuyền thân mạng của chúng ta cho đến đích. Song Phật pháp, người Phật tử quyết định tin theo không c̣n chút do dự, c̣n Tăng th́ phải cẩn thận để khỏi nhận lầm. Tăng là tập đoàn Tăng lữ sống đúng tinh thần Lục ḥa, không phải tính cách cá nhân. Nếu một vị sư đứng ra làm lễ Qui y cho Phật tử, chính vị ấy đại diện cho tập đoàn. Qui y Tăng là qui y với những vị sư sống đúng tinh thần Lục ḥa, không phải cuộc hạn riêng vị sư truyền tam qui ngũ giới cho ḿnh. Nếu vị đại diện truyền qui giới ấy có tu được hay không tu được, người thọ pháp qui giới vẫn đă Qui y Tăng rồi. Khi qui y một vị Tăng tức là đă qui y tất cả chư Tăng, nếu vị nào sống đúng tinh thần ḥa hợp. Phật tử có quyền học hỏi tất cả Tăng chúng, không nên hạn hẹp nơi ông thầy của ḿnh. Được vậy mới đúng tinh thần Qui y Tam Bảo bên ngoài.

IV.- QUI Y TAM BẢO TỰ TÂM

            Phật pháp bao giờ cũng phải đủ hai mặt, Tam Bảo bên ngoài là đối tượng, Tam Bảo tự tâm là bản chất. Nương Tam Bảo bên ngoài, chúng ta phát triển Tam Bảo của tự tâm. Trong ngoài hỗ tương để viên măn công phu tu hành, là mục tiêu chánh yếu của đạo Phật.

            Thế nào là Tam Bảo tự tâm?

            Tánh giác sẵn có nơi chúng ta là Phật bảo. Ḷng từ bi thương xót cứu giúp chúng sanh là Pháp bảo. Tâm ḥa hợp thảo thuận với mọi người là Tăng bảo. Nhờ Phật bảo bên ngoài, chúng ta đánh thức tánh giác của ḿnh, trở về nương tựa tánh giác của ḿnh là Qui y Phật. Nhờ Pháp bảo bên ngoài, chúng ta dấy khởi ḷng từ bi đối với chúng sanh, trở về nương tựa với ḷng từ bi của ḿnh là Qui y Pháp. Do chư Tăng bên ngoài gợi lại cho chúng ta có tinh thần ḥa hợp thuận thảo, trở về nương tựa với tinh thần ḥa hợp thuận thảo của ḿnh là Qui y Tăng. Phật Pháp Tăng bên ngoài là trợ duyên giúp chúng ta phát khởi Phật Pháp Tăng của tự tâm. Ví như ông thầy giáo làm trợ duyên cho đứa học tṛ mởø mang kiến thức của nó. Có ông thầy giáo cần cù, mà đứa học tṛ lười biếng không chịu học, ông thầy cũng trở thành vô ích. Cũng thế, có Tam Bảo bên ngoài, người Phật tử không cố gắng đánh thức Tam Bảo của chính ḿnh, Tam Bảo bên ngoài cũng thành vô nghĩa. Tam Bảo bên ngoài là điều kiện tối thiết yếu với người Phật tử, nhưng có được giác ngộ giải thoát chính là khả năng của Tam Bảo tự tâm. Chỉ biết có Tam Bảo bên ngoài là chấp sự bỏ lư. Một bề tin vào Tam Bảo của tự tâm không cần biết đến Tam Bảo bên ngoài, là chấp lư bỏ sự. Người Phật tử chân chánh phải viên dung sự lư mới khỏi trở ngại trên đường tu.

V.- NGHI THỨC QUI Y

            Trọng tâm chủ yếu trong buổi lễ Qui y, chính lúc Phật tử qú trước Tam Bảo, ba lần phát nguyện: “Đệ tử... xin suốt đời qui y Phật, qui y Pháp, qui y Tăng.” Câu phát nguyện này tự đáy ḷng Phật tử phát xuất, không do sự ép buộc xúi giục nào. Ba lần phát nguyện như vậy là gieo hạt giống vào sâu trong tàng thức, khiến đời đời không quên. Đây là tinh thần tự giác tự nguyện. H́nh thức nghi lễ chỉ giúp thêm ấn tượng quan trọng cho giờ phút phát nguyện ấy thôi. Khi chúng ta tỉnh giác nguyện theo Tam Bảo th́ đời ta được lợi ích. Nếu trên đường tu có lúc nào bị vô minh che đậy không nhớ Tam Bảo, chúng ta tự chịu thiệt tḥi. Nhà Phật không bắt buộc chúng ta thệ những ǵ nặng nề để không bỏ đạo. Của báu cho người nếu ưng nhận lời th́ được lợi ích, không ưng nhận th́ thôi, bắt buộc làm ǵ. Trừ ra có hậu ư ǵ, mới bắt buộc những câu thề nặng để không dám bỏ. Người hiểu được chỗ này mới thấy giá trị chân thật của đạo Phật. Tất cả sự dụ dỗ ép buộc để theo đạo, nhà Phật hoàn toàn phản đối. Mỗi người tự nhận thức rơ ràng về đạo Phật rồi phát tâm đến với đạo, mới đúng tinh thần Phật tử. Hiểu rồi mới theo là hành động đúng với tinh thần giác ngộ. Dùng thuật hay, phép lạ để dẫn người vào đạo, đó là mê tín. Dùng mọi quyền lợi để dụ người ta vào đạo, đó là cám dỗ kẻ ngu si, không phù hợp với tinh thần giác ngộ. Chúng ta có bổn phận giải thích để người khác hiểu phát tâm qui y là, người truyền đạo chân chánh. Nghi thức trịnh trọng trong buổi lễ qui y, chỉ là trợ duyên cho lời phát nguyện của chúng ta được thành tựu viên măn. Nghi lễ này không có nghĩa là Phật sẽ ban ơn cho chúng ta trọn đời được an lành.

VI.- KHẲNG ĐỊNH LẬP TRƯỜNG

            Sau khi qui y Tam Bảo, chúng ta khẳng định lập trường một cách tỏ rơ: “Qui y Phật không qui y thiên, thần, quỉ, vật.” Chúng ta đă nhận định kỹ càng quyết chí theo Phật là đấng giác ngộ, không lư do ǵ lại theo thiên, thần, quỉ, vật. Bởi v́ thiên, thần, quỉ, vật vẫn chưa giác ngộ, c̣n bị luân hồi như chúng ta. Song cũng có một số Phật tử đă qui y Phật, mà vẫn chạy theo quỉ thần. Những người này v́ tham lợi lộc, v́ thích mầu nhiệm, nên đă đi sai đường Phật pháp. Thậm chí v́ sự mê tín của họ, họ trở lại kính trọng quỉ thần hơn Phật. Đây là hiện tượng xấu xa để khách bàng quang phê b́nh Phật giáo.

            “Qui y Pháp không qui y ngoại đạo tà giáo.” Chánh pháp của Phật là chân lư, cứu giúp chúng sanh một cách thiết thực, như ông thầy thuốc đối với bệnh nhân. Hiểu được lẽ chân thực này, c̣n lư do ǵ chúng ta chạy theo ngoại đạo tà giáo. Chúng ta tự nhận ḿnh yêu chuộng chân lư, cầu mong sự thoát khổ thiết thực, ngoại đạo tà giáo c̣n ǵ hấp dẫn được chúng ta. Chỉ có những kẻ ba phải nghe đâu chúc đó, mới có những hành động đổi thay vô lư như vậy. Dù có những phép tà ngoại linh thiêng muốn ǵ được nấy, chúng ta cũng không khởi ḷng tham theo họ. Hoặc họ có những phương thuốc linh mầu nhiệm bệnh  ǵ cũng cứu khỏi, là Phật tử chân chánh thà chịu chết chớ không cầu xin. Thân này có giữ ǵn khéo mấy, cuối cùng cũng tan hoại, lạc vào đường tà kiếp kiếp khó ra khỏi.

            “Qui y Tăng không qui y bạn dữ nhóm ác.” Chúng ta đă chọn lựa những vị hiền đức nương theo, khiến đời ḿnh về gần với đức hạnh. Bạn dữ nhóm ác đối với người biết đạo cần phải tránh xa. Bởi v́ “gần mực th́ đen gần đèn th́ sáng”, hay “gần đồ tanh hôi ḿnh bị hôi lây, gần vật thơm tho ḿnh được thơm lây”. V́ thế, chúng ta phải can đảm đi đúng đường của ḿnh đă chọn, dù có bị  khinh khi mạ lỵ, ta cũng cứ thế mà đi. Bởi v́ chúng ta đâu phải là kẻ mù quáng, mà đành bỏ cái tốt gần cái xấu. Khẳng định lập trường rơ ràng là người có ư chí cương quyết. Nếu người tu hành mà thiếu ư chí này, dễ bị gió lung lay.

VII.- KẾT LUẬN

            Qui y Tam Bảo là nền móng ṭa nhà giác ngộ, là nấc đầu trên cây thang giải thoát, là những bước đầu trên con đường về quê hương vô sanh. Muốn ṭa nhà vững chắc, cần phải có nền móng kiên cố. Cần vượt tột cây thang giải thoát, nấc đầu phải bước cho vững. Thích sự an lành ở quê hương vô sanh, những bước đầu trên con đường trở về phải đi cho đúng. Thiếu nền móng Tam Qui th́ ṭa nhà giác ngộ không sao xây cất được. Không có nấc đầu, khó ai có thể leo tận cây thang giải thoát. Những bước đầu trên con đường về quê đă sai, trăm ngàn bước sau cho đến càng đi càng sai. V́ thế, Qui y Tam Bảo có tầm quan trọng vô cùng. Mỗi người muốn đến với đạo Phật phải từ cửa Qui y mà vào, không như thế th́ học Phật mất căn bản. Bởi nó đóng một vai tṛ quan trọng như vậy, nên người Phật tử phải thận trọng trong việc phát nguyện Qui y. Đừng v́ là Qui y cho có phước, cho khỏi bệnh hoạn, cho Phật gia hộ qua tai ách..., đều là lư do mê tín trái với tinh thần tự giác tự nguyện của Đạo Phật.

]


 

NGŨ GIỚI

 

I.- MỞ ĐỀ

Con người là đối tượng của đạo Phật, bao nhiêu luật, bao nhiêu pháp môn, đức Phật đều v́ con người lập bày. Đem lại sự an vui hạnh phúc cho con người, là mục tiêu chánh yếu của đạo Phật. Song quan niệm đạo Phật, không phải được nhiều của cải, nhiều t́nh yêu v.v... là con người có hạnh phúc. Hạnh phúc là người sống biết tiết chế, biết tôn trọng hạnh phúc của mọi người, biết thành thật thương mến nhau. Một dân tộc văn minh là biết tôn trọng sanh mạng của nhau, tôn trọng những quyền tự do căn bản của con người. V́ thế, ngũ giới là nền tảng căn bản đem lại hạnh phúc cho con người, xây dựng con người sống đúng ư nghĩa văn minh của nhân loại. Ngũ giới là cơ bản đạo đức của người Phật tử, khi bắt đầu bước chân trên con đường giác ngộ giải thoát. Thiếu căn bản đạo đức này, dù chúng ta có nói đạo đức cao siêu đến đâu cũng là lối nói rỗng. Sự tu hành thiết thực phải gầây dựng cơ bản trước, sau mới tiến lên những bậc cao siêu. Đó là tầm quan trọng của ngũ giới.

II.- ĐỊNH NGHĨA

             Ngũ giới là năm điều ngăn cấm do đức Phật chế ra, bảo các Phật tử phải tuân hành theo. Sau khi qui y người ấy đă tự nhận là đệ tử Phật, để đủ tư cách một Phật tử cần phải ǵn giữ năm giới. Năm điều răn cấm này, Phật v́ thương xót chúng sanh mà chế ra, cốt khiến đời sống họ được an lành hạnh phúc. Ǵn giữ năm giới này là v́ ḿnh, không phải v́ Phật. H́nh thức năm giới:

            1. Không sát sanh: Không sát sanh nghĩa là không được giết hại mạng sống của con người. Chúng ta tự quí sanh mạng của ḿnh, vô lư lại sát hại sanh mạng kẻ khác. Trên lẽ công bằng nhân đạo không cho phép chúng ta làm việïc ấy. Nếu làm, chúng ta đă trái lẽ công bằng thiếu ḷng nhân đạo, đâu c̣n xứng đáng là đệ tử Phật. Giết hại mạng sống người có ba: trực tiếp giết, xúi bảo người giết, tùy hỉ trong việc giết hại. Phật tử không tự tay ḿnh giết mạng người, không dùng miệng xúi bảo đốc thúc kẻ khác giết, khi thấy họ giết hại nhau chỉ một bề thương xót không nên vui thích. Đó là giữ giới không sát sanh. Nhưng suy luận rộng ra, chúng ta quí trọng mạng sống, những con vật cũng quí trọng mạng sống, để ḷng công bằng tràn đến các loài vật, nếu không cần thiết, chúng ta cũng giảm bớt giết hại sanh mạng của chúng.

            2. Không trộm cướp: Của cải tài sản của chúng ta, không muốn ai xâm phạm đến, của cải tài sản của người, chúng ta cũng không được giựt lấy hay lén lấy. Bởi cướp giựt hay lén lấy của người là hành động trái nhân đạo, phạm luật pháp chánh quyền, phải bị trừng phạt. Trộm cướp là do ḷng tham lam ác độc, chỉ nghĩ lợi ḿnh, quên nỗi đau khổ của người, mất cả công bằng và nhân đạo, người Phật tử quyết định không được làm.

            3. Không tà dâm: Người Phật tử có vợ chồng đôi bạn như mọi người thế gian khác. Khi có đôi bạn rồi tuyệt đối không phạm đến sự trinh bạch của kẻ khác. Nếu phạm th́ mắc tội tà dâm. Bởi v́ đây là hành động làm đau khổ cho gia đ́nh ḿnh và gia đ́nh người, tạo thành nguy cơ tán gia bại sản. Do một chút t́nh cảm riêng tư của ḿnh, khiến nhiều người khổ đau liên lụy, quả là thiếu ḷng nhân. Để bảo đảm sự an ổn của gia đ́nh ḿnh và hạnh phúc của gia đ́nh người, Phật tử nhất định không phạm tà dâm.

            4. Không nói dối: Nói lời trái với sự thật để mưu cầu lợi ḿnh, hoặc hại người là nói dối. Do động cơ tham lam ác độc, sự kiện xảy ra thế này lại nói thế khác, sửa trái làm mặt, đổi phải thành quấy, khiến người mắc họa. Người nói như thế trái với đạo đức, mất cả ḷng nhân, không xứng đáng là một Phật tử. Phật tử là người đạo đức nên ăn nói có mẫu mực, thấy biết thế nào nói thẳng thế ấy, không điêu xảo dối trá. Trừ trường hợp v́ lợi người lợi vật, không nỡ nói thật để người bị hại hoặc khổ đau, do ḷng nhân cứu người cứu vật nói sai sự thật mà không phạm. Không nói dối là giữ ḷng tin đối với mọi người chung quanh.

            5. Không uống rượu: Đạo Phật chủ trương giác ngộ, muốn được giác ngộ trước phải điềm đạm tỉnh sáng, uống rượu vào gan ruột nóng bức, tâm trí quay cuồng, mất hết b́nh tĩnh không c̣n sáng suốt, trái hẳn mục đích giác ngộ. Chính v́ nóng bức cuồng loạn, có những người khi say sưa tội lỗi họ cũng dám làm, xấu xa ǵ họ cũng không sợ, mất hết lương tri. V́ thế, người biết đạo đức phải tránh xa không uống rượu. Uống rượu chẳng những làm mất trí khôn, lại gây nên bệnh hoạn cho thân thể, c̣n di hại cho con cái sau này đần độn. Quả là một họa hại cho cá nhân và xă hội. Người Phật tử v́ sự nghiệp giác ngộ, v́ lợi ích cho ḿnh cho người quyết hẳn không uống rượu. Trừ trường hợp mắc bệnh y sĩ bảo phải dùng rượu ḥa thuốc uống mới lành, Phật tử được uống thuốc rượu đến khi lành bệnh th́ chấm dứt, cần phải tŕnh cho chư Tăng biết trước khi uống.

III.- LỢI ÍCH BẢN THÂN

             Người biết giữ ǵn năm giới đă tạo thành căn bản đạo đức và sự an lành cho bản thân. Không sát sanh, bản thân ta không bị người giết, hoặc tù tội về giết người, cũng không có thù hận về nợ máu với nhau. Thế là sống chúng ta không kinh hoàng sợ hăi do thù hằn gây nên. Không trộm cướp, bản thân ta không mắc tội tù về trộm cướp, ở đâu hay đi đến chỗ nào khỏi sợ người theo dơi nghi ngờ. Tới lui tự do, đến đi an ổn, không phải hạnh phúc là ǵ? Không tà dâm, bản thân ta khỏi phải lao thần tổn trí, khỏi sợ ai bàn tán dở hay, mọi người đều tín nhiệm và tin cậy ta. Bản thân ta trinh bạch, khiến người tự quí mến. Tự ḿnh an ổn, gia đ́nh cũng an ổn. Không nói dối, chính ta không phải hối hận, lời nói tự có giá trị, gây được niềm tin của mọi người. Người hay nói dối sẽ bị xă hội đánh giá thấp, đề xướng điều ǵ đều bị nghi ngờ, làm việc ǵ ít ai tán trợ. Không uống rượu, chính ta khỏi bị cái tệ điên cuồng mất trí, khỏi gây cho cơ thể bệnh hoạn suy yếu, khỏi bị người khinh thường trong lúc say sưa. Trái lại, bản thân ta điềm đạm b́nh tĩnh, thân thể khỏe mạnh, đối với mọi người đều được quí kính, sanh con cũng thông minh sáng suốt. Đó là lợi ích bản thân ngay trong hiện tại. Nếu về mai sau, không sát sanh thân tráng kiện sống lâu; không trộm cướp, được tài sản sung túc; không tà dâm, thân thể đẹp đẽ; không nói dối, ăn nói khôn ngoan mọi người yêu chuộng; không uống rượu, trí tuệ sáng suốt.

IV.- LỢI ÍCH GIA Đ̀NH XĂ HỘI

             Mọi người trong nhân loại đều tự nhận sanh mạng là tối thượng. Biết tôn trọng sanh mạng là nếp sống văn minh, chà đạp trên sanh mạng là con người dă man. Biết giữ năm giới là nguồn hạnh phúc của gia đ́nh, là nếp sống văn minh của xă hội. Đức Phật nh́n thẳng vào con người, đem lại cho con người một đời sống an lành, một gia đ́nh hạnh phúc, một xă hội văn minh, Ngài chế ra năm giới.

            Sanh mạng là giá trị tối thượng của con người mọi người đều phải tôn trọng, v́ tôn trọng sanh mạng con người, Phật cấm Phật tử không được sát sanh. Sanh mạng con người được tồn tại vững bền, nhờ tài sản nuôi dưỡng, v́ tôn trọng tài sản của người, Phật cấm Phật tử không được trộm cướp. Sự sống của con người cần có gia đ́nh, gia đ́nh là tổ ấm của nhân loại, tổ ấm ấy bị lung lay là mất hạnh phúc, v́ tôn trọng hạnh phúc của gia đ́nh, Phật cấm Phật tử không được tà dâm. Sự sống chung đụng trong gia đ́nh và ngoài xă hội cần phải tin tưởng nhau, thiếu ḷng tin th́ không thể thông cảm thân yêu, v́ đem sự tin yêu lại cho mọi người, Phật cấm không được nói dối. Trật tự của gia đ́nh và xă hội là sự an ổn, một duyên cớ gây xáo trộn trong gia đ́nh và ngoài xă hội là làm mất trật tự chung, v́ tôn trọng trật tự của gia đ́nh và xă hội, Phật cấm Phật tử không được uống rượu.

            Chỉ trong năm giới thôi, nếu gia đ́nh nào ǵn giữ trọn vẹn là gia đ́nh ấy có hạnh phúc, trên thuận dưới ḥa, tin yêu thuần cẩn. Nếu mọi người trong xă hội ứng dụng triệt để là một xă hội văn minh, chan ḥa sự cảm thông và thương mến. Chúng ta v́ lợi ích bản thân, v́ hạnh phúc của gia đ́nh, v́ sự an lạc của xă hội, nỗ lực ǵn giữ năm giới. Ǵn giữ năm giới là tôn trọng nhân bản, là nếp sống văn minh, là nền tảng đạo đức vậy.

V.- KẾT LUẬN

             Sự khổ đau tột độ của con người không ǵ hơn, khi họ nghĩ đến sanh mạng họ bị đe dọa, tiền của họ bị mất mát, người yêu họ bị xâm phạm. Chính đây là nỗi thống khổ khắc nghiệt nhất của con người. V́ cứu khổ đem vui lại cho con người, Phật cấm người Phật tử không được làm ba điều ấy. T́nh thương vĩnh viễn không có, nếu con người không tin tưởng và cảm thông nhau. Điều này cũng là nỗi đau khổ thứ yếu của con người. Bởi v́ trong cuộc sống mà không có t́nh thương, là loài người đang lạc loài ở giữa băi sa mạc hay chốn rừng hoang, c̣n đâu sự đùm bọc thân yêu chia sớt cay đắng ngọt bùi. Muốn đem t́nh thương cho nhân loại, trước tiên phải có tin tưởng thông cảm nhau, nên Phật cấm người Phật tử không được nói dối. Chính bao nhiêu đó, chúng ta đă thấy ḷng từ bi lênh láng của đức Phật. Tinh thần cứu khổ ban vui của đạo Phật đă thể hiện rơ ràng trong năm giới này. V́ thương ḿnh thương người, Phật tử chúng ta phải cố gắng ǵn giữ và khuyên người ǵn giữ. Đó là căn bản của Đạo làm người hiện tại và mai sau.

]


 

ĐI CHÙA LỄ PHẬT

 

I.- MỞ ĐỀ

Người xưa nói “làm việc có nghĩa do tâm tỉnh ngộ, làm việc vô nghĩa do tâm mê mờ”. Chúng ta thao thức ước mơ có th́ giờ rảnh đi chùa để được nghe những lời chỉ dạy đạo lư của Tăng, Ni. Quả là do tâm tỉnh ngộ làm động cơ thúc đẩy chúng ta. Nếu chúng ta mong có lúc rảnh để đến hí trường, lại tửu điếm, chính do tâm mê mờ làm động cơ thúc đẩy chúng ta. Chọn lấy một hành động có nghĩa là để làm theo, đích thực là người trí. Chạy theo những hành động vô nghĩa hư hèn, quả là kẻ ngu. Đă có mặt trên cơi đời, chúng ta phải chọn lấy một lối đi để đưa đời ḿnh đến chỗ rạng ngời tươi đẹp. Vô lư, chúng ta măi đua đ̣i theo sự ăn mặc vui đùa, đến một ngày kia thân này sắp hoại, tự ta nghĩ sao về thân phận ḿnh? V́ thế, sự đi chùa lễ Phật là một việc làm do động cơ tỉnh ngộ thúc đẩy, với một tinh thần cố gắng vươn lên, gầy dựng cho ḿnh một ngày mai sáng đẹp.

II.- ĐI CHÙA

             Mục đích đi chùa không phải là để cúng lạy, mà v́ học hỏi chánh pháp, tập tu đức hạnh. Người Phật tử mới đến với đạo chưa thấm nhuần Phật pháp, nếu không được sự chỉ dạy của Tăng Ni th́ làm sao hiểu đạo tu hành. Muốn hiểu đạo lư, Phật tử tới lui Tự viện để thưa hỏi học tập là sự đương nhiên không thể thiếu. V́ sự sống bận rộn ngoài xă hội, Phật tử đâu đủ th́ giờ nghiên cứu giáo lư, chỉ gặp Tăng, Ni trong nửa giờ, một giờ, Phật tử có thể học được nhiều điều trước kia chưa biết. V́ thế, đến chùa để gặp Tăng, Ni là điều thiết yếu không thể thiếu, đối với mỗi Phật tử tại gia. Đi chùa có hai trường hợp, đi chùa ngày thường và đi chùa ngày lễ vía.

            Đi chùa ngày thường: Bất cứ ngày nào thấy rảnh việc nhà, người Phật tử có thể đi chùa. Khi đi chùa, Phật tử phải nhắm thẳng mục đích thưa hỏi đạo lư. V́ hỏi đạo lư, Phật tử phải ghi lại những điều ǵ ḿnh chưa hiểu để đem ra hỏi. Mỗi lần đến chùa, Phật tử phải có ít nhất đôi ba vấn đề thưa hỏi Tăng, Ni. Những vấn đề ấy, hoặc do thấy nếp sống sanh hoạt nhà chùa chưa hiểu đem ra hỏi, hoặc đọc trong kinh sách chỗ nào không biết đem ra hỏi. Biết thưa hỏi như vậy, người Phật tử học đạo rất chóng tiến. Đi chùa hỏi đạo là đúng tinh thần học vấn của người Phật tử.

            Nhưng cũng có những khi không v́ hỏi đạo mà vẫn đi chùa. Đây là trường hợp v́ đua chen trong cuộc sống, người Phật tử thần kinh bị căng thẳng, vội vàng bỏ việc đến chùa. Đến đây để ngồi yên trên tảng đá dưới bóng mát tàn cây, nghe tiếng gió th́ thào trên ngọn cây, giọng chim líu lo trong cành râm, khung cảnh tịch mịch của nhà chùa, khiến tâm hồn lắng xuống thần kinh dịu lại. Không cần gặp ai, chẳng màng thưa hỏi, chỉ cần mắt ngắm mấy cội tùng xanh, mũi ngửi mùi hương nhẹ của hoa lan, hoa nguyệt quới, ngồi đặt lưng tựa bên vách chùa, chúng ta cảm nghe ḷng nhẹ nhàng khoan khoái, những giờ phút này gánh nợ đời oằn oại đôi vai bỗng dưng như quẳng mất. Chính cảnh cô liêu tịch mịch của nhà chùa đă giải tỏa xoa dịu phần nào nỗi bực dọc năo phiền của Phật tử.

            Đến chùa ngày lễ vía: Cùng Phật tử với nhau như con một cha, những ngày lễ vía là ngày huynh đệ sum họp. Ngày thường mỗi Phật tử có hoàn cảnh riêng gia đ́nh riêng, ít khi gặp được nhau để thăm hỏi sự tu hành, nhắc nhở nhau về đức hạnh. Nhân ngày lễ vía ở chùa, toàn thể Phật tử tụ hội về cùng thăm hỏi nhau trong t́nh đạo bạn, cùng giăi bày nhau về kinh nghiệm tu hành, thật là một cơ hội quí báu. Chúng ta đâu không nghe ông cha chúng ta đă nói “ăn cơm có canh, tu hành có bạn”. Đoàn tụ dưới mái chùa, huynh đệ ngồi gần nhau đàm đạo mật thiết thân t́nh, đây là một niềm vui để dắt d́u nhau trên con đường đạo đức. Mến thương nhau, đoàn kết nhau, khích lệ nhau, cùng nỗ lực leo lên cho đến tận đỉnh ngọn giác ngộ.

            Càng cao cả hơn, khi chúng ta nghe Tăng, Ni kể lại hành trang nhuộm mùi từ bi đượm màu giác ngộ của chư Phật, Bồ-tát, hoặc nghe giải thích giáo lư cao siêu thoát tục của Phật dạy, làm sáng tỏ thêm đường lối tu hành. Thật là những cơ hội hiếm có để Phật tử thấm nhuần chánh pháp. Vắng mặt trong những ngày lễ vía, là một thiệt tḥi đáng kể của người Phật tử. Có nghe giáo lư, có học công hạnh của Phật, Bồ-tát, Phật tử mới biết phương hướng tu hành, mới thấy những gương sáng ngời để noi theo. Dù đă qui y mấy mươi năm, không chịu học hỏi giáo lư, không siêng nghe giảng dạy, Phật tử này vẫn mờ mịt không hiểu ǵ về đạo Phật. Là Phật tử phải tỏ ra xứng đáng với danh nghĩa của ḿnh, nghĩa là học và hành đúng với đường lối Phật dạy. V́ thế, đi chùa nghe giảng là điều tối cần thiết của người Phật tử.

III.- LỄ PHẬT

             Lạy Phật không v́ van xin tha tội, không v́ cầu mong ban ân, chỉ v́ quí kính một đấng ḷng từ bi tràn trề, trí giác ngộ viên măn. V́ quí kính công đức trí tuệ của Phật nên chúng ta lạy Ngài. Lạy Phật để thấy ḿnh c̣n thấp thỏi ti tiện, bỏ hết những thói ngạo mạn cống cao. Quí kính gương cao cả của Phật để ḿnh noi theo. Phước đức lạy Phật là tại chỗ đó.

            Lễ Phật v́ dẹp ngă mạn - Bản chất con người chúng ta lúc nào cũng tự cao tự đắc, vênh váo nghênh ngang. Đó là tánh xấu khiến mọi người chán ghét, tiêu ṃn công đức. Phật tử biết được cái dở này, kính lạy Phật, Bồ-tát, các bậc tôn túc, để diệt trừ tâm ngă mạn của ḿnh. Kính lạy các ngài là tự ḿnh thấy không b́ kịp các ngài, biết ḿnh thấp th́ tánh ngạo mạn từ từ biến mất. Khi lạy các ngài không mong một ân sủng nào, chỉ v́ một ḷng kính trọng đức hạnh của các ngài, tự thấy ḿnh hèn hạ thấp thỏi, thế là mọi công đức từ đó phát sanh. Bởi đứa ăn trộm th́ phục kẻ ăn trộm giỏi, chàng vơ sĩ th́ nể tay vô địch, kính trọng Phật, Bồ-tát, các bậc tôn túc tự nhiên chúng ta có dự phần trong ấy rồi. Quả như câu nói “kính thầy mới được làm thầy”. Chúng ta muốn dẹp bỏ những tánh xấu, tập tành đức hạnh, kính lễ những bậc đức hạnh là điều cần thiết vậy.

            Lễ Phật v́ noi gương - Kính lạy Phật, chính v́ chúng ta muốn học đ̣i noi theo gương của Ngài. Tại sao chúng ta phải học đ̣i theo gương đức Phật? Bởi v́, Phật đă đầy đủ mọi công đức, trí tuệ từ bi viên măn, nên chúng ta phải học theo. Đây chúng tôi đơn cử một công hạnh nhỏ xíu của Ngài, thử xem chúng ta có theo kịp không?

            Một hôm, đức Phật một ḿnh mang b́nh bát vào thôn xóm khất thực, bỗng có một người ngoại đạo biết Ngài và biết rơ Phật đi đến đâu ắt đệ tử của chúng đều bỏ đạo qui kính Phật. Nổi tức, ông đi theo sau lưng Phật mạ lỵ đủ điều, Phật vẫn chậm răi tiến bước đều đều không một lời đối đáp. Đến đầu đường, ông ta chạy đón trước mặt Phật, chặn lại hỏi: Cù-đàm thua ta chưa? Phật ung dung trải tọa cụ xuống đất, ngồi kiết già đọc bài kệ:

 

                        Kẻ hơn th́ thêm oán

                        Người thua ngủ chẳng yên

                        Hơn thua hai đều xả

                        Ấy được an ổn ngủ.

(Kinh Trung A-hàm)

            Ngoại đạo hối lỗi ăn năn lễ tạ.

            Thử hỏi hành động này của đức Phật, chúng ta có ai dám tự hào cho ḿnh làm được. Nếu đem danh vọng giá trị so sánh, đức Phật là một vị giáo chủ trong tôn giáo, một vị Thái tử ở thế gian, chúng ta hiện nay là một tín đồ trong tôn giáo, một kẻ tay trắng ở thế gian, đức Phật bị mạ lỵ mà không tức giận, chúng ta bị mạ lỵ có tức giận chăng? Nếu chúng ta không tức giận cũng chưa dám b́ với đức Phật, v́ giá trị danh vọng của chúng ta có ra quái ǵ. Huống là, bị mạ lỵ chúng ta liền nổi giận ầm ầm. Nh́n lại đức Phật thử xem chúng ta cách Ngài bao xa? Thế th́ lạy Ngài bao nhiêu mới xứng đáng trong việc noi gương theo Ngài? Đến như tâm từ bi, trí giác ngộ của Phật, sánh với chúng ta thật là trời cao vực thẳm. Đời đời kính lễ Ngài, cũng là cái hănh diện của chúng ta, biết kính người đáng kính. Thế mà, có một ít người thấy chúng ta lạy Phật, họ tỏ vẻ ngạo nghễ. Hăy nghe câu chuyện đối đáp này:

            Một em gái đi chùa lễ Phật, lễ xong em vừa ra đến sân chùa, gặp một quân nhân đứng ngắm cảnh. Thấy em, quân nhân liền hỏi: Em đi đâu thế? Bé gái đáp: Em đi chùa lễ Phật. Quân nhân hỏi: Tượng Phật bằng gỗ bằng xi măng, em lễ cái ǵ? Bé gái hỏi lại: Ở doanh trại anh mỗi sáng có chào cờ không? Quân nhân đáp: Sáng nào cũng chào cờ. Bé gái hỏi: Cờ bằng vải bằng màu, tại sao phải nghiêm trang chào? Quân nhân đáp: Chào tinh thần Tổ quốc được tượng trưng qua lá cờ, chớ không phải chào vải màu. Bé gái nói: Cũng thế, em lạy tinh thần từ bi giác ngộ của Phật được tượng trưng qua h́nh tượng chớ không phải lạy gỗ lạy xi măng. Quân nhân đành thôi.

 

VI.- KẾT LUẬN

            Chọn một hành động có ư nghĩa là con người tỉnh sáng. Khi đă nhận định kỹ việc làm của ḿnh, dù có bị chê khen, chúng ta vẫn an ổn thực hành. Chỉ có những kẻ xu thời, thấy ai khen cái ǵ chạy theo cái nấy, mới bàng hoàng khi bị ai phê b́nh hành động của ḿnh. Đi chùa lạy Phật đă mang sẵn những ư nghĩa của nó, dù có ai chê là mê tín..., ta vẫn an nhiên. Đạo đức có hay không, do ḷng ta biết kính trọng người đạo đức hay không. Do ḷng kính trọng mới thúc đẩy chúng ta học đ̣i và bắt chước theo người đức hạnh. Lạy Phật là động cơ đẩy mạnh chúng ta tiến măi trên đường giác ngộ.

 

 

]


 

 

 

SÁM HỐI

 

I.- MỞ ĐỀ

Mắc bệnh ung nhọt làm mủ trong thân, người bệnh cần phải gan dạ mời giải phẫu sư mổ ra và cạo rửa mủ máu cho sạch, có thế th́ bệnh chóng lành. Nếu bệnh nhân hèn nhát không dám cho mổ, để ấp ủ lâu ngày, ung nhọt có thể làm nguy hiểm đến tánh mạng. Cũng như thế, người tu lỡ phạm những điều tội lỗi, gan dạ đến những bậc đức hạnh thành tâm phát lồ sám hối th́ tội lỗi chóng sạch. Ngược lại, kẻ ấy hèn nhát cứ một bề che giấu, tội lỗi càng ngày càng trầm trọng, đến mai kia có thể sa đọa không thể cứu. Chúng ta là phàm phu, là kẻ đang tập tu, không sao tránh khỏi những điều sai lầm tội lỗi, chỉ quí ở chỗ có lỗi biết thành tâm sám hối, không dám tái phạm, khiến tội lỗi sạch dần cho đến ngày nào đó hoàn toàn thanh tịnh. Hèn nhát không chịu sám hối là kẻ chấp nhận sự lui sụt của ḿnh, tự hủy bỏ đời sống tu hành của chính ḿnh. Sám hối là phương pháp sách tiến mạnh mẽ nhất, đối với người chân thật tu hành, bỏ sám hối khó ai từ phàm phu tiến lên thánh được.

