|
ĐẠO PHẬT VỚI TUỔI TRẺ Lâu nay đa số người Việt Nam cho rằng: Đạo Phật là dành riêng cho các bậc già nua tuổi tác, nhờ câu kinh tiếng kệ an ủi những ngày tàn; hoặc kẻ bị t́nh đời đen bạc hay người đă mấy phen vấp ngă trên bước công danh quay về nương tựa cửa thiền, nhờ giọt nước cành dương rưới dịu đôi phần sầu hận; hoặc những người đau ốm tật nguyền sống thừa thăi ngoài xă hội về núp bóng từ bi, nhờ hột cơm, manh áo của đàn-na tín thí để đỡ phần cơ cực... Quan niệm ấy đă ăn sâu trong tâm năo dân chúng, nên khi thấy một thanh niên cạo tóc xuất gia, hoặc đến chùa lễ Phật th́ họ xầm x́ cho là chán đời, là bi quan, là trốn nợ xă hội. Nhưng họ đâu ngờ đạo Phật là “đạo của tuổi thanh xuân đang căng nhựa sống và tha thiết yêu đời”. Nói thế, không phải cố g̣ bó đạo Phật cho gần với tuổi trẻ, mà v́ thật tánh của đạo Phật rất thích hợp với hàng hoa niên. Sự thích hợp ấy bởi những điểm: * Thanh tịnh: Đạo Phật cốt đào luyện tâm hồn người hoàn toàn trong sạch, nên cực lực sa thải những tính: tham lam, sân hận, oán thù... đang trú ẩn trong tâm giới người. Nhưng từ lúc thanh niên, người ta phải cất ḿnh ra khỏi cổng nhà cha mẹ, bắt tay vào việc cạnh tranh, chiến đấu với đời, từ đó những tánh xấu, tham lam, sân hận... càng ngày tập nhiễm càng sâu, đến đen tối cả tâm hồn. Lúc tuổi già muốn gột rửa nó là cả một sự khó khăn. Như chiếc áo trắng đă nhuộm chàm, muốn giặt tẩy trắng lại không phải là việc dễ. Trái lại, tuổi thiếu niên tâm hồn c̣n trong trắng, những tính xấu nếu có, cũng chỉ một vài điểm nhỏ thôi. Nếu họ sớm biết thức tỉnh quyết tâm tẩy trừ th́ rất dễ dàng, như chiếc áo trắng vừa vấy vài vết nhơ, giặt tẩy rất mau sạch. V́ thế tuổi thiếu niên rất thích hợp với đức thanh tịnh của đạo Phật. *Chân thật: Đạo Phật là đạo như thật, người tu theo đạo Phật cần phải xa ĺa những điều giả dối để trở về với sự thật. Phật cấm nói dối và dạy quán vô thường, bất tịnh, khổ... đều nhắm mục đích này. Tuổi trẻ là ngây thơ chất phác, nghĩ sao nói vậy, nên ít biết dối trá xảo quyệt; nhưng đến lúc thành niên, để bắt chước theo thói xă giao, hoặc v́ sự mưu sanh, người ta lần lần tập nhiễm những điều xảo trá và xa dần sự thật. Khi đi xa mà muốn quay về là nhọc nhằn hơn lúc ở gần; v́ thế tuổi trẻ c̣n chất phác, nhiều thành thật, nên rất gần với đạo Phật. *Từ bi: Đạo Phật là đạo Từ bi, là đạo cứu khổ chúng sanh bằng mọi phương tiện và mọi h́nh thức. Người tu theo đạo Phật là hy sinh đời ḿnh để mưu hạnh phúc cho chúng sanh, và mở tâm lượng bao la trùm tất cả mọi loài trong t́nh thương b́nh đẳng. Với tâm lượng ấy, với chí hy sinh ấy, người lưng c̣ng, má cóp có thể đảm đang nổi chăng? Người ốm đau bệnh tật có thể gánh vác được không? Và người thực hiện được điều này có thể gọi là bi quan yếm thế chăng? - Cố nhiên phải là người niên tráng lực cường, thân h́nh căng đầy nhựa sống, mới đủ khả năng sớt cơm, chia áo và gánh vác những điều khó khổ nhọc nhằn cho chúng sanh. Hơn nữa, tuổi thiếu niên là tuổi phóng tầm mắt nh́n khắp vũ trụ bao la và muốn ôm cả nhân loại vào ḷng; nhưng đến khi đă cột ḿnh trong bổn phận làm vợ, làm chồng, làm cha, làm mẹ... th́ chí cả ấy bị đóng khung trong gian nhà chật hẹp của gia đ́nh, rồi dần dần nó bị tiêu ma như hạt sương tan theo dưới ánh nắng. Đang khi tâm hồn khoáng đăng của tuổi thanh xuân mà gặp được t́nh thương vô bờ bến của tâm lượng Từ bi th́, ôi! Sung sướng nào hơn nữa? *Tinh tấn: Phật quả là một quả vị vô thượng. Người muốn đạt được quả vị này phải trải lắm công phu nhọc nhằn khổ sở, với thời gian dài đằng đẵng, đâu phải tu một sớm một chiều mà chứng được, trừ những bậc Bồ-tát thị hiện. Công tŕnh tu tập như một bộ hành trèo núi cao mấy mươi cây số; muốn đến được đỉnh, người bộ hành phải dẫm qua lắm đoạn đường chông gai, đá sỏi, vượt qua nhiều vách đá cheo leo và trải qua những đèo cao, hố thẳm, nhiên hậu mới mong ngồi bóng mát trên đầu non chót vót và ngắm xem bức sơn thủy muôn màu ngàn sắc của trần gian. Như vậy, muốn thực hiện được công phu này, phải đ̣i hỏi ở người có cặp chân cứng rắn, đôi mắt tinh anh, sức lực dồi dào và đủ tinh thần quả cảm. Thanh niên là tuổi máu nóng đang lên, nhựa sống căng thẳng, đời sống c̣n dài, nên dễ thực hiện được công tác này. Đức Thích-ca ngày xưa nếu đợi sáu, bảy mươi tuổi mới đi tu, chắc ngày nay chúng ta không biết được mùi pháp vị là ǵ. *Trí tuệ: Đức Phật là đấng đă giác ngộ. Người tu theo đạo Phật là noi theo con đường sáng suốt của Ngài đă qua để đến thành tŕ giác ngộ. Muốn được giác ngộ cần phải có trí tuệ, v́ trí tuệ là ánh sáng quét sạch màn đêm và soi tỏ mọi vật, khiến chúng hiện bày chân tướng dưới mắt người. Tuy nhiên, muốn có trí tuệ ta cần phải có thân h́nh tráng kiện, như nói: “Một tâm hồn sáng suốt trong một thân thể tráng kiện”; hay ngược lại, cũng thế. Như vậy tuổi trẻ rất dễ phát khởi trí tuệ, người già yếu trí tuệ cũng bị ảnh hưởng phải lu mờ. Bằng chứng, cùng một bài học mà người trẻ học mau thuộc, người già học rất lâu. Do đấy nên tuổi trẻ là tuổi rất thích hợp với đạo Phật. Mặc dù đạo Phật rất thích hợp với tuổi trẻ, nhưng với bậc lăo thành, với người khổ sở, với kẻ chán đời... vẫn được đạo Phật tiếp độ. V́ đạo Phật là đạo b́nh đẳng, giáo lư Phật là giáo lư phổ biến vậy. Mái tóc xanh gần đạo Phật ở đức thanh tịnh... th́ người đầu bạc cũng nhờ đức “tín” của đạo Phật mà vui vẻ những ngày tàn. Tuổi hoa niên thể theo đức từ bi mở rộng ḷng thương, th́ người khổ sở cũng nhờ bàn tay từ bi ấy xoa dịu đôi phần đau khổ. Hàng tráng niên đến với đạo Phật là cầu giác ngộ, cầu thành Phật quả; người chán đời đến với đạo Phật để nhờ câu kinh thâm diệu, nhịp mơ trầm hùng, tiếng chuông cảnh tỉnh mà lần lần cổi sạch mọi nỗi oán hờn. Tóm lại, đạo Phật là đạo chung tất cả, nhưng thích hợp nhất là tuổi trẻ. V́ tuổi trẻ mới có đủ phương tiện thực hiện triệt để giáo lư cao siêu của Phật, và tuổi trẻ mới đủ bầu nhiệt huyết hăng hái quả cảm trên con đường tự giác, giác tha, dù gặp mọi gian nguy khó khổ. Do đó nên Phật dạy bốn pháp kiên cố đến quả Bồ-đề, “tuổi trẻ biết mộ đạo tu hành” là một trong bốn điều ấy vậy. Tuổi trẻ là tuổi thích hợp với đạo Phật, vậy những bạn thanh niên không nên luống phí thời giờ, phí thời kỳ quí báu ấy, đợi đến khi sức kiệt hơi tàn, có hối tiếc cũng không kịp. Phật dạy: “Ngươi nói: Tôi c̣n trẻ cần phải chơi bời vui vẻ, đến ngày già sẽ tu. Nhưng cái chết có khác nào kẻ cướp cầm gươm bén theo ŕnh rập ngươi, một miếng mồi ngon của nó; như vậy làm sao ngươi chắc mà đợi đến ngày già đặng đưa tâm trí qua đường Đạo đức. (Fo soh hing tsan king) ? ĐỨC HỈ XẢ Sống trên đấu trường nhân loại, trong cơi đời trần tục nhiễm ô, nếu ai cố ôm chặt ḷng thù hận chấp nê th́ không sao tránh khỏi cảnh lầm than đau khổ. Muốn thoát khổ được vui, con người phải gỡ bỏ những mối dây oán hận, tẩy sạch những vết nhơ ô nhiễm trong cơi ḷng ḿnh cho được nhẹ nhàng trong sạch. Phương pháp gỡ bỏ và tẩy trừ ấy là đức hỉ xả. Hỉ xả là vui vẻ tha thứ những lỗi lầm mà người đă phạm đến ta, cũng như vui vẻ bỏ tất cả danh vọng, tài sắc cho đến thân mạng của ta, nếu thấy cần và lợi ích cho chúng sanh. Có tha thứ, ḷng ta mới thênh thang, tim ta mới ḥa nhịp cùng tim của mọi người, có xả bỏ, tâm ta mới thanh thoát và an tịnh. Cuộc đời đen tối và sầu khổ nhất là cuộc đời của kẻ hay cau có, oán thù. V́ kẻ hay cau có th́ trên gương mặt luôn luôn hiện đầy những nét nhăn gay gắt, đôi mi chau lại lộ vẻ khó khăn. Kẻ c̣n ôm nặng khối hận thù th́ lửa hận thù thiêu đốt cả tim gan và buồng phổi của họ. C̣n ǵ khổ đau hơn khi tim gan bị thiêu đốt. C̣n ǵ xấu xí bằng khi gương mặt nhăn nhó, héo sầu. Sống trên đời này, nếu ta gặp điều trái ư liền mang ḷng thù hận, th́ chắc đời ta sẽ thấy toàn thù hận và oán hờn. Như Tư dùng lời thô bỉ mắng Thân, Thân cố trả thù phải dùng lời bỉ ổi hơn, ban đầu c̣n trả thù nhau bằng miệng, kế trả thù bằng tay chân và sau cùng phải trả thù nhau bằng dao, búa. Khi sơ khởi chỉ là mối thù riêng của cá nhân, rồi lan dần đến mối thù chung của gia đ́nh, của thân tộc. Cứ thế, oán thù chập chồng thêm măi biết bao giờ dứt. Đức Phật dạy: “Lấy oán trả oán, oán măi chất