II.- ĐỊNH NGHĨA

             Sám hối là ăn năn hối cải. Những tội lỗi đă làm, chúng ta hổ thẹn, ăn năn không dám tái phạm; những tội lỗi đang làm và sẽ làm, chúng ta hứa sửa đổi không làm. Không phạm tội cũ, không tạo lỗi mới, là chủ yếu của pháp sám hối. Sám hối cũng nói là phát lồ sám hối. Phát lồ là vạch trần những tội lỗi ḿnh đă làm phơi bày trước bậc đức hạnh để thành tâm sám hối. Làm thế, do tâm hổ thẹn, cầu tiến mới dám gan dạ đến trước bậc đức hạnh phơi bày hết tội lỗi của ḿnh cầu xin sám hối. Giá trị căn bản nhất là, hổ thẹn và cầu tiến, hai tâm này là động cơ chính yếu trong việc sám hối. V́ hổ thẹn và cầu tiến chúng ta mới sám hối, sau khi sám hối dứt khoát không tái phạm gây tạo nữa. Trọng tâm của sám hối là ở chỗ này.

III.- H̀NH THỨC SÁM HỐI

             Sám hối tương tợ nghĩa xin lỗi của người thế gian. Người thế gian lỡ phạm lầm lỗi với ai khiến họ phiền muộn, biết ḿnh có lỗi gan dạ đến xin lỗi, lỗi lầm ấy liền được tha thứ, nếu người rộng lượng, hoặc giảm bớt buồn phiền, nếu người cố chấp. Biết nhận lỗi ḿnh và gan dạ đi xin lỗi, quả là người tiến bộ đáng khen. Người tu cũng thế, nếu v́ ba nghiệp không khéo ǵn giữ, có ngôn ngữ hành động làm cho người chung quanh ḿnh phiền năo, nhận rơ lỗi ḿnh, gan dạ đến ngay đương sự thành tâm sám hối. Nếu người thật tu hành, không ai chẳng tha thứ cho người đă biết lỗi sám hối. Thế là tội lỗi liền đó dứt sạch.

            Nếu người tu v́ si mê che đậy lỡ phạm những giới của ḿnh đă thọ, cần phải hổ thẹn gan dạ đến trước những vị đức hạnh phát lồ sám hối. Do ḷng thành của ḿnh và nhờ sự chứng minh của bậc trưởng thượng, chúng ta nỗ lực cố gắng không tái phạm những lỗi lầm cũ và không tạo tội lỗi mới. Các bậc đức hạnh không thể tha tội lỗi cho chúng ta, song nhờ các ngài làm đối tượng cao quí khiến những lời hứa nguyện của chúng ta có thêm sức mạnh, cho đến cả đời không quên. Biết ăn năn lỗi cũ, không tạo tội mới, đây là lư do hết tội của người sám hối.

            Trên đường tu hành, chúng ta thấy chướng nhiều thuận ít, hoặc trong khi phát nguyện tu hành gặp toàn những trở ngại, hoặc thân thể bệnh hoạn ngăn trở sự tu, hoặc túc nghiệp ác duyên khiến mờ mịt ngu tối... gặp hoàn cảnh này, chúng ta nên đến trước h́nh tượng Phật, Bồ-tát thành tâm sám hối. Bởi những nghiệp duyên đời trước, hiện nay chúng ta không nhớ không biết, chỉ thấy những hiện tượng bất tường, nhận ra ḿnh c̣n nhiều ác chướng, đến trước Phật, Bồ-tát thành tâm sám hối. Với ḷng thiết tha tâm chân thành, chúng ta đảnh lễ Phật, Bồ-tát, qú gối chí thành phát lên những lời chí thiết sám hối và hứa nguyện, cầu Phật, Bồ-tát chứng minh. Bởi ḷng thành khẩn thiết tha này, nên sám hối tội lỗi chóng sạch. Lời văn sám hối những nghiệp chướng cũ thu gọn trong bốn câu này:

            Xưa con đă tạo bao ác nghiệp

            Đều bởi muôn thuở tham sân si

            Từ thân miệng ư mà phát sanh

            Tất cả, nay con xin sám hối.

IV.- TINH THẦN SÁM HỐI

             Sám hối đúng ư nghĩa của nó phải có đủ tâm hổ thẹn và cầu tiến. V́ hổ thẹn, chúng ta không thể chứa chấp tội lỗi măi, cần thành tâm sám hối rồi mới an ổn. Với tinh thần cầu tiến chúng ta phải dứt khoát những lỗi lầm đă qua bằng cách sám hối, để vui vẻ tiến lên con đường đạo đức. Có thế, sự tu hành tinh tấn không bị chướng ngại. Bởi hổ thẹn và mong mỏi vươn lên, sau khi sám hối, chúng ta tuyệt đối không để tái phạm những lỗi cũ. Chính khi sám hối không phải bị ai bắt buộc, chỉ do tâm hổ thẹn thúc đẩy, chí thành tha thiết sám hối. Ḷng chí thành tha thiết sẽ giúp chúng ta sạch hết mọi tội lỗi.

            Tuy nhiên, đă thành tâm sám hối lư đáng không được tái phạm lỗi ấy nữa, song v́ hoàn cảnh bất khả kháng, hoặc v́ tâm yếu mềm chống chọi không lại, rồi  dẫm lại vết xưa. Thế đă dở lắm rồi, nhưng chúng ta cũng thành tâm sám hối đừng nản. C̣n biết sám hối, chúng ta c̣n thấy đó là tội lỗi, nếu buông xuôi luôn, tội lỗi càng ngập đầu. V́ thế, có khi một lỗi phạm đến đôi ba lần, lần nào chúng ta cũng vẫn mạnh dạn sám hối, đừng v́ tự ái không dám sám hối những lỗi đă tái phạm, tự ái này là gốc khiến ta buông lung tột độ.

            Tinh thần sám hối buộc chúng ta phải thành khẩn thiết tha, hổ thẹn cầu tiến, vạch trần những lỗi lầm đă làm, cầu xin sám hối. V́ vậy, khi sám hối đương sự phải cần cầu tha thiết, lời lẽ tŕnh bày chân thành rành rơ thiết yếu, phát nguyện chừa cải một cách mạnh dạn, mới đúng ư nghĩa sám hối. Nhưng gần đây các chùa cứ theo lệ xưa, chiều mười bốn và chiều ba mươi tổ chức lạy sám hối Hồng Danh, sau khi lạy qú xuống tụng nguyên bản văn dịch âm chữ Hán, Phật tử đọc thuộc ḷng mà không hiểu  biết ǵ hết. Như thế, cứ lạy tụng xong gọi là xong thời sám hối. Sám hối như thế mất hết tinh thần cao cả, ư nghĩa thâm sâu của nó. Hằng ngày Phật tử làm những tội lỗi ǵ cũng được, miễn đến ngày mười bốn và ba mươi đi sám hối một thời là sạch. Quả là một việc làm lấy lệ không đúng tinh thần đạo Phật.

V.- LỢI ÍCH SÁM HỐI

             Nếu người phạm tội một ḷng thành khẩn thiết tha sám hối, sau khi sám hối tuyệt đối không tái phạm, người này chưa phải là thánh, nhưng đă là bậc hiền. Bởi v́ tất cả thế gian này có ai không có tội lỗi, chỉ khác nhau nhiều hay ít, biết chừa cải hay không biết chừa cải ấy thôi. Đă có tội lỗi mà biết ăn năn hối cải, tội lỗi ấy sẽ giảm xuống dần dần, cho đến hết, người như thế không phải bậc hiền là ǵ? Cho nên trong cuộc sống này, chúng ta đừng đ̣i hỏi ḿnh hay mọi người không có tội lỗi, chỉ cần khi lỡ phạm tội lỗi ḿnh cũng như mọi người phải hổ thẹn ăn năn thành tâm sám hối, nguyện chừa cải hẳn sau này. Được thế, chúng ta đều là con người tiến bộ, là kẻ sẽ vươn lên bậc Hiền Thánh ở mai kia. Sám hối muốn hết tội  phải nhắm thẳng động cơ chánh yếu của nó. Như bài kệ này:

            Tánh tội vốn không do tâm tạo

            Tâm nếu diệt rồi tội sạch trong

            Tội trong tâm diệt cả hai không

            Thế ấy mới là chân sám hối.

            Hành động ăn cướp ăn trộm, tự nó không thể thành nghiệp phải do ḷng tham thúc đẩy. Ḷng tham là động cơ chánh yếu của hành động trộm cướp. Thế nên nói “tánh tội vốn không do tâm tạo”. Ḷng tham dứt rồi th́ hành động trộm cướp làm ǵ c̣n. Quả là cả tâm cả tội đều sạch, sự sám hối này mới là chân chánh sám hối. Chân chánh sám hối th́ tội lỗi nào mà chẳng sạch.   

            Hoặc khi sám hối th́ thành khẩn tha thiết, song sau đó lại mau quên thỉnh thoảng lại tái phạm. Tái phạm lại sám hối, năm lần mười lượt như vậy, tuy tội không sạch được, mà do bền chí sám hối nó cũng ṃn dần. Đây có thể là trường hợp của hạng trung b́nh chúng ta. Chúng ta chưa được một lần sám hối là dứt khoát không phạm, mà lâu lâu lại tái phạm tội cũ. Đừng thối chí đừng nản ḷng, chúng ta lại dập đầu sám hối nữa. Biết như thế là dở, song dở phải chịu dở chớ sao; biết dở chịu dở c̣n hơn người không biết không chịu.

            Có sám hối là có suy giảm tiêu ṃn, chúng ta hằng ngày mang tâm hổ thẹn, ḷng thiết tha sám hối măi. Nhắc đi lập lại đôi ba mươi lần, nó cũng có sức mạnh, đây là hành động thấp ḿnh khiến tâm ngạo mạn tiêu mất, lâu ngày công đức cũng được đầy đủ. Dám sám hối cũng là một việc làm can đảm, nó là sức mạnh đẩy chúng ta tiến lên. Tu mà không gan dạ sám hối, quả là người hèn nhát che dấu không thể nào tiến lên được.

 

VI.- KẾT LUẬN

             Người đời đa số có tội lỗi t́m mọi cách khéo léo che giấu đắp điếm cho người khác đừng thấy lỗi ḿnh, chúng ta có lỗi can đảm nhận chịu và can đảm phơi bày cho người khác biết để sám hối. Thế đă vượt hơn người đời một bậc đáng kể rồi. Huống là, biết lỗi rồi ăn năn hổ thẹn quyết tâm chừa cải để khỏi phạm lại lần thứ hai, người này hẳn đă đi theo bước đường của Hiền Thánh. Căn bản của sự tu hành là sửa đổi những điều dở, nếu chúng ta không c̣n dở th́ ai cần tu. Sửa đổi những điều dở, sám hối là thượng sách. Người biết sám hối, là biết tu, ngược lại có lỗi mà không biết sám hối, dù có mang h́nh thức nhà tu kẻ ấy cũng chưa biết tu. Sám hối với một tâm chí thành, với một ḷng tha thiết, xấu hổ những lỗi đă làm, quả quyết không tái phạm, người này không c̣n tội lỗi nào mà chẳng sạch. Dù có tạo tội bao nhiêu, họ vẫn là người tốt ở mai sau.

 

 

]
CÚNG DƯỜNG TAM BẢO

 

I.- MỞ ĐỀ

Thấy người làm việc lành việc phải, ḿnh tán thán bằng lời, hoặc góp một phần công, giúp một phần của để thành tựu công việc lành ấy. Quả là người này đă có ḷng lành đáng quí đáng mến. Huống nữa, Tam Bảo là cây cầu đưa chúng sanh từ bến mê qua bờ giác, Tam Bảo là con thuyền cứu vớt chúng sanh đang ch́m trong bể khổ đưa đến bờ Niết-bàn, Tam Bảo là ngọn đèn sáng soi đường cho chúng sanh khỏi lạc trong rừng tối vô minh. Người phát tâm tán trợ bồi bổ tô đắp cho Tam Bảo thường c̣n ở thế gian th́ công đức biết bao kể xiết. V́ Tam Bảo thường c̣n ở thế gian, chúng ta phát tâm cúng dường, quả là việc làm tự lợi lợi tha đầy đủ.

II.- ĐỊNH NGHĨA

             Cúng dường là nuôi dưỡng khiến Tam Bảo hằng c̣n ở đời. Tất cả những sự bảo bọc giúp đỡ ǵn giữ để Tam Bảo thường c̣n đều gọi là cúng dường. Tam Bảo là Phật, Pháp và Tăng. Phật đă quá khứ, chỉ c̣n lại h́nh tượng. Pháp bắt nguồn từ chữ Phạn đến chữ Hán c̣n nằm sẵn trong kho tàng nhà chùa. Tăng là những tu sĩ tu theo Phật học chánh pháp. Chính những vị này có bổn phận ǵn giữ h́nh tượng Phật c̣n, phiên dịch giảng giải chánh pháp. Tam Bảo đều quí kính, song hệ trọng nhất là Tăng. Nếu không có Tăng ai ǵn giữ chùa chiền, ai giảng dạy chánh pháp? Thế nên, cúng dường Tam Bảo là nói chung, mà hệ trọng là Tăng. Tăng chúng c̣n là Tam Bảo c̣n, Tăng chúng mất th́ Tam Bảo cũng vắng bóng. V́ thế mọi sự cúng dường đều đặt nặng vào Tăng, với mục đích Tam Bảo tồn tại ở nhân gian.

III.- CÚNG DƯỜNG SAI LẠC

Thế mà có những người cúng dường một cách lệch lạc mất hết ư nghĩa cúng dường. Như có một Phật tử đi chùa đến thầy Trụ tŕ xin cúng năm đồng, liền đó được nghe hỏi “cầu cái ǵ”, Phật tử ngơ ngác. Thầy Trụ tŕ hỏi thêm “cầu an hay cầu siêu”, Phật tử bóp đầu suy nghĩ đáp “cầu siêu”, rồi biên một dọc tên vào sổ cầu siêu. Phật tử này như thế, Phật tử khác cũng thế. Đă thành thông lệ, cúng chùa là phải cầu siêu hay cầu an. Cầu an cầu siêu cho bản thân ḿnh, cho gia đ́nh ḿnh, cho thân thuộc ḿnh, sự cúng ấy quả là v́ ḿnh. V́ ḿnh mà đi chùa, v́ ḿnh mà cúng chùa đích thực là tham lam ích kỷ. Nếu mang một tâm niệm tham lam ích kỷ đến với đạo, chưa xứng đáng một Phật tử. Cái hư dở này tại ai? Chính tại người hướng dẫn đă chỉ lối sai lạc.

            Đến phần ông thầy, do Phật tử cầu siêu cầu an nên có tiền. Đồng tiền này sau một thời kinh cầu nguyện xong, ông tự coi như trọn quyền sử dụng không có tánh cách e dè sợ sệt ǵ cả. Nếu một buổi lễ cầu nguyện được Phật tử cúng nhiều tiền, thế là ông mặc t́nh phung phí, v́ tự cho do công tụng cúng của ḿnh mà được. Thế th́ đời tu hành cốt v́ giác ngộ giải thoát, vô t́nh trở thành người tụng kinh mướn. Người tu cốt xả phú cầu bần, xả thân cầu đạo, biến thành kẻ thụ hưởng. Trái với mục đích xuất gia, trở thành kẻ hư hèn, chính v́ nhận đồng tiền phi pháp. Cầu nguyện là một điều phụ thuộc nhỏ nhít trong Phật pháp, v́ nó không phải là chân lư. Thế mà, người ta thổi phồng nó lên, để rồi cả đời người tu gần như hết tám mươi phần trăm (8O%) Phật sự đều nằm trong những lễ cầu nguyện. Truyền bá một điều không phải  chân lư, ắt hẳn chánh pháp phải chịu suy đồi. Người có trách nhiệm hướng dẫn Phật tử mà một bề cổ xúy cho sự cầu cúng, là đưa họ vào rừng sâu mê tín, gây thêm ḷng tham lam ích kỷ cho họ. Quả là kẻ tạo thêm tội lỗi, chớ không phải người tu hành.

IV.- CÚNG DƯỜNG ĐÚNG PHÁP

            Người Phật tử chân chánh khi phát tâm cúng dường Tam Bảo, chỉ v́ mong cho Tam Bảo thường c̣n ở thế gian để đưa chúng sanh ra khỏi đau khổ mê lầm. Nếu đến chùa, Phật tử cúng năm mười đồng, Tăng, Ni có hỏi cầu điều ǵ, Phật tử nên thưa: “Chúng tôi chỉ cầu mong chư Tăng, chư Ni nhận món tịnh tài này để có phương tiện an ổn tu hành, hầu truyền bá chánh pháp lợi ích chúng sanh.” Chỉ v́ Tam Bảo v́ chúng sanh mà cúng dường, đây là tâm hồn cao thượng quảng đại vị tha. Làm việc bố thí cúng dường cao đẹp như vậy công đức làm sao giới hạn được. V́ Tam Bảo thường c̣n ở thế gian để làm lợi ích cho chúng sanh, trong chúng sanh đă có bản thân ḿnh và thân quyến ḿnh rồi. Quên ḿnh chỉ nghĩ đến toàn thể chúng sanh, không phải  ḷng lợi tha vô bờ bến là ǵ? Với một ḷng vị tha rộng lớn như vậy, dù một số tiền nhỏ, một vật dụng mọn đem cúng dường cũng là phước đức vô biên. Cho nên nói “Phật dụng tâm”.

            Tăng, Ni nhận sự cúng dường chân chánh của Phật tử, tự nhiên thấy ḿnh có một trọng trách lớn lao vô cùng. Làm sao tu hành tinh tiến? Làm sao truyền bá chánh pháp lợi ích chúng sanh? Để xứng đáng thọ nhận những thứ cúng dường của Phật tử,  chỉ cần nỗ lực tu hành, cố gắng học tập để hiện tại và vị lai làm lợi ích chúng sanh. Nếu hiện đời, Tăng, Ni, không làm tṛn hai việc này, có thể mai kia phải mang lông đội sừng để trả nợ tín thí. Biết như thế, hiểu như thế, Tăng, Ni làm sao dám lơi lỏng lơ là trong việc tu hành học tập. Thế là, nhờ sự cúng dường chân chánh của Phật tử thúc đẩy Tăng, Ni đă cốù gắng càng cố gắng hơn trong nhiệm vụ thiêng liêng cao cả của chính ḿnh. Thấy ḿnh thiếu nợ, mới cố gắng lo đền trả bằng cách nỗ lực tu hành và độ sanh, đây là mục tiêu đức Phật bắt Tăng, Ni thọ nhận đồø cúng dường của Phật tử. Tăng, Ni là người có bổn phận hướng dẫn tín đồ cúng dường chân chánh đúng pháp th́, cả thầy tṛ đều cao thượng và lợi ích lớn. Chúng ta phải gan dạ đập tan những tập tục sai lầm, đừng v́ quyền lợi, đừng v́ cảm t́nh, khiến cho chánh pháp đi lần vào chỗ mờ tối suy tàn. Chúng ta là người lănh đạo, không phải là kẻ theo đuôi tín đồ để cầu được nhiều lợi dưỡng. Đă dám bỏ nhà đi tu, tức là dám nhận chịu mọi sự đói rách nghèo nàn, mọi sự gian truân khó khổ, vô lư v́ sự ăn mặc mà đi ngược lại sơ tâm siêu thoát của ḿnh.

            Tuy nhiên, nói  thế không có nghĩa chúng tôi hoàn toàn phủ nhận sự cầu nguyện. Chúng ta thấy rơ cầu nguyện chỉ là trợ duyên nhỏ xíu, kẻ đối tượng cầu nguyện chỉ được lợi ích một hai phần mười, như trong kinh nói. Chúng ta đă thừa nhận “nhân quả nghiệp báo” là chân lư th́ sự cầu  nguyện là ngoại lệ, có kết quả cũng tí xíu thôi. Cổ vũ cho điều phi chân lư, để cho người xao lăng chân lư, là việc làm trái với chánh pháp. V́ ḷng hiếu thảo của Phật tử, buộc ḷng chúng ta phải cầu nguyện, khi cầu nguyện chúng ta phải cảnh cáo rằng: “Việc làm này là phụ thuộc không đáng kể, kết quả ít lắm.” Có thế mới khỏi lệch lạc trên con đường hoằng hóa lợi ích chúng sanh. Đă thấy cầu nguyện là việc phụ, chúng ta đừng v́ nó làm mất th́ giờ tu học của Tăng, Ni, làm mất th́ giờ truyền bá chánh pháp.

V.- LỢI ÍCH CÚNG DƯỜNG

            Cúng dường Tam Bảo được lợi ích tùy tâm niệm người Phật tử. Nếu v́ ḿnh và thân thuộc ḿnh mà cúng dường, phước đức cũng theo tâm lượng hẹp ḥi ấy. Nếu v́ Tam Bảo thường c̣n và lợi ích chúng sanh, phước đức sẽ theo tâm lượng rộng răi thênh thang này. Người Phật tử chân thật th́, bao giờ hay bất cứ việc ǵ cũng v́ lợi ích chúng sanh. Đừng khi nào để lệch lạc mục tiêu tối thượng ấy. Chư Phật ra đời cũng v́ chúng sanh, truyền bá chánh pháp cũng v́ chúng sanh, chúng ta đền ơn chư Phật cũng v́ cứu độ chúng sanh. Đó là tâm niệm rộng lớn cao cả của người tu theo đạo Phật. V́ chúng sanh mà cúng dường Tam Bảo, quả thật người Phật tử sống đúng chánh pháp, hành đúng chánh pháp. Hành động đúng chánh pháp th́ công đức lượng đồng với chánh pháp, nghĩa là kiếp kiếp đời đời không mất. Nếu dạy Phật tử làm phước tạo công đức, Tăng, Ni nên dạy đúng tinh thần này.

VI.- KẾT LUẬN

            Chúng ta tu theo đạo Phật là đi trên con đường sáng, ánh sáng giác ngộ đến đâu th́ bóng đêm mê lầm tan đến đấy. Mê tín là một bóng đêm, giác ngộ là ngọn đèn sáng. Bóng đêm và ánh sáng hai cái không thể có đồng thời. Nếu sáng th́ không tối, hoặc tối th́ không sáng. Có giác ngộ là không có mê tín, có mê tín th́ không có giác ngộ. Nếu chứa chấp mê tín là chúng ta đă phản bội với đạo giác ngộ. Trong đạo giác ngộ quả thật không có mê tín. Học đạo và truyền đạo giác ngộ, chúng ta cương quyết dẹp hết bóng đêm mê tín. Có được như vậy mới gọi là người trung thực với chánh pháp. Bằng ấp ủ nuôi dưỡng chứa chấp mê tín, dù kẻ ấy mỗi ngày cúng Phật trăm lần vẫn là kẻ phá hoại chánh pháp. Thà là chúng ta cam chịu chết đói, quyết không v́ lợi dưỡng mà làm những điều mê tín, dẫn dắt người đi trên đường mê tín. Đă thừa nhận ḿnh là Phật tử, quyết định không v́ ḷng tham để bị một số người lợi dụng dẫn đi con đường mê tín.

 

]


 

 

 

PHẬT GIÁO ĐỘ SANH

 

I. MỞ ĐỀ

            Tất cả việc làm của Phật giáo đều tập chú vào lợi ích cho chúng sanh. Chúng sanh là đối tượng duy nhất của Phật giáo. Thế nên sự truyền bá của Phật giáo v́ lợi ích chúng sanh. Nếu không v́ lợi ích chúng sanh, sự truyền bá ấy là vô nghĩa lư. Chúng sanh ở đây là những người hiện có mặt, nghe hiểu được những lời giáo hoá. Chúng ta đừng hiểu chúng sanh là những âm hồn, những kẻ chết. Nếu Phật giáo sống với kẻ chết, thực chất Phật giáo đă chết mất  rồi. Thế mà gần đây có một số Tăng, Ni đưa Phật giáo đi vào cơi chết. Tăng, Ni xuất hiện đông đủ chỉ ở những đám ma chay. Phật sự quan trọng của Tăng, Ni là đưa ma cúng đám. Đó là nét bi thảm đang xuất hiện trên h́nh ảnh Phật giáo Việt Nam. Cần nói một câu chính xác hơn: “Phật giáo độ sanh, không phải độ tử.” Nếu ai cố t́nh đem Phật giáo vào cơi tử, chính là kẻ làm hoại diệt Phật  giáo.

II. GIẢNG DẠY

            V́ tính cách độ sanh nên những người truyền giáo có bổn phận hằng giảng dạy cho tín đồ thông hiểu Phật giáo. Mỗi ngôi chùa là một nơi giảng dạy kinh điển, mỗi buổi lễ là mỗi lần giảng dạy giáo lư. Có thế, người Phật tử mới biết rơ đường lối tu hành, mới thâm nhập được giáo lư cao siêu. Phật giáo đă tự hào có một kho tàng kinh điển dồi dào, mà người Phật tử kể cả Tăng, Ni, đa số dốt nát về giáo lư. Lỗi  ấy tại ai? Bởi sự truyền bá c̣n sơ sót yếu kém, chính Tăng, Ni phải chịu trách nhiệm. Sở dĩ có sơ sót này, v́ Tăng, Ni bận quá nhiều th́ giờ lo cho người chết. Một người chết, Tăng, Ni mất mấy ngày đêm có mặt tại tang gia, sau khi chôn cất xong, phải mất bao nhiêu ngày trong những lễ trai tuần. Nếu chùa có đôi ba ngàn Phật tử, thử hỏi Tăng, Ni c̣n th́ giờ đâu lo tu học và truyền bá chánh pháp. Quả là chúng ta làm lệch lạc trọng trách của ḿnh. Việc đáng làm chúng ta lại không làm, việc không đáng làm chúng ta lại dồn hết th́ giờ vào đó. Ví như người chết đă nằm cứng đờ trong quan tài, mà ba bốn vị Tăng, Ni có khi nhiều hơn, thường trực tụng kinh cho họ nghe, thử hỏi đă nghe được những ǵ? Đúng theo tinh thần Phật giáo, người chết sau khi tắt thở tùy nghiệp thiện ác theo đó đi thọ sanh, có ai c̣n lẩn quẩn bên quan tài để chúng ta tụng kinh cho họ nghe. Việc làm này quả thật không đáng, mà chúng ta tốn nhiều th́ giờ. V́ thế, việc tối quan trọng là giảng kinh dạy đạo, chúng ta phải bê tha đi. Nếu thật người chân chánh xuất gia, chúng ta phải điều chỉnh lại, đừng để đi măi trên con đường sai lầm như thế. Chúng ta hằng nhớ trọng trách của ḿnh là phổ biến chánh pháp lợi ích quần sanh, không phải v́ tụng cúng để được ḷng Phật tử.

III.- DỊCH KINH VIẾT SÁCH

            Kinh điển Phật giáo hiện giờ chưa được phiên dịch hết ra chữ Việt. Thế là trọng trách Tăng, Ni c̣n nặng nề biết mấy. Những bản kinh chữ Phạn, sang Trung Quốc người ta đă phiên dịch thành chữ Hán. Tạng kinh chữ Hán có mặt ở Việt Nam khá lâu rồi, Tăng, Ni Việt Nam chưa phiên dịch được một phần mười (1/10). Cho đến những nghi lễ tụng niệm hằng ngày cũng vẫn đọc theo phiên âm chữ Hán, quả là một thiếu sót to tát của Phật giáo Việt Nam. Tại sao Tăng, Ni không dồn hết th́ giờ của ḿnh trong việc học tập để phiên dịch kinh điển? Bởi v́ Phật tử đ̣i hỏi việc đưa ma cúng đám, Tăng, Ni mới thiếu th́ giờ học tập. Tăng, Ni là người hướng dẫn Phật tử, tại sao chúng ta măi để những đ̣i hỏi không đáng, làm mất th́ giờ vàng ngọc của người tu? Chính tại Tăng, Ni không gan chẳng dám nói thẳng, sợ mất cảm t́nh, khiến tệ đoan càng ngày càng thêm. Đâu những thế, có một thiểu số Tăng, Ni lại bày biện đủ cách rối ren, khiến đă mất th́ giờ lại thêm mất th́ giờ. Những kẻ này bề ngoài xem dường như thương Phật pháp, kỳ thật họ lợi dụng Phật pháp làm kế sanh nhai. Người Phật tử dốt nát không biết, thấy bày biện chừng nào lại càng thích chừng ấy, quả thật kẻ mù dắt đám mù. Kinh điển là những phương thuốc độ đời, Tăng, Ni là người chịu trách nhiệm truyền bá, mà không dồn hết th́ giờ học tập phiên dịch, thật là trái với bổn phận biết bao. Tổ tiên chúng ta khi xưa học chữ Hán, nên Tạng kinh chữ Hán vốn không có ǵ khó khăn. Hiện nay chúng ta học chữ Việt, Tạng kinh chữ Hán là một cổ ngữ không làm sao đọc được. Tăng, Ni hiện nay không cố gắng dịch ra chữ Việt, vô t́nh chúng ta để giáo lư chết khô và chôn sâu trong các tủ kinh nhà chùa.

IV. THỌ CÚNG DƯỜNG

            Khi xưa Phật c̣n tại thế, nếu Phật tử muốn thỉnh Phật và Tăng chúng cúng dường, Phật đều thọ nhận. Đúng giờ thọ trai, Phật và chúng Tăng mới đến, nghỉ ngơi giây lát rồi thọ trai. Thọ trai xong, trong gia quyến tụ họp ngồi chung quanh đức Phật, Ngài v́ gia quyến thuyết pháp, thuyết pháp xong, Phật v́ gia quyến chúc lành, đứng dậy ra về. Thế th́ người cúng dường v́ Phật và Tăng chúng mà cúng, người thọ cúng dường cũng v́ gia chủ hiện tại mà thọ. Phật thuyết pháp chúc lành cũng v́ người sống hiện có mặt, đúng là ư nghĩa độ sanh. Ngày nay chúng ta lại khác, gặp ngày tuần, ngày giỗ của cha mẹ, Phật tử thỉnh Tăng, Ni cúng dường. Tăng, Ni thọ trai xong, v́ người chết tụng một biến kinh cầu nguyện, cầu nguyện xong ra về. Như vậy, người cúng dường v́ kẻ chết mà cúng, người thọ cúng dường cũng v́ kẻ chết mà cầu nguyện. Cả hai điều v́ người chết , quả là Phật giáo độ tử, đâu c̣n là nghĩa độ sanh. Tăng, Ni đến nhà không có lợi ích ǵ cho người hiện tại hết, chỉ cầu lợi ích cho kẻ quá cố, song người quá cố chắc ǵ có mặt ở đây, nếu người quá cố đă thác sanh nơi nào rồi, việc làm này có phải viển vông không thiết thực chăng? Tại sao chúng ta không giữ theo nếp xưa, thực hành đúng tinh thần cúng dường Phật và Tăng chúng thuở trước, để ư nghĩa độ sanh được vẹn toàn, sự lợi ích cụ thể thiết thực tṛn đủ trăm phần? Trước đă quá hay, tại sao nay chúng ta lại bỏ? Nay thật dở, tại sao chúng ta lại theo? Ở đây, chúng ta cần chỉnh lại, đừng để đưa Phật giáo vào cơi chết, gây thêm mê tín cho Phật tử, trái với đạo lư giác ngộ chân thật của đức Thích-ca.

            Hơn nữa, khi xưa đức Phật thuyết pháp cho dân chúng nghe, nhân nghe pháp dân chúng liền cúng dường cơm, Phật không thọ nhận. Phật cho nhận như thế là nhờ giảng dạy nên có cơm ăn, không phải do ḷng chân thành phát tâm cúng dường của Phật tử. Ngày nay tại sao chúng ta đi tụng kinh cho Phật tử để được cúng cơm cúng tiền, hoan hỉ thọ nhận? Làm thế có phải đi tụng kinh thuê chăng? Có trái với tông chỉ của Phật ngày xưa không? Ngày xưa, đức Phật cao cả thanh bạch đến thế, ngày nay chúng ta ti tiện thấp hèn lắm vậy. Đây cũng là một điều chúng ta phải lưu tâm chỉnh đốn lại, đừng để những tệ tục cứ dắt măi chúng ta trong đường mê tối. Thậm chí hiện nay có một ít Tăng, Ni đến tận nhà Phật tử dùng đủ lời lẽ để quyên tởi, thật đau ḷng thay! Đạo lư nào dạy những điều ấy?

 

V.- DĨ HUYỄN ĐỘ CHÂN

            Hoặc có người nói những việc cúng đám ma chay cho các Phật tử chẳng qua “dĩ huyễn độ chân”, nhân cơ hội tang gia bối rối, chúng ta đến với họ để có cảm t́nh dẫn dắt họ vào đạo. Nhưng xin đặt câu hỏi, nếu v́ cảm t́nh đến với đạo, mai mốt mất cảm t́nh th́ sao? Chủ trương đạo Phật là tự giác tự nguyện, nếu không v́ lẽ tỉnh giác đến với đạo, người ấy vẫn chưa xứng đáng là Phật tử. Huống chi, v́ chiều theo cảm t́nh của họ, Tăng, Ni mất hết giá trị cao thượng, thanh nhă của ḿnh, được đôi ba người Phật tử, mà người truyền giáo mất hết giá trị, thử hỏi việc ấy có đáng làm không? Chúng tôi đồng ư, nếu cần Tăng, Ni đến đám ma đám tuần tại nhà Phật tử, song với điều kiện tang gia thân quyến tụ họp lại, để nghe Tăng, Ni  giảng một thời kinh, xong rồi hồi hướng công đức cho người chết, Tăng, Ni ra về. Như thế, khả dĩ nói “dĩ huyễn độ chân” được. Bởi v́ nhân người chết, chúng ta giáo hóa kẻ sống cho hiểu đạo lư. Đám tuần, ngày kỵ đều nên tổ chức như thế, việc làm này không trái với chánh pháp.

            Hoặc có người nói Phật giáo từ bi, khi giáo hoá kẻ dương là nghĩ đến người âm, muốn làm sao cho âm dương lưỡng lợi, mới đầy đủ ḷng từ. Chúng tôi đồng ư lẽ này, nhưng trong chùa trước khi thọ trai, Phật dạy Tăng, Ni phải cúng chim đại bàng, quỉ la-sát và các quỉ thần, không phải v́ kẻ âm là ǵ? Mỗi chiều ở chùa hầu hết đều dùng nghi Mông Sơn để cúng cô hồn, đâu không phải v́ kẻ âm. Hằng đêm ở chùa hai thời công phu, Tịnh độ sau đó đều phục nguyện “âm siêu dương thới”, c̣n ǵ không đủ ḷng từ bi. Nếu Phật tử có ḷng hiếu thảo muốn cầu nguyện cho thân nhân, cứ đến chùa vào những thời công phu, Tịnh độ, Tăng, Ni sẽ v́ thân nhân họ cầu nguyện cho. Có thế, không mất th́ giờ tu hành của Tăng, Ni, Phật tử cũng được măn nguyện. Biết tôn trọng những bậc thầy hướng dẫn ḿnh mới gọi người ấy biết đạo đức, v́ việc riêng của ḿnh, để bậc thầy ḿnh mất hết giá trị cao thượng, là đạo đức chỗ nào? Sự hướng dẫn không khéo cả thầy lẫn tṛ làm việc vô nghĩa, c̣n chuốc lấy sự đau khổ là khác. Khi Phật c̣n tại thế, chúng ta có nghe Ngài đi đưa đám lần nào đâu. Cho đến chư Tỳ-kheo môn đồ của Phật, cũng không nghe đi đưa đám lần nào. Tại sao chúng ta hiện nay, cứ bận rộn đám ma đám tuần măi. Thế là chúng ta đă đi đúng đường Phật hay đă sai rồi, cần phải vận dụng công tâm xét lại điều này. Bởi Tăng, Ni xuất hiện trong xóm làng đều do nhà có ma chay, nên bất thần Tăng, Ni đến nhà người nào họ liền ghét sợ, coi như một điềm bất tường sắp đến cho gia đ́nh họ. Thật là ngày xưa xem “một vị Tăng đến là một ông Phật lại”, ngày nay th́ ngược lại. Thử hỏi c̣n ǵ hổ thẹn cho bằng?