chồng; lấy ân trả oán, oán liền tiêu diệt.” Người trong ḷng măi ôm ấp hận thù th́ lúc nào cũng tưởng chừng chung quanh đều là kẻ thù muốn hại ḿnh, v́ vậy họ sống những ngày đầy lo sợ. Chỉ có ai biết lấy ân trả oán mới mong dứt sạch được hận thù. Như người Đ́nh Trưởng nước Lương trả thù người cào dưa ḿnh bằng cách ra công tưới dưa cho người, nhờ đó mà hận thù dứt sạch. C̣n ǵ vui sướng hơn, kẻ có tâm lượng bao dung sẵn sàng tha thứ mọi lỗi lầm cho người. Khi nào trong ḷng ta không c̣n một mảy may thắc mắc, không c̣n một chút bợn hận thù, đó là lúc ta hoàn toàn an lạc. Người mà ḷng được thanh thoát nhẹ nhàng th́ gương mặt vui tươi, lời nói thanh nhă, cử chỉ thư thái, toàn thân hiện ra một phong độ khả ái khả kính. Con người ấy có mấy khi phải buồn khổ, v́ thế nên họ trẻ măi, sống dai. Sách có câu: “Thù ghét là sâu mọt đục khoét người ta, làm cho người ta chóng xấu, chóng già, chóng chết; yêu thương và tha thứ là suối nước cam lồ tưới vào ḷng người, làm cho người tươi đẹp, trẻ dai và sống măi.” Danh vọng, tài sắc... ở đời là những cạm bẫy chực hại người, nhưng v́ nó có công năng hấp dẫn quyến rũ khiến người phải mê mẩn say sưa để rồi chịu khổ, cũng như miếng mồi v́ có mùi thơm hấp dẫn, con lươn phải lao đầu vào hom trúm. Phần đông người đời ngỡ rằng đuổi bắt tài sắc, danh vọng... là hạnh phúc, chớ đâu ngờ càng đuổi bắt nó càng chuốc khổ về ḿnh. Đây, một chàng thanh niên ủ dột ngồi dưới lùm cổ thọ, phải chăng chàng đă trật chân trên nấc thang danh vọng? Kia, một thiếu nữ sầu bi đứng dựa mé sông sâu, phải chăng v́ t́nh duyên ngang trái? Tóm lại, bởi đắm nhiễm sắc, tài, danh vọng... người đời phải luống chịu đau khổ. Dứt bỏ những tham nhiễm là điều không phải dễ, mà dứt bỏ một cách vui vẻ lại càng khó hơn. Nếu ai mắt thấy sắc đẹp, tai nghe tiếng hay... mà ḷng không ái nhiễm, ấy là bực siêu nhân. Ngài Phù Dung Thiền sư nói: “... ngộ thanh ngộ sắc như thạch thượng tài hoa, kiến lợi kiến danh như nhăn trung trước tiết...” Nghĩa là: “... nghe tiếng hay, nh́n sắc đẹp như hoa trồng trên đá, thấy tài lợi danh vọng như bụi rơi vào mắt...” Con người được như vậy mới hẳn là tự tại an vui. Chúng ta nh́n qua tượng đức Di-lặc sẽ thấy năm đứa nhỏ móc tai, chọc mắt... Ngài, mà trên gương mặt Ngài vẫn nở một nụ cười tự tại. H́nh dáng ấy để tượng trưng cho người đă hỉ xả ngũ trần toàn vẹn. Đức Di-lặc không cười sao đặng, v́ ngoại cảnh c̣n ǵ quyến rũ được Ngài, tâm Ngài lúc nào cũng an nhiên th́ quyết định trên gương mặt hẳn luôn luôn hoan hỉ. Tài, sắc, danh vọng... là vật bên ngoài, xả bỏ không lấy ǵ làm khó, đến như thân mạng là cái mà người phàm phu tuyệt đối mến yêu, muốn xả bỏ nó th́ sự khó khăn lại gấp bội phần. Người đời v́ tŕu mến thân nên đă gây biết bao tội lỗi, ngược lại: “Bồ-tát v́ chúng sanh bỏ thân mạng dễ dàng hơn người tham lẫn bỏ một vắt cơm.” (Luận Đại Trượng Phu) Người đă quên ḿnh v́ chúng sanh th́ đối với sự khổ vui c̣n mất của thân ḿnh không đáng kể, như thế là họ đă vượt khỏi cái khổ v́ thân. Lăo Tử nói: “Ngô hữu đại hoạn vị ngô hữu thân, ngô nhược vô thân hà hoạn chi hữu.” Thật vậy, nếu không c̣n thấy có riêng ḿnh th́ c̣n hoạn ǵ làm cho ḿnh khổ. Vui ḷng bỏ thân mạng để cứu độ chúng sanh, đó là đức hỉ xả cứu kính. Tóm lại, hỉ xả những oán thù cho ḷng được nhẹ ḷng thanh thoát, đó là cái vui của phàm nhân. Hỉ xả những tài, sắc, danh vọng... cho tâm được tự tại, đó là cái vui của bậc giải thoát. Hỉ xả thân mạng để cứu độ chúng sanh, làm cho tất cả chúng sanh được an lạc, đó là cái vui của bậc Bồ-tát. Người Phật tử quyết tâm dứt khổ t́m vui, phải tu đức hỉ xả theo thứ tự của nó, hỉ xả một phần là chúng ta được vui một bậc. Đến khi nào hỉ xả toàn vẹn rồi là ta được cái vui cứu kính. Như vậy, vui và khổ không phải do ai đem đến hay ban cho, mà chính ta tự tạo lấy. ] ĐỨC THANH TỊNH Muốn xây dựng một xă hội tốt đẹp mà không lo hoán cải con người, ấy chỉ là việc ṃ trăng đáy giếng. Nhằm mục đích xây dựng xă hội, đạo Phật bắt đầu hoán cải từng cá nhân, chẳng những trong hạng thành niên, mà đến hàng trẻ thơ non dại. Nền tảng tạo thành một con người tốt đẹp là thanh tịnh. Thanh tịnh là trong sạch. Trong sạch không có nghĩa thoát ly ngoài cảnh trần tục, mà chỉ ở ngay trong cơi đời ô trược, nhưng không bị nhiễm ô, thế mới thật là trong sạch. Như hoa sen tuy nằm giữa đống bùn nhớp nhúa, mà hương vị vẫn thơm tho. V́ thế khi nói đến đức thanh tịnh, đạo Phật hằng mượn hoa sen để biểu thị. Đức Phật nghiễm nhiên ngự trên đài sen. Muốn thực hiện đức thanh tịnh, người Phật tử tập dần từ thô đến tế, từ cạn đến sâu theo thứ tự: hành độâng thanh tịnh, ngôn ngữ thanh tịnh, và tư tưởng thanh tịnh. *Hành động thanh tịnh. - Trước nhất người Phật tử giữ ǵn thân thể sạch sẽ, sự ăn mặc vén khéo giản dị, cho đến khi đi đứng phải đoan chính; tránh mọi xa hoa, phù phiếm và vô độ. Mặc một bộ đồ bóng dợn, ướp nước hoa nồng nặc... cử chỉ ấy, đối với người Phật tử vẫn thấy không thanh tịnh chút nào. Người Phật tử lập đức thanh tịnh, không bao giờ ỷ tài năng thế lực đánh đập, lấn hiếp người hay vật khi thấy họ thân cô, thế quả. Càng tránh xa hơn, đối với sự giết hại dù con vật nhỏ bé vô cớ, người Phật tử không nỡ giết. V́ đó là hành động xấu xa. Cho đến một cái nh́n ngạo nghễ, một cử chỉ khinh khi, người Phật tử cũng không khi nào có. Bởi v́ một hành động xấu xa dù lớn, dù bé cũng có thể làm hoen ố đời trắng trong của người Phật tử. Họ tránh xa những cử chỉ xấu như người hiền tránh xa những đám ẩu đả và đôi chối. Những hành động bạo ác, người Phật tử không bao giờ làm, nhưng với cử chỉ lành, hành động tốt, họ tích cực hoạt động. V́ hành động thanh tịnh không phải chỉ bảo thủ riêng ḿnh mà phải cứu giúp nâng đỡ mọi người. Bởi thế nên bàn tay Phật tử lúc nào cũng chực vuốt thẳng những nét nhăn trên trán cho kẻ thảm sầu, thoa dịu những vết thương cho người đau khổ và lau khô gịng lệ lăn trên má của cô nhi... Bàn tay ấy sẽ mở lồng cho đàn chim sắp bị nhổ lông được vỗ cánh tung bay về bầu trời cao rộng, vỗ về một con vật bị người hành phạt đau thương, cho đến lượm gai trên đường rộng và nhặt đá trên lộ quan... Tựu trung, mọi hành động trên đều nhằm mục đích cứu người, cứu vật. *Ngôn ngữ thanh tịnh. - Lời nói là một lợi khí rất sắc bén, nó có thể giết người, giết ḿnh một cách dễ dàng, nếu là lời nói ác. Nên Phật dạy: “Người đời luỡi búa bén nằm sẵn trong miệng, sở dĩ giết ḿnh do lời nói ác.” Lời nói ác không chỉ mắng chửi, trù rủa... mà là nói lời ngọt như đường, êm như nhạc, nhưng để lừa bịp người, cũng là nói ác. Lời nói ác tức là bất tịnh, ô uế, nên người Phật tử không bao giờ để nó thốt ra nơi cửa miệng ḿnh. Nếu lỡ vô t́nh hay bại trận v́ cơn nóng giận đă thốt ra những lời thô ác, người Phật tử lấy làm nhục nhă, xấu hổ, phải chí thành sám hối và tuyệt đối không dám tái phạm. Lời nói có thể là lưỡi kiếm bén giết người nếu trong tay kẻ bạo ác, th́ nó cũng có thể là cây đuốc sáng đưa người ra khỏi rừng mê, hay hoàn linh đơn cứu người trong cơn bệnh ngặt nếu trong tay nhà đạo đức, kẻ từ tâm. V́ thế người Phật tử cấm chỉ nói lời thô ác, nhưng thao thao nói những lời hiền ḥa, êm dịu và chân thật. Rất cần những lời nói hiền ḥa để khỏa bằng hầm hố thù hiềm đă đào sâu giữa ḿnh và người, hoặc người với người. Có những lời êm dịu, ta mới khuyên lơn được những người uất hận khi gặp cảnh nghịch ḷng, kẻ thất chí v́ t́nh đời phụ bạc và tát vơi được phần nào nguồn lệ thảm của người tật nguyền, khốn khổ... Nhờ lời nói chân thật mới xiển dương được chân lư và vạch rơ lẽ chánh tà. Tóm lại, tất cả lời nói có tánh cách giúp ích người, có lợi cho xă hội đều là lời thanh tịnh, người Phật tử phải hằng tập và nói những lời ấy. *Tư tưởng thanh tịnh. - Động cơ chính gây nên tội ác, hoặc khiến đời sống con người phải ngầu đục, nhớp nhơ trong biển sanh tử là tư tưởng; ngược lại, tạo vô lượng phước đức đưa con người đến quả thanh tịnh giải thoát cũng do tư tưởng. Tư tưởng thủ một vai trọng yếu nhất trong đời người. Người nên, hư, tốt, xấu, tiến, thối... đều do tư tưởng quyết định. V́ thế người Phật tử phải gạn lọc đào thải những tư tưởng xấu, tăng trưởng những tư tưởng