VI. KẾT LUẬN

            Chủ yếu Phật giáo độ sanh một cách thiết thực, người môn đồ Phật giáo phải thấy rơ điều này. Tất cả hành động, mọi cuộc tổ chức đều nhằm thẳng giáo hoá chúng sanh, bằng con đường từ bi giác ngộ. Đem hạt giống từ bi giác ngộ gieo rắc trong ḷng mọi người là truyền bá đạo Phật. Ngược lại, đem t́nh cảm mê tín gieo rắc trong ḷng tín đồ, thử hỏi đây là truyền đạo ǵ? V́ giải thoát cho ḿnh cho chúng sanh, nên chúng ta đi tu, tại sao chúng ta trở thành kẻ chiều chuộng phục vụ tín đồ để được cơm ăn áo mặc? Quả là điều sai đạo lư không hợp với chánh pháp, chúng ta phải gan dạ đập tan những tập tục sai lầm ấy, đem lại con đường tu hành cao thượng thanh bai cho chính ḿnh và huynh đệ mai sau. Trọng trách của chúng ta không phải đóng khung trong một nhóm bổn đạo, mà phải đem đạo giác ngộ giải thoát lại cho toàn thể chúng sanh. Làm được như vậy mới đúng tinh thần Phật giáo độ sanh.

]


 

 

LUÂN HỒI

 

I.- MỞ ĐỀ

            Có một số người bảo “Nhà Phật nói Luân hồi để ru ngủ con người trong giấc mơ mê tín”. Chúng ta khảo sát kỹ coi câu ấy có đúng thế không? Đó là nhiệm vụ của người truyền bá Phật giáo, cần phải làm sáng tỏ vấn đề này. Bởi thuyết luân hồi là một thuyết quan trọng trong nhà Phật, nếu là mê tín th́ đạo Phật là đạo mê tín hay sao? Hẳn không phải thế, đạo Phật là đạo giác ngộ, truyền bá những lẽ thật của ḿnh giác ngộ được cho chúng sanh biết là nhiệm vụ của đức Phật. Chúng ta là người nối bước theo sau đức Phật, cần phải nghiên cứu tường tận giải bày rơ ràng để mọi người được hiểu khỏi sanh nghi ngờ là một điều cần yếu không thể thiếu được. Lư luân hồi là một cơ cấu hệ trọng trong Phật pháp, bao gồm cả nhân quả, nghiệp báo là căn bản đạo đức của người tu Phật. Không thông lư luân hồi, người Phật tử khó bề tu tiến được. Do đó, chúng ta cần phải t́m hiểu cho thấu đáo.

II. ĐỊNH NGHĨA

            Luân hồi là xoay vần, cứ măi đảo lên lộn xuống xoay vần trong khuôn khổ cố định. Mọi sự đổi thay biến chuyển không đứng yên một vị trí nào. Hằng xê dịch biến thiên từ trạng thái này sang trạng thái khác, từ h́nh tướng này sang h́nh tướng khác. Tất cả sự biến thiên đều tuỳ duyên thăng trầm không nhất định là luân hồi.

III. LUÂN HỒI  LÀ SỰ THẬT

            Qua định nghĩa trên, chúng ta thấy luân hồi là một triết lư thực tiễn không c̣n ǵ phải nghi ngờ. Bởi v́ con người và vũ trụ hiện tại đều nằm chung trong một định luật “biến thiên”.

            a/ Quả đất Luân hồi: Nhờ khoa học phát minh cho biết quả địa cầu chúng ta đang ở xoay tṛn quanh một cái trục trong không gian. Do sự xoay tṛn này, phía nào của quả đất hướng về mặt trời là sáng, phía bị khuất là tối. Từ đó, con người mới đặt ra thời gian. Sự xoay tṛn này không phải luân hồi là ǵ? Quả đất xoay khiến có ngày đêm và hai mươi bốn tiếng đồng hồ nhịp nhàng theo chiều quay của trái đất, lại có chia xuân hạ thu đông, do sự xê dịch gần và xa mặt trời. Từ sự xoay tṛn của trái đất, nảy sanh thời gian, thời gian và trái đất đều là luân hồi. Quả đất là chỗ tựa nương để sống c̣n của vạn vật và con người; bản thân nó đă luân hồi th́ những vật tựa nương vào nó làm sao khỏi luân hồi. Thế th́ cả vũ trụ lẫn vạn vật cùng toàn thể chúng sanh đều là luân hồi. Đó là một sự thật căn cứ trên khoa học, chớ không phải là chuyện huyền thoại mơ hồ. Thể theo sự nhận xét tổng quát này, chúng ta cần đi chi tiết hơn cho dễ hiểu.

            b/ Vạn vật Luân hồi: Muôn vật trên quả địa cầu đều cùng chung luân hồi.

            Về sinh vật từ cái cây cọng cỏ bởi do hạt nẩy mầm tăng trưởng thành cây, sanh hạt, đảo đi lộn lại măi không cùng. Các loài động vật th́ từ trứng nở thành con, con lại sanh trứng; hoặc từ bào thai thành h́nh, khi trưởng thành lại có bào thai, lẩn quẩn loanh quanh không cùng. Đó là chúng ta nói sự luân hồi trong cuộc tiếp nối. Đến ngay bản thân sự vật cũng bị luân hồi, chúng sanh trưởng thành là do đất nước gió lửa, khi tan hoại cũng trở về đất, nước, gió, lửa, tụ lại tán ra theo duyên biến chuyển chẳng cùng. Bản thân đất nước gió lửa vẫn bị luân hồi. Như sáng sớm, chúng ta lấy thau múc một phần ba thau nước đem để ngoài trời nắng, đến chiều thau nước cạn khô. Thử hỏi nước đi đâu? Nước mất hết rồi sao? Nước không đi đâu, nước cũng chẳng mất, chẳng qua nước là thể lỏng do ánh  nắng nóng bốc lên thành thể hơi, hơi theo gió bàng bạc trong hư không nào có định xứ. Thể hơi gặp khí lạnh đọng lại rơi xuống thành nước, nước lại bốc thành hơi, cứ thế măi luân hồi không cùng. Gió lửa đất cũng thế, tùy duyên từ h́nh thái này đổi sang h́nh thái khác, đổi đổi thay thay không có ngày cùng. T́m chỗ bắt đầu và chung cục của chúng không thể được. H́nh tướng trạng thái luôn luôn đổi thay, sự thật vẫn không bao giờ mất. Từ một h́nh tướng thô đổi thành một trạng thái tế, với cái nh́n thô thiển người ta bảo là mất, thật sự nào có mất, chỉ là biến thái.

            c/ Con người Luân hồi: Nói đến con người tạm chia làm hai phần, vật chất và tinh thần, như bóng đèn và điện. Ngọn đèn phát huy được ánh sáng phải có đủ hai điều kiện hỗ tương nhau. Có bóng đèn mà không có điện trở thành vô ích, có điện mà không có bóng đèn cũng vô nghĩa. Sự hỗ tương giữa điện và bóng đèn không thể tách rời, không thể đặt giá trị thiên trọng, không thể xem như chủ khách. Cần phải thấy sự tương quan bất khả phân ly. Tinh thần và vật chất của con người cũng thế, mọi sự phân chia, khinh trọng... đều sai ư nghĩa chân thật của nó. V́ muốn thấy sự luân hồi tường tận, chúng ta tạm nh́n con người ở hai mặt để dễ bề nhận xét:

                  - Vật chất luân hồi: Phần vật chất nơi con người, nhà Phật chia tổng quát làm 4 phần: đất, nước, gió, lửa. Những loại cứng trong thân người, như da thịt gân xương tóc lông răng móng... thuộc về đất. Các loại ướt, như máu mủ, mồ hôi đàm dăi nước mắt nước mũi... thuộc về nước. Hít không khí vào cho phổi hô hấp, quả tim đập, các mạch máu nhảy... mọi thứ động thuộc về gió. Nhiệt độ trong người làm cho thức ăn tiêu hóa, máu không đông đặc, ấm áp toàn thân... thuộc về lửa. Bốn thứ này thiếu một là con người chết ngay. Ở đây chúng ta phân tích sự luân hồi từng thứ:

                        - Đất luân hồi: Thâu nhận tế bào mới, đào thải tế bào cũ, thay mới đổi cũ không lúc nào dừng, ấy là luân hồi. Cho đến thân này sống nhờ ăn những thức có chất bột (đất), khi chết nó tan hoại trở thành đất. Khi sống mượn những chất đất bồi dưỡng, lúc chết trả lại cho đất. Hợp lại tan ra, tan ra hợp lại, không phải luân hồi là ǵ?

                           - Nước luân hồi: Máu từ quả tim chạy khắp các mạch, rồi trở về quả tim, chạy ra trở về, trở về chạy ra, sự tuần hoàn như vậy gọi là luân hồi. Cho đến khi sống mượn nước để bồi bổ chất ướt trong thân, lúc chết chảy ra trở về ḷng đất. Sự mượn trả mà không bao giờ mất ấy là luân hồi.

                           - Gió luân hồi: Hít không khí vô, thở không khí ra, hít vô thở ra cả đời như vậy là luân hồi.  Nhờ cái động của thở hít không khí mà các cơ quan trong toàn thân hoạt động, các cơ quan hoạt động là thân sống. Đến khi thở không khí ra mà không hít lại, liền ngừng hoạt động, tức là thân chết. Thế th́ sự sống của thân này đích thực do luân hồi của gió, gió ngưng luân hồi th́ thân phải hoại diệt.

                         - Lửa luân hồi: Do những thức ăn có chất nóng nuôi dưỡng phần lửa trong thân. Lửa dùng sưởi ấm toàn thân, thiêu đốt vật thực, lại do vật thực bồi bổ chất lửa. Cứ tiêu dùng, bồi bổ, bồi bổ tiêu dùng, đảo đi lộn lại là luân hồi. Khi tiêu dùng mà không bồi bổ kịp, lửa từ từ tắt, con người chết. Lửa ấy trở về với thiên nhiên, tùy duyên chuyển biến trong không gian, mà chưa bao giờ mất là luân hồi.

            Tóm lại, tứ đại tụ họp quân b́nh nhau là con người sống khỏe mạnh, nếu thiếu quân b́nh là ốm đau, phân tán th́ tử vong. Trong khi tứ đại tụ họp trong thân này luôn luôn biến chuyển tuần hoàn, không được ngăn trệ ứ đọng. Vừa bị ngăn trệ ứ đọng là thân này nguy ngập. Sự biến chuyển tuần hoàn của tứ đại trong thân con người gọi chung là vật chất luân hồi. Sở dĩ nói luân hồi v́ biến chuyển mà không phải mất hẳn.

                  - Tinh thần luân hồi (tâm sở luân hồi): Phần tinh thần của chúng ta luôn luôn thay đổi bất thường, không bao giờ đứng yên ở một vị trí. Những thứ buồn vui, yêu ghét, thương giận, lành dữ, phải quấy... thường thay mặt đổi mày như trên sân khấu. Có khi chúng ta hiền lành như ông Phật, có lúc giận dữ như con cọp đói. Nhiều lúc vui vẻ yêu thương, lắm khi bực bội thù địch. Những tâm trạng đổi thay không lường được, chính tự thân chúng ta cũng không ước đoán nổi tâm trạng của ḿnh sẽ xảy ra những cái ǵ. Sự buồn vui thương ghét đổi thay thăng giáng nơi nội tâm chúng ta gọi là luân hồi.

            Nói chung nơi con người chúng ta, hai phần vât chất lẫn tinh thần đều là tướng trạng luân hồi. Sự luân hồi của chúng là sự hoạt động sống c̣n của ta. Biết rơ vật chất tinh thần chỉ đổi thay h́nh tướng trạng thái, chớ không một vật nào mất. Nếu thấy mất, chẳng qua do cái nh́n cạn cợt nông nổi  mà kết luận như thế. Thực thể của nó là “biến thiên mà bất diệt”, thấy đến chỗ tận cùng ấy, mới khỏi nghi ngờ về lư luân hồi. Sự luân hồi ngay trong thân hiện tại này là hiện tại luân hồi . Đến sự tụ lại tan ra, tan ra tụ lại của thân con người là luân hồi đời này sang đời khác.

            Mọi sự tụ tán đều tùy duyên khiến h́nh tướng trạng thái đổi khác. Ví dụ nước do duyên nóng bốc thành hơi, gặp duyên lạnh cô đọng thành khối. Sự biến thái này đều do duyên quyết định. Duyên quyết định cho sự luân hồi của con người là ǵ? Là nghiệp. Nghiệp là động cơ chánh yếu trong cuộc luân hồi của con người.

IV.- ĐỘNG CƠ LUÂN HỒI

            Nghiệp là hành động từ thân tâm con người tạo thành. Khi thành nghiệp rồi nó thúc đẩy dẫn dắt con người đến chỗ thành quả của nó. Chính nó là động cơ quan yếu đẩy măi trong ṿng luân hồi không dừng của tất cả chúng sanh. Cơ quan tạo nghiệp có ba thứ, thân miệng và ư. Nói đến nghiệp là nói đến sự toàn quyền quyết định nơi mọi người chúng ta. Không ai tạo nghiệp thế cho chúng ta, cũng không ai có thể thay thế nghiệp cho chúng ta. Chính chúng ta là chủ nhân tạo nghiệp, cũng là chủ nhân thọ báo. Trọng trách của mọi sự khổ vui hiện tại và mai sau đều do chúng ta quyết định. Chủ trương nghiệp là chủ trương giành lại toàn quyền cho con người. Chúng ta là chủ nhân của chúng ta hiện tại và vị lai. Không phải một đấng Thượng đế hay một tha nhân nào khác tạo thành một cuộc sống an vui hay đau khổ cho chúng ta, mà chính do thân miệng ư của chúng ta trong quá khứ cũng như hiện tại gây nên. Chúng ta thừa nhận nghiệp do ḿnh tạo ra, đă tước hết mọi quyền năng của các đấng thiêng liêng, của định mạng, của tướng số và của rủi may. Nghiệp là hành động, là thói quen nên có thể chuyển đổi, chỉ cần nỗ lực và bền chí. Nghiệp có nghiệp thiện và nghiệp ác.

            a/ Nghiệp ác: Nghiệp ác là hành động làm cho người khổ và ḿnh khổ, hoặc ở hiện tại hay ở vị lai. Hành động này do ba cơ quan tạo nên: thân, miệng, ư.

                  - Thân làm ác: Để cho thân buông lung thích hành động giết hại sanh mạng người, hoặc thích trộm cướp tài sản người, hoặc đắm say dâm dật trái phép, là nghiệp ác của thân. V́ hành động này làm cho người khổ và ḿnh khổ, nếu hiện tại chưa đến th́ vị lai cũng chịu.

                  - Miệng làm ác: Miệng ưa nói lời dối trá, lời ác độc, lời ly gián, lời thêu dệt, là nghiệp ác của miệng. V́ những lời nói này khiến người nghi ngờ bực tức đau khổ mang tai họa, nên hiện tại hoặc vị lai ḿnh cũng phải nhận lấy hậu quả đau khổ ấy.

                  - Ư làm ác: Si mê, tham lam, nóng giận là nghiệp ác của ư. Chính nó là động cơ thúc đẩy thân làm ác, miệng nói ác. Bản thân nó th́ chưa làm hại được ai, song do nó khiến thân sát phạt người, miệng chửi bới nguyền rủa người. Thân miệng mà không cộng với tham sân si th́ tự nó không có lỗi lầm ǵ. Thế nên, tuy nói ba cơ quan tạo nghiệp, mà ư là cơ quan hệ trọng hơn cả, nó là chủ động của hai cơ quan kia.

            b/ Nghiệp thiện: Những hành động đem lại sự an ổn vui vẻ cho người và ḿnh là nghiệp thiện. Sự an ổn vui vẻ chẳng những có trong hiện tại mà c̣n đến vị lai. Cũng do ba cơ quan tạo thành nghiệp thiện: thân, miệng, ư.

                  - Thân làm lành: Thân không giết hại người, không trộm cướp tài sản người, không dâm dật phi pháp là nghiệp thiện của thân. Tại sao không làm ba việc ấy là thiện? Bởi v́ con người quí nhất là sanh mạng, chúng ta không hại sanh mạng họ th́ họ đến với chúng ta một cách an ổn không sợ sệt. Thứ yếu là tài sản, con người tự thấy tài sản là huyết mạch của họ, chúng ta nhất quyết không trộm cướp th́, họ đến với chúng ta cũng như chúng ta đến với họ, đều được an vui không hồi hộp lo âu về mất của. Hạnh phúc của gia đ́nh là vợ chồng ḥa thuận tin yêu trinh bạch với nhau, nếu vợ hay chồng có t́nh ư riêng tư với ai là gia đ́nh mất hạnh phúc. Chúng ta giữ ǵn không theo sự dâm dật phi pháp, đến với gia đ́nh ai họ đều an ổn vui vẻ không nghi ngờ sợ sệt chi cả. Ǵn giữ ba điều này, chúng ta đă ban sự an ổn vui tươi cho bao nhiêu người rồi, cũng chính là đem lại sự an ổn vui tươi cho gia đ́nh chúng ta.

                  - Miệng làm lành: Miệng không nói dối trá, không nói ác độc, không nói ly gián, không nói thêu dệt là miệng làm nghiệp lành. V́ sao? Bởi v́, nói dối trá khiến người nghi ngờ mất niềm tin, đă không tin nhau làm ǵ có thương mến. Thế nên nói dối là căn bản khiến con người mất hết t́nh thương. Nói ác độc khiến người nghe sanh phẫn nộ bực dọc đau khổ. Nói ly gián làm cho thân thuộc họ phải chia ĺa, tạo thành cái khổ ái biệt ly. Nói thêu dệt là tô điểm không đúng chân lư, khiến người không t́m ra được lẽ thật. Chúng ta quyết định ǵn giữ miệng không nói bốn điều trên là tạo được t́nh thân giữa ḿnh và người, đem lại cho mọi người sự an ổn, bảo vệ được t́nh thân của người, giúp cho người dễ nhận ra lẽ thật. Thế là, chúng ta đă tạo điều kiện tốt đẹp cho xă hội biết mấy.

                  - Ư làm lành: Ư không có tham sân si là ư làm nghiệp lành. Chúng ta thường thấy mọi sự bất b́nh đổ vỡ đều phát nguồn từ tham sân si. Nếu chúng ta không để cho tham sân si dẫn dắt hoành hành th́ cả cuộc đời chúng ta được an ổn, cũng là nguồn an ổn cho mọi người. Ba thứ này gọi là tam độc, v́ nó gây đau khổ cho ḿnh và người không thể lường trước được. Người nào kềm cương giữ thắng được nó, bảo đảm được một đời sống an lành, cũng bảo vệ được an ninh trật tự cho mọi người. Ngược lại, kẻ nào buông cương thả thắng nó sẽ lôi đời họ vào hố sâu nguy hiểm, cũng gây họa hại cho khách bàng quan không ít. Thế nên, không cho tham sân si nổi dậy là ǵn giữ sự an ổn vẹn toàn cho ḿnh và mọi người.

            c/ Khả năng của nghiệp: Nghiệp là cái không có h́nh tướng mà có khả năng đáng kể. Ví như gió, tuy không thấy h́nh tướng mà nó thổi đất nước đều lung lay. Nghiệp cũng thế, b́nh thường chúng ta không thấy nó, mà nó lôi chúng ta đi khắp nẻo luân hồi. Sở dĩ nó có khả năng mạnh mẽ như vậy là do tập quán lâu ngày. Như người tập hút thuốc, buổi đầu khói thuốc chỉ cảm thấy khó chịu, nhưng tập lâu ngày thành ghiền, khi ghiền rồi với giá nào cũng phải t́m cho có nó. Thử hỏi cái ghiền ấy h́nh tướng ra sao, mà điều khiển con người một cách mănh liệt như thế? Quả thật không ai biết tướng mạo của nó, nhưng khi nó đ̣i hỏi, người ta phải chạy ngược chạy xuôi t́m cho ra thuốc hút. Bệnh ghiền rượu khả năng c̣n mạnh hơn, từ những hớp rượu cay xé mồm, tập măi thành quen, bắt đầu ghiền rượu. Khi ghiền không có rượu khiến người ta phải ụa phải mửa, oằn oại nhọc nhằn, ngáp trời ngáp đất, quả thật chi phối hết khả năng con người. Chúng ta tự đặt câu hỏi, ai đem bệnh ghiền ấy đến cho chúng ta? Chính chúng ta tự tập, tập lâu thành ghiền, cái ghiền ấy do ḿnh tạo rồi ḿnh chịu. Cái ghiền ấy có ma lực ǵ mà đày đọa hành hạ con người đến thế? Hắn không có ma lực ǵ, chẳng qua tập lâu ngày thành thói quen, thói quen càng lâu sức càng mạnh. Đă tự chúng ta tập thành bệnh, khi muốn hết bệnh cũng tự chúng ta gan dạ bỏ nó, không ai có thể bỏ thế cho chúng ta. Khả năng của bệnh ghiền giống hệt khả năng nghiệp chi phối chúng ta trong lục đạo luân hồi vậy. Tự chúng ta tạo nghiệp lành hoặc nghiệp dữ, tạo càng lâu th́ sức mạnh càng lắm, đến cuối cùng chúng chi phối dẫn dắt chúng ta đi vào con đường lành hay dữ tùy chỗ gây tạo của ḿnh. Không phải hóa công đày đọa, không phải Thượng đế bày ra, chính chúng ta tự tạo rồi tự thọ. Khi đă thành nghiệp, chúng ta khó cưỡng được nó. Thế nên, biết chọn nghiệp lành để tạo là đă tự gây một sức mạnh đưa ḿnh đến cơi lành. Cắm đầu gây nghiệp ác là tạo áp lực lôi ḿnh vào cơi dữ. Chính đây là quyền lựa chọn của con người, quyền định đoạt số phận ở mai hậu. Nếu cứ sống say chết ngủ đẩy đâu đi đấy, những kẻ này về sau than trời trách đất nào có ích ǵ. Chúng ta có đủ thẩm quyền quyết định đời ḿnh hiện tại và vị lai, tại sao chúng ta lại bỏ mất cái giá trị cao cả ấy. Những kết quả tốt xấu dở hay ở hiện nay và mai kia đều nằm sẵn trong tay chúng ta. Chúng ta có quyền phán quyết một bản án tốt xấu trong đời sống mai sau của ḿnh. Đừng cầu khẩn van xin bất cứ một năng lực nào ngoài chúng ta. Nói đến khả năng nghiệp là khả năng của chúng ta, nghiệp và chúng ta không phải là hai. Nếu chúng ta khôn ngoan khéo léo lo tạo nghiệp lành, chúng ta dại khờ ngu muội gây tạo nghiệp ác. Khổ vui sẽ tùy nghiệp mang đến với chúng ta một cách chân thành.

V.- TẤT YẾU CỦA LUÂN HỒI

            Tạo nghiệp là nhân, thọ báo là quả. Tất yếu của sự luân hồi là nhân quả. Lăn lộn trong ba cơi sáu đường đều tùy thuộc nhân quả. Ḿnh đă gây nhân nhất định ḿnh phải chịu quả, quả khổ quả vui là do gây nhân khổ vui. Nhân quả là lẽ công bằng chân thật, bởi mỗi cá nhân gây tạo khác nhau, nên sự thọ nhận cũng sai biệt. Sự công bằng từ nhân đến quả, không phải sự công bằng do ai khác áp đặt cho ḿnh. Nếu do kẻ khác áp đặt cho ḿnh là đă bất công rồi. Ngày nay chúng ta tạo nhân, ngày mai chúng ta thọ quả, thật là rơ ràng rành mạch biết bao. Song nói tới nhân quả là căn cứ trên thời gian suốt cả quá khứ hiện tại vị lai, trong quá khứ có cái gần có cái xa, vị lai cũng thế, khiến có những kết quả xảy đến mà đương sự không bao giờ nhớ. Lại có những sự kiện gây nhân mà không thấy kết quả. Do đó nhân quả trở thành rắc rối khó khăn, người ta khó tin khó nhận. Nhưng sự thật lúc nào cũng thật, bởi khả năng nhớ hiểu của con người quá giới hạn, nên có những thắc mắc thế thôi. Nếu người nhận hiểu sâu về lư nhân quả th́ cuộc sống này đă có tiêu chuẩn nhắm đến và an ổn vô cùng. V́ mọi kết quả hiện chịu trong đời đều do nhân gây ra từ thuở trước, nên khổ không oán hờn, vui không ngạo mạn. Ḿnh làm ḿnh chịu, chỉ quí ngang đây phải chọn lấy nhân tốt mà làm, để mai kia khỏi phải thọ quả đau khổ, cho nên trong kinh nói: “Bồ-tát sợ nhân, chúng sanh sợ quả.” Kẻ trí th́ sợ nhân, người ngu th́ sợ quả. Do cái nh́n thấu suốt và cái nh́n nông cạn, nên có chia Bồ-tát và chúng sanh. Nhân có thiện ác th́ quả cũng có khổ vui.

            Những kẻ gây tạo nghiệp ác, ắt phải thọ quả khổ trong ba đường dữ, địa ngục ngạ quỉ súc sanh. Nghiệp ác là ḿnh làm cho kẻ khác khổ, cân xứng với nhân ḿnh gây, thọ quả khổ một nơi trong ba đường dữ. Nhân khổ có khi không thành quả, do nửa chừng ḿnh biết hối cải, hoặc chuyển đổi. Nhân khổ nhất định thọ quả khổ, do sự nuôi dưỡng một cách sung măn. Ví như có người uống rượu mà không ghiền, v́ họ biết giới hạn chừa bỏ. Có người uống rượu nhất định phải ghiền rượu, v́ họ măi tiếp tục và say mê. Có nhân khổ mà không thọ quả khổ, hoặc nhất định phải thọ quả khổ, cũng như thế.

            Người gây tạo nghiệp thiện ắt thọ quả vui trong cơi người, cơi a-tu-la và cơi trời. Cân xứng với nghiệp lành ḿnh đă tạo, nhiều ít cao thấp, kết quả cũng có hơn kém thấp cao. Có khi người tạo nghiệp lành mà không được quả lành, hoặc người tạo nghiệp lành nhất định hưởng quả lành. Ví như, một số sinh viên vào học y khoa, có người không đủ khả năng học hoặc lười biếng học, nên tuy học y khoa mà không kết quả thành bác sĩ. Có người đủ khả năng lại cần cù học tập, nhất định một ngày kia sẽ thành bác sĩ. Từ nhân đến quả c̣n cần có  những sự kiện trợ giúp đầy đủ mới được viên măn. Không thể có nhận định tất nhiên rằng có nhân là có quả. Bởi v́ thời gian từ nhân đến quả là giai đoạn biến động, hoặc được tăng trưởng, hoặc bị tiêu ṃn, tùy theo những sự kiện trợ giúp. Biết thế, chúng ta có thể chuyển nhân xấu thành tốt, hoặc nhân tốt trở ra xấu.

            Sự tất yếu của luân hồi tùy thuộc nhân quả, không có kẻ nào khác áp đặt khổ vui cho chúng ta, cũng không có bàn tay nào lôi kéo chúng ta phải đi đường này hay lối khác, mọi sự kết quả đều cân xứng với nhân ḿnh gây tạo. Nắm vững yếu tố này, mới thấy chúng ta trọn quyền định đoạt số phận của chúng ta. Nếu cuộc đời của chúng ta hiện nay được tươi sáng hay đen tối, đều do sự khéo léo hay vụng về của ta ngày xưa. Can đảm nhận lấy trách nhiệm của ḿnh, không oán trách kêu ca, không than thân tủi phận. Chúng ta gan dạ trong cuộc sống hiện tại, song phải khôn ngoan chọn lấy lối đi ở ngày mai.

VI. THOÁT LY LUÂN HỒI

            Đạo Phật giải rơ lư luân hồi, nhưng không phải để măi chịu luân hồi. Biết luân hồi tường tận rồi, Phật chỉ ra con đường thoát ly luân hồi. Đúng như ư nghĩa biết khổ, chúng ta mới t́m cách thoát khổ. Luân hồi là ṿng loanh quanh lẩn quẩn, nhào đi lộn lại không thể thoát ra. Chấp nhận trong ṿng quanh quẩn đó, do người không t́m được manh mối thoát ra, hoặc không đủ khả năng để thoát ra. Như các nhà khoa học phát minh được sức hút của trái đất, mọi vật cam chịu trong ṿng vọt lên rớt xuống, không sao thoát ra ngoài được. Nhưng cũng các nhà khoa học chế phi thuyền đủ khả năng vọt ra ngoài ṿng hút của trái đất, đi thám hiểm các hành tinh khác. Biết rơ sức hút của trái đất rồi, mới chế được phi thuyền vọt ra ngoài sức hút. Cũng thế, Phật giải rơ lư luân hồi rồi, mới dạy phương pháp thoát ly luân hồi. Mục đích của đạo Phật là thoát ly sanh tử luân hồi, không chấp nhận sự loanh quanh trong ṿng sanh tử. C̣n trong sanh tử dù dài ngắn khổ vui , đạo Phật đều kết luận là đau khổ, v́ cùng một số phận vô thường. Chỉ thoát được luân hồi mới là an vui giải thoát.

 

VII.-  KẾT LUẬN

            Đạo Phật nói lư luân hồi cũng là phát minh một sự thật của vạn vật và con người. V́ đối tượng của đạo Phật là con người, nên chung qui đặt nặng về sự luân hồi của con người. Con người nhận hiểu thấu đáo về lư luân hồi, nếu họ không có khả năng thoát khỏi luân hồi, tự ḿnh chọn lựa cuộc luân hồi an vui và thoải mái. Nếu họ có khả năng thoát ly luân hồi, do hiểu luân hồi tiến tu đạo giải thoát. Biết được lư luân hồi, chúng ta biết được lẽ công bằng của con người, cũng nhận lấy sự tự do căn bản nơi chúng ta. Mọi mê tín ỷ lại đều tiêu tan, do biết ta là người quyết định thân phận của ḿnh. Tất cả oán hờn tủi hận đều sạch hết, v́ có ai áp đặt sự đau khổ cho ḿnh mà than thở. Quả chúng ta là con người độc lập tự do của chính ḿnh trong hiện tại và vị lai. Dù chưa giải thoát, biết được lư luân hồi, chúng ta cũng sáng suốt và an ổn ngay trong đời sống này. Mọi tương lai đều nằm trong tay chúng ta, chúng ta trọn quyền chọn lấy một tương lai nào theo sở thích của ḿnh.

 

]


 

 

TAM ĐỘC

 

I.- MỞ ĐỀ

            Rắn độc thuốc độc là thứ người đời rất kinh sợ, nhưng không đáng sợ bằng Tam độc. V́ rắn độc thuốc độc hại người chỉ một thân này, tam độc hại người đến bao nhiêu đời, bao nhiêu kiếp. Nếu đáng sợ chúng ta nên sợ tam độc hơn tất cả thứ độc khác. Thế mà, người đời chẳng những không sợ tam độc, lại c̣n nuôi dưỡng chứa chấp bảo vệ, khiến nó càng ngày càng tăng trưởng. Do đó, người đời luôn luôn sống trong mâu thuẫn, một mặt cầu mong được an ổn vui tươi, một mặt nuôi dưỡng tam độc là động cơ bất an và đau khổ. Có khác ǵ, người kia muốn gia đ́nh được b́nh an, mà nuôi kẻ giặc trong nhà. Thế th́ sự b́nh an chẳng những không có, mà đau khổ tan hoại sẽ đến nay mai. Người học đạo chúng ta phải sáng suốt nhận diện đúng mặt thật kẻ phá hoại, tiêu diệt chúng th́ sự an vui sẽ đến với chúng ta. Tam độc là nguồn đau khổ của chúng sanh, là cội rễ bất an của nhân loại, chúng ta phải hiểu nó và cố gắng trừ nó.

II. H̀NH TƯỚNG TAM ĐỘC

            Tam độc là ba thứ ác độc mang đau khổ đến cho con người, phá hoại mọi hạnh phúc an vui của con người. Theo thứ tự thông thường của nó là Tham, Sân, Si; song đặt đúng trật tự từ gốc ra ngọn phải nói Si, Tham, Sân.

            1. Si: Si là si mê. Không biết đúng lẽ thật giả, không nhận ra phải trái, không thấy được tà chánh, ngu tối mờ mịt là tướng trạng của Si. Cái si mê căn bản nhất là nhận lầm thân giả dối làm cái ta chân thật, tâm sanh diệt làm cái ta vĩnh cửu. Nơi ta đă nhận lầm th́ đối tất cả đều lầm, phát sanh bao nhiêu thứ tội lỗi về sau đều gốc từ cái lầm này mà ra.

            Thân là tướng duyên hợp hư giả mà lầm chấp thân ḿnh thật. Đă thấy thân thật rồi, sanh bao nhiêu thứ bảo vệ ǵn giữ nuôi dưỡng tô điểm cho thân, giành giật đuổi bắt t́m cầu cho được những nhu cầu mà thân đ̣i hỏi. Nhưng không bao giờ có sự thoả măn của bản thân, v́ nó là một thứ ghẻ lở, càng được lại càng đ̣i hỏi. Chính nó là cái gốc của ḷng tham vô tận sau này. Lầm chấp thân là thật th́ mọi sự vật lệ thuộc về thân cũng thấy là thật. Do đó chẳng những lo t́m cách bảo vệ thân, cũng lo t́m cách bảo vệ những sự vật lệ thuộc. Chúng ta cố ǵn giữ thân ḿnh, cố t́m kiếm những nhu cầu để thỏa măn thân ḿnh, cố bảo vệ những sự vật lệ thuộc về ḿnh, kẻ khác cũng thế. Ai cũng muốn thỏa măn, muốn bảo vệ, song ḿnh được th́ kẻ khác phải mất, đó là chỗ đụng nhau của con người. Nhân loại tranh đấu nhau để được từng mảnh vụn vật chất, gốc từ chấp thân thật phát sanh. Bởi cho thân là thật, một khi nó sắp hoại th́ mọi sợ sệt lo âu không sao kể hết.

            Về tâm, cho những thứ suy tư nghĩ tưởng cảm xúc phân biệt... là tâm ḿnh thật. Song những thứ ấy là tướng duyên theo bóng dáng trần cảnh, chợt có chợt không, bỗng sanh bỗng diệt, không có thực thể cũng không lâu dài. Bám vào cái giả dối tạm bợ ấy cho là tâm ḿnh. Khi đă chấp là tâm ḿnh rồi, ḿnh nghĩ cái ǵ cũng cho là đúng, ḿnh tưởng cái ǵ cũng cho là hay, ḿnh phân biệt điều ǵ cũng cho là phải. Bảo vệ ư kiến ḿnh chống đối ư kiến kẻ khác. Nếu sự chống đối của một cá nhân với một cá nhân, là ư kiến bất đồng trong phạm vi cá nhân. Nếu sự chống đối của quần chúng này với quần chúng khác, là tranh đấu ư thức hệ. Bất đồng ư kiến là mầm đau khổ triền miên từ trong gia đ́nh đến ngoài xă hội. Nhưng mà, ư kiến làm sao đồng được, bởi mỗi người sống trong mỗi môi trường khác nhau, sự huân tập hấp thụ khác nhau, kể cả những chủng nghiệp của thời quá khứ cũng khác nhau, đương nhiên vọng tưởng tâm thức phải khác nhau. Bởi những thứ ấy do huân tập mà có nên những bất đồng ấy không thể tránh khỏi. Thế mà chúng ta lại bảo thủ ư kiến ḿnh là đúng, kẻ khác ắt cũng nhận ư kiến họ là đúng, hai cái đúng ấy sẽ là gốc đấu tranh. Nếu nói thẳng, ư kiến không có đúng, chỉ v́ phù hợp với một số người nào với khoảng thời gian nào, đến những kẻ khác và thời gian khác là sai. V́ thế, người cố chấp ư kiến ḿnh đúng, quả là họ đă sai. Càng cố chấp càng bảo thủ ư kiến ḿnh là nguyên nhân đau khổ trầm trọng của con người. Chỉ khéo léo dung ḥa buông xả để cùng vui vẻ với nhau, là người khôn ngoan nhất.