tốt, để tâm hồn được thanh tịnh. Muốn đào thải những tư tưởng xấu, ta phải anh dũng chiến thắng bọn giặc tham lam, sân hận, tự ái, ngă mạn..., xua đuổi chúng ra ngoài tâm giới ta. Bọn chúng được kêu một danh từ gọn hơn là “phiền năo”, ngày nào bọn phiền năo c̣n lẫn trong tâm ta, th́ ngày ấy trí ta rối loạn, tâm ta vẩn đục. Phiền năo là sóng, là cấu bợn, mà tâm là nước. Sóng dừng, cấu bợn lặng, tức là tâm nước trong. Sự ngầu đục trong tâm hồn ta bởi phiền năo tạo nên, ta có thể dùng một vài bằng chứng để minh xác nó. Một tên bợm móc túi, sở dĩ dám tḥ tay móc túi người trước “thập mục sở thị” là v́ nó chỉ thấy có tiền... hay nói bằng cách khác, nó trở thành tôi mọi của ḷng gian tham sai sử. Nên chi lúc ấy, nó có thấy ǵ tù tội, biết ǵ xấu xa. Một bằng chứng nữa, khi ta gặp cảnh nghịch ư, cơn giận dữ nổi lên, khi đó ta c̣n đủ lư trí suy xét phải quấy nữa chăng, hay mặc t́nh để cho con quỉ giận dữ thúc đẩy? Nếu c̣n suy nghĩ kịp th́ cơn giận tan, bởi đă nô lệ bọn quỉ sân hận, nên mới xảy ra cuộc xô xát bằng miệng, bằng tay. Người Phật tử muốn gạn lọc tư tưởng thanh tịnh quyết phải quả cảm, tích cực thanh trừng bọn giặc phiền năo c̣n trú ẩn trong tâm ḿnh. Chẳng những thế, Phật tử cần tăng trưởng tư tưởng từ bi hỉ xả. Tâm ta chẳng khác một mảnh đất mầu mỡ, nếu không có lúa khoai th́ cỏ dại mọc. Cũng thế, khi ta nhổ hết cỏ dại phải giâm giống lúa khoai, nếu để đất trống th́ cỏ sẽ mọc lại. Trong khi cực lực chiến đấu với những phiền năo, Phật tử không quên tăng cường tâm từ bi, hỉ xả... v́ đó là nước cam lồ để gột rửa những nghiệp cấu bợn phiền năo đang khắn chặt trong tâm hồn ta. Và nó cũng là đám mưa tưới mát muôn loài đang bị lửa phiền năo thiêu đốt. Tóm lại, trong ba món thanh tịnh, tư tưởng là quan trọng hơn cả, do đó người Phật tử tu đức thanh tịnh, xem tư tưởng là phần thiết yếu nhất, gạn lọc tư tưởng thanh tịnh rồi, ngôn ngữ, hành động tùy đó mà thanh tịnh. Như nước ở hồ lọc trong rồi, khi mở ṿi nào cũng đều chảy nước trong cả. * CON NGƯỜI THANH TỊNH HOÀN CẢNH CŨNG THANH TỊNH Một khi thân tâm ta thanh tịnh, hoàn cảnh sẽ tùy thuộc thanh tịnh. Hoàn cảnh không nhất định tốt, xấu, nhơ, sạch tùy hành động tư tưởng con người mà chuyển theo. Một nhóm người văn minh trí thức dù ở nơi thôn dă hoang vắng, nhưng một thời gian cảnh ấy sẽ trở thành tốt đẹp, thị tứ. Trái lại, một bọn người rừng chẳng hạn, cho ở giữa đô thành hoa lệ, một thời gian đô thành ấy sẽ biến ra cảnh nhớp nhúa xấu xa, nếu họ không được cải thiện... Bởi thế, đạo Phật muốn cải thiện xă hội, cải thiện quốc gia trước tiên phải cải thiện con người. Muốn cải thiện con người, đầu tiên phải cải thiện tư tưởng. Như vậy tư tưởng, ngôn ngữ và hành động con người thanh tịnh th́ chính cơi Ta-bà này đă thành Tịnh độ rồi, hay thế giới này chính là thế giới Cực Lạc vậy. Ta muốn sanh về Tịnh độ, th́ chính ta phải thanh tịnh trước đă. Kinh có câu: “Tam nghiệp hằng thanh tịnh, đồng Phật văng Tây phương.” Nghĩa là: “Thân, miệng và ư hằng trong sạch, sẽ đồng như chư Phật sanh về cơi Phật.” Thế mà, có một số người ước mơ sanh về cơi Cực Lạc mà miệng vẫn nói ác, tâm vẫn tham, giận... thật là trái lẽ. Tu bằng cách đó chỉ làm tṛ cười cho thiên hạ mà thôi. Người Phật tử chân chánh không mơ ước ǵ hơn, ước mơ con người ḿnh được thanh tịnh, không tranh đấu nào bằng tranh đấu với phiền năo ở nội tâm. Thắng được phiền năo, toàn thân đều thanh tịnh, thế là vạn vật tùy tâm, sống một cuộc đời tự do tự tại. Từ trên đến đây, đă thấy đức thanh tịnh là căn bản của người tu Phật, chẳng những căn bản của người tu, mà đức thanh tịnh cũng là cội nguồn của một xă hội văn minh; văn minh đúng với thật nghĩa của nó. Cho nên, bất luận trong đạo, ngoài đời nếu ai muốn cải thiện đời ḿnh, cải thiện xă hội đều phải tu tập đức thanh tịnh cả... Nhưng gần nhất và cần yếu nhất là Phật tử, đă biết đi chùa, lễ Phật nghe kinh mà không áp dụng triệt để đức thanh tịnh vào đời sống của ḿnh, thật là phản bội với tên Phật tử. ] ĐỨC TINH TẤN “Tinh” là chuyên, là thuần. “Tấn” là tiến tới. “Tinh tấn” là chuyên cần tiến tới theo một chiều hướng tốt đẹp, lợi ích, sáng suốt và an vui. Người Phật tử tu đức tinh tấn là tiến mạnh, tiến măi trên con đường từ bi xa thẳm, dưới ánh sáng mặt trời giác ngộ. Đức tinh tấn là một sức mạnh cả quyết, quả cảm, quét sạch, dẹp tan mọi trở ngại, mọi khó khăn để tiến tới mục đích tự lợi, lợi tha viên măn. Nếu thiếu đức tinh tấn, con người sẽ là cánh bèo bấp bênh ngoài bể cả, là chiếc lá rơi lảo đảo theo chiều gió đưa! * 1. ĐỨC TINH TẤN CẦN THIẾT CHO CON NGƯỜI Em là một học sinh, buổi tối nọ gặp bài khó, em ngồi đọc năm bảy lượt mà không vô đầu. Thối chí, em vươn vai vài cái, rồi ngáp! Thế là con ma lười biếng sáp nhập vào người em. Khi ấy nếu em không biết dùng ngọn roi thần “tinh tấn” đánh đuổi nó ra, em xếp tập lại, đi xổ mùng xuống rồi đánh ngon một giấc tới sáng. Thế là ngày mai, em phải bị thầy giáo quở phạt, chúng bạn chế nhạo. Một lần em đầu hàng ma “lười biếng”, nhiều lần cũng thế, tức là đời em sẽ đi lần đến chỗ hư! Em là một Phật tử, hôm nay ngày chủ nhật, đúng 7 giờ em phải đi họp tại chùa, nhưng em nhớ những giờ lễ Phật phải qú, đứng trang nghiêm, giờ học giáo lư buồn buồn, em nghe hơi chán. Bỗng thằng Hỉ nhà bên cạnh lại rủ em đi xem chiếu bóng. Nó bảo: Sáng nay có xuất đặc biệt vào lúc 8 giờ, cuốn phim mới, hay, cười nôn ruột... Nếu không biết áp dụng đức tinh tấn vào lúc này, em sẽ theo bạn đi xem chiếu bóng. Đó là em đă bị con quỉ “phóng túng” nhập xác và làm chủ em. Chủ nhật này em trốn, chủ nhật sau em lấy cớ nghỉ luôn... như vậy đời em dần dần sẽ xa lần ánh sáng đạo đức, mà bước gần về bóng tối trụy lạc! Ngoài ra, bác nông phu không tinh tấn là bỏ bê việc đồng áng. Anh công nhân không tinh tấn sẽ bị chủ đuổi có ngày. Một kỹ nghệ gia thiếu tinh tấn th́ sự nghiệp không thành v.v... và v.v... * 2. KẺ THÙ CỦA TINH TẤN LÀ MA “LƯỜI BIẾNG” VÀ QUỈ “PHÓNG TÚNG” Con ma “luời biếng” nhập vào ai, người ấy tốt trở thành xấu, hay hóa ra dở, hiền lành trở nên hung dữ, sáng suốt biến thành ngu mê... Ngược lại, tinh tấn đến với ai, kẻ ấy hư hóa nên, xấu trở thành tốt... Nên tinh tấn và lười biếng chống nhau như tối và sáng, như trắng với đen. Có tinh tấn là không lười biếng, ngược lại cũng thế. Do đó, nên khi nào con ma lười biếng muốn nhập vào ta, ta phải cấp bách lấy roi thần tinh tấn mà trừ nó. Vừa thấy ngọn roi tinh tấn, bọn ma lười biếng đă chạy bay hồn. Con quỉ “phóng túng” lại càng nguy hiểm hơn. Chúng lôi người xuống hố trụy lạc, thúc đẩy người chạy rong trong rừng ngũ dục và sau cùng chúng d́m người trong bể trầm luân kiếp kiếp đời đời. Ngược lại, “tinh tấn” là cái móc kéo người lên khỏi hố trụy lạc, là kim chỉ nam hướng người trở về con đường sáng suốt, khỏi lạc trong rừng ngũ dục, là chiếc thuyền vớt người khỏi bể trầm luân và đưa lên bờ giải thoát. V́ thế, chúng đố kỵ nhau, không bao giờ chúng gặp. Nếu ai rước thần “tinh tấn” đến, th́ “phóng túng” lánh xa, ngược lại cũng thế. * 3. TẠI SAO TA PHẢI TINH TẤN? - Chiếc thuyền người của chúng ta muốn về đỗ bến người và vượt lên bến Hiền, Thánh. Nhưng nó đang bị ḍng nước lười biếng cuốn mạnh, ngọn gió phóng túng thổi đùa bấp bênh, sắp trôi về bể vô nhân phẩm. Nếu chúng ta không chuyên cần, không nỗ lực chèo chống nó về hướng đă định, th́ nó sẽ chơi vơi phiêu bạt không bến đỗ, không chỗ nương, rồi một ngày kia đinh lay, ván mục, nó phải ch́m lịm dưới đáy bể hư hèn. Ôi, c̣n đau đớn nào hơn, một kiếp người không định hướng! V́ thế, chúng ta phải tinh tấn và tinh tấn măi măi! Mỗi khi nh́n xuống con sông Cửu Long, thấy h́nh ảnh người chèo thuyền ngược ḍng, trái gió, chúng ta nhớ đến đức tinh tấn, nguyện tiến măi không ngừng. * 4. TINH TẤN LÀ MỘT NGHỊ LỰC Trên đường thiện đâu phải toàn hoa và bướm mà rất nhiều hầm hố, chông gai; nếu người không quyết tâm dũng tiến rất dễ ngă ḷng lùi bước. Em đă sống trong gia đ́nh một hoặc vài năm, em đă thấy những trở ngại khó khăn trong việc hành đạo. Nhưng nếu em là một Phật tử chân chánh, em luôn thực hành theo hạnh tinh tấn, th́ những cái trở ngại ấy, em thấy không đáng kể. Đức