            2. Tham: Do chấp thân là thật nên khởi tham lam mọi nhu cầu vật chất cho thân. Ḷng tham là cái hang không cùng, cái túi không đáy, cho nên không biết đến đâu là đủ. Không có, tham lam muốn có; đă có, tham lam muốn thật nhiều, càng được lại càng tham. Tham mà không toại nguyện liền nổi sân. Quả thật tham là nhân đau khổ vô hạn, con người đến khi sắp tắt thở vẫn chưa thỏa măn ḷng tham. Tham có nhiều loại:

            Tham muốn thân này sống măi không chết, người ta coi cái chết là một họa hại tối đại của con người. Thế nên, thăm hỏi nhau, chúc mừng nhau, người ta luôn mồm cầu khỏe mạnh, cầu sống lâu trăm tuổi. Bởi có ám ảnh ḿnh sống lâu, nên kinh doanh sự nghiệp đuổi theo danh vọng, mê say sắc đẹp, thích uống ăn ngon lành... cho thỏa măn thân này. V́ sợ chết nên người ta luôn luôn tránh né tiếng chết, dù cho đến khi bệnh ngặt sắp chết, đi mua ḥm về vẫn nói nhắc cái “thọ”. Sự thể tham sống đầy ngập nơi con người, có những người mang thân sống một cách khổ đau đen tối, mà nghe nói chết cũng sợ sệt. Song có sanh nhất định phải có tử, là một định án không thể di dịch, làm sao tránh được. Chỉ có sợ chết mà không biết đường tránh, đây là nỗi khổ tuyệt vọng của con người.

            V́ tham sống lâu nên người ta muốn được nhiều tiền của để bảo đảm đời sống. Muốn được tiền của nhiều, người ta phải tranh đua giành giật với nhau. Đă là giành giật th́ có kẻ được người mất, kẻ được vui cười th́ người mất tức tối. V́ thế người được càng nhiều th́ thù hận càng lắm. Có khi trong lúc giành giật, chỉ nghĩ phần được về ḿnh, người ta đă càng lấn dẫm đạp trên sanh mạng kẻ khác. Cho nên cái được của ta cũng là mồ hôi nước mắt của người. Người tham tiền của nhiều th́ đau khổ cũng nhiều. Bởi v́ đâu phải muốn là được, phải lao tâm nhọc trí, phải tốn hao bao nhiêu sức lực mới được. Đă được lại sợ người ta phá, t́m mọi cách ǵn giữ bảo vệ, nhưng có khi nó cũng ra đi. Khổ công quá nhiều mới được, được rồi lại mất, thật là khổ đau vô kể.

            Danh vọng là những hạt nước lóng lánh trước ánh nắng mặt trời, người thích những danh vọng cao sang, nhưng khi nắm vào tay nó liền tan biến. Song người thế gian nào có biết chán, cứ một bề ngó lên, được một bậc lại muốn lên một bậc. Chính v́ tham lam mong muốn, người ta phải chạy chọt cầu cạnh bợ đỡ những người có khả năng đưa ḿnh lên. Mong cầu mà được, người ta lại thêm mong cầu. Mong cầu mà không được, người ta phải khổ đau sầu thảm. Danh vọng là miếng mồi ngon, nên ta mong ước kẻ khác cũng mong ước. Nếu ta nắm được nó trong tay th́ kẻ khác cũng t́m đủ cách để gỡ ra. V́ thế, người xưa đă nói “càng cao danh vọng càng dày gian nan”. Ít có người ngồi trên chiếc ghế danh vọng được an ổn suốt đời. Song v́ tánh cách hào nhoáng của danh vọng hấp dẫn mọi người dán mắt vào đó không biết mỏi. Đuổi bắt danh vọng, như những đứa bé đuổi bắt bóng, cuối cùng chỉ chuốc lấy sự mệt nhừ. Chỉ ai khôn ngoan khéo biết dừng, người đó sẽ được an ổn.

            Sắc đẹp cũng là một thứ men say khiến nhiều người đắm mê đeo đuổi. Bao nhiêu danh từ hạnh phúc yêu đương êm tai, ngọt dịu, thúc đẩy khách si t́nh ch́m sâu trong biển ái, rốt cuộc chỉ là những ảo tưởng đảo điên, do con người điên đảo bày bịa. Hạnh phúc là chiếc mặt nạ của khổ đau, một khi lột chiếc mặt nạ ấy ra liền lộ nguyên h́nh đau khổ. Nhưng con người là bệnh nhân của sắc dục, mặc dù biết nó là nhân đau khổ, mà họ vẫn la cà bê bết, không chịu tránh xa. Người ta đuổi theo sắc dục không khi nào biết chán, như người khát uống nước muối càng uống càng khát. Nó mang họa hại cho bản thân chóng tàn cỗi, lại thêm nhiều sầu thảm khổ đau. Đam mê sắc dục là người tự phá hoại sanh mạng của chính ḿnh.

            Những thức ngon ăn uống chỉ có giá trị khi c̣n tại lưỡi, nuốt qua khỏi cổ nào có ra ǵ. Thế mà người đời v́ miếng ăn giành giật nhau, giết hại nhau. Tốn bao nhiêu mồ hôi, bao nhiêu sức lực, chỉ v́ một món ăn ngon. Hôm nay thích ăn món này, ngày mai đ̣i ăn món nọ, sự thèm khát đ̣i hỏi thôi thúc người ta phải khốn khổ nhọc nhằn suốt đời. Rốt cuộc một đời sống chỉ  v́ nô lệ cho cái lưỡi. Dù có người bảo rằng ăn uống bồi bổ sức khỏe con người, cần thiết cho sự sống, song chúng ta chỉ cần ăn những thức có đủ sinh tố nuôi dưỡng cơ thể là tốt, đừng cầu kỳ món ngon vật lạ, đừng đ̣i hỏi chả phụng khô lân. Biết chọn thức ăn đủ bồi dưỡng thân này khỏe mạnh là đúng, chớ để cả đời nô lệ cho cái lưỡi.

            Lại có lắm người cứ thích nhàn rỗi thảnh thơi, thong thả qua ngày, chẳng ưng làm lụng việc ǵ. Họ tự cho thân sung sướng là trên hết, không muốn làm động móng tay. Quan niệm này lâu ngày trở thành lười biếng hèn nhát. Họ là những khối thịt thường được vất lên chiếc giường, ném xuống chiếc vơng. Cả ngày họ chỉ biết thụ hưởng, mà không ưng làm một công tác ǵ để có lợi cho ḿnh và giúp ích xă hội. Nếu một đời sống mà tập như thế, kẻ đó tự chuốc bệnh hoạn vào thân và vô ích cho xă hội. Càng ở không càng thấy thân lừ nhừ nhọc mệt, v́ thân này là một cái máy hoạt động, nếu không chịu hoạt động máu huyết không được lưu thông, gân cốt không dẻo dai, là cái cớ để bệnh hoạn. Người cố ở không cho sung sướng, đâu ngờ họ tự chuốc bệnh hoạn khổ đau.

            3. Sân: Sân là nóng giận. Do tham lam mà không toại nguyện, hoặc bị ngăn trở liền nổi sân. Một khi nổi sân th́ mọi tội ác nào cũng dám làm, mọi khổ đau nào cũng dám tạo. Tất cả sự hung tợn dữ dằn ác độc đều do sân mà phát sanh. Sân có loại bộc phát, có loại thầm kín.

            Nghe một lời nói trái tai, thấy một hành động không vừa ư liền nổi nóng la ó ầm ầm là sân bộc phát. Loại sân này rất nguy hiểm, song đối phương dễ thấy dễ biết. Những điều ǵ ḿnh muốn được bị kẻ khác ngăn trở, liền nổi giận mặt đỏ, miệng thốt ra lời bất hảo, tay chân quơ múa, toàn thân cử động một cách mất điều ḥa. Nếu khi này, đối phương nhường nhịn đi th́ khả dĩ dịu lại, bằng không th́ cơn ẩu đả khó tránh. Một phen nổi sân là một trận băo bùng họa hại hiểm nguy không thể lường trước được. Mọi hiểm nguy họa hại trong đời sống của chúng ta đều do sân mang lại. Người ôm ấp ḷng sân là kẻ chứa chấp rắn độc trong nhà, tai họa đến một cách dễ dàng chỉ trong giây phút.

              Có người được sức mạnh dằn ép lửa sân bộc phát, nhưng họ lại nuôi dưỡng nó một cách ngấm ngầm. Khi nghe nói trái tai, họ nổi giận, mà gh́m ở trong ḷng. Ḷng sân này thầm lặng mà ác độc vô kể, v́ đối phương không biết được để ngừa đón. Những kẻ có ḷng sân thầm kín là con người sâu độc nguy hiểm. Đây là đống lửa than, khó thấy mà lâu tàn. Người ôm ḷng sân này như ngôi nhà đẹp mà chứa đầy hơi độc. Những kẻ thiếu tinh tế, nhận xét hời hợt, không sao tránh khỏi bị hơi độc làm ngạt thở. Song hại được người chính ḿnh cũng không an ổn ǵ. Thế nên sân là mối hiểm họa cho ḿnh cho người, mọi khổ đau trong đời này đến muôn kiếp đều do sân gây ra.

III.- TRỪ TAM ĐỘC

            Như trên đă thấy, tam độc là họa hại vô cùng bất tận của con người. Chúng ta phải nỗ lực thủ tiêu chúng th́ đời ḿnh mới an ổn và đem an ổn lại cho mọi người. Tam độc như một cây to, si là gốc cây, tham là thân cây, sân là cành lá. Trừ tam độc, chúng ta phải nhắm thẳng vào gốc của nó mà đoạn diệt. Gốc của nó tức là si, nên phương pháp trừ nó phải là trí tuệ. Ở đây chúng ta dùng hai phương pháp để trừ diệt chúng:

 

            1/  Quán vô thường: Bởi do si mê chấp thân này là thật và cuộc sống lâu dài, nên dấy khởi ḷng tham sống lâu, tham của cải, tham danh vọng... Ở đây chúng ta dùng trí tuệ quán chiếu theo chiều thời gian, xem thân này quả thật sống lâu dài hay không? Như Phật đă nói: “mạng người sống trong hơi thở”. Đây là một sự thật của kiếp người, chỉ một hơi thở ra không hít vào đă chết. Dù có đến trăm ngàn lối chết, song bất cứ lối chết nào cũng thở kh́ ra mà không hít lại là xong một cuộc đời. Thời gian thở ra không hít lại khoảng bao lâu, quả thật ngắn ngủi vô cùng, chỉ trong ṿng một tích tắc đồng hồ. Như thế, chúng ta kết luận mạng người sống bao lâu, mà tham lam đủ thứ. Càng xét nét chúng ta càng thấy thân này thật quá mỏng manh, một luồng gió độc xuông vào cũng có thể chết, dẫm chân lên con rắn độc bị cắn cũng có thể chết, đi đường sẩy chân ngă bổ cũng có thể chết, ngồi trên xe đụng nhau cũng có thể chết, một gân máu bể cũng có thể chết v.v... sự c̣n mất của thân này quá nhanh, không có ǵ bảo đảm cho sự sống của nó hết. Phút giây nào c̣n sống là biết nó sống, phút giây khác không chắc nó lại c̣n. Một cơn bất thần liền ngă ra chết, nên nói thân này là vô thường. Đă thấy thân mỏng manh như vậy th́ sự tham lam cho thân c̣n có giá trị ǵ. Do trí tuệ thấy đúng như thật thân này vô thường, mọi sự tham lam theo đó được dừng, ḷng sân hận cũng nguội lạnh.

            Những suy tư nghĩ tưởng của tâm thức cũng đổi thay từng giây phút. Chúng thay h́nh đổi dạng luôn luôn nên cũng thuộc vô thường. Trong một ngày mà buồn giận thương ghét đổi mày thay mặt không biết bao nhiêu lần. Mọi sự đổi thay ấy là tướng trạng vô thường, c̣n ǵ tranh chấp là chân lư. Chấp suy tư nghĩ tưởng của ḿnh là đúng là chân lư, quả là việc dại khờ, có khi nào lấy một cái búa trong bóng để đập nát một viên đá thật được. Cũng thế, vọng tưởng là cái vô thường tạm bợ làm sao dùng nó suy ra được một chân lư muôn đời. Chấp chặt những nghĩ tưởng ḿnh là đúng chân lư, quả là phi lư rồi.

 

            2/ Quán duyên sanh: Si mê chấp thân này là thật, chúng ta hăy dùng trí tuệ đứng về mặt không gian xem xét coi có đúng hay chăng? Từ tinh cha huyết mẹ cộng với thần thức ḥa hợp thành bào thai, khi ra khỏi ḷng mẹ phải nhờ tứ đại bên ngoài nuôi dưỡng bồi bổ thân này mới sanh trưởng. Thế là do ḥa hợp mà có thân, cũng do ḥa hợp được sanh trưởng. Đă là duyên hợp th́ không phải một thể, chỉ là hợp tướng từ duyên sanh. Như cái nhà là hợp tướng của nhiều duyên, trên hợp tướng ấy không có cái nào là chủ của cái nhà, cái nhà là giả tướng của nhiều duyên hợp lại. Nếu chúng ta chỉ cây cột cũng không phải cái nhà, cây kèo cũng không phải cái nhà, cho đến tất cả không có cái nào là cái nhà, đủ những thứ đó hợp lại tạm gọi là cái nhà. Cái nhà ấy là một giả tướng do duyên hợp, thân này cũng thế. Mọi sự duyên hợp đều hư giả, chúng ta t́m đâu cho ra lẽ thật của thân này. Trên cái không thật mà lầm chấp cho là thật quả thật si mê. Thấy rơ thân này duyên hợp không thật là trí tuệ. Thấy thân này không thật rồi, c̣n ǵ tham lam nhiễm trước nơi thân. Đối với thân không tham nhiễm th́ mọi nhu cầu của nó c̣n có nghĩa lư ǵ. Thấy thân đúng lẽ thật th́ si mê tan tành tham sân cũng theo đó biến hoại.

            Đến như suy tư nghĩ tưởng thương ghét... trong tâm đều do sáu căn tiếp xúc với sáu trần mà phát sanh. Bản thân của những tâm lư ấy không tự có, do căn trần thức ḥa hợp mà sanh. Đă do duyên hợp th́ không thật thể, cái không thật mà cố chấp là thật thật quá si mê. Dùng trí tuệ soi thấu những tâm tư theo duyên thay đổi đều là hư giả, chúng ta đă đập tan được cái si mê chấp ngă nơi nội tâm con người. Biết rơ bao nhiêu thứ suy nghĩ tưởng tượng đều là ảo ảnh, c̣n ǵ chấp chặt cái nghĩ ḿnh là đúng, cái tưởng ḿnh là thật nữa. Do đó, chúng ta buông xả mọi vọng tưởng giả dối, sống một đời an lành trong cái b́nh lặng của tâm tư.

IV.- KẾT LUẬN

            Tam độc là cội nguồn đau khổ của chúng sanh, trừ diệt được nó chúng sanh sẽ hưởng một đời an vui hạnh phúc. Khổ vui vốn do chứa chấp tam độc hay tống khứ chúng đi, đây là căn bản của sự tu hành. Ba thứ độc này, si là chủ chốt. Diệt được si th́ hai thứ kia tự hoại. Nhắm thẳng vào gốc mà đốn th́ thân và cành đồng thời ngă theo. V́ thế, trong mười hai nhân duyên cái đầu là vô minh, muốn cắt đứt ṿng xúc xích luân hồi của nhân duyên, chỉ nhắm thẳng vô minh, vô minh diệt th́ hành diệt v.v... Si độc là động cơ chính yếu của tam độc, chận đứng được si th́ toàn thể tam độc đều dừng. Đức Phật thấy được cội gốc của đau khổ và đầu nguồn của thoát khổ, nên Ngài dạy Phật tử cứ ngay cái gốc ấy mà trừ, người ứng dụng đúng như thế sẽ ít tốn công mà kết quả viên măn. Si là gốc đau khổ, cũng như vô minh là gốc luân hồi, v́ diệt tận gốc ấy, đức Phật dạy dùng cây búa Trí Tuệ đập tan nó, hoặc thắp sáng ngọn đuốc trí tuệ phá tan màn đêm vô minh. Bởi lẽ ấy, đạo Phật là đạo giác ngộ, chỉ có giác ngộ mới diệt tận cội rễ si mê, chỉ có mặt trời giác ngộ xuất hiện th́ đêm tối vô minh mới hoàn toàn hết sạch. Diệt được tam độc của ḿnh là tự cứu bản thân, cũng đă đem sự an ổn lại cho mọi người chung quanh. Một việc làm tự lợi lợi tha đầy đủ, tất cả Phật tử chúng ta phải tận lực cố gắng thực hiện kỳ được mới thôi. Được vậy mới xứng đáng là người Phật tử chân chánh.

 

]


 

TỪ BI

I.- MỞ ĐỀ

                T́nh thương là nguồn an ủi vô biên của chúng sanh đang đau khổ, là bể nước cam lồ mát ngọt để cho những người đang bị lửa trần gian thiêu đốt mặc t́nh nhảy ùm tắm gội. Song phải là t́nh thương hoàn toàn vị tha, không nhuốm một tí xíu mùi vị kỷ. Nếu là t́nh thương vị kỷ, chẳng những không làm vơi được nỗi khổ của chúng sanh, trái lại c̣n d́m họ ch́m sâu trong biển khổ. T́nh thương vị tha là vô biên không giới hạn, tràn ngập mọi loài, chan ḥa trong muôn loại. Người mang t́nh thương này ra chan rải cho chúng sanh, quả là một từ mẫu đang săn sóc bầy con dại. Bao nhiêu khổ đau, mọi điều ách nạn vừa gặp t́nh thương này chúng đều tan biến. Cao cả thay! Quí báu thay! Đẹp đẽ thay! Những ai đă cưu mang ôm ấp t́nh thương vô bến hạn này.

II.- ĐỊNH NGHĨA

            Từ là ban vui, Bi là cứu khổ. Ban vui cứu khổ cho người gọi là từ bi. Sự vui khổ của người xem như vui khổ của chính ḿnh, chia vui sớt khổ cho nhau đấy là ḷng từ bi. V́ thế, ban vui cứu khổ cho người mà không thấy ta là kẻ ban ân, kia  là  kẻ  thọ ân. Tận tâm tận lực v́ người, không có một niệm một mảy may v́ ḿnh là từ bi. Đây mới thật là t́nh thương chân thật. Nếu có một điểm nhỏ xíu v́ ḿnh là không phải t́nh thương chân thật. Có v́ ḿnh mà thương người, chính đó là thương ḿnh không phải thương người. Một t́nh thương v́ ḿnh th́ không hẳn là thương, bởi trái sở cầu của ḿnh liền giận. Hoàn toàn v́ người hoàn toàn cho người, mới là t́nh thương vô biên không giới hạn. T́nh mẹ thương con chưa hẳn là từ bi, v́ con không nghe lời mẹ liền giận. T́nh thương từ bi là t́nh thương đồng hóa khổ vui của người như của ḿnh. Ḿnh khổ càng kíp lo giải quyết cho hết khổ, ḿnh không cần biết ơn ḿnh, ḿnh không kể ơn với ḿnh. Cảm thông sự khổ vui của mọi người như thế, khởi t́nh thương ban vui cứu khổ là ḷng từ bi. Cứu giúp để mong đền đáp là sự đổi chác không phải ḷng từ bi. Thương yêu để thỏa măn nhu cầu riêng tư ḿnh, là lợi dụng t́nh thương, không phải từ bi. Mọi sự xót thương cứu giúp người, không xen lẫn một tí v́ ḿnh thật là ḷng từ bi.

III.- MỚI TẬP TỪ BI

            Muốn phát tâm từ bi, chúng ta phải tập cảm thông sự khổ vui với mọi người. Thấy người khổ cảm như chúng ta chịu khổ, nỗi khổ của người xem như nỗi khổ của chúng ta. Dùng mọi khả năng sẵn có dẹp khổ cho người cũng như tiêu diệt khổ của chính bản thân ḿnh. Người hết khổ là chúng ta hết khổ, không cần một đ̣i hỏi nào, ngoài sự hết khổ của người. Đă xem cái khổ của người như của ḿnh, nên nhiệt t́nh sốt sắng cứu giúp mà không điều kiện. Người khỏi khổ là ḿnh an vui, không có một hậu ư nào đối với người ḿnh cứu giúp. Nếu có hậu ư, chỉ mong đem lại cho họ sự an vui vĩnh cửu. Thấy người vui cũng như ḿnh được vui, những cái vui của ḿnh đă sẵn sàng chia sớt với  người, bằng cách giải bày, bằng cách chia sẻ, bằng cách mong mỏi. Chia sớt với nhau cùng được vui chung thật là hạnh phúc chân thật ở trần gian. Chỉ để một ḿnh vui, ai sao mặc kệ, là kẻ ích kỷ xấu xa, chính họ không bao giờ thấy sự an vui chân thật. Chúng ta phải thấy cái vui của ḿnh là cái vui của mọi người, cái vui của người chính là cái vui của ḿnh. Cùng khổ cùng vui mới là t́nh thương chan ḥa tràn ngập. Chỉ biết cái vui khổ riêng tư của ḿnh là tự đóng khung trong một nhà giam riêng biệt, kẻ ấy suốt đời không bao giờ biết vui. Chúng ta trải ḷng ḿnh ra ḥa nhịp với mọi con tim, chứa chan t́nh thương không bến hạn. Bởi cảm thông nhau trên nỗi khổ vui, chúng ta mới có nhiệt t́nh tích cực cùng sớt khổ chia vui. Mọi bức tường ngăn cách giữa bản ngă con người, chúng ta mạnh dạn đạp đổ cho sự cảm thông không bị cuộc hạn. Thông cảm được sự khổ vui của mọi người, chúng ta bắt đầu phát tâm từ bi. V́ thế, mới tập từ bi là tập cảm thông.

            Tuy nhiên ḷng từ bi là không giới hạn, song mới tập từ bi phải phát xuất từ gần lan dần ra xa. Chúng ta tập cảm thông từ những người sống chung, thân thuộc với chúng ta, dần dần đến những người xa lạ bên ngoài. Nếu những người chung sống với ḿnh không thể cảm thông được, chỉ cảm thông được với những người xa lạ bên ngoài, đó là trá h́nh từ bi, chớ chưa phải thực chất từ bi. Chúng ta phải tập ḷng từ bi cho có căn bản, sự kết quả chắc chắn sẽ đúng như nguyện.

IV.- ĐĂ TẬP TỪ BI

            Ḷng từ bi đă phát hiện nơi chúng ta, mọi sân hận tham lam theo đó tiêu diệt. Người từ bi không thể nổi nóng chưởi đánh kẻ khác. Đă thấy sự đau khổ của người chính là đau khổ của ḿnh, vô lư ḿnh lại làm khổ ḿnh. Chỉ thấy kẻ khác với ḿnh không liên hệ nhau mới đành ḷng làm họ khổ. Quả thật cảm thông được nỗi khổ đau của người, ḷng sân vừa dấy khởi liền tắt ngủm. Bởi nước từ bi tràn ngập th́ không có lư do lửa sân nổi dậy. Lửa sân cháy hừng hực, chính là lúc nướùc từ bi đă khô cạn. Tự người gặp cảnh khổ, người có ḷng từ bi c̣n không nỡ lấy mắt ngó, cần phải t́m đủ cách để giải khổ cho người. Nếu khả năng chúng ta không thể giải cứu được, ḷng vẫn xót xa đau đớn. Huống là, đích thân ḿnh làm khổ cho người, ḷng từ bi không cho phép dùng ngôn ngữ hành động làm khổ kẻ khác. Bao giờ chúng ta thích làm khổ ḿnh, chừng đó mới vui vẻ làm khổ người. Gặp khổ chúng ta biết rầu buồn than thở, nỡ nào làm khổ kẻ khác cho đành. Kết quả đầu của ḷng từ bi là diệt sạch sân hận của chính ḿnh.

            Người từ bi đâu đành tranh giành hơn thua được mất với người. Bởi kẻ được th́ vui người mất phải khổ, giành giật nhau là làm khổ cho nhau. Ḷng từ bi là cứu khổ, vô lư lại đi làm khổ người. Tham lam là thu góp, giành giật. Từ bi là ban bố cứu giúp. Mang ḷng từ bi th́ mọi hành động có tánh cách tranh đua giành giật không c̣n. Chính của ḿnh c̣n mang ra ban bố cho người, không thể có giành giật của người đem về ḿnh. Ḷng từ bi với tham lam là hai con sông chảy ngược. Có cái này th́ không thể có cái kia. Ḷng từ bi đi đến đâu th́ đau khổ tan đến đấy, như ánh nắng soi đến đâu th́ băng tuyết đều tan. Từ bi không dung đau khổ, dĩ nhiên từ bi không chứa chấp tham lam. Từ bi tràn lấn tham lam phải ră rời.

            Với mọi lớp người trong mọi cảnh huống, chỉ một bề mang t́nh thương chân thật đến với họ, không một hành động ngôn ngữ để cho họ phải phiền hà, thuần túy ban vui cứu khổ. Hành động như thế là thuận hạnh từ bi. Ḷng từ bi này một bề thể hiện t́nh thương, chiều theo sở nguyện của người. Làm trái ư người là khiến họ đau khổ, thuận hạnh từ bi là không trái ư nguyện của chúng sanh.

            Song tâm ư chúng sanh điên đảo, có cái khổ trá h́nh an vui họ lại thèm thuồng ưa muốn, người sẵn ḷng từ bi, có khi cần đổi cái khổ nhỏ cho họ cái vui lớn, vẫn phải làm. Hoặc những chúng sanh ngỗ nghịch măi tạo tội không chán, người từ bi cần phải ngăn chận bằng cách trừng trị dữ dằn. Hiện tướng dữ để điều phục đưa người về chỗ an vui, là nghịch hạnh từ bi. Hạnh từ bi này vừa mới trông như kẻ ác, nhưng mai kia mới thấy rơ ḷng từ. Người thể hiện ḷng từ bi này cần phải sáng suốt, thật là làm một việc khó làm. Dù thuận hạnh hay nghịch hạnh cũng là một nguồn ban vui cứu khổ. Bản chất từ bi là nhẹ nhàng mát mẻ, nên mọi chúng sanh bị nhiệt năo gặp từ bi đều được an lành.

V.- CỨU KÍNH TỪ BI

            Ḷng từ bi được viên măn khi nào mọi vọng thức không c̣n. V́ vọng thức chạy theo nghiệp phân biệt có yêu có ghét, khó mang t́nh thương chân thật b́nh đẳng lại cho chúng sanh. Khi nghiệp thức đă sạch, chỉ một tâm thể thênh thang b́nh đẳng bao trùm tất cả chúng sanh, không phân biệt ngă nhân bỉ thử, làm ǵ có thương ghét nảy sanh. Sống với tâm thể này chỉ tràn trề lênh láng một t́nh thương. T́nh thương mà không phân biệt, không c̣n chủ khách đối đăi, bao dung không giới hạn, mới là t́nh thương chân thật hay viên măn ḷng từ bi. C̣n thấy đối đăi là c̣n phân biệt; c̣n dụng công, mọi sự đối đăi đă tiêu dung, biết lấy đâu làm giới hạn. Cho nên ví ḷng từ bi thênh thang như trời cao, bát ngát như bể cả. Từ bi trong chỗ không phân biệt không dụng công nên gọi là vô duyên từ.

VI.- KẾT LUẬN

            Từ bi là t́nh thương hoàn toàn bất vụ lợi. Bọn ác quỉ sân hận tham lam tật đố gặp từ bi đều chấp tay qú gối qui hàng. Có mặt từ bi ở đâu th́ mọi khổ đau tan biến ở đó. Từ bi ngọt ngào như ḍng sữa mẹ, từ bi mát dịu như ngọn gió chiều thu, từ bi trong sáng như ánh trăng rằm, từ bi phát sanh muôn ngàn công đức như ḷng tốt ph́ nhiêu nuôi dưỡng vạn vật. Chúng ta tôn trọng kính mến những ai đă mang sẵn ḷng từ bi, tán thán ca ngợi ai mới phát tâm từ bi, ước mơ mong mỏi ai sẽ học tập từ bi. Mọi người chúng ta gắng công khơi dậy ḍng suối từ bi, để một ngày kia chảy tràn ngập trần gian đang nhiệt năo. Hạnh phúc ở nhân gian nếu có, khi nào nguồn nước từ bi tràn về. Tất cả chúng ta đừng mong đấng nào cứu khổ, chỉ chấp tay cầu nguyện mọi người đều phát tâm từ bi. Ngọn lửa khổ đau dập tắt, khi trận mưa từ được gội nhuần. Chân thành mong ước mọi người đều phát ḷng từ bi.

 

]


 

MÊ TÍN CHÁNH TÍN

  

I.- MỞ ĐỀ

            Đạo Phật chủ trương giác ngộ mang ánh sáng trí tuệ soi rọi cho thế gian. Mọi lẽ thật đều hiện bày dưới ánh sáng giác ngộ, nhận thấy lẽ thật rồi mới khởi ḷng tin đó là “chánh tín”. Ngược lại, bày những điều mê hoặc làm mù quáng người đời, lừa bịp thế gian, ấy là “mê tín”. Hoặc không hiểu rơ, không có lư lẽ, mà tin càn tin bướng là “mê tín”. Tin bướng là họa hại đưa con người đến đường mù tối. Thấy rơ biết đúng mới tin là sức mạnh vô biên khiến người thành công trên mọi lănh vực. Thế nên trong kinh Hoa Nghiêm có câu: “Tin là nguồn của đạo, là mẹ của mọi công đức. Tin hay nuôi lớn các gốc lành.” V́ thế người học đạo cần có ḷng tin, song ḷng tin đă qua sàng lư trí gạn lọc kỹ càng. Tuyệt đối không được tin càn, tin bướng làm băng hoại tinh thần giác ngộ của đạo Phật. Chính trong kinh Di Giáo Phật dạy: “... Xem tướng lành dữ, trông xem sao hạn, xem xét thạnh suy, coi ngày đoán số đều không được làm...”

II.- MÊ TÍN

            Mê tín là lối tin mù quáng khiến con người mất hết trí thông minh. Những kẻ chủ trương mê tín là người làm hoặc loạn thế gian, đưa dân tộc lùi lại bán khai. Một tôn giáo chân chánh, một dân tộc văn minh, không cho phép mê tín len lỏi trong tín đồ ḿnh, trong dân tộc ḿnh. Thế mà, đồng bào chúng ta, trong Phật giáo chúng ta, tệ đoan mê tín vẫn c̣n nhiều.

            a) Đồng cốt

            Đồng cốt là hiện tượng mê hoặc khủng khiếp. Những kẻ làm ông đồng, bà cốt đều là người sống trong trạng thái bất b́nh thường. Bản thân họ đă mất hết khả năng tự chủ, họ bị sai sử bởi một ma lực huyền bí nào đó. Khi ma lực ấy dựa vào họ, liền lạm dụng các danh hiệu thánh, những bậc vĩ nhân của thuở xưa dùng mạo xưng để lừa bịp người đời. Những kẻ yếu vía dễ tin nghe xưng danh hiệu Phật, Bồ-tát hay những vị tiên thánh liền khiếp đảm kính tin. Họ không dám phê phán đó là tà hay chánh. Thế rồi, họ một mực qú mọp để được phong chức, hoặc nhận phép lành. Họ bị gạt bằng những danh hăo trong cơi vô h́nh, hoặc bằng những bùa tà phép lạ, những huyền hoặc về quá khứ vị lai. Từ đây họ sống bằng ảo vọng mơ huyền, mất hết lư trí thực tại.

            Chúng ta phải khám phá dẹp tan những lối mê hoặc ấy. Riêng về nhà Phật trong kinh đă dạy rơ, khi chứng đến quả Phật, Bồ-tát, A-la-hán đều có đầy đủ lục thông, tam minh... V́ thế, Bồ-tát hay A-la-hán muốn hóa độ kẻ hữu duyên liền dùng thần thông hiện giáo hóa, như Bồ-tát Quán Thế Âm, trong phẩm Phổ Môn của kinh Pháp Hoa chẳng hạn. Không khi nào các bậc Thánh phải gá vào thân kẻ phàm tục khác làm việc giáo hóa. V́ các ngài đầy đủ thần thông biến hóa vô ngại. Như thế, những ma lực tựa vào đồng cốt đều là sức của quỉ thần. V́ sợ người đời không tin, nên chúng mạo xưng những danh hiệu cho to để gây uy tín. Biết rơ tính cách ma mị của chúng, người Phật tử phải tránh xa, tuyệt đối không được phụ họa với chúng, huống là qui kính. Có thế mới tỏ ra là người Phật tử chân chánh.

            b) Lịch số, sao hạn 

            Thời gian không thật do khái niệm con người đặt ra, huống là trên thời gian lại đặt ra ngày tốt ngày xấu, năm lành năm dữ... Thử đặt ra một thí dụ, chúng ta đốt một ngọn đèn đặt ở bên phải, lấy một cái gương tṛn nhỏ để ở bên trái, cách nhau năm tấc tây, khoảng giữa đặt một quả bóng (trái banh). Chúng ta dùng tay xoay tṛn quả bóng, phía nằm bên ngọn đèn là sáng, phía khuất ngọn đèn là tối, cứ xoay măi, quả bóng đối chiếu tối sáng liên tục. Trục quay ấy có lúc tiến đến trước ngang ngọn đèn làm khuất ánh sáng soi vào mặt gương, ánh sáng mặt gương không phản chiếu vào quả bóng, có lúc lùi lại sau, ánh sáng ngọn đèn soi vào mặt gương, ánh sáng từ mặt gương phản chiếu lại quả bóng, phía khuất ngọn đèn. Có những con kiến ở trên quả bóng, thấy quả bóng mặt sáng gọi là ngày, mặt tối gọi là đêm, những lúc mặt gương không phản chiếu ánh sáng vào quả bóng gọi là ba mươi, những lúc mặt gương phản chiếu ánh sáng vào quả bóng đầy đủ gọi là rằm... Lại đặt mặt sáng của quả bóng ṿng một là ngày tốt, ṿng hai là ngày xấu... Cảm thông được điều đó, chúng ta có tức cười cho loài kiến hay không? Quả thật, chúng bày biện một cách vô lư. Ngọn đèn, quả bóng, mặt gương đều là vô tri, động lực quay nó th́ cứ quay vậy thôi, có ǵ là linh thiêng huyền diệu, mà chúng lại đặt là ngày tốt ngày xấu.

            Cũng thế, nhật cầu, nguyệt cầu và địa cầu đều là vô tri, chúng quay gần nhau theo cái trục cố định, mặt địa cầu hướng về nhật cầu th́ sáng, mặt khuất th́ tối. Cái trục quay ấy có khi địa cầu xê tới che khuất ánh sáng nhật cầu không soi đến nguyệt cầu, có khi sụt lại, ánh sáng nhật cầu soi đầy đủ vào nguyệt cầu, ánh sáng nguyệt cầu phản chiếu lại mặt tối của địa cầu. Thế rồi, con người sống trên địa cầu trông vào sự sáng tối tùy khái niệm đặt thành ngày đêm và giờ phút, theo sự phản chiếu của nguyệt cầu đặt ra rằm, ba mươi, thành tháng, năm. Thời gian là do tưởng tượng của con người đặt ra không thật. Phương chi trên thế gian ấy lại c̣n đặt thêm lành dữ tốt xấu... Quả thật con người quá bày biện, quá rối ren. Đă bày biện ra rồi, tự cột trói ḿnh. Khi đă có ngày tốt ngày xấu, đi đâu phải chọn ngày tốt mới dám đi, làm ǵ phải đợi ngày tốt mới làm. Thậm chí cất nhà xây bếp cũng phải lựa ngày chọn tháng, định đôi gả lứa cũng phải coi tuổi hạp, không hạp. Con người bị bao phủ trong ổ tơ rối nùi ấy, rồi than khóc rồi khổ đau. Chính v́ ngày tháng tuổi tác tạo ra cho con người không biết bao nhiêu đau khổ. Chúng ta hăy nghe người nông dân miền Nam nguyền rủa họ qua bài hát:

            Cọp mà vật mấy ông thầy địa

            Yêu mà nhai mấy chú coi ngày

            Trớ trêu họ khéo đặt bày

Hai đứa ḿnh thương thiệt, ông trời rày bảo thương.

            c) Coi tay, xem tướng

            Coi tay, xem tướng cũng có khi trúng, song ông thầy ấy luôn luôn nói câu tḥng: “Tay hay tướng của ông có hiện điều xấu, có thể đến tháng đó sẽ mắc nạn, nếu ông biết làm lành làm phước có thể qua.” Thế th́ đến tháng đó, nếu người ấy mắc nạn th́ khen ông thầy xem trúng, bằng không mắc nạn th́ ông thầy đổ tại làm lành làm phước! Như thế, mặt nào ông thầy cũng hay hết. Nhưng chúng ta thử kiểm điểm xem, cả hai mặt mắc nạn và không, có lợi ǵ cho người đi coi không? Nếu coi tay tốn một số tiền, đến khi mắc nạn cũng phải tự chịu, ông thầy có cứu giúp cho ḿnh được ǵ đâu. Nếu đến tháng thọ nạn, người coi tay không thọ nạn, cho là làm lành làm phước được qua th́ ḿnh tự cứu ḿnh, ông thầy cũng không làm ǵ cho ḿnh. Như vậy đi coi chi cho uổng tiền.