Thích-ca ngót mười năm t́m đạo mà chưa toại nguyện, một hôm đến dưới cội bồ-đề, Ngài chỉ cội cây mà cả quyết rằng: “Ngồi dưới cội cây này nếu t́m không được đạo, th́ dù xương ta tan, thịt ta nát, ta nguyện không rời khỏi chỗ ngồi này!” Do sức cả quyết ấy, hay do đức tinh tấn đó, sau bốn mươi tám ngày, Ngài chứng thành đạo quả. Mỗi khi bị con ma lười biếng cám dỗ, con quỉ phóng túng rủ ren, các em nên theo gương đức Thích-ca mà cả quyết rằng: “Trên đường đạo, đường thiện, dù tan thân mất mạng, ta không hề lùi bước!” Các em cương quyết được như vậy, bọn ma lười, quỉ phóng túng phải khiếp đảm le lưỡi chạy dài. Hằng ngày tập được đức tinh tấn mănh liệt ấy, các em sẽ thấy giữa đời không có việc ǵ khó. Các em “muốn là được, quyết là thành”. Đời các em sẽ có nghị lực phi thường, không c̣n nhút nhát, hồi hộp, nghi ngờ như khi xưa nữa. * 5. KẾT QUẢ CỦA TINH TẤN Phàm cái ǵ hễ có đi là phải có đến. Mà tinh tấn là tiến tới theo chiều hướng tốt đẹp, lợi ích và an lạc, nên kết quả của nó cũng toàn tốt đẹp và an lạc. Em học tṛ tinh tấn sẽ thành tài đạt đức. Người làm thợ tinh tấn sẽ trở thành một tay kỹ xảo. Phật tử hằng tinh tấn sẽ được đức hạnh đầy đủ, phước tuệ viên thành. Tóm lại, tất cả sự thành công trên đường tu thân sửa ḿnh, trong việc thiện đều do tinh tấn quyết định. Bao nhiêu vị Hiền Thánh, bao nhiêu bậc giác ngộ đều do ḷ tinh tấn đúc nên. Tóm lại, từ trên đến đây, các Phật tử đă thấy tinh tấn là then chốt của đạo làm người, của đạo từ bi. Tinh tấn là một sức mạnh, là sự định đoạt đời người trên đường vinh quang, trong bầu không khí ngát hương thanh tịnh. ] NGƯỜI TU PHẬT PHẢI LÀ KẺ CHÁN ĐỜI CHĂNG ? Có một số người muốn lên án đạo Phật, không biết ǵ hơn, họ muợn danh từ “chán đời” gán vào đạo Phật. Thế rồi họ oang oang lên rằng người tu là kẻ “chán đời”, đạo Phật là đạo “chán đời”... Phản ứng lại, một số Phật tử nồng nhiệt bênh vực đạo, cực lực phản đối và đính chánh: “Người tu là yêu đời...” Chúng ta hăy gạt ngoài t́nh cảm, lấy lư trí xét đoán thử người tu Phật phải là “chán đời” không? Trước ta hăy định nghĩa “chán đời” là thế nào? - Theo nghĩa thông thường mọi người hiểu, “chán đời” là kẻ không bằng ḷng xă hội thực tại. Có hai hạng “chán đời”. Một hạng, v́ không thỏa măn tham vọng, bất lực trước cảnh trái nghịch đâm ra chán ghét xă hội. Một hạng v́ thấy sự mục nát của xă hội, đủ khả năng cải đổi, nên chán cái cũ, xây dựng cái mới. Tỷ dụ: Có một cái nhà mục nát hư rách và bẩn thỉu, nắng không có chỗ ẩn, mưa không chỗ đụt, lại hôi hám thối tha. Trong nhà ấy có ba người ở. Người thứ nhất th́ luời biếng, cho rằng số kiếp đă định, phải sao chịu vậy, rồi cứ đùa giỡn say sưa với cảnh đen tối ấy. Người thứ nh́, mỗi khi bị gió lồng mưa lọt th́ chắc lưỡi hít hà, đâm ra căm tức muốn xô cho ngă, đập cho tan cái nhà oan nghiệt này, mà trong tay không có một đồng xu, một cây tre, một miếng lá... Người thứ ba nhận rơ sự khổ sở, sự bẩn thỉu, không cam chịu sống măi trong cảnh tủi cực này, nhất định thay đổi cái nhà mục nát nhớp nhúa bằng cách dành dụm tiền, t́m vật liệu để xây dựng lại chắc chắn tốt đẹp, cho ḿnh và anh em ḿnh ở khỏi khổ. Ba anh em trong nhà này, là đại biểu ba hạng người trong xă hội. Người thứ nhất là hạng người chạy theo dục lạc, không có một ư niệm ǵ về cuộc đời cả. Người thứ hai là hạng người chán đời, v́ không thỏa măn tham vọng và bất lực. Người thứ ba là hạng người tinh tấn, thấy sự mục nát của xă hội, chán cái cũ, xây dựng cái mới. *Hạng người chạy theo dục lạc: Họ nói là yêu đời, kỳ thật họ chỉ yêu dục lạc mà thôi. Vùi ḿnh trong dục lạc, họ chỉ sống có ngày nay mà không có ngày mai. Họ nh́n đời qua lớp sơn bên ngoài, nên say sưa mê mệt. Nếu ai nói cái ǵ khác hơn sự hưởng dục lạc, họ không ngần ngại gán cho danh từ “chán đời yếm thế”. Ai khuyên họ làm lành lánh dữ, họ chế nhạo là lên mặït “thầy đời”. Thấy ai khổ sở khuôn ḿnh trong đạo đức, họ cười là bọn “dại khờ”... Mục đích của họ không ngoài thỏa măn dục vọng nhất thời. Giá trị của họ là hưởng được nhiều khoái lạc. Bởi thế, nên cái