            Hơn nữa ở đầu quyển sách tướng có bài kệ:

         Hán                                     Dịch

Hữu tâm vô tướng           Có tâm tốt không tướng tốt

Tướng tự tâm sanh          Tướng tốt theo tâm tốt sanh     

Hữu tướng vô tâm           Có tướng tốt không tâm tốt 

Tướng tùng tâm diệt.      Tướng tốt theo tâm xấu mất.

            Thế th́, chúng ta cần phát tâm tốt làm việc tốt th́ điều tốt sẽ đến. Chúng ta chứa chấp những tâm niệm xấu xa th́ mọi điều dữ sẽ đến. Điều căn bản là chúng ta làm tốt hay làm xấu, quả tốt xấu sẽ đến với chúng ta. Không phải quan trọng ở bàn tay hay tướng mạo. Thế mà, chúng ta không ứng dụng ngay cội gốc, lại chạy theo ngọn ngành, hao phí tiền bạc một cách vô ích, đó gọi là mê tín.

            d) Xin xăm, bói quẻ:

            Xin xăm bói quẻ là một việc làm cầu may. Rủi may là điều xảy ra không có duyên cớ. Phó thác hành động của ḿnh, cho đến phó thác cả đời ḿnh vào chỗ không có duyên cớ, thật là tệ hại. Thánh, Thần có rảnh đâu mà ngồi sẵn trên bàn để ứng hiện trong xăm quẻ cho quí vị. Nếu người xin xăm bói quẻ có trúng, chẳng qua phước nghiệp, lành dữ của ḿnh mà hiện ra. Như sách nói: “Phước chí tâm linh, họa lai thần ám.” Nghĩa là người gặp lúc phước đến th́ giở quẻ ra đều tốt, khi họa lại th́ rút lá xăm nào cũng xấu. Thế là tốt xấu tại ḿnh, không phải tại xăm quẻ. Chúng ta cứ sửa ḿnh cho tốt th́ mọi việc đều tốt, đi xin xăm bói quẻ làm ǵ? Xin xăm bói quẻ chỉ khiến chúng ta lo sợ thêm. Ca dao Việt Nam có câu:

            Tay cầm tiền quư bo bo

            Đem cho thầy bói mang lo vào ḿnh.

            Làm việc không lợi ích, lại tốn hao tiền bạc, mang lo sợ vào ḷng, không phải mê tín là ǵ?

            e) Cúng sao xem hướng   

            Lệ cúng sao hạn, thật là lạc hậu lỗi thời, sao là những hành tinh cách xa chúng ta bao nhiêu ngàn cây số. Nó là cái ǵ mà chúng ta phải cúng! Tục lệ các chùa quê, vào ngày mùng chín tháng giêng là cúng sao Hội. Người Phật tử nào không gửi tên cúng sao, xem như năm ấy không được bảo đảm an ninh. Song người chủ cúng sao cho quí vị, có bảo đảm an ninh chưa? Có lẽ quí vị ấy quên ghi tên ḿnh trong bài sớ cúng sao chớ ǵ? Thật là vô lư, đạo lư nhân quả đức Phật dạy rành rành trong kinh, mà người ta bất chấp. Thân tổng báo của chúng ta có lẫn lành với dữ, khi nhân lành đến th́ hưởng quả lành, khi nhân dữ đến th́ chịu quả dữ, không thể chạy trốn được. Chỉ có tạo nhân lành nhiều, khi quả dữ đến sẽ nhẹ đi hay giảm bớt. Ví như trước kia chúng ta đă làm khổ một người, v́ lúc đó họ thiếu khả năng trả thù nên dường như thông qua. Đến lúc nào đó, họ đủ điều kiện trả thù, nếu chúng ta không được nhiều người thương che chở th́, quả đó sẽ đúng với nhân kia. Ngược lại, nếu chúng ta được quá nhiều người ủng hộ che chở, quả phải trả sẽ nhẹ hoặc giảm mất cũng có. Bởi thế nên, sợ quả khổ không ǵ hơn, chúng ta phải tạo nhân vui. Không nên cúng sao cúng hạn để cầu được an vui là điều phi lư.

            Xem hướng cất nhà, xây bếp cũng là một lối mê tín. Có lắm người trong nhà chồng vợ bất ḥa, con cái ngỗ nghịch, liền rước thầy đến xem hướng sửa cửa, đổi bếp. Nếu cửa và bếp biết nói, sẽ căi lại với bà chủ nhà rằng: “Căi lẫy nhau tại ông bà không biết nhường nhịn nhau, chúng tôi có tội lỗi ǵ mà phải dời chỗ này đổi chỗ kia?” Những việc làm này đủ nói lên người ta trốn tránh trách nhiệm, không bao giờ dám nh́n thẳng những sái quấy lỗi lầm của ḿnh, t́m cách đổ lỗi cho cái ǵ mà không thể căi lư được với họ. Như thế dù họ có sửa đổi trăm ngàn lần, lộn xộn vẫn lộn xộn, bất an vẫn bất an. V́ cái chủ động trong việc bất an ấy, có chịu sửa đổi đâu. Thế nên, người học đạo phải thấy rơ chỗ vô lư này, không nên lầm lẫn một cách tối dốt như vậy.

            g) Đốt giấy tiền vàng mă

            Tục đốt giấy tiền vàng mă lại là việc vô lư trên vô lư. Không thể người có đôi chút nhận xét, lư luận mà chấp nhận việc ấy được. Chính trên thế gian này, đồng tiền của nước này mang sang nước khác c̣n khó được chấp nhận, huống là nhân gian in, xuống âm phủ xài, có lư lẽ ǵ tin được. Những chiếc lầu bằng giấy, quần áo bằng giấy, làm xong đốt gởi xuống âm phủ cho thân nhân dùng, quả là việc làm phí của vô ích. Thử hỏi thân nhân họ là cái ǵ mà chờ đốt quần áo gởi xuống. Họ đều là đồ vô chủ cô hồn hết sao? Hay họ đă theo nghiệp lành dữ mà sanh nơi khác? Nếu là Phật tử c̣n không ai biết rơ Phật dạy: “Chúng sanh tùy nghiệp thiện ác, theo đó thác sanh nơi cơi lành cơi dữ.” Thân nhân chúng ta chết cũng theo nghiệp thọ sanh, chớ đâu ngồi chờ chúng ta gởi nhà cửa áo quần xuống xài. Như thế, việc làm ấy vừa trái đạo lư, vừa phí tổn tiền bạc vô ích. Người Phật tử không bao giờ chấp nhận việc làm mù quáng ấy.

III.- TAI HẠI MÊ TÍN

            a) Quàng xiên khờ khạo

            Người mê tín theo quỉ thần là tin một cách quàng xiên không có căn cứ, không có lư luận, tin bướng tin càn, mất hết lư trí, trở thành con người khờ khạo. Đó là h́nh ảnh những người tin vào ông đồng bà bóng, xác cô xác cậu tạo nên. Tại sao họ như thế? Bởi v́ họ gởi gấm tâm hồn vào sự huyền bí, vào thế giới vô h́nh, họ mất hết trí thông minh thực tế. Có khi họ gần như người điên nói lảm nhảm một ḿnh, hoặc nói những việc đâu đâu vô căn cứ...

            b) Bị cột trói, ích kỷ, tàn nhẫn

            Người mê tín vào lịch số, ngày giờ, là kẻ bị cột trói một cách thảm hại. Họ không bao giờ dám quyết định, một việc làm thích hợp với thời biểu hiện tại. Họ đợi giờ lịch xem giờ tốt hay xấu, ngày lành hay dữ. Thế rồi họ bị chết khô trong cái rọ ngày giờ. Bởi quen lựa ngày giờ tốt xấu, nên họ trở thành con người ích kỷ dễ sợ. Có những việc đáng làm ngay lúc đó để giúp người, họ lại sợ giờ xấu rồi không chịu làm. Cho đến việc ma chay cha mẹ, họ vẫn lựa ngày tốt, giờ tốt để lợi cho con cháu họ, không nghĩ ǵ đến người chết. Có khi c̣n dùng thuật trấn ếm, nếu cha mẹ họ chết nhằm ngày trùng. Thật là tàn nhẫn, họ không c̣n chút t́nh thương đối với người chết. Mọi việc ma chay, chọn lựa ngày giờ, họ đều một bề v́ họ. Những người ấy lúc nào họ cũng nơm nớp lo sợ, trên đầu trên cổ họ đă cột sẵn trăm ngàn mối dây năm tháng ngày giờ, không cho họ thong thả một phút giây nào.

            c) Khiếp nhược mất tự tín    

            Người tin vào bói xăm, sao hạn... là con người khiếp nhược mất tự tín. Bởi không tự tín nên làm việc ǵ họ cũng phải đi hỏi thần, hỏi thánh. Họ lo âu, sợ hăi năm nào gặp sao La Hầu, Kế Đô. Nhân lành họ không chịu tạo, nhân dữ không chịu tránh, mà một bề sợ sao sợ hạn, quả là những con người mù mịt, tối tăm. Họ sợ những cái không đáng sợ, họ cầu những điều không thể cầu, thật là oái ăm vô lư. Người Phật tử thấy rơ lẽ tà chánh ấy, can đảm quăng đi những tệ tục sai lầm, mới có thể sống với tinh thần đạo giác ngộ.

IV.- CẦU NGUYỆN LÀ CHÁNH TÍN HAY MÊ TÍN ?  

            Trong nhà chùa mỗi khi tụng kinh, mọi Phật sự đều có cầu nguyện. Sự cầu nguyện này là chánh tín hay mê tín? Câu hỏi này không thể trả lời một chiều, tùy chỗ hiểu biết của mỗi người, sự cầu nguyện là mê tín, cũng là chánh tín.

            a) Mê tín

            Nếu chúng ta khẳng định rằng mọi sự cầu nguyện đều được toại nguyện, đó là mê tín. V́ sao? Bởi v́, nếu cầu nguyện mà được, th́ không cần nói đến nhân quả nghiệp báo. Nếu mọi sự kiện xảy ra đều do nhân quả th́ sự cầu nguyện khó mà toại nguyện. Bởi lẽ, thế gian có kẻ tạo nghiệp lành, người tạo nghiệp dữ. Người tạo nghiệp lành khi phước báo đến th́ được như nguyện. Kẻ tạo nghiệp dữ khi nghiệp báo đến, dù có nguyện cầu cũng khó thoát khỏi quả khổ. Thế th́ làm sao dám cố định cầu nguyện là được như ư. Người chấp cố định, là sai lầm không hợp lư, nên thuộc mê tín.

            b) Chánh tín

            Chúng ta chỉ xem cầu nguyện như những lời chúc lành là chánh tín. V́ quí kính cha mẹ, quí kính người thân, chúng ta hằng cầu nguyện cho những vị ấy song có được như nguyện hay không, c̣n tùy thuộc phước duyên dày mỏng của những vị ấy. Mặc dù không được như nguyện, cũng nói lên được ḷng hiếu thảo chân thành của chúng ta. Cũng như v́ hiếu kính những người trưởng thượng, những bạn bè thân hữu, đầu năm mọi người chúc lành cho nhau. Những lời chúc lành này không hẳn thể hiện được, nhưng cũng nói lên được ḷng quí mến nhau.

            Hơn nữa, người tu Phật cầu nguyện với mục đích phá tan tâm niệm vị kỷ của ḿnh. Bất cứ một Phật sự nào, chúng ta đều hồi hướng nguyện cầu cho tất cả chúng sanh đều thành Phật đạo. Mới nghe qua dường như những lời nguyện suông, không thể thực hiện được. Song trên tinh thần phá ngă, cứ lập tới, lập lui măi tâm niệm v́ tất cả chúng sanh, khiến người ta quên bẵng bản ngă riêng tư của ḿnh. Mọi việc làm đều không phải v́ ḿnh, không được nghĩ lợi ích riêng cho ḿnh, mà phải v́ nhân loại, v́ tất cả chúng sanh. Hằng ngày cứ huân tập măi tâm niệm này, đến một khi nào đó, chúng ta không c̣n thấy bản ngă riêng, đồng hóa ḿnh và chúng sanh không khác. Thế là chúng ta phá được chấp ngă và phát tâm đại từ bi, xem mọi khổ vui của người như của chính ḿnh. Hiểu cầu nguyện và ứng dụng cầu nguyện như vậy, quả thật là chánh tín.

V.- CHÁNH TÍN

            a) Tin nhân quả

            Đứng về chiều thời gian, vạn vật hiện có trong vũ trụ này, không một vật nào thoát ngoài nhân quả mà được h́nh thành. Trên tiến tŕnh sanh diệt, quyết hẳn vạn vật từ nhân tiến đến quả, từ quả trở lại nhân. Nhân quả, quả nhân xoay vần không dứt. Đó là hiện tuợng sanh hóa trên cơi nhân gian. Nghiệm xét thấu đáo, chúng ta không thấy có một vật ǵ không nhân mà có, ngẫu nhiên mà thành. Thấy rơ lư nhân quả, chúng ta khéo uyển chuyển cái xấu trở thành tốt, cái dở trở thành hay. Thấy rơ lư nhân quả, chúng ta nắm chắc quyền tự chủ, tạo dựng tương lai tươi đẹp cho chính ḿnh. Lư nhân quả vừa là khoa học vừa là sức mạnh chuyển tiến của con người. T́m hiểu tường tận lư nhân quả là người thông minh. Biết ứng dụng lư nhân quả là con người tiến bộ. Khảo sát theo nhân quả là lư luận chặt chẽ, là hiểu biết thấu đáo. Cho nên nghiệm xét lư nhân quả tường tận rồi, chúng ta tin tưởng là chánh tín.

            b) Tin nhân duyên

            Đứng về mặt không gian, vạn vật trong vũ trụ đều do nhân duyên hợp thành. Không một vật nào do một đơn vị làm nên, mà phải nhiều đơn vị hợp lại mới thành h́nh. Chính thế, lư nhân duyên thích ứng với tinh thần phân tích của khoa học hiện nay. Nếu sự vật do một đơn vị làm nên th́ c̣n ǵ phân tích. Bởi nhiều đơn vị hợp thành một vật thể, người ta mới phân tích chia ra nhiều đơn vị, nhiều loại. Nhỏ nhất như một nguyên tử, người ta phân tích trong đó vẫn có nhiều phần hợp thành, huống là những vật thể to tát. Do đó, chúng ta thấy rơ lư nhân duyên nhà Phật nói, là một lẽ thật, đúng với tinh thần khoa học hiện thời. Hiểu được lư nhân duyên, chúng ta phá tan cái chấp lầm vô nhân và nhất nhân. Hiểu được lư nhân duyên, chúng ta thấy rơ muôn vật trên thế gian có sự liên quan chằng chịt với nhau. Chúng ta không thể tách một cá thể đứng ngoài tập thể, một cá nhân đứng ngoài nhân loại. Đây là lư do khiến dẹp được quan niệm cá nhân ích kỷ. Chúng ta tích cực xây dựng nên hạnh phúc chung cho nhân loại, không riêng của một cá nhân. Tin lư nhân duyên là tin bằng trí tuệ, bằng khoa học, cho nên chánh tín.

VI.- LỢI ÍCH CHÁNH TÍN

            a) Trí tuệ

            Nhận rơ lư nhân quả, lư nhân duyên là tác dụng của trí tuệ. Chính do nhận xét thấu đáo, phân tích rành mạch, khiến trí tuệ càng ngày càng phát triển. Nếu một đối tượng trước mắt, chúng ta cứ thầm nhận là tự nhiên nó có, do tạo hóa làm nên, thế là c̣n ǵ phải nhận xét, phải phân tích. Cứ thế măi, trí tuệ sẽ cùn mằn, không thể nào bén nhạy được. Đó là cái cớ khiến người ta lười suy xét, lâu ngày trở thành tâm trí ù lỳ chai cứng. Người Phật tử phải sống bằng trí tuệ, nên thấy rơ vạn vật sanh thành hoại diệt đều nằm trong hệ thống nhân quả, nhân duyên. Sự vật hiện có mà không do nhân quả, nhân duyên là phi lư luận, phản khoa học. V́ thế người chánh tín là người thực tế, khoa học, nhận xét bằng trí tuệ.

            b) Chịu trách nhiệm

            Thâm đạt lư nhân quả nhân duyên, người ấy sẽ nhận lấy trách nhiệm nên hư, hay dở, tốt xấu đều do ḿnh. Ḿnh là chủ động gây thành nhân tốt, tạo ra duyên lành. Mọi việc đều không được tốt lành là do ḿnh không chịu gây tạo, đây là lỗi tại ḿnh nào phải tại ai. Biết thế, chúng ta không trốn tránh, không kêu than, trái lại can đảm chấp nhận để rồi xoay chuyển. Bởi nhận rơ nhân quả nhân duyên, chúng ta xét một sự kiện xảy ra tốt xấu, phát xuất từ nhân nào, hội đủ nhân duyên ǵ mới xảy ra như thế. Thế th́ dù có việc dở việc hay, chúng ta đều thấy rơ không lầm. Chúng ta nỗ lực cố gắng tạo điều kiện để chuyển đổi nó. Chịu trách nhiệm để chuyển đổi, không phải chịu trách nhiệm để thông qua, đó là tinh thần của người chánh tín.

            c) Tự tín

            Biết rơ dở hay do ḿnh, quả thật ḿnh là chủ nhân của mọi thành bại. Đau khổ an vui, chính ḿnh là người tạo ra. Ngày mai tươi sáng, ngày mai tối tăm, ta là người chủ động. Do thấu hiểu lư nhân quả nhân duyên, con người sẽ có sức tự tín mănh liệt. Nhờ sức tự tín, con người mới cố gắng chuyển đổi, vươn lên trong mọi lănh vực. Một dân tộc có đức tự tín, không bao giờ cam chịu khuất phục, chậm tiến. Có tự tín là có một sức mạnh phi thường. Có tự tín, sự tu hành mới không thối chuyển.

VII.- KẾT LUẬN

            Mê tín và chánh tín là hai con đường tối sáng khác nhau. Nếu đi bên tối là không thấy bên sáng, nếu đi bên sáng th́ không kẹt trong tối. Đạo Phật chủ trương chánh tín, không bao giờ chấp nhận mê tín. Do v́ người truyền đạo không thông lư đạo, nên ghép những tập tục thế gian vào trong đạo, khiến người ta hiểu lầm đạo Phật mê tín. Bản chất của đạo Phật là trí tuệ, là giác ngộ, làm sao dung nạp được mê tín. Nếu người ta thấy trong chùa chiền hiện nay c̣n những hiện tượng mê tín, vội phê b́nh đạo Phật mê tín. Đây là những oan t́nh của đạo Phật. Tất cả những kinh Phật không có nói những việc mê tín ấy, chẳng qua một số người v́ tùy tục, v́ thiếu hiểu Phật pháp vẽ bày ấy thôi. Người học Phật chân chánh phải gan dạ loại bỏ những tập tục sai lầm ấy, can đảm dứt khoát đập tan mọi tệ đoan làm suy giảm giá trị Phật pháp. Có khi dẹp bỏ những điều đó, có thể thiệt tḥi chút ít quyền lợi của ḿnh. Song chúng ta cương quyết v́ chánh pháp, chớ không v́ lợi dưỡng, v́ đưa người ra khỏi đường mê, không v́ sợ mất mát bản đạo.  Được thế, chúng ta mới xứng đáng là người lănh đạo tín đồ, mới không hổ thẹn là hàng Tăng Bảo.

 

]


 

TỘI PHƯỚC

 

I.- MỞ ĐỀ

            Nói đến tu hành là nói đến tội phước, nếu không rơ tội phước tức là không rơ sự tu hành. Nếu người tu mà cứ lao ḿnh trong tội lỗi, ấy là người tạo tội chớ không phải là người tu hành. Mọi sự an vui và đau khổ gốc từ tội phước mà sanh ra. V́ thế muốn thấu hiểu sự tu hành chúng ta phải thấu hiểu tội phước. Tội phước là những hành động thiết thực trong cuộc sống này, không phải là chuyện siêu huyền mờ ảo đâu đâu. Thế nên người tu hành phải thấu đáo phải phân rành vấn đề tội phước.

II.- THẾ NÀO LÀ TỘI ?

            Tội là hành động làm cho ḿnh và người đau khổ trong hiện tại và vị lai. Người làm tội cũng gọi là người dữ, người xấu. Tội, có tội ngoài đời và tội trong đạo. Tội ngoài đời là những kẻ phạm luật pháp nhà nước, bị tù đày đau khổ. Tội trong đạo có hai loại: tội do hứa nguyện ǵn giữ mà không giữ, tội làm đau khổ chúng sanh. Tội do hứa nguyện ǵn giữ mà không giữ, như trước nhận giữ năm giới hoặc mười giới là điều cao cả quí báu, ở trước Tam Bảo nguyện trọn đời ǵn giữ, mà sau này không giữ được một hoặc nhiều điều, gọi là tội phạm giới. Tại sao phạm giới gọi là tội? Bởi v́ trước ḿnh đă nhận định những giới luật đó là hay là đúng, nếu giữ được sẽ lợi ích cho ḿnh và chúng sanh, nên nguyện ǵn giữ. Sau này ḿnh không ǵn giữ, thế là đă phá hoại sự lợi ích của ḿnh và của chúng sanh nên phạm tội. Thí dụ như giới ăn trộm chẳng hạn. Bất cứ một hành động nào làm khổ cho người hiện tại hoặc mai kia đều là tội. Bởi v́ ḿnh đă gây ra nhân đau khổ th́ quả đau khổ ḿnh phải lănh lấy. Do làm khổ ḿnh khổ người nên gọi là tội. Tội có tội nhẹ và tội nặng.

            a) Tội nhẹ

            Những điều làm đau khổ cho người cho chúng sanh do thân miệng chúng ta gây ra mà không cộng tác với ư là tội nhẹ. Bởi v́ việc làm ấy là vô tâm, hoặc không có ư thức. Việc làm vô tâm, khi nạn nhân cảm thông được, họ sẽ bớt thù hận, nếu họ đại lượng có thể tha thứ luôn. Thí dụ chúng ta đi đường, có đứa bé cầm ḥn đất ném chơi, lại trúng vào chúng ta. Nếu chúng ta biết nó không có ư ném ḿnh, tuy đau điếng mà chúng ta không giận nó. Thế nên mọi hành động bằng thân bằng miệng làm đau khổ cho người mà không có ư thức là tội nhẹ, xin lỗi hoặc sám hối sẽ hết. Việc làm đau khổ chúng sanh chút ít cũng là tội nhẹ.

            b) Tội nặng

            Những điều làm đau khổ cho người cho chúng sanh do thân miệng cộng tác với ư chúng ta gây ra là tội nặng.

            Bởi v́ việc làm ấy là có cố tâm, có hữu ư, khiến người oán giận không thể tha thứ. Thí dụ như có người cố t́nh đánh chúng ta, dù cái đánh ấy bị cản trở không chạm đến thân chúng ta song biết kẻ ấy cố t́nh đánh ḿnh, chúng ta cũng giận họ đời đời. V́ thế hành động cố tâm, hữu ư là hành động quan trọng nên tạo thành tội nặng.

            Thế nên tội phát xuất từ ba nghiệp chúng ta. Nơi thân: giết người, trộm cướp, tà dâm. Nơi miệng: nói dối, nói hai lưỡi, nói thêu dệt, nói hung ác. Nơi ư: tham, sân và tà kiến. Sự hợp tác chặt chẽ của ba nghiệp này là tội nặng.  

III.- THẾ NÀO LÀ PHƯỚC ?

            Phước là những hành động đem lại sự an vui cho ḿnh, cho người ở hiện tại và mai kia. Người làm phước cũng gọi là người lành, người tốt. Bởi v́ những hành động đem lại sự an vui cho người, người sẽ quí mến. Chính sự quí mến ấy nên gặp nhau vui vẻ và sẵn sàng giúp đỡ nhau. Chúng ta giúp đỡ hoặc an ủi khiến người được an vui, người thù đáp lại chúng ta bằng cử chỉ biết ơn vui vẻ quí mến, đó là làm phước gặp phước. V́ thế người biết làm phước hiện tại được an vui, mai sau vẫn an vui. Làm phước có hai thứ: phước hữu lậu và phước vô lậu.

            A) Phước hữu lậu

            Làm cho ḿnh cho người an vui tương đối trong ṿng sanh tử là phước hữu lậu. Do ba nghiệp chúng ta hoạt động đem lại sự an vui cho người, chính hành vi ấy là sanh diệt giới hạn, c̣n trong ṿng sanh tử hiện tại cũng như mai sau. Chúng ta phải nỗ lực tạo điều kiện cho ḿnh và mọi người thường được an vui. Muốn thực hiện được việc đó, ngay nơi ba nghiệp chúng ta phải ứng dụng các điều này:

            1. Về thân

                        a) Cứu mạng: Chúng ta phải sẵn sàng cứu giúp bảo vệ sanh mạng người. Nếu người gặp tai nạn sắp mất mạng, theo khả năng ḿnh, chúng ta tận tâm cứu giúp. Giải cứu cho người thoát chết, hoặc ngừa đón những sự việc có thể làm nguy hiểm đến sanh mạng người, đó là việc làm phước của thân. Bởi v́ sanh mạng đối với con người là tối thượng, cho nên ai giải cứu khỏi chết, là an vui và biết ơn vô kể. 

                        b) Bố thí: Kế đến, sẵn sàng cứu giúp người khi gặp cảnh cơ hàn nguy khốn. Nỗi khổ đói rét cũng đe dọa đến sanh mạng, người đang lâm vào cảnh khổ này, nếu được cứu giúp, họ cũng vui mừng vô hạn. Chúng ta muốn được an vui th́ phải sẵn sàng mang sự an vui bủa khắp mọi người, đó là nền tảng phước đức. Hạnh phúc không phải đến riêng với chúng ta, mà do sự thù đáp từ hạnh phúc của mọi người mang lại. Chúng ta đừng dại khờ cứ bo bo giữ lấy tài sản vô thường làm của riêng ḿnh, cần phải ban bố cho những người đang thiết tha cần nó. Những cái vô thường mà cứ giữ, có ngày sẽ khổ đau khi nó không c̣n ở trong tầm tay ḿnh nữa. Mượn của cải vô thường làm phương tiện an vui cho người, nguồn an vui ấy sẽ trở về với chúng ta một cách bền vững lâu dài.

                        c) Trinh bạch: Cần phải giữ hạnh trung thành trinh bạch. Người biết đạo lư đă không dám xâm phạm đến danh giá và hạnh phúc của gia đ́nh người, c̣n phải trung thành trinh bạch với gia đ́nh ḿnh. Tinh thần trung trinh ấy giúp cho người trong gia đ́nh tín cẩn lẫn nhau. Do sự tín cẩn nhau nên trong gia đ́nh được sự an ổn vui tươi. Trong gia đ́nh đă thế, chúng ta cần nhắc nhở chỉ dạy cho mọi người chung quanh đều tập hạnh trung trinh này. Được thế, sự an vui không những chỉ ở trong phạm vi gia đ́nh, mà tràn lẫn đến xă hội.

            2. Về miệng

            Tu phước ở miệng phải tập bốn điều này:

                        a) Nói chân thật: Nói chân thật để đem lại niềm tin tưởng an ổn cho người. Bất cứ ở trường hợp nào, chúng ta cũng cố gắng nói lên những lẽ thật. Luôn luôn tôn trọng và yêu chuộng lẽ thật, cho nên phát ngôn lúc nào cũng hợp với sự thật. Chân thật là nguồn gốc tin yêu nhau, do đó mọi sự mến thương được bền bỉ.

                        c) Nói đúng lư: Nói đúng lư để giúp mọi người nhận được lẽ chánh. Trong cuộc sống phức tạp này khiến mọi người khó t́m được con đường chánh. Cho nên chúng ta cố gắng nói ra lời đúng lư, hầu làm sáng tỏ mọi chỗ ngờ vực của người. Sống đúng, nói đúng, thật là sự hi hữu trong cuộc đời hỗn độn hiện nay. Chúng ta măi tôn trọng câu “mặc người phi pháp, chúng ta vẫn giữ đúng pháp”.

                        c) Nói ḥa thuận: Nói ḥa thuận để đem lại t́nh đoàn kết cho mọi người. Tất cả việc làm phân ly chia rẽ đều là tạo nên thống khổ cho con người. Chúng ta đă không làm thế, mà luôn luôn dùng lời ḥa thuận để hàn gắn lại những mối t́nh đă rạn nứt. Ngôn ngữ chúng ta phát ra đều đem lại t́nh thương gắn bó cho mọi người. Thấy đâu có sự rạn nứt, có mầm tan ră, chúng ta đều nỗ lực dùng lời ḥa thuận là chất keo hàn gắn lại. Tận dụng ngôn ngữ ḿnh để đem lại t́nh đoàn kết an vui cho nhân loại.

                        d) Nói nhă nhặn: Nói nhă nhặn để đem lại sự ôn ḥa vui vẻ cho người. Mọi sự căm phẫn, bực tức đều làm cho người đau khổ. Chúng ta tập nói nhă nhặn là làm dịu mọi sự bực dọc của người. Lời nói nhă nhặn khiến người dễ mến và vui vẻ. Trọn đời chúng ta đem lại sự an vui cho chúng sanh, không có lư do nào lại dùng lời thô ác. Chúng ta phải thực hiện lời nhă nhặn măi măi với mọi người.

            3. Về ư

            Chúng ta phải tập từ bi, nhẫn nhục và chánh kiến. Mang lại t́nh thương cho chúng sanh là tiêu diệt mầm tham lam độc ác. Nỗi khổ của chúng sanh ngập trời đều do ḷng tham ác của con người tạo nên. Chúng ta tận lực gây dựng t́nh thương để giảm thiểu đau khổ cho chúng sanh. Tập ḷng nhẫn nhục để chịu đựng mọi cảnh ngang trái mà không sanh sân hận. Có nhẫn nhục được, chúng ta mới giữ được t́nh thương lâu dài với chúng sanh. Chánh kiến là nhận định đúng đắn, đưa chúng ta đi đúng hướng, sáng suốt vui tươi. Do chánh kiến mới có nói đúng, làm đúng. Ba nghiệp tạo phước, chánh kiến là đội binh tiên phong. Tóm lại, ba nghiệp làm mười điều trên là tu phước hữu lậu. Phước này khiến chúng ta qua lại trên con đường an vui tươi đẹp. Mặc dù c̣n tương đối sanh tử, song đến đâu cũng là hài ḷng măn ư.

            B) Phước vô lậu

            Phước vô lậu là sự an vui tuyệt đối không giới hạn. Do thoát ly sanh tử  nên an vui miên viễn. Bởi sự an vui nào mà c̣n sanh tử đều tạm bợ đối đăi. Chỉ có tiêu diệt hết mầm sanh tử, an trụ vô sanh, mới là an vui viên măn. Tu phước vô lậu là chúng ta nhắm hướng vô sanh làm mục đích, hàng ngày buông xả cái chủ động sanh diệt và dùng trí thấy rơ các tướng giả dối sanh diệt, không lầm, không kẹt nó. Cứ thế tiến măi, cho đến bao giờ viên măn mới thôi. Ḿnh làm như vậy, chỉ dạy người làm như vậy là tu phước vô lậu.

IV.- CẦN TRÁNH TỘI LÀM PHƯỚC

            a) Tránh tội

            Đă biết tội là nhân khổ đau bất như ư, chúng ta cố gắng tránh đừng gây nên tội. Cuộc đời đă khổ đau lắm rồi, chúng ta không thể làm cho nó tươi đẹp, ít ra cũng đừng tô thêm cho đậm nét khổ đau. Tránh gây khổ đau cho người tức là tránh tạo khổ cho ḿnh. Có ai ngu dại đến nỗi lấy dây tự trói, lấy roi tự đánh, để rồi kêu khóc thở than. Mầm khổ đau không gieo th́ cây khổ đau làm sao đâm chồi nảy lộc. Biết thế, chúng ta dè dặt tối đa trong việc gieo nhân đau khổ. Dù một tội nhỏ, tránh được, chúng ta cũng cố gắng tránh. Như trong Luật nói: “Giọt nước tuy nhỏ, rơi măi cũng đầy chậu lớn.” Người biết sợ tội là người sẽ khỏi tội. Chỉ có kẻ liều mạng xem thường tội lỗi, càng lún sâu trong tội lỗi. Đă có tội lỗi là có khổ đau, như có h́nh th́ có bóng, có tiếng th́ có vang. Người học đạo phải sáng suốt thấy rơ lư lẽ ấy, để không lầm, làm khổ ḿnh khổ người.

            b) Làm phước

            Hạnh phúc an vui là điều ai cũng ước mơ, mong mỏi. Người học đạo không ước mơ mong mỏi suông, phải thực tế gầy dựng hạnh phúc cho người tức là gầy dựng hạnh phúc cho ḿnh. Hạnh phúc không thể ngẫu nhiên đến với chúng ta, mà do công phu bồi đắp. Một hành động, một lời nói, một ư nhiệm mầu đem an vui lại cho người, chính là gây dựng hạnh phúc cho ta. Trong cuộc đời tương phản, kẻ buông xả hết lại là người được nhiều nhất. Ngược lại, người cố giữ ǵn lại là người mất mát nhất. Tạo hạnh phúc cho ḿnh, không phải bo bo ǵn giữ những cái ǵ của ḿnh mà phải xả bỏ cái của ḿnh, tạo cho người an vui. Chúng ta làm cho trăm ngàn người an vui, quả thực đă tạo trăm ngàn điều an vui cho chúng ta. V́ thế làm phước không bao giờ thấy đủ, chúng ta làm măi đến suốt đời, mà vẫn thấy chưa xong. Có một lần đức Phật đang ngồi trong một tịnh xá, ở pḥng khác ngài A-na-luật đang xỏ kim vá y, v́ mắt không tỏ, Ngài xỏ hoài mà chẳng được. Ngài buột miệng than: “Có ai mắt sáng làm phước xỏ kim hộ tôi.” Đức Phật nghe, Ngài đi đến chỗ A-na-luật bảo: “A-na-luật! Đưa kim ta xỏ hộ”. Thế Tôn đầy đủ vô lượng phước đức, mà c̣n mót từ cái phước xỏ kim. Thử hỏi chúng ta là người ǵ mà không cố gắng làm phước? Phước càng to th́ an vui càng lắm, có thiệt tḥi ǵ đâu mà không chịu làm!

V.- KẾT LUẬN

            Tội phước là điều thực tế trên cơi nhân gian. Cổ động khuyến khích người tránh tội là hành động giảm thiểu khổ đau cho nhân loại. Tán thán ca ngợi làm phước là mang lại hạnh phúc an vui cho chúng sanh. Lư đáng mọi người chúng ta đều tận lực làm điều này. Vô lư những kẻ đă không làm, lại công kích người khác làm. C̣n ai không xót xa khi thấy con người sát phạt con người. Người có lương tâm, đầy ḷng trắc ẩn không thể ngó lơ trước huynh đệ tương tàn. Cho nên tránh tội làm phước là điều mỗi con người chúng ta phải ứng dụng. Biết tội phước là cội nguồn của đạo đức. Song chúng ta đừng bị phỉnh gạt bằng những tội phước rỗng. Tội là cấy mầm đau khổ nơi con người, phước là gieo hạt hạnh phúc cho chúng sanh. Thực tế như vậy, không phải việc huyễn hoặc viễn vông.

 

]


 

NGHIỆP  BÁO

 

I.- MỞ ĐỀ

            Mọi việc khổ vui trong kiếp hiện tại của chúng ta đều do nghiệp quá khứ và hiện tại chi phối. Nghiệp lành th́ được vui, nghiệp ác th́ chịu khổ, chúng ta chỉ biết sợ khổ, cầu vui mà không biết tránh nghiệp ác, tạo nghiệp lành. Thế chẳng khác nào kẻ sợ bóng mà cứ đứng ngoài trời nắng, muốn nghe nhạc mà bịt lỗ tai. Một khi nghiệp quả đến, chúng ta dù muốn dù không, tất nhiên cũng phải chịu. Bởi nó là kết quả do hành động của chính ḿnh đă tạo. Ḿnh làm, rồi ḿnh chịu, đó là lẽ công bằng hợp lư của kiếp người.

II.- ĐỊNH NGHĨA

            Nghiệp báo nói đủ là nghiệp quả báo ứng. Bởi v́ nghiệp nhân chúng ta đă gây th́ nghiệp quả phải đến. Sự báo đáp thù ứng cân xứng nhau giữa nghiệp nhân và nghiệp quả. Trước tiên chúng ta cần biết chữ nghiệp.

            a) Nghiệp: là dịch nghĩa chữ Karma tiếng Phạn, chỉ hành động tạo tác theo thói quen của mỗi người. Nghiệp có nghiệp thiện, nghiệp ác, định nghiệp, bất định nghiệp... Nghiệp thiện là hành động lành đem lại sự an lạc cho chúng sanh. Nghiệp ác là hành động dữ làm đau khổ chúng sanh. Định nghiệp là hành động hoặc lành hoặc dữ có cộng tác với ư thức tạo thành nghiệp quyết định. Bất định nghiệp là hành động hoặc lành hoặc dữ không cộng tác với ư thức nên thành nghiệp không quyết định.

            b) Báo: là đền trả một cách công bằng, không sai chạy, không tiêu mất. Chúng ta có hành động lành hay dữ, kết quả của hành động ấy sẽ đến, hoặc sớm hay muộn thôi. Thí dụ chúng ta mắng chửi người là hành động dữ, người ấy sẽ mắng chửi lại ngay khi đó, hoặc thời gian khác, khó tránh khỏi. Sự thù đáp cân xứng gọi là báo. Báo có chia ba thứ: hiện báo, sanh báo và hậu báo. Hiện báo là quả báo hiện tại, những hành động lành hay dữ ngay trong đời này chịu quả báo. Sanh báo là quả báo đời sau, hành động tốt xấu của ba nghiệp, đến đời sau mới chịu quả báo. Hậu báo là về sau lâu xa mới chịu quả báo. Ví như vào đầu mùa mưa, chúng ta đồng thời gieo trồng hạt đậu phộng, trồng cây chuối, trồng cây mít. Đến ba tháng sau, chúng ta được kết quả có đậu phộng. Sang năm, chúng ta mới kết quả có chuối. Song ba bốn năm sau, chúng ta mới được kết quả có mít. Như thế, hành động đồng thời mà kết quả sai biệt, tùy loại khác nhau. Nếu chúng ta đ̣i hỏi ba thứ phải kết quả đồng thời là ngu xuẩn.

III.- TỪ ĐÂU TẠO THÀNH NGHIỆP ?

            Nghiệp từ thân, miệng, ư chúng ta tạo nên. Bởi thân miệng ư chúng ta làm lành, nói lành, nghĩ lành nên tạo thành nghiệp lành. Thân miệng ư chúng ta làm dữ, nói dữ, nghĩ dữ tạo thành nghiệp dữ. Thế nên, chúng ta chủ nhân tạo nghiệp cũng chính chúng ta là chủ nhân thọ báo. Ngang đây chúng ta hănh diện đă thoát khỏi mọi quyền lực thiêng liêng ban họa xuống phước. Chúng ta cũng hiên ngang thọ nhận tất cả quả khổ vui, mà không có một lời oán hờn than trách. Chúng ta khôn ngoan biết chọn lựa nghiệp nhân nào ḿnh thích mà làm, không c̣n mù quáng làm càn bướng. Đây là sự trưởng thành, khi rơ nghiệp từ đâu có.

IV.- TỪ ĐÂU CÓ BÁO ỨNG ?

            Sự báo ứng cũng chính nơi ḿnh hiện ra. Mỗi khi chúng ta tạo nghiệp lành hay dữ, mắt chúng ta thấy cảnh ấy, tai chúng ta nghe tiếng ấy, hạt giống lành dữ ấy đă rơi vào tàng thức chúng ta. Kẻ đối tượng bị chúng ta làm khổ vui cũng thế, do mắt thấy, tai nghe nên hạt giống biết ơn hay thù hằn đă rơi vào tàng thức của họ. Khi nào đó, cả hai gặp lại nhau th́ hạt giống ân oán ấy trỗi dậy, khiến hai bên  tạo thêm một lần nghiệp lành dữ nữa. Cứ thế tạo măi khiến nghiệp càng ngày càng dầy, ân oán càng ngày càng lớn. Như khi chúng ta gặp một người đang mắc phải cảnh khốn đốn cơ hàn, h́nh ảnh buồn thảm khổ đau của họ hiện bày đầy đủ. Chúng ta trong tay có đủ phương tiện, liền giúp họ qua cơn khốn đốn, lúc đó trên gương mặt khổ đau đă ngả sang gương mặt vui tươi, sáng sủa. Chứùng kiến hiện tượng ấy, hạt giống vui tươi đă rơi vào tàng thức chúng ta. Nếu mỗi ngày chúng ta đều gieo vào tàng thức những hạt giống vui tươi, đến khi thân này sắp hoại, chúng ta không c̣n đủ nghị lực làm chủ, những h́nh ảnh vui tươi ấy sẽ hiện đến với chúng ta, mời chúng ta đến cảnh vui tươi. Ngược lại, mỗi ngày chúng ta cứ gieo rắc khổ đau cho người, những hạt giống khổ đau chứùa đầy trong tàng thức chúng ta, đến khi hơi tàn, lực tận những h́nh ảnh đó sống dậy, đuổi bắt đánh đập chúng ta, khiến chúng ta phải chạy chui vào cảnh khổ. Đó là nghiệp báo khổ vui của mai kia. Nghiệp báo không phải từ đâu đến, mà chính từ tàng thức chúng ta hiện ra. Người xưa thần thánh hoá khả năng chứùa đựng của tàng thức bằng ông thần độ mạng. Bảo rằng ông thường theo dơi chúng ta, và ghi chép hết mọi hành động thiện ác của chúng ta, để báo cáo với Thiên đ́nh hay Diêm chúa. Hoặc cụ thể hóa tàng thức chứùa đựng bằng Đài gương nghiệp cảnh. Bảo rằng chúng ta làm lành hay dữ, sau khi chết đến chỗ Diêm vương, ở trước sân triều có cái gương lớn, người làm lành làm dữ dẫn đến trước gương đều hiện rơ ràng đầy đủ, không thể chối căi được.

V.-NGHIỆP BÁO KHÔNG THỂ NGHĨ BÀN

            Sự góp nhặt gieo vào tàng thức là một lẽ thật, không phải việc huyễn hoặc, do không tưởng bịa ra. Đây thử cử một thí dụ, khi chúng ta muốn học thuộc ḷng một bài thơ. Chúng ta đọc một lần, hai lần, cho đến nhiều lần tự thấy nó thuộc. Cái thuộc ấy là do đâu, chẳng qua mỗi lần chúng ta đọc, hạt giống ấy rơi vào tàng thức, đọc nhiều lần, hạt giống ấy càng trưởng thành mạnh mẽ, đây gọi là thuộc. Thuộc xong chúng ta không đọc nữa, thỉnh thoảng trong tàng thức nó trỗi dậy, mỗi lần trỗi dậy, chúng ta ôn lại đôi ba phen, thế là thuộc lại càng thuộc. Từ miệng chúng ta đọc, hạt giống thơ rơi vào tàng thức gọi Hiện hạnh huân chủng tử. Từ tàng thức thơ trỗi dậy, gọi là Chủng tử khởi hiện hạnh. Chúng ta ôn lại đôi ba lần, gọi là Hiện hạnh huân chủng tử. Thế là sự huân khởi không thể nghĩ bàn. Nếu cả đời chúng ta huân chủng tử nào nhiều nhất, đời sau sanh ra hạt giống ấy sống dậy sớm nhất. Bởi thế mới có các vị thần đồng, xuất hiện, như Mạc Đĩnh Chi ở Việt Nam mười hai tuổi đă thông suốt thi pháp, Bạch Cư Dị ở Trung Hoa chín tuổi đă làm thơ, Pascal ở Pháp mười hai tuổi đă thông Kỷ hà học..., cho đến cùng học một lớp mà mỗi đứa bé đều có khả năng riêng.

            Khi trong kho tàng thức c̣n chứùa chủng tử th́ sự huân khởi không thể nghĩ bàn. V́ thế nó có sức mạnh lôi kéo chúng ta đi thọ sanh trong lục đạo không có ngày dừng. Thế nên, nói đến nghiệp báo là nói đến sự luân hồi sanh tử.

VI.- LÀM SAO HẾT NGHIỆP

            Nghiệp đă do chúng ta gây tạo biến chủng tử huân vào tàng thức. Muốn hết nghiệp cũng do chúng ta khéo loại hết những chủng tử nghiệp ở trong tàng thức ra. Khi kho tàng thức sạch chủng tử th́ sức mạnh lôi vào sanh tử không c̣n. Khi chủng tử c̣n trong kho ấy, gọi là tàng thức, là nhân sanh tử. Khi chủng tử trong kho ấy sạch hết, gọi là không Như Lai tàng, là kho Như Lai trống, tức là dứt mầm sanh tử. V́ thế muốn hết nghiệp sanh tử, chúng ta phải ứng dụng những phương pháp tu để tiêu diệt các hiện hạnh từ chủng tử dấy khởi. Ví như khi chúng ta học thuộc ḷng một bài thơ, song mỗi lần nhớ lại, chúng ta đều bỏ qua, thời gian lâu bài thơ ấy sẽ quên bẵng. Những chủng tử khác cũng thế, mỗi khi khởi hiện hạnh, chúng ta đều thông qua chẳng cho h́nh ảnh sống lại, lâu ngày tự nhiên nó mất. Phương pháp niệm Phật, Tŕ chú, Tọa thiền đều nhắm vào mục đích này.

VII.- KẾT LUẬN

            Thấu rơ lư nghiệp báo, chúng ta cố gắng tạo điều kiện thuần thiện để được quả báo toàn vui, nếu c̣n chấp nhận ở trong sanh tử. Sự chọn lựa khổ vui là quyền sở hữu của chúng ta, không phải Thần thánh, cũng không phải ai khác, có quyền ban khổ vui cho chúng ta. Quyền năng sắp đặt một cuộc sống mai kia, đều do bàn tay chúng ta gây dựng. Nếu một khi nào đó, chúng ta không chấp nhận cuộc sống luân hồi nữa, cũng chính chúng ta loại bỏ những mầm sanh tử đang chứùa chấp trong tàng thức của chúng ta. Thế là, chúng ta đă giành quyền với tạo hóa, đă tước bỏ quyền lực của thần linh và độc tôn trong việc thoát ly sanh tử.

 

]


 

GIÁC NGỘ PHÁP G̀

ỨNG DỤNG TU NGŨ THỪA PHẬT GIÁO

 

I.- MỞ ĐỀ

            Tất cả pháp Phật dạy đều trước phải giác ngộ rồi sau mới ứng dụng tu. Cũng như trước biết đường rồi sau mới đi, trước hiểu rồi sau mới làm. Sự giác ngộ này là nhận thấy lẽ thật ngay thế gian không phải huyền nhiệm siêu viễn, mà là cụ thể thực tế. Bởi giác ngộ rồi mới tu, nên đúng tinh thần đạo giác ngộ. Chúng ta là Phật tử phải thấu rơ lẽ này, đừng lầm lẫn ứng dụng tu một cách mù quáng. Không hiểu mà làm là việc làm càn bướng dại khờ. Chúng ta phải thắp sáng ngọn đuốc chánh pháp soi bước đi, để khỏi vấp ngă rơi hố lọt hầm.

            Tổng quát căn bản Phật pháp là Ngũ thừa Phật giáo, trước khi ứng dụng tu mỗi thừa đều phải giác ngộ mỗi pháp. Ví như ở bến xe miền Đông tại thành phố Hồ Chí Minh, trước khi chúng ta mua vé lên một chiếc xe nào là phải ư thức được ḿnh đi đâu, đi làm ǵ ? Khi mua vé lên xe, chúng ta biết rơ chủ đích và phân biệt rành rẽ con đường ḿnh đi. Nếu chúng ta mua vé lên xe Tây Ninh là biết rơ ḿnh sẽ đến Thị xă Tây Ninh, mua vé lên xe Vũng Tàu là biết rơ ḿnh sẽ đến Đặc khu Vũng Tàu. Lên xe nào đến chỗ ấy là ví dụ cho Ngũ thừa Phật giáo. Bởi v́ thừa là cỗ xe hay ngồi xe, sẽ đưa đến mục đích chúng ta nhắm. Chọn lựa xe đi là theo nhu cầu cần thiết của chúng ta đă biết. Thế nên trước giác, sau tu là chủ yếu của Ngũ thừa Phật giáo.

II.- GIÁC NGỘ LƯ NHÂN QUẢ, LUÂN HỒI ỨNG DỤNG TU NHÂN THỪA, THIÊN THỪA

      1. Giác ngộ lư nhân quả, luân hồi

            a) Giác ngộ lư nhân quả

            Vạn vật và mọi hiện tượng trên thế gian này, nếu đem ra khảo sát, chúng ta sẽ thấy không có một vật tượng nào thoát ra ngoài nhân quả. Từ động vật, thực vật, khoáng vật cho đến mọi hiện tượng mà các giác quan chúng ta cảm nhận được, đều phải có nhân mới thành quả. Ví như con người là quả, xuất phát từ bào thai là nhân. Cây lúa, bông lúa là quả, phát sanh từ hạt lúa giống là nhân. Khối đá là quả, kết hợp từ những hạt bụi là nhân. Dù là những hiện tượng lạ xuất phát từ con người hay thiên nhiên, tuy hiện nay người ta chưa phát giác được nguyên nhân của nó, song chỉ là chưa t́m ra, chớ chẳng phải không nguyên nhân. Thấy quả, chúng ta liền biết có nhân, đó là tinh thần khoa học, là óc khảo cứu của các nhà bác học. Thấy một thành quả, chúng ta chưa t́m ra nguyên nhân của nó, là chưa thấu suốt vấn đề. Từ một kết quả, chúng ta thông suốt nguyên nhân, chúng ta có thể cấu tạo nguyên nhân để được kết quả như ư muốn. Ví như thấy bông lúa thơm biết từ hạt giống lúa thơm, chúng ta muốn sang năm có lúa thơm ăn, năm này phải lấy giống lúa thơm gieo mạ. Trên lănh vực khoa học, người ta thấy nắp vung nồi nước động, biết từ hơi nước đun sôi bốc lên, do đó chế biến ra các loại máy nổ. Khi thấy chiếc pháo thăng thiên bay vút lên cao nổ tung ra, biết từ nhiên liệu cháy có sức đẩy, người ta chế ra các loại phi cơ phản lực... cho đến những ngôn từ luận lư cũng phải từ quả đến nhân, hoặc từ nhân ra quả. Nếu không như thế là lư luận không chặt chẽ. Ví như nói, tôi thích món ăn này (quả), v́ nó vừa miệng tôi (nhân). Tôi không ưa người đó (quả), v́ họ ở xấu với tôi (nhân). V́ nghèo (nhân), tôi không dám ăn xài (quả). Thực tế mà nói, nhân quả bao trùm hết mọi lănh vực trong cuộc sống của con người. Mọi hành vi thố lộ ra, đều lệ thuộc nhân quả. Song với người trí th́ biết rơ, kẻ ngu th́ không phân rành.

            Nói đến nhân quả là tùy thuộc thời gian. Bởi v́ từ nhân đến quả, phải trải qua giai đoạn khác nhau. Như từ một hạt cam đến thành cây cam và có trái cam, phải trải qua thời gian dài. Hạt cam hoại để thành cây cam, hạt cam thuộc quá khứ, cây cam hiện tại, trái cam vị lai. Rồi trái cam là quá khứ, hạt cam là hiện tại, cây cam là vị lai. Cứ thế xoay vần từ nhân đến quả, từ quả lại nhân. V́ thế muốn đoán định nhân quả, chúng ta phải căn cứ trên ba thời mà xét. Nếu ai chỉ cắt xén một chặng mà đoán định, là sai lầm lệch lạc. Ví như đồng thời trồng cam, mà một người được quả cam sành, một người được quả cam đường. Nh́n cây cam lá cam giống nhau, mà trái cam lại khác. Nếu chỉ căn cứ cây cam, trái cam mà biện lư lẽ, làm sao hiểu nổi. Chúng ta phải xét lui về quá khứ, khi gieo hạt cam loại nào, mới thấy thấu đáo vấn đề. Cũng thế, trong cuộc sống khổ vui tốt xấu hiện tại của chúng ta, không nh́n lui về quá khứ, khó bề hiểu biết tường tận. Cho nên trong kinh Nhân Quả Phật dạy: “Muốn biết nhân đời trước, cứ xem cuộc sống hiện tại này, cần biết quả đời sau, nên xem hành động hiện nay.” Hiện tại là kết quả của quá khứ, cũng là nhân của vị lai. Cây cam là quả của hạt cam, cũng là nhân của quả cam. Muốn mai kia được nhiều quả cam ngon, hiện tại chúng ta phải vun quén cho cây cam được sum suê. Đấy là khéo ứng dụng nhân quả. Hiểu thấu đáo lư nhân quả là giác ngộ lư nhân quả.

            b) Giác ngộ lư luân hồi

            Luân hồi là sự vận hành luân chuyển. Trong bầu vũ trụ chúng ta hiện sống đây, luôn luôn vận hành luân chuyển. Quả địa cầu xoay tṛn măi măi, sáng tối rồi sáng tối. Nhân đó lập thời gian: ngày, tháng, năm, xuân, hạ, thu, đông. Thế rồi xuân hạ thu đông lại xuân hạ thu đông... Đấy là hiện trạng luân hồi của không gian và thời gian. Cho đến mọi sanh vật sinh sống trên quả địa cầu, vừa có sự sống là có vận hành lưu chuyển, ở bên trong mọi vật đều có sự vận hành luân chuyển không ngừng. Dừng đứng lại là mất sự sống. Như nơi con người máu từ quả tim chạy ra các huyết quản, từ các huyết quản trở về quả tim, sự vận hành ấy không có khi dừng, vừa dừng lại là chết. Các sanh vật khác cũng thế. Cho nên luân hồi, là một thực thể của vũ trụ và chúng sanh. Phủ nhận lư luân hồi là phủ nhận sự sống, phủ nhận sự biến thiên của thời gian và không gian.

            Thừa nhận lư luân hồi, chúng ta phải thừa nhận hai yếu tố then chốt của nó là vận hành và bất tận. V́ mọi hiện tượng trên nhân gian này luôn luôn vận hành thăng trầm mà bất tận. Sự vật tùy duyên đổi thay, song bản chất của nó không mất. Ví như nước, tùy duyên nóng hay lạnh h́nh thái của nó bị đổi thay. Từ một thể lỏng, gặp duyên sóng nước biến thành thể hơi, gặp duyên lạnh cô đọng lại thành thể cứng. Mọi sự biến thể của nước đều là tùy duyên. Có khi nó nhẹ bàng bạc trong hư không, có khi đọng lại thành khối cứng như đá. Tuy h́nh thái đổi luôn luôn, mà bản chất nước vẫn không mất. Nếu ai thấy nước không c̣n ở thể lỏng, bảo mất là khờ. Hoặc thấy tan không c̣n ở thể cứng, bảo hết là dại. Người khôn ngoan biết sự tùy duyên biến thái của nước, muốn nó là hơi dùng duyên nóng, muốn nó thành khối dùng duyên lạnh. Thế là tùy duyên ứng dụng một cách linh động. Đó là chỗ sử dụng của các nhà khoa học hiện nay.

            Cũng thế, sang lănh vực con người, biết sự luân hồi tùy nghiệp duyên, người tu hành khéo tạo nghiệp lành duyên tốt, để sự vận chuyển đúng theo sở nguyện của ḿnh. Sử dụng nghiệp duyên theo nguyện vọng sở thích của ḿnh, là người thông suốt lư luân hồi. Biết rơ luân hồi là biến thể chớ không mất, người tu không mắc kẹt hai cái chấp thường kiến và đoạn kiến. Từ nghiệp duyên tốt xấu đưa đến thành quả khổ vui ở mai kia. Chúng ta dại ǵ không chọn nghiệp duyên tốt để được kết quả an vui. Đây là sự tu hành của người Phật tử trong cuộc luân hồi.

    2. Ứng dụng tu nhân thừa, thiên thừa

            Sau khi thành Phật, đức Thích-ca đă từng bảo: “Ta xem thấy chúng sanh luân hồi trong sáu đường, như người mắt sáng đứng trên lầu cao nh́n xuống ngă tư đường, thấy người qua lại của mỗi con đường một cách rơ ràng.” Trong sáu con đường ấy là: trời, người, a-tu-la, súc sanh, ngạ quỉ, địa ngục. Ba con đường trên là tốt, ba con đường dưới là xấu. Ba con đường trên chọn kỹ chỉ có cơi trời, cơi người c̣n tu được. A-tu-la nóng nảy khó tu. V́ thế người tu phải chọn hai con đường trên, gọi là Nhân thừa và Thiên thừa.

            a) Nhân thừa

            Tu nhân thừa, trước phát nguyện qui y Tam Bảo để vạch một lối đi cho hiện tại và mai sau. Kế giữ năm giới là nền tảng tạo thành tư cách con người, là con người ai cũng xem sanh mạng ḿnh là tối thượng, tài sản là huyết mạch, gia đ́nh là tổ ấm an vui. V́ thế tuyệt đối không được giết người, không được trộm cướp của người, không được phạm tà dâm. Lại không nói dối để gây uy tín, sự cảm thông trong gia đ́nh và ngoài xă hội, không uống rượu để ḿnh b́nh tĩnh sáng suốt và khỏi làm phiền hà mọi người chung quanh. Hiện tại là một con người đúng tư cách con người, vị lai cũng sẽ làm người xứng đáng danh nghĩa con người. Đó là do thấy được nhân, biết rơ quả và nhận được sự bất tận trong ḍng sanh mạng của con người, nên ứng dụng tu như thế.

            b) Thiên thừa

            Chúng sanh ở cơi Trời do phước đức đầy đủ nên dục lạc sung măn. Chúng ta muốn hưởng sự an vui ấy, ngay hiện tại cần phải tu mười điều lành, nhân lành đầy đủ sẽ được kết quả sanh cơi Trời. Mười điều lành có chia hai phần tiêu cực và tích cực. Mười điều lành tiêu cực: không giết người, không trộm cướp, không tà dâm, không nói dối, không nói ly gián, không nói thêu dệt, không nói ác khẩu, bớt tham lam, bớt nóng giận, không tà kiến. Mười điều lành tích cực: cứu mạng chúng sanh, bố thí, trinh bạch, nói chân thật, nói ḥa hợp, nói đúng lư, nói nhă nhặn, tập từ bi, tập nhẫn nhục, chánh kiến. Mười điều này nhân thù thắng nên được quả thù thắng nhất trong sáu đường. V́ thế, người Phật tử tu hành, nếu biết c̣n luân hồi nên chọn cái luân hồi này là tốt đẹp hơn cả. Đó là ứng dụng tu Thiên thừa, qua sự giác ngộ lư Nhân quả, Luân hồi.

III. GIÁC NGỘ LƯ VÔ THƯỜNG, KHỔ, KHÔNG, ỨNG DỤNG TU THANH VĂN THỪA.

            a) Giác ngộ lư vô thường, khổ, không

            Vạn vật trên nhân gian này đều là tướng di động biến thiên, không một vật nào tạm yên và đứng nguyên một trạng thái. Sự di động biến thiên ấy gọi là vô thường. Vô thường là một lẽ thật trùm trên vạn vật. Đă có vô thường phải đến biến hoại (khổ), đă biến hoại phải bị diệt mất (không). Ba trạng thái này liên hệ dĩ nhiên với nhau. Đă thừa nhận vô thường là thừa nhận KHỔ, thừa nhận khổ phải chấp nhận KHÔNG. Vạn vật cứ như thế mà tiếp diễn liên miên bất tận.

            b) Tu pháp tứ đế

            Đức Phật chứng kiến lẽ ấy, nên Ngài nói pháp Tứ đế. Tất cả là khổ, v́ nó là tướng vô thường biến hoại. KHỔ là một lẽ thật nên nói là Khổ đế. Nơi con người sanh khổ, già khổ, bệnh khổ, chết khổ. Đây là tướng vô thường biến hoại của con người. Dù là người ở ngôi vị nào cũng phải chung chịu bốn tướng ấy. Thế nên khổ đế là luật chung của nhân loại, không riêng bởi một cá nhân nào. Chẳng những thế mà c̣n, Ái biệt ly khổ, Cầu bất đắc khổ, Oán tắng hội khổ, và Ngũ ấm xí thạnh khổ. Nghĩa là ngoài cái khổ biến hoại của bản thân, c̣n những cái khổ t́nh cảm bất như ư. Người thương yêu mà phải xa ĺa, khiến cho ḷng dạ tan nát. Những điều mơ ước mong cầu mà không toại nguyện, quả là một tuyệt vọng, một bất măn tột cùng. Kẻ oán ghét mà phải sống chung cùng, thật là sự bực bội khó tả. Tổng quát ngay nơi thân năm ấm này là một khối chung hợp toàn những thứ biến hoại đau khổ. Kể cả những thứ khổ nhỏ nhiệm th́ có đến tám vạn bốn ngàn khổ.

            Sự khổ này không phải ngẫu nhiên mà có chính nó phát xuất từ nguyên nhân: si, tham, sân, mạn, nghi, ác kiến. Nếu kể chi ly có đến tám vạn bốn ngàn thứ trần lao phiền năo. Các thứ đó gọi chung là Tập đế. Do si mê không biết thân tâm như thật nên khởi tham ái thân tâm. Bởi tham ái thân tâm nên mong cầu mọi sự khoái lạc, gặp sự chống đối liền khởi tức giận. Do ái ngă nên khinh khi lấn lướt người. Bởi si mê nên nghi ngờ lẽ thật và khởi kiến chấp tà ác. Tụ hợp những nguyên nhân mê lầm tạm bợ này làm ngă, quả thật là nhân của khổ, nên gọi là Tập đế, hay Khổ tập.

            Muốn cho quả khổ tan hoại, không ǵ hơn đập thẳng nơi tập nhân. Tập nhân đă tiêu diệt gọi là Diệt đế hay Khổ diệt. Bởi tập nhân là mầm si mê biến hoại, nên khi diệt sạch chúng th́, trí tuệ phát sanh, nhân sanh diệt cũng bặt dứt. Thế là chứng tứ quả Thanh văn được tịch diệt Niết-bàn.

            Song muốn phá hoại tập nhân cần phải có phương tiện. Phương tiện này là ba mươi bảy Phẩm trợ đạo: Tứ niệm xứ, Tứ chánh cần, Tứ như ư túc, Ngũ căn, Ngũ lực, Thất giác chi, Bát chánh đạo. Mỗi pháp như Tứ niệm xứ... ứng dụng triệt để cũng có thể tiêu diệt được tập nhân, không nhất thiết phải tu đủ ba mươi bảy phẩm. Những pháp này quả có công hiệu tiêu diệt tập nhân, nên gọi là Đạo đế hay Khổ đạo. Chữ đạo có nghĩa là phương pháp, ba mươi bảy phẩm này là những phương pháp diệt sạch tập nhân đau khổ.

            Trong bốn đế này đứng về mặt nhân quả mà nói: Khổ đế là quả, Tập đế là nhân của ḍng luân hồi sanh tử. Diệt đế là quả, Đạo đế là nhân của ḍng giải thoát sanh tử. Thế nên c̣n có Tập đế quyết định phải có Khổ đế, biết dụng tu Đạo đế đúng pháp, nhất định sẽ đạt được Diệt đế. Thế là hai con đường luân hồi đau khổ và tịch diệt Niết-bàn đă trưng bày trước mắt chúng ta, tùy ư chọn lấy mà đi. Đây là một lẽ thật không thể sai chạy, cho nên Tôn giả A-nan tŕnh lên Phật khi Ngài sắp niết-bàn: “Mặt trời có thể lạnh, mặt trăng có thể nóng, pháp Tứ đế Phật nói vẫn không thay đổi!”

IV.- GIÁC NGỘ LƯ NHÂN DUYÊN ỨNG DỤNG TU DUYÊN GIÁC THỪA

            a) Giác ngộ lư duyên sanh vô ngă

            Vạn vật có h́nh tướng đều do duyên hợp. Không có một vật tự thân là một vật, mà phải do chung hợp nhiều dữ kiện mới h́nh thành. Cái bàn không tự là cái bàn, mà phải có gỗ, có đinh, ông thợ mộc và dụng cụ mới tạo thành cái bàn. Cái cây không tự là cái cây, mà phải có hạt giống, có phân, có đất, có nước, có ánh nắng và người săn sóc mới thành cây. Con người không tự là con người, mà phải do tinh cha, huyết mẹ, nhờ sự bú sữa, ăn uống, hít thở... mới thành con người. Tóm lại cả thế gian này không có một vật ǵ tự nó thành nó, mà do duyên chung quanh hợp thành h́nh.

            Đă do duyên hợp th́ không chủ thể, thế là vô ngă. Như thân xác thịt chúng ta, nhà Phật bảo là tứ đại hợp thành. Đất nước gió lửa là bốn thứ lớn, hợp thành con người cũng hợp thành sự vật. Thử phân tích con người, chất cứng là đất, chất ướt là nước, chất động là gió, chất ấm là lửa. Bốn chất này t́m xem cái nào là chủ? Nhẹ như chất gió và lửa mà thiếu một, thử hỏi thân này c̣n chăng? Quả nhiên không thể thiếu một chất nào mà thân này c̣n tồn tại. Thế th́ bốn chất có khả năng như nhau, vậy cái nào là chủ? Không có chủ tức là vô ngă. Thân đă vô ngă, tâm lại có ngă chăng? Nhà Phật chia thân này làm năm nhóm: nhóm h́nh sắc gọi là sắc uẩn, nhóm cảm thọ gọi là thọ uẩn, nhóm tưởng tượng gọi là tưởng uẩn, nhóm suy tư gọi là hành uẩn, nhóm phân biệt gọi là thức uẩn. Bỏ phần sắc uẩn ra, c̣n bốn thứ kia thuộc phần tâm thần. Thế th́ bốn nhóm thọ tưởng hành thức cái nào là chủ. Nếu cảm thọ là chủ th́ tưởng tượng suy tư phân biệt là ǵ? Chính nơi tâm thần chúng ta có đủ bốn nhóm ấy, mỗi thứ hoạt động một lănh vực riêng. Thế nên phần tâm cũng không chủ thể, ấy là tâm vô ngă.

            b) Tu pháp Thập nhị nhân duyên

            Mười hai nhân duyên, khởi đầu là vô minh duyên hành, hành duyên thức, thức duyên danh sắc, danh sắc duyên lục nhập, lục nhập duyên xúc, xúc duyên thọ, thọ duyên ái, ái duyên thủ, thủ duyên hữu, hữu duyên sanh, sanh duyên lăo tử. Thế là “cái này có nên cái kia có, cái này sanh nên cái kia sanh”. Vô minh là mê lầm về bản ngă, nên mất thân theo nghiệp dẫn là Hành. Nghiệp thúc đẩy thức đi thọ sanh là Thức. Thức tựa vào sự phối hợp của tinh cha huyết mẹ là Danh sắc. Danh là thức, sắc là tinh huyết cha mẹ, hợp thành thai bào. Thai bào có đủ sáu căn là Lục nhập. Khi ra khỏi ḷng mẹ sáu căn tiếp xúc với sáu trần là Xúc. Do sự tiếp xúc có cảm thọ khổ, vui, không khổ không vui là Thọ. Bởi cảm thọ nên sanh yêu thích là Ái. Từ yêu thích khởi tâm bảo thủ là Thủ. Do bảo thủ tạo thành nghiệp thiện ác là Hữu. Đă có nghiệp thiện ác là có sanh đời sau là Sanh. Đă có sanh là phải già chết là Lăo tử. Trong mười hai nhân duyên liên hệ quá khứ hiện tại vị lai, cứ thế xoay vần không có ngày cùng. Đây là mười hai nhân duyên theo chiều lưu chuyển.

            Biết rơ thân tâm này do nhân duyên ḥa hợp không có chủ thể là vô ngă. Trí tuệ đạt lư vô ngă này dẹp tan mê lầm về bản ngă là Vô minh. Thế là Vô minh diệt nên Hành diệt, Hành diệt nên Thức diệt, Thức diệt nên Danh sắc diệt, Danh sắc diệt nên Lục nhập diệt, Lục nhập diệt nên Xúc diệt, Xúc diệt nên Thọ diệt, Thọ diệt nên Ái diệt, Ái diệt nên Thủ diệt, Thủ diệt nên Hữu diệt, Hữu diệt nên Sanh diệt, Sanh diệt nên Lăo tử diệt. Từ đây ṿng xúc xích mười hai nhân duyên tan ră. Chính là câu “cái này không nên cái kia không, cái này diệt nên cái kia diệt”. Đây là quán mười hai nhân duyên theo chiều hoàn diệt.

            Do thấu suốt nhân duyên, đạt được trí vô ngă nên chứùng quả Duyên giác.

            Ngang đây chấm dứt sự luân hồi, hằng an lạc Niết-bàn.

V.- GIÁC NGỘ LƯ DUYÊN KHỞI TÁNH KHÔNG, TU BỒ-TÁT THỪA

            a/ Giác ngộ lư duyên khởi tánh không

            Cũng đứng trên lư duyên sanh, song Bồ-tát không dừng lại ở chỗ thân này do năm uẩn kết hợp là vô ngă, mà c̣n thấy năm uẩn tánh không. Bởi v́ thân này là giả tướng do năm uẩn kết hợp, chính năm uẩn cũng là giả tướng của cái khác kết hợp và có cái khác cũng là giả tướng của cái khác nữa kết hợp... Tột cùng tất cả các pháp đều là duyên hợp không có chủ thể, là tánh không. Bởi tánh không do duyên hợp nên giả có. V́ cái có ấy là tướng duyên hợp, nên giả dối tạm bợ như huyễn hóa. Giả có nên chẳng phải không, có một cách tạm bợ nên không phải thật có. Thế là không mắc kẹt ở hai bên chấp không và chấp có. Đạt tột lư duyên khởi tánh không, Bồ-tát nh́n sự vật như chính bản thân ḿnh, chỉ có giả danh mà không có thực thể. Bởi không có thực thể, nên các pháp thấy như bọt, bóng, huyễn hóa. Duyên hợp th́ các pháp có, duyên tan th́ các pháp không. Sự có không ấy chẳng qua là tướng của duyên thôi. Thế nên, Bồ-tát thấy thân như huyễn, ngay khi sanh mà biết vô sanh.

            b/ Tu pháp lục độ

            Lục độ là sáu pháp: Bố thí, Tŕ giới, Nhẫn nhục, Tinh tấn, Thiền định, Trí tuệ. Sáu pháp này tu được cứu kính gọi là Lục Ba-la-mật. Bồ-tát do thấy các pháp như huyễn nên tu bố thí được cứu kính. Bố thí có chia: Tài thí, Pháp thí, Vô úy thí. Tài thí lại có ngoại tài, nội tài. Bồ-tát dùng của cải để cứu giúp người đói khổ là bố thí ngoại tài. Có khi cần đến sức lực, hoặc thân phần của ḿnh để cứu giúp người, Bồ-tát sẵn sàng làm là bố thí nội tài. Song phần tài thí chỉ là phương tiện đầu để thu nhiếp cảm t́nh của người rồi sang pháp thí. Pháp thí là đem chánh pháp chỉ dạy cho người được tỉnh giác. Giáo hóa cho người được giác ngộ là phần giác tha của Bồ-tát. Vô úy thí là dùng phương tiện giúp người qua cơn kinh sợ hăi hùng. Trong mọi hoàn cảnh khủng khiếp của Bồ-tát đều dùng mọi phương tiện để an ủi cho người khỏi sợ. Song cái sợ to lớn nhất là biển khổ sanh tử, Bồ-tát thường chèo thuyền Bát-nhă cứu người qua khỏi biển khổ là vô úy thí. Đă thấy các pháp như huyễn, nên Bồ-tát không khước từ những điều khó bố thí. V́ thế Bố thí được ba-la-mật.

            Tŕ giới là ǵn giữ giới pháp của Phật răn cấm. Trong giới Bồ-tát có mười giới trọng và bốn mươi tám giới khinh, từ kinh Phạm Vơng. Hoặc Tam tụ tịnh giới của hàng Bồ-tát. Đây là ba nhóm giới thanh tịnh Bồ-tát phải thực hành. Một là Nhiếp luật nghi giới, những pháp nên ĺa Bồ-tát hằng ĺa. Hai là Nhiếp thiện pháp giới, những pháp nên chứùng, Bồ-tát đều tu chứùng. Ba là Nhiêu ích hữu t́nh giới, Bồ-tát thường làm lợi ích chúng sanh. Những giới pháp này tu hành đến cứu kính viên măn gọi là Giới ba-la-mật. Chính v́ thấy các pháp duyên khởi như huyễn nên Bồ-tát hay làm được việc khó làm.

            Nhẫn nhục là sức cam chịu mọi hoàn cảnh khổ đau bức bách tủi nhục đến với tự thân. Chúng ta chiến thắng mọi sự thúc giục bức bách của bản thân tạo ra và chiến thắng những ǵ khổ đau tủi nhục từ bên ngoài đưa đến. Cho đến những điều oan trái không đâu, hoặc cực kỳ vô lư, chúng ta cũng nhẫn chịu được. Có khi phải trả giá rất đắt về danh dự, về thân thể, mà vẫn cam chịu để tṛn hạnh nhẫn nhục. Cho nên nhẫn nhục khi đến cứu kính là một sức hùng dũng phi thường, v́ đă chiến thắng hoàn toàn bản tánh ái ngă và bảo vệ ngă. Được thế mới gọi là Nhẫn nhục ba-la-mật.

            Tinh tấn là cố gắng nỗ lực. Dốc hết khả năng để chiến thắng ḿnh, để chóng thành đạo quả, là tinh tấn trong phần tự lợi. Dốc hết khả năng để cứu giúp người, để giáo hóa cho họ giác ngộ, là phần lợi tha. Ở hai b́nh diện tự lợi lợi tha, Bồ-tát lúc nào cũng nỗ lực một cách tột cùng, gọi là Tinh tấn ba-la-mật. Bởi Bồ-tát thấy đem thân như huyễn độ hữu t́nh như huyễn, nên không bao giờ biết mỏi mệt và chán ngán.

            Thiền định, “thiền” nguyên từ chữ Phạn Dhyàra (Thiền Na), Trung Hoa dịch là Tĩnh lự. Có nghĩa là do gá tâm một cảnh khiến những tâm lự lăng xăng được lặng yên. Song Thiền định trong nhà Phật cũng có nhiều lối, hoặc quán thân tâm này vô chủ để ngộ ngă không hoặc quán năm uẩn tánh không để ngộä pháp không, hoặc tâm không chấp cảnh khiến tâm cảnh nhất như. Bởi dừng được vọng tâm nên gọi là tĩnh lự. Thiền định đến tâm cảnh nhất như là Thiền ba-la-mật.

            Trí tuệ là trí vô sư được hiển lộ viên măn. Bởi mây mờ vọng lự dứt sạch, nên mặt trời trí tuệ vô sư chiếu sáng rực rỡ. Trí tuệ này là do công phu tu thiền định mà phát xuất, chớ không phải do học tập mà được. Cho nên khi trí thể này hiện bày th́ vô minh phiền năo hoàn toàn tiêu sạch. Thế là đầy đủ trí vô lậu thoát ly sanh tử luân hồi. Đây là Trí tuệ ba-la-mật.

            Lục độ có nghĩa là do tu sáu pháp này đưa qua biển khổ sanh tử. Lại có nghĩa tu mỗi pháp qua mỗi cái dở: tu Bố thí độ bỏn sẻn, tu Tŕ giới độ phá giới, tu Nhẫn nhục độ nóng giận, tu Tinh tấn độ lười biếng, tu Thiền định độ tán loạn, tu Trí tuệ độ ngu si.

            Tóm lại, Ngũ thừa Phật giáo là phương tiện hướng chúng sanh tiến lên, tùy căn cơ và sở nguyện mà sự tiến lên ấy có cao thấp khác nhau. Đă là phương tiện th́ chưa phải mục đích chánh yếu của đức Phật muốn dạy. Nếu nhằm chỗ mục đích chánh của Phật th́ chỉ giáo hóa chúng sanh đều được thành Phật. Tuy nhiên ḷng từ bi của đức Phật là như thế, song tŕnh độ căn cơ của chúng sanh th́ chẳng đồng. Buộc ḷng đức Phật phải mở rộng Ngũ thừa hoặc Tam thừa mà giáo hóa chúng sanh. Nếu chúng ta ứng dụng tu hành một thừa trong năm thừa, mà tâm niệm vẫn biết rơ rằng đây là phương tiện để tiến lên, chớ không phải chỗ an trụ vĩnh cửu, là không có lỗi lầm. Ngược lại, chúng ta tu theo thừa nào chấp chặt vào đó, không chịu phát tâm hướng thượng, ấy là những kẻ rơi trong Hóa thành. Chúng ta là người cầu Phật đạo, phải tu đến bao giờ viên măn Phật đạo mới được dừng nghỉ. Đây là mục đích tối thượng của người Phật tử chúng ta.

 

]


 

TINH THẦN GIÁC NGỘ CỦA ĐẠO PHẬT QUA NGÀY  LỄ  VU-LAN

 

            Hôm nay nhân ngày lễ Vu-lan, chúng tôi có một thời thuyết pháp với đề tài “TINH THẦN GIÁC NGỘ CỦA ĐẠO PHẬT”. Chúng tôi sẽ chỉ rơ tinh thần giác ngộ của lễ Vu-lan như thế nào cho tất cả quí vị thấy, v́ chính đó là tinh thần giác ngộ của đạo Phật. Tinh thần giác ngộ đó sẽ diễn tiến từ thấp lên cao, đến chỗ tột đỉnh như thế nào, chúng tôi tuần tự giải thích qua cho tất cả quí vị rơ. Trước tiên tôi nói thẳng về ngày lễ Vu-lan.

            Theo thường ở chùa, ngày rằm tháng bảy là ngày lễ “Tự tứ” của chư Tăng cũng gọi là Phật hoan hỉ nhật, cũng gọi là ngày Vu-lan-bồn, dịch âm tiếng Phạn. Ở Trung Hoa dịch nghĩa là Giải đảo huyền, tức là cứu hay cởi tội khổ bị treo ngược. Nói một cách khác là cứu tội khổ của những người đang đọa trong cảnh đau khổ địa ngục ngạ quỉ. Đó là tên gọi, nhưng sở dĩ đặt ngày lễ Vu-lan vào ngày rằm tháng bảy là do ư nghĩa nào, tiêu chuẩn nào đức Phật nhắm như vậy?

            Chúng tôi lần lượt giải thích các tiêu chuẩn đó. Bởi ngày xưa, lúc đức Phật tại thế, chư Tăng hoặc bốn vị hay nhiều hơn, đều phân tán đi nơi này nơi nọ giáo hóa. Đến mùa hạ, ở Ấn Độ mưa nhiều, nước lũ cho nên sự đi lại khó khăn. Đức Phật ra lịnh cho chư Tăng đến mùa hạ phải qui tụ một nơi để thúc liễm tu hành và kiểm soát lẫn nhau, để tu hành thế nào cho nghiêm chỉnh. Trong ba tháng hạ, tức là đến ngày rằm tháng bảy, chư Tăng nhắc nhở lẫn nhau trong hành động, ngôn ngữ, tư tưởng c̣n khuyết, c̣n sơ sót. Sau đó mỗi nhóm tùy phương tiện mà đi giáo hóa khắp nơi. Như vậy, ba tháng an cư tính từ rằm tháng tư đến rằm tháng bảy. Ngày rằm tháng bảy gọi là lễ “tự tứ”, có nghĩa là: Tự: ḿnh, Tứ: mặc t́nh, tức là chính ḿnh đi ra giữa đại chúng, giữa chư Tăng cầu thỉnh tất cả chư Tăng xét thấy ḿnh có những sơ sót nào, những lỗi lầm nào th́ yêu cầu hoan hỉ chỉ dạy để cho ḿnh nhận lấy lỗi lầm, ăn năn chừa cải. Đó là Tự tứ.

            Trong bài văn tự tứ nói thế này:

            Một vị Tăng hay là vị Tỳ-kheo đến trước những vị Tỳ-kheo khác có đức hạnh hơn thưa:

            “Bạch Đại đức một ḷng thương xót, con là Tỳ-kheo A hay B ǵ đó, trong ba tháng an cư, Đại đức hoặc thấy hoặc nghe hoặc nghi con có lỗi lầm ǵ th́ thương xót chỉ dạy cho, con sẽ phát lồ sám hối đúng pháp.”

            Như vậy, trong ba tháng an cư hoặc đích thân họ thấy những cái sơ sót của ḿnh hoặc là họ nghe những người xung quanh nói lại những cái sơ sót của ḿnh, hoặc là họ thấy cái sơ sót mà không biết có đúng hay không, trong ḷng c̣n nghi ngờ. Trong ba trường hợp đó, ḿnh đều ra cung thỉnh nói thẳng, chỉ thẳng ra cho ḿnh biết dù cái đó chưa phải là tội. Họ c̣n nghi ngờ mà nói ra ḿnh cũng sẵn sàng nghe, xét thấy đúng là lỗi th́ sám hối phát lồ, do đó tội lỗi sẽ giảm bớt. Như vậy mới là người làm lễ tự tứ đúng pháp. Quí vị thấy có ǵ đặc biệt trong lễ tự tứ này không?

            Theo tâm lư con người như quí vị thấy, tất cả chúng ta ít có người muốn nói cái dở của ḿnh, hoặc che cái hay của ḿnh. Có người nào muốn nghe người ta nói cái xấu của ḿnh hay không? Đa số đều muốn khoe cái hay mà sợ thấy cái dở của ḿnh, cho nên luôn luôn người ta khoe cái hay và giấu cái dở ḿnh. Đó là bệnh phổ thông của mọi người. Cái bệnh đó làm cho con người tiến hay lùi? Nếu có hay một chút đem ra khoe khoang, c̣n xấu th́ che giấu để người ta không thấy, đó là tâm niệm hiếu danh. Nếu ḿnh một lần làm xấu giấu được, không ai biết, không ai chỉ, không ai nhắc, th́ lần xấu thứ hai, thứ ba sẽ theo đó mà diễn tiến. Càng che giấu tội lỗi th́ tội lỗi càng nhiều. Cho nên cái bệnh che giấu khiến con người thoái bộ. Làm cho con người hư hỏng là bệnh hay khoe cái hay và che giấu cái dở của ḿnh.

            Tinh thần người Phật tử là tinh thần tự giác, cho nên chúng ta phải tự giác cái ǵ chúng ta xấu. Lỡ phạm tội lỗi chúng ta phải nh́n thẳng phải thấy rơ ràng, tự tỉnh, tự giác. Thấy được tội lỗi của ḿnh, tự ḿnh hối cải. Đó là tinh thần phát lồ. Phát lồ là ǵ? - Là vạch cái lỗi của ḿnh trước mọi người, trước chư Tăng, trước quần chúng để cho người ta thấy rơ ḿnh có cái dở đó, để ḿnh hứa trước mọi người sẽ cải tiến không c̣n dở nữa. Tháng này tôi có cái dở đó, tôi phát lồ với quí vị, quí vị đă nhận đă chứùng thật lời của tôi rồi, hứa rằng tháng sau tôi sẽ tiến hơn không c̣n dở như vậy nữa. Như thế mỗi tháng mỗi năm tôi đều phát lồ, trước tôi có dở mười, có yếu lắm đi nữa, lần lần tôi c̣n dở chín, dở tám rồi bảy chớ không đến nỗi nào trước sao, sau vậy. Nếu trước phát lồ rồi sau cũng phát lồ y như thế th́ có hổ thẹn hay không. Tự nhiên ḿnh hổ thẹn, không thể nào chịu nổi. Giả sử ḿnh có yếu đuối một lần phát lồ, lần sau có phạm hay có tội cũng ráng nhẹ hơn một chút, nếu nhiều lần như vậy tự nhiên lỗi càng ngày càng giảm xuống. Tinh thần phát lồ là tinh thần tự giác. Nếu ḿnh không biết lỗi th́ làm sao phát lồ. Biết lỗi là tỉnh hay mê? Nếu mê th́ đâu biết lỗi. Người mê là người làm quấy không biết ḿnh là quấy, làm sai không dám nhận ḿnh là sai. Nếu ḿnh quấy tự biết ḿnh là quấy đó thật là tỉnh. Tỉnh tức là giác. Nhưng có người có tỉnh có giác mà không dám nói, không dám tŕnh bày th́ sao? - Đó là yếu đuối thiếu gan dạ. Cho nên đối với người tu phải có tinh thần tự giác tức biết nhận sự sai lầm, những lỗi của ḿnh. Phải can đảm tŕnh bày cái quấy của ḿnh trước quần chúng để người ta chứng nhận cho ḿnh điều đó. Hứa trước quần chúng ḿnh sẽ cải đổi, chớ không hứa suông. Hứa như vậy để mà tiến bộ. Do đó nên người tu theo đạo Phật là người biết tự giác. Đó là tự nhận lỗi để phát lồ. Nhưng tự nhận lỗi không chưa đủ. Khi cái giác ḿnh c̣n yếu chưa đầy đủ, cho nên có cái ḿnh biết có cái ḿnh chưa biết, ḿnh dễ tha thứ cho ḿnh lắm, ḿnh dễ quên cái dở của ḿnh lắm. Cho nên đức Phật dạy chúng ta cần phải gan dạ hơn nữa, và phải can đảm nghe lời chỉ trích của bạn bè, của những người thiện tri thức lớn hơn ḿnh. Như vậy khả dĩ bao nhiêu lỗi lầm của ḿnh mới tiêu tan được, mới có thể ra ngoài ṿng lỗi lầm được. Nếu ḿnh không gan dạ nghe, không nhận những lời chỉ trích th́ ḿnh khó mà tiến được. Cho nên tinh thần “Tự tứ” là tinh thần cầu những người chung quanh ḿnh thấy những điều sơ sót những chỗ lỗi lầm do ḿnh không thấy được, nhờ chỉ cho ḿnh nhắc cho ḿnh để cải tiến.

            Như vậy người học đạo, người tu hành, nhất là người sống trong đoàn thể mà biết tự giác phát lồ lỗi ḿnh và can đảm nghe lời chỉ dạy những lỗi lầm những sơ sót của ḿnh, th́ người đó có tiến bộ hay không? Đương nhiên chúng ta thấy tâm hồn con người đó là một tâm hồn tỉnh giác sáng suốt và họ là con người có ư chí quả cảm để cầu tiến. Nếu không cầu tiến th́ đâu chịu nghe lời phê b́nh của người. Dám nghe lời phê b́nh để chấp nhận sửa đổi đó là tinh thần cầu tiến mạnh mẽ vô cùng. Do đó hai điểm quan trọng nhất của tinh thần tự tứ là biết tự giác để phát lồ sám hối giữa đại chúng và thành tâm cầu xin chư Tăng v́ ḿnh chỉ lỗi cho. Sau khi được chỉ lỗi, vui mừng sám hối trước đại chúng. Như vậy tức là con người tự giác nhận lỗi để sửa đổi. Họ sẽ từ từ vươn lên, chớ không bao giờ đứng yên một chỗ. Cho nên người tu mà thiếu tinh thần phát lồ và thiếu tinh thần tự tứ, người tu đó khó tiến được. V́ vậy trong đoàn thể chư Tăng, đến ngày rằm tháng bảy tức là ngày Tự tứ. Ngày mà toàn thể đều ra giữa đại chúng phát lồ và cầu xin chư Tăng thấy, nghe, nghi những lỗi ǵ của ḿnh đem ra chỉ dạy cho, để ḿnh hứa nguyện sửa đổi. Đó là ngày đức Phật vui mừng nhất.

            Bởi trông thấy đoàn thể đệ tử của ḿnh biết tiến bộ và biết tỉnh giác, nên Phật hoan hỉ. Nếu không làm đúng như vậy, đức Phật không vui. Ngày đó là ngày được đức Phật khuyến khích cúng dường. V́ sao? V́ là ngày chư Tăng có tinh thần cao cả gan dạ nhận lỗi ḿnh, và những lời phê b́nh chỉ trích của chung quanh, hứa sửa đổi. Thật đó là ngày quí giá đáng khen. Cho nên Phật nói chính ngày này mới là ngày toàn thể Phật tử cúng dường cầu nguyện có thể được như ư. Nếu chư Tăng không làm được như vậy th́ cầu nguyện chưa chắc được như ư. Tại sao? V́ người biết tỉnh giác là người có ư chí cầu tiến th́ đối với việc làm của họ có thể việc ǵ cũng xong. Đối với sự giúp đỡ người th́ việc giúp đỡ nào cũng thành tựu. Bởi v́ lúc nào họ cũng tỉnh giác và lúc nào cũng cầu tiến, người như vậy mới đạt được cái ǵ họ mong muốn. Và muốn lợi ích cho người mới thành tựu viên măn. Cho nên đức Phật nói chỉ có ngày Tự tứ cầu nguyện mới được như ư. Thành thử đức Phật khuyến khích, Phật tử thể theo tinh thần tự tứ mà thực hiện lễ cầu nguyện. Nhưng thật ra nhằm khuyến khích chư Tăng nhiều hơn, khuyến khích tinh thần phát lồ và tinh thần tự tứ.

            Nhưng gần đây chúng ta đi ngược một chút với tinh thần tự tứ của chư Tăng. Tỷ dụ như một chùa có một hai cô ni, một hai ông thầy, không an cư, không tự tứ mà cũng tổ chứùc lễ Vu-lan long trọng, nói rằng cúng dường ngày Vu-lan là có phước, nào là giải đảo huyền, nào là xá tội vong nhân v.v... Mà khi đó quí vị chưa áp dụng đúng tinh thần tự tứ. Họ không sống với tính cách đoàn thể, không sống đúng với tinh thần Phật muốn dạy, mà họ hô hào như vậy th́ quí vị thấy có hợp lư hay không? V́ vậy chúng ta phải thấy rơ người tu theo đạo Phật là đi trên con đường giác ngộ. Một việc nào cũng làm đúng theo tinh thần giác ngộ. Ngày tự tứ là ngày tự giác của mọi người. Sau khi xét lại cái sai lầm, cái sái quấy của ḿnh trong ba tháng để ḿnh phát lồ sám hối và đồng thời nhờ chung quanh, những người có tinh thần cương trực, chỉ những lỗi lầm sơ sót của ḿnh. Như vậy sự tiến bộ của ḿnh càng ngày càng vươn lên. Tinh thần giác ngộ như vậy mới là tinh thần giác ngộ mạnh mẽ sáng suốt.

            Đó là tôi nói thẳng cho quí vị thấy tinh thần tự tứ của ngày rằm tháng bảy. V́ vậy ngày rằm tháng bảy này mới nên làm lễ Vu-lan, tức là Phật tử mới nên cúng dường để theo sở nguyện của ḿnh. Cái sở nguyện được hay không được, đó là vấn đề khác. Nhưng điều đáng chú ư hơn hết là đức Phật đặt trọng vấn đề tự tứ của chư Tăng, mới là ngày quan trọng.

            Quí vị nhớ trong kinh Vu-lan, chuyện bà Thanh Đề, nhờ ngài Mục-kiền-liên cúng dường chư Tăng ngày rằm tháng bảy mới thoát được nghiệp ngạ quỉ mà sanh lên cung trời Thiên Hoa Quang. Như vậy tinh thần cầu nguyện đó ảnh hưởng thế nào với người có tội lỗi? Chỗ này tôi nói thêm cho quí vị thấy tinh thần đạo Phật. Chính những việc làm đó không nằm trong các mê tín mà nằm trong tự giác, tại sao vậy?

            Trước tôi xin kể những chuyện khác, dù chuyện này có tính cách ngụ ngôn, nhưng để quí vị thấy tinh thần của đạo Phật. Như đức Phật kể lại tiền thân của Ngài: “Thuở nọ Ngài là một đứa con bất hiếu. Khi Ngài chết rồi vào địa ngục. Ngay trong ngục tối, Ngài thấy ở đàng xa một đóm lửa sáng rực đi đến dần dần tới Ngài. Tới gần Ngài  nh́n rơ ra là người đang bị một ṿng lửa cháy đỏ rực trên đầu. Người đó la rên thảm thiết. Khi tới gần, Ngài hỏi: Anh ơi, anh làm tội ǵ mà chịu khổ lắm vậy? Chàng đó nói: Không giấu ǵ ông, thuở xưa tôi ở nhân gian, v́ bất hiếu với cha mẹ, nên giờ đây tôi mới khổ như thế này.

            Ngài hỏi: Tới bao giờ anh mới hết tội đó?

            Chàng kia đáp: Chừng nào ở nhân gian có người nào bất hiếu như tôi, đến thế cho tôi, th́ tôi mới hết.

            Vừa nói th́ ṿng lửa bên đầu anh kia chụp qua đầu của Ngài. Ngài bị đốt cháy đỏ rực, đau khổ quá Ngài rên la thảm thiết. Khi tỉnh lại, Ngài hỏi: Đầu tôi bị ṿng lửa đốt cháy như thế này, thưa anh chừng nào mới hết, mới khỏi cái khổ này? Anh kia nói: Chừng nào có người ở trên nhân gian bất hiếu như ông, xuống thế cho ông th́ ông mới hết.

            Khi đó Ngài liền nhớ cái khổ bị đốt như thế này đau đớn vô ngần, nếu có người chịu khổ như ḿnh th́ tội nghiệp họ quá, chi bằng để một ḿnh ḿnh chịu khổ thôi. Cho nên lúc đó Ngài liền phát nguyện: ‘Nguyện tất cả người trên thế gian, từ đây về sau đừng có ai bất hiếu như tôi, để một ḿnh tôi chịu cái khổ này suốt đời suốt kiếp.’ Ngài vừa nguyện xong, bất thần ṿng lửa bay đâu mất. Ngài thấy Ngài sanh lại ở chỗ khác tốt đẹp, không c̣n ṿng lửa nữa.”

            Qua câu chuyện đó tuy có tính cách ngụ ngôn nhưng cho chúng ta thấy rơ một khi phát tâm từ bi rộng lớn, phát tâm đạo đức, th́ bao nhiêu cái khổ cái xấu tan đi.

            Ngài kể thêm một câu chuyện nữa: “Một thuở nọ Ngài cũng là một người đi săn bắn tàn bạo. Ngài chết và rơi vào địa ngục. Khi đó quỉ sứ bắt Ngài kéo trên một chiếc xe cồng kềnh, phía sau có người cầm roi đánh. Ngài kéo nặng nề quá. Kéo qua chỗ tra tấn người, Ngài thấy những người khác bị đánh đập hành hạ đau khổ rên siết quá đỗi. Ngài động ḷng thương nguyện rằng: ‘Tôi xin thế tất cả cái đau khổ của những người ở trong đây! Tất cả cái khổ của những người đang chịu, xin để cho ḿnh tôi chịu.’ Ngài vừa phát nguyện như vậy th́ tự thấy Ngài không c̣n ở địa ngục nữa.”

            Qua hai câu chuyện trên đó, chúng ta thấy bà Thanh Đề, sở dĩ ra khỏi ṿng ngạ quỉ không phải chư Tăng có tài xuống đó dẫn bà lên. Không phải có một ông Diêm vương hay ông chúa ngục nào mở thả bà, ân xá cho bà. Cũng không phải ông Phật trên đài sen xuống cứu bà, mà chính v́ tinh thần sáng suốt và ư chí mạnh mẽ cầu tiến của chư Tăng đồng chung một tâm niệm hướng về bà, mong bà cải đổi tâm niệm xấu xa. Do sự giao cảm đó mà bà tỉnh giác, chính bà tỉnh giác biết được tội lỗi của bà, nên bà hối hận chừa bỏ. Do đó bà thoát khỏi cái khổ ngạ quỉ. Thoát khỏi là do tâm hối cải tỉnh giác chớ không phải do sức bên ngoài bắt ḿnh hay thả ḿnh. Đó là sự thật do tinh thần tỉnh giác của con người mà ra. Chỗ đó đối với quí vị hơi lạ, nhưng sự thật là thế.

            Chúng ta thấy rằng tất cả cái khổ là gốc ở mê lầm. Mê lầm nên mới có hiểu sai quấy tự ḿnh thấy ḿnh khổ. Thí dụ chúng ta gặp một người mà ḿnh có ác cảm, thấy mặt họ ḿnh vui hay buồn? Người mà ḿnh có ác cảm thấy mặt họ là mặt đổi sắc, cảm thấy buồn cảm thấy khổ, khi phải đối đầu với họ. Nếu khi đó ḿnh dẹp phiền năo, có tâm niệm sáng suốt hơn, và tự hỏi tại sao ḿnh xấu như vậy? Tại sao ḿnh có ác cảm với người ta? Người ta cũng tốt, tại sao ḿnh có niệm xấu với họ. Tự hỏi như vậy là ḿnh có thể vui cười cùng họ và không c̣n bực bội khó chịu nữa. Quan niệm bực bội khó chịu đó là bởi ḿnh cố chấp, ḿnh ghen ghét, ḿnh xấu xa đối với mọi người. Gặp họ thấy họ là ḿnh cảm như có cái ǵ bực bội, rồi tự ḿnh chuốc khổ. Hết khổ không phải Phật cứu ḿnh mà chính là nhờ ḿnh đổi được quan niệm của ḿnh.

            Đến đây tôi kể một câu chuyện trong Thiền tông. Vị Tổ thứ tư Thiền tông là Tổ Đạo Tín, lúc c̣n làm Sa-di khi gặp Tổ Tăng Xán (Tổ thứ ba ở Trung Hoa), Ngài thưa: Bạch Ḥa thượng dạy cho con phương pháp giải thoát.      

            Tổ nh́n sững vào mặt hỏi: Ai trói buộc chú?

            Ngài quưnh lên không biết ai trói buộc ḿnh. Nh́n lại ḿnh một hồi, Ngài thưa: Bạch Ḥa thượng không ai trói buộc con hết.

            Tổ bảo: Như vậy cầu giải thoát làm ǵ?

            Ngài liền tỉnh ngộ.

            V́ ḿnh đeo một quan niệm đen tối nên cảm thấy ḿnh xấu xa đau khổ. Giờ đây ḿnh xem cái xấu xa đau khổ đó nó có từ đâu? Khi t́m lại th́ quan niệm xấu xa đau khổ không c̣n nữa. Nh́n thẳng nó th́ không thấy có, lúc đó liền hết khổ. Hết khổ ngay trong cái ḿnh nh́n thẳng lại nó, ḿnh trông không thấy nó. Như vậy để thấy rơ cái khổ hay không khổ gốc ở mê lầm hay giác ngộ. Cho nên người giác ngộ là người thoát khổ, người mê lầm là người đau khổ.

            Đó là then chốt của đạo Phật. Đạo Phật cứu khổ không có nghĩa là cứu người này ở trong địa ngục đem bỏ trên trời. Hay là đem người này ở trong ngạ quỉ đưa lên một cơi nào khác. Cứu khổ chính là chỉ dạy cho người ta giác ngộ. Mà giác ngộ rồi liền đó được giải thoát.

            Tôi thí dụ một cách cụ thể hơn. Thí dụ có người bị bệnh ghiền á phiện. Khi họ bị ghiền mà không có tiền để mua á phiện, họ phải ụa mửa đủ thứ hết. Hôm nào đây họ tỉnh giác, họ thấy cái ghiền á phiện này là tai họa lớn. Thấy ḿnh bị hao ṃn khí lực, tài sản tiêu hao, làm mọi người lo sợ v.v... bây giờ nhất định cương quyết bỏ, không ghiền nữa. Khi họ giác ngộ, biết được tai họa của nó, cương quyết bỏ, th́ từ đó về sau họ sẽ thắng được bệnh ghiền. Thắng được bệnh ghiền là họ hết khổ. Mà hết khổ đó là do ai? Do họ tự giác. Phải vậy không? Họ biết được cái dở, cả quyết chừa th́ họ hết khổ. Nếu họ không biết cái đó dở, không biết cái đó là tai họa th́  họ cứ đi sâu, đi sâu măi không bao giờ ra khỏi khổ. Cho nên có giác ngộ mới được giải thoát. Có giác ngộ mới hết khổ. Đó là sự thật mà lâu nay chúng ta ít có quan niệm rơ. Chúng ta cứ tưởng rằng đi đến chùa cầu cúng rồi Phật làm cho ḿnh hết khổ. Đó là cái hiểu lệch lạc của chúng ta. Tinh thần Phật tử đi chùa phải là tinh thần cầu học đạo để thấy phương pháp tu hành, để ḿnh được giác ngộ. Mà giác ngộ chính là tự ḿnh cứu khổ cho ḿnh, chớ không phải ai cứu khổ cho ḿnh được. V́ vậy đức Phật đă từng nói: “Ta không có quyền ban ơn giáng họa cho ai.” Nếu Ngài có quyền ban ơn giáng họa cho người th́ Ngài thành thần linh mất rồi, không phải là Phật nữa. Chính Ngài dạy phương pháp giác ngộ, tự chúng ta bỏ đi cái mê lầm, cái sái quấy của ḿnh. Đó là cứu khổ, là điều căn bản của đạo Phật.

            Hôm nay là ngày lễ Vu-lan, chúng ta phải biết rơ tinh thần Vu-lan. Đó là tinh thần tự giác và cầu tiến. Tự giác bằng cách nh́n thẳng lại những cái sái quấy, những lỗi lầm của ḿnh. Can đảm ra trước quần chúng để xin phát lồ sám hối. Cầu tiến bằng cách mong mọi người chung quanh nh́n thấy cái sơ sót lỗi lầm của ḿnh, chỉ bảo cho ḿnh chừa cải. Đó mới đúng là tinh thần Vu-lan. Đúng tinh thần đó th́ việc làm nào cũng thành tựu như ư. Do đó trong đạo Phật, thường nói ngày tự tứ là ngày có công đức lớn.

            Lễ Vu-lan, tinh thần giác ngộ là thế đó, không phải ỷ vào sức cầu nguyện mà không tự giác. Đức Phật chọn ngày tự tứ để khuyên Phật tử làm lễ Vu-lan là do ư nghĩa này.

            Giờ đây chúng tôi nói tới giác ngộ. Có phải giác ngộ ở chừng này thôi hay c̣n phải giác ngộ thế nào nữa? Ở đây chúng tôi cũng lược nêu lên qua một ít điểm giác ngộ để quí vị thấy. Với tinh thần Vu-lan giác ngộ của những người biết tự giác và biết cầu tiến. Ở trong phạm vi phàm phu c̣n là phàm Tăng chúng ta phải mong giác ngộ và cầu tiến như thế.

            Tiến dần lên những bậc Thánh tăng th́ sự giác ngộ thế nào? Đây tôi kể trong đạo Phật có những vị Thánh tăng chứng quả Thanh văn, Duyên giác hay là Bích-chi Phật đến Bồ-tát v.v... Những vị giác ngộ đó như thế nào? Những hàng Thanh văn sau khi nghe Phật nói pháp Tứ đế: Khổ đế, Tập đế, Diệt đế và Đạo đế, các vị nhận đúng như thật, đúng tinh thần giác ngộ. Nhận rơ ràng không nghi ngờ gọi là chứng đạo hay thấy đạo. Khi thấy đạo, chứng đạo rồi bước vào hàng Tu-đà-hoàn lần đến A-la-hán. Như vậy chỗ giác ngộ đó như thế nào? Thí dụ như nghe đức Phật nói: “tất cả thế gian là khổ” chư Tỳ-kheo thấy như thế nào? Biết lời Phật đúng hay là không đúng? Phần nhiều vị nói thế gian là khổ, cứ nghĩ khổ là đói khổ, là lạnh khổ là đau ốm v.v... Cho những điều khổ đó là khổ của Phật nói. Sự thật đức Phật nói thế gian khổ, là vô thường. Tại sao vô thường là gốc của khổ? Bởi v́ thông thường kể nào Tứ khổ, nào Bát khổ. Tứ khổ là sanh lăo bệnh tử. Bát khổ là Tứ khổ thêm cầu bất đắc khổ, ái biệt ly khổ, oán tắng hội khổ, và ngũ ấm xí thạnh khổ. Như vậy cái khổ đó ở trong qui luật vô thường. Người ta ai không nghĩ rằng ḿnh sanh ra lớn lên, trong khi tuổi trẻ c̣n khỏe mạnh sung túc, ít năm thấy ḿnh già mặt nhăn má cóp. Lúc đó có buồn hay không? Răng lung lay nhai không biết ngon, mắt mờ thấy không xa không rơ. Tất cả những hiện tượng đó đều là hiện tượng khiến ḿnh không được vui. Không được vui tức là khổ, là bất như ư. Thường thường cái khổ là cái bất như ư? Ư ḿnh không muốn bị mắt mờ tai điếc, răng rụng, má cóp, mà tất cả cái đó nó tới, ḿnh có vui hay không? Đó là bất như ư, mà bất như ư là khổ. Cái khổ đó là ǵ? - Là vô thường. Ḿnh đang mạnh khỏe, hoạt động tự do, tới lui tự tại, phát lên đau rên h́ h́ đi không được, hoạt động không được, ḿnh có khổ hay không? Đó là bất như ư, đó là khổ. Như vậy sanh già bệnh chết đều là tướng trạng vô thường, đều là khổ. Cái khổ đó có người nào khỏi hay không? Nếu nói khổ do đói rách th́ đức Phật nói không phải chân lư, mà nói riêng cho một nhóm người nào thôi, v́ có người không đói không rách th́ họ không khổ. Khổ là nói chung cho toàn thể con người. Con người nào cũng nằm trong luật Vô thường. Mà đă nằm trong vô thường th́ bất như ư. Đă bất như ư th́ khổ đau. Cái khổ đó nếu chúng ta thấy tường tận tức là nhận chân được khổ đế. Nhận chân được khổ đế rồi, vậy khổ từ đâu mà có? - Từ tập đế. Tập đế là ǵ? Đức Phật nói là tham sân si. Nếu nói rộng ra th́ mạn, nghi, ác kiến, tức là sáu thứ căn bản phiền năo, nói rộng nữa th́ tới mấy chục thứ phiền năo. Tóm lại tất cả phiền năo gốc từ tham sân si mà ra.

            Sở dĩ chúng ta thấy chúng ta già nên buồn, bất như ư là tại sao? Là tại chúng ta có ḷng tham muốn ḿnh được trẻ măi. Nếu chúng ta không có ḷng tham muốn trẻ hoài th́ già đến có buồn không? Tóm lại trong ba cái tham sân si, si là gốc. Tại si mà ḿnh không thấy được vô thường, không nhận được lư vô thường nên ḿnh mới tham hoài, mới nghĩ tới sống măi. Phải vậy không? Nghe đến cái chết là run lên, nghe đến cái già th́ buồn đi. Đó là tham. Nếu ḿnh biết rơ được lư vô thường là ḿnh phá được cái si rồi. Trong cái vô thường mà nghĩ là thường, là si mê. Biết rơ lư vô thường mong cầu được trẻ măi, tham được khỏi chết  v.v... không c̣n nữa. Mà cái tham không c̣n th́ cái già chết c̣n không? Như vậy phá được cái si th́ khổ theo đó mà hết.

            Cái sân cũng vậy. Sở dĩ chúng ta thấy người khác ḿnh ghét mà gặp mặt nhau th́ bực bội gọi là oán tắng hội khổ. Chúng ta nhận được lư vô thường rồi phải biết rằng con người ḿnh là vô thường mọi người cũng vô thường, th́ giận nhau hờn nhau làm ǵ? Tha thứ cho rồi, ḿnh có sống đời đâu mà ôm ấp giận hờn. Tha thứ được th́ ḿnh hết khổ, cho nên nhận chân được lư vô thường th́ tâm sân dịu xuống. Dịu xuống th́ bớt khổ. Như vậy tham sân si là gốc của khổ là Tập đế. Khổ là quả, tham sân si là nhân. Tham sân si giảm th́ khổ quả theo đó mà giảm bớt. Quí vị thấy chúng ta tỉnh giác hay là chúng ta giác ngộ được nhân khổ th́ cái quả khổ theo đó mà hết. Sở dĩ chúng ta khổ là v́ chúng ta tham danh, tham lợi, tham đủ thứ. Cho nên mất một cái th́ chúng ta khổ một cái, mất nhiều cái th́ chúng ta khổ nhiều cái. Chúng ta tham nên muốn cái ǵ cũng gom về ḿnh cho nhiều. Mất là đau khổ liền. Như vậy khổ là tự ḷng tham. Nếu chúng ta biết tất cả chúng ta đều là vô thường, đă là vô thường th́ phải làm sao?  - Không nên ôm ấp. Đă là vô thường th́ phải chia sớt nhau. Vô thường mà ôm giữ, điều đó không phải là vô thường. Phải vậy không? Nếu biết được lư vô thường th́ chúng ta phải san sẻ phải chia sớt. Như vậy là chúng ta dứt ḷng tham, tức hết khổ. Chúng ta làm bể cái chén, buồn hai ba ngày. Bởi tại chúng ta tưởng cái chén là c̣n hoài, nên lỡ bể chúng ta buồn. Nếu biết đó là vô thường lỡ bể rồi th́ thôi. Dè dặt mai đừng cho cho bể nữa. Cái khác cũng thế. Biết được lư vô thường nên chúng ta không ôm ấp, không ǵn giữ riêng cho bản thân ḿnh. Thân ḿnh là vô thường sự vật cũng vô thường, tại sao ḿnh cứ gom góp? Tại sao ḿnh cứ giữ ǵn? Khi gom góp ǵn giữ đó là thỏa măn ḷng tham. Khi biết được vô thường th́ đâu c̣n tham nữa. Hết tham là ḿnh hết khổ. Chính v́ ngộ được lư vô thường, theo đó khổ sẽ giảm. V́ vậy nên các vị A-la-hán không c̣n khổ nữa. C̣n ḿnh chưa biết được lư vô thường nên mới khổ. Nhưng có nhiều người nói: “Nói như thầy cái ǵ cũng vô thường hết th́ ai muốn làm ǵ nữa.” Như vậy là lầøm ư của Phật. Đức Phật nói vô thường để mà tiến bộ chớ không phải vô thường để mà buông tay.

            Quí vị nhớ bài kinh nhật tụng hằng ngày ở chùa, tụng kinh Di-đà rồi chúng ta tụng thêm:

                        Thị nhật dĩ quá

                        Mạng diệc tùy giảm

                        Như thiểu thủy ngư

                        Tư hữu hà lạc

                        Đại chúng đường cần tinh tiến

                        Như cứu đầu nhiên

                        Đản niệm vô thường

                        Thận vật phóng dật.

            Nghĩa là: Ngày nay đă qua, mạng sống theo đó ṃn đi, như cá cạn nước, c̣n có ǵ vui? Thế nên, toàn thể đại chúng gắng mà tinh tấn. Như cứu lửa cháy đầu, chỉ nhớ vô thường, dè dặt chớ buông lung.

            Hiểu được lư vô thường rồi phải nỗ lực việc đáng làm phải làm liền đừng chần chờ. Thấy người ta khổ, đói rách ḿnh có thể giúp được, không nên nói để mai mốt sẽ giúp. Điều đó không phải là hiểu lư vô thường rồi. Biết được lư vô thường cái đáng làm phải làm ngay. Mai mốt biết ḿnh c̣n hay không? Việc phải làm là làm liền. Giúp được cái là phải giúp liền. Tu được là cố gắng tu liền chớ đừng chờ tới mai tới mốt. Chính đó là biết lư vô thường. Cho nên càng nghĩ đến vô thường càng gắng làm lành làm phải, càng gắng giúp ích cho mọi người và càng cố gắng tiến tu. Đó là hiểu lư vô thường. Chớ nói vô thường rồi buông tay chờ chết là trái với ư của đức Phật dạy. V́ vậy cho nên, chúng ta hiểu rơ được tinh thần đó, hiểu được lư vô thường rồi, chúng ta mới có thể thương nhau, giúp đỡ nhau mà không có ḷng tham gom góp về ḿnh.

            Đó là tinh thần của đạo Phật.

            Thí dụ chúng ta đi chung một chiếc tàu, chiếc tàu bị giông băo muốn ch́m. Tất cả người trong tàu đều là người thân và biết số phận của ḿnh mong manh rồi. Giả sử lúc đó có người bị sóng nhồi ngă qua ḿnh người kia hoặc là té đạp lên chân người khác. Lúc đó những người bị té vô ḿnh, hoặc bị đạp trên chân có nên giận không? Hẳn là không? V́ lúc đó ai cũng có tâm niệm rằng mạng sống ḿnh không c̣n bao lâu nữa, giận hờn làm chi. Lo sao cho khỏi cái khổ nạn này, th́ giờ đâu mà giận hờn. Đây cũng vậy. Nếu chúng ta hiểu lư vô thường là sao? Như trong kinh Tứ Thập Nhị Chương đức Phật hỏi các vị Tỳ-kheo: “Mạng người sống được bao lâu?” Một thầy Tỳ-kheo trả lời: “Sống được vài năm.” Ngài nói: “Ngươi chưa hiểu đạo.” Thầy Tỳ-kheo khác trả lời: “Sống được trong một bữa ăn.” Ngài nói: “Ngươi chưa hiểu đạo.” Đến vị sau nói: “Chỉ sống trong hơi thở.” Ngài gật đầu nói: “Ông thấy đạo rồi.” Như vậy thấy đạo là thấy được lư vô thường. Nếu ḿnh thấy mạng sống trong hơi thở, khi hơi thở này c̣n th́ chúng ta phải làm lợi ḿnh lợi người chứ. Mạng sống đă mong manh như vậy, tại sao ḿnh c̣n ôm ấp giận người này buồn người kia, trách người nọ. Như vậy có phải tự ḿnh giết ṃn ḿnh hay không? Mà giết ṃn một cách vô ích. V́ chúng ta biết lư vô thường nên phải vươn lên, phải làm lợi ḿnh lợi người, đừng sơ sót một giờ phút quí báu nào hết. Đó mới là hiểu được tinh thần vô thường. Biết vô thường mà tinh tấn như cứu lửa cháy đầu. Quư vị thấy có ai bị lửa cháy đầu mà c̣n đi chơi thong thả hay không? Hay phải tay quơ miệng la đủ thứ hết. Đâu có thể chần chờ được. Chính chúng ta cũng vậy. Nhận được lư vô thường của Phật dạy, chúng ta phải tỉnh giác phải cố gắng làm lợi ích cho ḿnh cho người. Đó là tinh thần vô thường. Tôi đă nói cái khổ đế và tập nhân của khổ đế.

            Tiếp theo đây là diệt đế và đạo đế, tức là diệt được hết tập nhân. Tập nhân là ǵ? Là tham sân si. Nếu diệt được th́ an nhiên tự tại, đó là Niết-bàn. Muốn diệt được hết tập nhân phải làm sao? Tức là phải tu Ngũ căn, Ngũ lực, Thất bồ đề phần, Bát chánh đạo v.v... Đó là những phương pháp diệt hết mầm đau khổ. Như vậy thấy rơ pháp tứ đế th́ chứng được quả A-la-hán. Đó là cái giác ngộ của bậc thánh, nhà Phật gọi là hàng thánh nhị thừa.

            Tiến lên một bậc nữa có những vị ra đời ở thế gian mà không gặp Phật pháp, không nghe được pháp Tứ đế của Phật, bỗng nhiên thấy những cuộc hưng suy của cuộc đời hoặc là thấy mùa thu lá rụng, mùa xuân cây cối đâm chồi nẩy lộc v.v... tức là sự doanh hư tiểu trưởng của sự vật rồi tự nhiên giác ngộ được lư vô thường. Đó là bậc Độc giác. Tự ḿnh giác ngộ không qua lời Phật dạy, khỏi nghe giáo lư mà được giác ngộ. Kế đến là bậc Duyên giác. Có những hàng nghe đức Phật nói về mười hai nhân duyên: vô minh duyên hành... cho tới lăo bệnh tử. Mười hai nhân duyên đó như sợi dây chuyền nó liên kết không rời. Thấy rơ được lư mười hai nhân duyên tiến tu để được giải thoát đó gọi là bậc Duyên giác. Như vậy chúng ta thấy là A-la-hán là Duyên giác cũng gọi là người giác ngộ, giác ngộ, ở khía cạnh này hay ở khía cạnh khác.

            Cho tới giác ngộ cứu kính mà ở đây chúng ta đang thực hành. Giác ngộ của hàng Bồ-tát như trong các kinh: kinh Pháp Hoa, kinh Lăng Nghiêm, kinh Niết-bàn v.v... là chỉ cho giác ngộ cứu kính của đạo Phật. Giác ngộ cứu kính đó là giác ngộ thế nào? Bởi v́ hàng Nhị thừa chúng tôi thường gọi là Thanh văn hay Duyên giác đều là nằm trong các pháp đối đăi. Như hàng Thanh văn th́ thấy có KHỔ, TẬP là nhân quả của luân hồi. DIỆT, ĐẠO là nhân quả của giải thoát. Tức là bên này là luân hồi, bên kia là giải thoát, có đối đăi. Hàng Duyên giác cũng vậy, thấy mười hai nhân duyên đi chiều thuận là luân hồi. Ngược lại đi chiều hoàn diệt là giải thoát, tức vô minh diệt th́ hành diệt v.v... Như vậy cũng là ở trong đối đăi mà ở trong đối đăi th́ giác ngộ đó chưa phải là cứu kính, theo tinh thần kinh Niết-bàn.

            Cho nên trong kinh Niết-bàn có thí dụ gọi “Xuân tŕ thập lịch”. Tức là mùa Xuân lặn dưới ao ṃ lên một ḥn sỏi, ḥn gạch. Xuân tŕ là cái ao mùa Xuân, thập lịch là lượm gạch hay ngói. V́ trong đó đức Phật nói: Thí như mùa Xuân ao nước trong, có một số người bơi thuyền ở dưới ao chơi. Bỗng nhiên có người cầm ḥn ngọc quí buông tay rớt xuống ao. Rớt rồi bao nhiêu người lặn xuống ṃ. Có người được ḥn sỏi, mừng quưnh đưa lên nói tôi được ngọc rồi, nhưng giơ tay lên là ḥn gạch chớ không phải ngọc. Khi nhiều người ùa nhau lặn ṃ, nước đục ngầu, không thấy được ḥn ngọc. Kẻ nắm gạch, người nắm ngói ǵ đó v.v... đưa lên hô là được ngọc mà sự thật không phải. Người khôn ngoan chờ cho nước lắng lặng trong trẻo, mắt nh́n kỹ thấy viên ngọc đang ở chỗ nào, nhảy xuống một cách từ từ, lượm lên nói tôi được ḥn ngọc, th́ chừng đó mới là ngọc thật. Như vậy thí dụ đó nói cái ǵ? Tuy hàng Thanh văn Duyên giác cũng thấy được đạo, ngộ được đạo, nhưng mà giác ngộ ở một khía cạnh của sự đối đăi, cũng như người lặn xuống ao lượm được gạch tưởng là ngọc. Chỉ có Bồ-tát là sáng suốt, đợi nước trong trẻo thấy rơ ràng ḥn ngọc nó nằm ở chỗ nào, mới lặn ngay chỗ đó nắm đưa lên. Chừng đó mới là ngọc thật. Các hàng Bồ-tát không ṃ ngọc trong khi nước c̣n đục, mà đợi nước trong rồi tự ḿnh thấy ngọc, thấy rồi mới nắm lấy được ḥn ngọc. Quí vị nhớ trong kinh Pháp Hoa, đức Phật nói: các hàng Thanh văn được Niết-bàn. Niết-bàn đó đức Phật cho là ǵ? Là “Hóa thành” là cái thành Hóa ra để tạm nghỉ chớ không phải là thật. Mà thật th́ phải tới “Bảo sở” tức là tới nơi chân chánh, mới là thật. Đó là để thí dụ cho Bồ-tát.

            Như vậy tại sao tôi nói thí dụ đó? Bởi v́ hàng Bồ-tát dụ cho người ngồi trên thuyền đợi nước trong thấy ḥn ngọc nằm ngay chỗ nào, rồi mới lặn nhè nhẹ, từ từ đến ngay chỗ đó nắm lên. Chừng đó mới thật là được ḥn ngọc. Nói tóm lại thấy rồi mới nắm lên. Như vậy đúng là tinh thần của Thiền tông gọi là KIẾN TÁNH KHỞI TU. Thấy được cái đó rồi mới khởi tu, đó là tinh thần cứu kính của Phật giáo. V́ Phật giáo đi đến chỗ cứu kính không c̣n đối đăi. C̣n đối đăi là chưa đến giác ngộ cứu kính. Thế nên trong kinh Bát-nhă mở đầu cho Đại thừa nói: “Sắc bất dị không, không bất dị sắc, sắc tức thị không, không tức thị sắc.” Mới nghe không ai hiểu ǵ hết, ǵ mà sắc sắc không không. Nhưng sự thật đó là một lẽ thật cứu kính, bởi chúng ta mê lầm, nh́n tướng trạng thô, thấy cái bàn này gọi là sắc, c̣n ở chỗ trống này gọi là không. Ḿnh cho sắc với không là hai cái khác nhau. Phải vậy không? Đây là sắc, đây là không, hai cái khác nhau, một cái có tướng trạng có h́nh dáng sờ mó được, c̣n một cái trống rỗng không có ǵ hết. Đó là chỗ chúng ta thường lầm. Chỗ trống không chúng ta cho đó là không nhưng con mắt Phật giáo không phải vậy. Ngay cái có nó có cái không, ngay cái không đă có cái có. Cái có thô thiển này chúng ta nh́n thấy một h́nh sắc dầy đặc, nhưng với kính hiển vi mấy trăm lần th́ chúng ta thấy nó thưa hở. Như gương mặt chúng ta thấy như láng, nhưng với kính phóng đại vài chục lần thôi th́ sẽ thấy nó sần sùi, có hang lỗ. Như vậy nó có hay là không có là tại con mắt thô hay tế. Nơi h́nh tướng này có lồng cái không trong đó, c̣n ngay chỗ không này có cái sắc trong đó. Như chỗ không này có ánh sáng xuyên qua th́ chúng ta sẽ thấy bao nhiêu là bụi bặm lăng xăng ở giữa này. Như vậy nó đâu phải là không. Nó chỉ không là không tướng trạng thô kệch mà có những tướng vi tế trong đó, chớ không phải là không hẳn. Chúng ta cứ cực đoan cho đây là không hẳn hay có hẳn, thành ra không nh́n tường tận các pháp ở đời.

            Người hiểu đạo thấy trong cái có đă lồng cái không, trong cái không đă lẫn cái có. Thấy như vậy, các Ngài thấy không c̣n có hai riêng rẽ, không c̣n có hai đối đăi. C̣n thấy hai đối đăi là chưa phải thấy cái thật. Nếu tới chỗ thật là không có hai. Mà nói như vậy th́ ai cũng không chấp nhận hết. Tại sao vậy? - Bởi v́ tới giác ngộ cứu kính th́ không hai mà c̣n có hai th́ chưa phải giác ngộ cứu kính. Nhưng mà làm sao quí vị thấy không hai cho được. V́ thế gian này là thế gian đối đăi. Thật ra nếu quí vị xét cho tường tận, thật t́nh c̣n đối đăi th́ chưa phải cứu kính. Tại sao? Bởi v́ cái thể cứu kính nó không hai. Cũng như Phật và chúng ta. Chúng ta thấy Phật là giác ngộ c̣n chúng ta là mê lầm. Phật và chúng ta là một hay hai. Nếu chúng ta thấy Phật và chúng ta là một hay là hai th́ không biết ai trúng ai trật. Thông thường nói nếu không là hai th́ là một chớ ǵ?

            Có thể tôi đi từ từ cho quí vị thấy. Chúng ta thấy đức Phật với chúng ta là hai, v́ Phật là giác mà chúng ta là mê, cho nên là hai. Nhưng mà chúng ta mê là mê cái ǵ? Phật giác là giác cái ǵ chứ? Chính cái đó mới là quan trọng. Tôi thí dụ bây giờ đem vàng làm ra chiếc ṿng tay, và chiếc cà rá. Đây là chiếc ṿng, đây là chiếc cà rá, như vậy quí vị thấy hai hay là một? Đương nhiên là hai rồi, ṿng khác cà rá khác. Đó là ta nh́n trên giả tướng của hai món đó. Nếu nói về thể, hai món đó là một hay là hai? - Là một. Như vậy trên hai cái, thể cà rá và ṿng cũng là vàng thôi. Vàng có một có hai không? Vàng là vàng nó không có một hai. Có một hai là lập ra để đối đăi chiếc cà rá là một chiếc ṿng là hai, chớ vàng là vàng không có một, hai. Thành ra một hai là đối đăi trên giả tướng của hai món đồ thôi. C̣n cái thể của món đồ là vàng không nói một hai. Nói một hai là nói cái giả tướng. Cho nên c̣n có một hai là c̣n trong đối đăi. V́ vậy mà có vị Tăng hỏi vị Thiền sư: “Phật và chúng sanh là một hay là hai?” Ngài trả lời:

                        Duy dư nhất đoá tại

                        Minh nhật khủng tùy phong.

            Dịch:

                        Chỉ c̣n thừa một đóa

                        Ngày mai ngại gió rơi.

            Ngài không nói hai hay một mà nói bây giờ tôi chỉ thấy c̣n thừa một đóa hoa, ngày mai e gió cũng rụng luôn. Như vậy giai đoạn đầu thấy Phật và chúng sanh là hai, nhưng bước vào giai đoạn kế thấy Phật và chúng sanh không là hai nữa, nên gọi là một. Mà cái một đó tạm thời thôi, chớ cái một đó không phải là cứu kính. V́ cái một đó tạm đặt với cái hai, đến cứu kính một cũng không c̣n. Cho nên bây giờ tạm thấy c̣n một đóa hoa, ngày mai gió thổi, nó cũng rơi luôn không c̣n nữa. C̣n nói một là nói tạm chớ nó không thật. C̣n nói một là đối với hai. Tới chỗ cứu kính th́ cái hai không c̣n nữa. Nói như vậy cho quí vị thấy chỗ giác ngộ đó cần phải thấy như thế. Cho nên Thiền tông kể rằng sau khi ngộ đạo, đức Phật nói như trong kinh Hoa Nghiêm chép: “Lạ thay! Lạ thay! Tất cả chúng sanh đều có đầy đủ trí tuệ đức tướng Như Lai, v́ bị vọng tưởng mê lầm che lấp không thấy, không hiểu không biết.”

            Ngài thấy rơ chúng sanh ai cũng đều có trí tuệ đức tướng Phật hết. Như vậy thành Phật là thành cái chúng sanh sẵn có. Ngộ đạo là ngộ cái sẵn có ở chúng sanh, và chúng sanh mê là mê cái sẵn có mà quên đi. Cái ḿnh sẵn có mà quên đi gọi là mê. Thành Phật không có ǵ lạ, là nhận được cái sẵn có của chính ḿnh. V́ vậy có một vị Thiền sư ở trong hội ngài Qui Tông, nửa đêm la: “Tôi ngộ rồi, tôi ngộ rồi.” Trong đại chúng ai cũng lấy làm lạ không biết ông ấy ngộ cái ǵ? Sáng hôm sau ngài Qui Tông lên pháp ṭa hỏi: “Vị Tăng hồi hôm nói ngộ rồi ra đây xem.” Vị Tăng bước ra. Ngài hỏi: “Ông thấy cái ǵ mà nói ngộ?” Ông ấy trả lời bằng câu: “Sư cô thị nữ nhân tác.” Nghĩa là: Sư cô vốn là người nữ làm ra chớ không có ǵ lạ hết. Ngài Qui Tông gật đầu nói: Chính ông ngộ.

            Như vậy ngộ là cái ǵ? Thường thường chúng ta tưởng ngộ là ngộ cái ǵ ở bên trời kia, chớ không ngờ chính ngộ là ngộ cái sẵn có của ḿnh. Ḿnh cứ nói thành Phật là có hào quang rực rỡ hay có ǵ lạ. Những cái đó phải có mới là Phật, không ngờ thành Phật là SỐNG LẠI VỚI CÁI SẴN CÓ CỦA CHÍNH M̀NH. Cái sẵn có của chính ḿnh, nếu ḿnh sống được với chính nó, ḿnh trở về với chính nó, đó gọi là giác ngộ thành Phật. Tại sao vậy? V́ cái ḿnh có mà ḿnh bỏ quên gọi là mê, giờ đây ḿnh biết được gọi là giác. Giác tức là ngộ. Người giác ngộ tức là Phật, chớ không có ǵ lạ hết.

            Như vậy nói ni cô tưởng đâu cái ǵ xa lạ linh thiêng cao cả, nhưng sự thật ni cô vốn là một cô gái. Bây giờ cạo đầu mặc áo thành sư cô chớ có ǵ lạ đâu? Nói Phật, tưởng Phật ở đâu và có ǵ lạ đời, không ngờ cũng chính là cái sẵn có của ḿnh chớ không phải đâu lạ. Cho nên một vị khác, sau khi ngộ đạo cũng làm bài thơ, câu chót ông nói rằng: Lư Bạch nguyên lai thị tú tài. Tức là ông Lư Thái Bạch, nhà thơ ai nghe nói cũng nể. Mà xét kỹ lại  ông cũng chỉ là ông tú tài như bao nhiêu ông tú tài khác, chớ không có ǵ lạ. Chính cái  đó là để chỉ cho cái ngộ là ngộ cái sẵn có của ḿnh. V́ vậy đức Phật sau khi thành Phật, Ngài nói: “Ta là Phật đă thành, các ngươi là Phật sẽ thành.” Bởi v́ Ngài có cái đó, tất cả chúng sanh cũng có cái đó. Không phải Ngài ngộ cái ǵ khác, mà ngộ ngay trong thân tứ đại ngũ uẩn này là cái thân vô thường sanh diệt, có sẵn cái không sanh không diệt. Nhận được cái không sanh không diệt nơi ḿnh gọi đó là ngộ đạo, chớ không phải t́m cái ǵ xa xôi. Mà cái không sanh không diệt đó nơi phàm phu cũng có. Cũng như sư cô có sẵn ở những cô cư sĩ đầu có tóc, chớ có ǵ lạ đâu. Chỉ cần một khi nào đó thay đổi h́nh thức, đổi thay tâm niệm là thành sư cô chớ ǵ? Như vạây không có ǵ xa lạ, mà ḿnh tưởng cái đó ở đâu, từ phương trời nào đến. Thế nên tinh thần giác ngộ của đạo Phật là giác ngộ ngay cái thực tế hiện tại. V́ vậy người giác ngộ rồi th́ không c̣n thấy hai. Đó mới là giác ngộ cứu kính.

            Không thấy hai cho nên không nghĩ rằng cơi ḿnh đây là cơi Ta-bà khổ, c̣n cơi Cực Lạc là cơi Phật A-di-đà an vui. Quí vị có nghĩ bỏ cơi này chạy qua bên kia vui hay không? Nếu ngay trong cơi khổ, khéo biết th́ ḿnh được vui rồi. Ḿnh mê th́ tạo nghiệp xấu xa là khổ. Ngay trong cái khổ mà biết chuyển hướng, biết thay đổi tâm niệm, biết làm những điều lành điều phải, biết chia cơm xẻ áo với mọi người, biết sống trong t́nh đoàn kết anh em, tự nhiên ḿnh vui. Cái khổ là cũng tự ḿnh tạo, tự ḿnh có những tham, tự ḿnh có những sân, tự ḿnh có những si, rồi ḿnh đau khổ. Phải vậy không? Nếu dẹp bỏ tham sân si rồi, ngay cơi này có phải là cực lạc hay chưa? Vậy có nên t́m cực lạc bên kia hay không? Nếu chúng ta thấy bên kia là Cực Lạc, bên này là Ta-bà, là c̣n thấy hai. Mà c̣n thấy hai là c̣n thấy đối đăi, chưa là lẽ thật. Vậy người hiểu đạo đúng theo tinh thần Đại thừa là ngay ở trong các cảnh khổ, ngay trong cái chỗ mà người ta cho là xấu xa ḿnh khéo chuyển thành an lạc, tốt đẹp, chớ không phải bỏ đây cầu kia.

            Đó là tinh thần đạo Phật. Đạo Phật không có bỏ để trốn để cầu. Có nhiều người lầm nghĩ rằng ḿnh tu là phải trốn thiên hạ, phải bỏ hết những cái ǵ đâu đâu. Đó là lầm lẫn. Tu là chính ḿnh phải thay đổi những cái tâm xấu xa của ḿnh là tham sân si. Nếu chuyển được tham sân si th́ Ta-bà thành Cực Lạc. C̣n không chuyển được tham sân si, ôm tâm niệm tham sân si, cầu về Cực Lạc, Cực Lạc cũng biến thành Ta-bà. V́ c̣n tham sân si, th́ ở đâu cũng rầy lộn đánh lộn. Mà rầy lộn đánh lộn, giành giựt đó là gốc của Ta-bà. Cho nên chúng ta chuyển đổi được tâm niệm tham sân si th́ ngay Ta-bà thành Cực Lạc. C̣n không chuyển đổi được tâm niệm tham sân si th́ Cực Lạc biến thành Ta-bà. Đó là sự thật cho nên hiểu đạo th́ chúng ta nên hiểu như vậy. Ngay trong cuộc đời này, dù ở trong hoàn cảnh nào đi nữa, chúng ta cũng vẫn an vui. Chúng ta thấy đây không phải là khổ, chính đây nếu ta khéo chuyển th́ cơi này là cơi Cực Lạc, chớ không phải chờ về Cực Lạc mới thấy Cực Lạc. Như vậy tinh thần đạo Phật đến chỗ cứu kính giác ngộ mới thấy rằng chính ḿnh và mọi người, chính ḿnh và các hoàn cảnh đều không phải là vấn đề hai ba. Ngay nơi tâm niệm ḿnh chuyển hướng hết những cái xấu xa của ḿnh th́ hoàn cảnh nào cũng là hoàn cảnh tốt đẹp. Ở trong chỗ nào cũng là chỗ tiến bộ, chớ không phải xấu xa. Xấu xa chính v́ cái ấp ủ tham lam, ấp ủ sân si của ḿnh nên thấy xấu xa. Dứt hết những cái đó th́ tự nhiên nó sáng sủa tốt đẹp.

            Thế nên các Thiền sư lúc nào cũng thấy cơi đời là đẹp. Đẹp như một bài thơ. Tại v́ thấy ở đâu cũng là tốt, ở đâu cũng là sáng sủa. C̣n chúng ta v́ mang cặp kính ủ rũ buồn bă, nên thấy cái ǵ cũng buồn. Phải vậy không? Nếu ḿnh mang cặp kính tươi sáng trong ḷng, nh́n cái ǵ mà không vui. Phải vậy không? Khi nào trong quí vị tâm hồn đương ưu tư buồn bă th́  nh́n thấy cái ǵ cũng buồn bă theo. Nếu tâm hồn quí vị sáng suốt phấn khởi vui vẻ th́ nh́n cái ǵ chẳng vui vẻ. Cho nên chúng ta cần tạo một tâm hồn vui vẻ sáng sủa và tỉnh giác th́ ngoại cảnh theo đó mà sáng sủa. Nó không c̣n tối tăm mờ mịt nữa. Tối tăm mờ mịt đó là cái mê đen tối của tham sân si, chớ không phải ǵ khác.

            Hôm nay là ngày Phật hoan hỉ tôi nhắc lại những điểm then chốt cho tất cả quí vị cùng chúng tôi, mọi người chúng ta đều nỗ lực vươn lên. Làm sao luôn luôn tỉnh giác từ thấp lên cao và luôn luôn với tâm niệm cầu tiến lợi ḿnh lợi người để cho chính ḿnh càng ngày càng được an vui, xă hội càng ngày càng thêm tốt đẹp. Đó mới là tinh thần giác ngộ của đạo Phật.

]


 

PHÁP TU CĂN BẢN CỦA PHẬT TỬ (PHẬT PHÁP HÓA NHÂN GIAN)

 

            Đa số người xưng là Phật tử mà không biết rơ đường lối tu hành, ai bày sao làm vậy, trở thành mê tín sai lầm, khiến người đời phê b́nh đạo Phật là huyền hoặc, là vô ích. Để bổ cứu những sai lầm ấy, chúng ta phải biết rơ đâu là pháp tu căn bản phải hành, đâu là lối tu siêu thoát phải đến. Ứng dụng Phật pháp ngay trong cuộc sống thực tế của chúng ta, để minh chứng rơ ràng đạo Phật cứu khổ thật sự, đạo Phật mang hạnh phúc cụ thể lại cho con người. Được thế, chúng ta mới khỏi hối hận là đệ tử của Phật mà làm nhục nhă cho đạo Phật.

PHÁP  TU  CĂN  BẢN

            Bước đầu trên đường tu hành của người Phật tử, phải “chuyển ba nghiệp ác thành ba nghiệp lành”. Ba nghiệp là thân miệng ư của chúng ta. Khi xưa chưa biết tu, chúng ta buông lung thân miệng ư làm những việc xấu xa tàn bạo độc ác. Đă tạo những điều xấu xa tàn bạo độc ác là làm đau khổ cho ḿnh, cho người, cho gia đ́nh, cho xă hội. Những kẻ cướp của giết người sớm muộn ǵ cũng ngồi khám, cha mẹ vợ con ở nhà đau khổ, gia đ́nh của nạn nhân cũng khổ đau, chánh quyền cũng phải bận tâm điều tra truy nă. Chỉ một việc làm cuồng dại độc ác của một vài người, khiến guồng máy xă hội bị rối bời. Hành động ấy gọi là tạo nghiệp ác. Ngày nay biết tu, chúng ta chuyển thân miệng ư làm việc tốt đẹp thanh cao hiền thiện. Thấy người trên đường bị tai nạn xe cộ, mà không có thân nhân, chúng ta thành thật xót thương, dùng lời hiền ḥa an ủi, đích thân săn sóc chở đến bệnh viện... đây là tạo nghiệp lành. Làm được việc lành bản thân chúng ta đă vui, người bị tai nạn cũng bớt khổ, người chung quanh trông thấy cũng tán thành. Hành động lành này là cụ thểø xây dựng xă hội tốt đẹp. Hành động xấu mà cứ lặp đi lặp lại măi là nghiệp ác, v́ đă thành thói quen khó sửa đổi. Ví như người uống rượu, uống một vài lần không thành ghiền (nghiện), ngày nay uống ngày mai uống, uống nhiều ngày như vậy thành người ghiền rượu. Cái ghiền là thói quen, gọi là nghiệp. Người thấy ai thiếu thốn liền giúp đỡ, lúc nào cũng thế, lâu ngày thành thói quen là nghiệp lành. Cũng là thói quen, một thói quen đưa đến đau khổ, một thói quen khiến đến an lạc. V́ thế, người Phật tử phải tránh thói quen đau khổ, phải tạo thói quen an lạc, đó là tu chuyển nghiệp ác thành nghiệp lành. Kẻ ngu muội mới t́m hạnh phúc trên đau khổ của người khác, người sáng suốt chỉ thấy hạnh phúc khi giúp người khác hết khổ.

QUAN  NIỆM  SAI  LẦM

            Có nhiều Phật tử phát tâm qui y chỉ v́ cầu cho gia đ́nh b́nh an, cuộc sống được mọi sự như ư. V́ thế, gia đ́nh có người bệnh hoạn hay xảy ra tai nạn ǵ th́ thỉnh thầy cầu an. Nếu thầy bận việc không đi th́ phiền năo, giận không đi chùa. Trong cuộc sống gặp nhiều điều bất như ư th́ buồn, cho rằng Phật không hộ độ. Nghe miếu Bà, miếu Ông nào linh ứng liền đến đó cầu xin. Chỉ v́ mong được b́nh an mà đi chùa, đến với đạo, khi mục đích ấy không thành th́ họ bỏ đạo dễ dàng. Lại có những người sau khi qui y rồi th́ mọi việc đều giao phó cho thầy, cất nhà cũng thỉnh thầy coi ngày, gả cưới con cái cũng thỉnh thầy xem tuổi, đau ốm bệnh hoạn cũng thỉnh thầy cầu an, ma chay cũng thỉnh thầy cầu siêu. Thầy là người chịu mọi trọng trách trong gia đ́nh, nếu thầy không chiều theo là buồn, không đi chùa. Lối qui y này, giống hệt đi đóng tiền bảo hiểm cho cá nhân và gia đ́nh vậy.

            Lại có những người tu một cách hời hợt, chỉ biết giờ tụng kinh, giờ niệm Phật, ngày ăn chay là tu. Ngoài những giờ đó ra, mọi việc đều như ai, ăn miếng trả miếng không thua kém. Một ngày mười hai giờ, chúng ta chỉ tu có một hai giờ, làm sao đủ? Mười giờ tạo ác, hai giờ tu thiện th́ quá ít oi. Hoặc một tháng ăn sáu ngày chay, chỉ tu trong sáu ngày này, c̣n hai mươi bốn ngày kia không tu th́ có thấm vào đâu. Có khi ai lỡ xúc phạm đến họ trong những ngày chay, họ sẽ nói “hôm nay tôi ăn chay, nếu không ăn chay th́ biết!” Tu như thế, quả thật rất hời hợt.

            C̣n tệ hại hơn, có người sợ tu thiền đổ nghiệp. Mỗi khi phát nguyện tụng kinh Pháp Hoa chẳng hạn, ở gia đ́nh có xảy ra tai biến ǵ, liền đổ thừa tại tụng kinh đổ nghiệp. Không biết đổ nghiệp là rơi rớt hết hay sanh ra nghiệp? Nếu đổ nghiệp là rơi rớt hết th́ cố gắng tụng cho nó rớt sạch luôn. Nếu đổ nghiệp là sanh ra nghiệp th́ điều này thật là vô lư. V́ giờ tụng kinh th́ ba nghiệp thanh tịnh - thân nghiêm trang là thân nghiệp thanh tịnh  miệng tụng lời Phật là khẩu nghiệp thanh tịnh - ư duyên theo lời kinh là ư nghiệp thanh tịnh - làm sao sanh ra ác nghiệp được? Tin như thế thật là hoàn toàn vô căn cứ. Người Phật tử phải sáng suốt không nên tin theo lối nhảm nhí ấy.

TU  LÀ  TUYÊN  CHIẾN  VỚI  MA  QUÂN

            Người phát tâm tu hành như một chiến sĩ tuyên chiến với ma quân. Chúng ta phải hùng dũng quyết chiến. Trước tiên, chúng ta chiến đấu với bọn ma phiền năo nghiệp chướng của ḿnh. Ví như người vừa phát nguyện tu hạnh nhẫn nhục, liền bị người thóa mạ, tâm sân hận nổi lên, ngay đây phN