nh́n, cái nghĩ của họ không quá một tấc, một gang. Và suốt đời không làm ǵ khác hơn là lo cho thằng người của họ. Thế mà, gặp ai họ cũng vỗ ngực ta đây là yêu đời. Hai tiếng “yêu đời” là cái bia danh dự nhất, để họ nêu lên trước quần chúng. *Hạng người chán đời v́ không thỏa măn tham vọng và bất lực: Hạng người này nh́n đời bằng cặp mắt oán ghét, cuộc đời toàn xấu xa bỉ ổi, mọi người trong xă hội là kẻ thù của họ. V́ thế, họ muốn trốn một nơi nào, mà không có người bén mảng đến. Tại sao có quan niệm này? - Bởi v́: -Hoặc họ là người đă đổ bạc vạn để mua chức quan (theo thời mua quan bán tước) mà không đắc cử. Tiền đă sạch, của đă không th́ c̣n ǵ mà không chán ghét xă hội. -Hoặc họ là một quan chức bị thải hồi. Khi xưa ra đường có kẻ vơng người hầu, mà nay chỉ chiếc gậy quéo với cặp chân trần, th́ tài nào họ không chán đời khinh bạc. -Hoặc họ là một thí sinh, bao nhiêu sinh lực đều dồn vào sự học; đến năm thi, đặt hết hy vọng vào cái cấp bằng để có sở làm, được cơm no áo ấm, thế mà thi trượt! Trượt một lần, hai lần... mắt họ đă hoa, nh́n trước cả một bầu trời đen tối. -Hoặc họ là người đang nặng lời biển hẹn non thề; bỗng không, ai đành ăn nguyền nuốt hẹn, để họ sớm hờn duyên, chiều tủi phận. Ḷng uất hận tràn trề, họ thiếu suy xét, lầm tưởng mọi người đều xấu xa hèn mạt... Tóm lại, v́ không thỏa măn dục vọng, công danh v.v... nên đâm ra chán ghét đời. Những người này, không phải sẵn ḷng chán đời, bởi họ tham cầu những cái ǵ trên đời mà không được, nên sanh hờn ghét. Nếu những điều họ muốn mà được như ư, th́ họ c̣n mê đời hơn ai nữa. *Hạng người chán đời v́ thấy xă hội mục nát, quyết thay cũ đổi mới: Hạng người này ḷng thương không bờ bến, nh́n thấy sự lầm than đen tối của đồng bào, của nhân loại, quyết hy sinh đời ḿnh để khỏa bằng những hầm hố chông gai, đưa nhân loại đến nơi vinh quang an lạc. Những vị điển h́nh của hạng người này: -Đức Khổng Tử, v́ chán cái xă hội mục nát của thời Xuân Thu nên quên nhọc nhằn, nay ở Lỗ mai về Vệ cho đến Tống, Trần... và chịu vất vả ngồi dạy học tṛ, biên chép kinh sách để mong văn hồi Nhân đạo. -Đức Jésus Christ, v́ chán sự cai trị khắc nghiệt của người La Mă, chế độ giai cấp bất công của đế quốc Do Thái, nên không nệ vào tử ra sanh đi giảng đạo Bác ái. -Ông Tôn Văn, v́ chán cái xă hội hủ bại của nhà Thanh, nên mới vận động cách mạng khởi nghĩa năm 1911 để thành lập Tam dân Chủ nghĩa. -Đức Thích-ca, v́ chán giai cấp bất b́nh đẳng của Ấn Độ thời ấy, chán ḷng sân hận thù oán của loài người, chán cái si mê mù mịt của chúng sanh, nên vất bỏ cả ngai vàng ngôi báu, ĺa vợ đẹp con yêu, ngót mười một năm t́m đạo trải qua ngh́n vạn hiểm nguy. Sau khi đă thấy đạo, được phương pháp cứu khổ chúng sanh, Ngài dăi dầm sương nắng ngót bốn mươi chín năm, đem tinh thần b́nh đẳng thay cho giai cấp bất b́nh, lấy từ bi thay cho sân hận oán thù, dùng trí tuệ thay cho si mê mù mịt. Thế là, Ngài đă cải thiện xă hội bất công đen tối của loài người, trở thành xă hội lành mạnh tốt đẹp cho toàn thể dân sinh. Tóm lại, sống trong cảnh khổ mà không tự biết, cứ say sưa theo dục lạc khói mây là kẻ mù quáng. Ôm ḷng tham trèo lên cây thang danh vọng, tài, sắc... rủi trượt chân đổ ngă, dập đầu toác trán, mới nhận ra nỗi khổ, nhưng chỉ biết kêu khóc, oán hờn là kẻ khiếp nhược. Nhận chân sự khổ rồi đem hết khả năng hoán cải xây dựng biến khổ trở thành lạc là bậc Thánh nhân, là người giác ngộ. Như thế, ta ngại ǵ không dám thừa nhận người tu là “chán đời”, đạo Phật là “đạo chán đời”. Chán để xây dựng, để đem hạnh phúc cho chúng sanh ; chớ không phảøi chán để khóc than, thù hận như họ lầm hiểu. ] THẾ NÀO LÀ ANH HÙNG ? “... Chí những toan xẻ núi lấp sông, Làm nên đấng anh hùng đâu đấy tỏ...” Nguyễn Công Trứ Bạn là một thanh niên, bạn có chí khí anh hùng, và bạn tưởng tượng bạn sẽ là anh hùng. Vâng! Bạn sẽ là anh hùng. Nhưng phải làm thế nào để thành một “anh hùng thật sự”. Tôi nói anh hùng thật sự, để bạn khỏi lầm những anh hùng chỉ có tên, có tiếng, có oai ở bên ngoài. Để dễ bàn luận, chúng ta cần hiểu nghĩa căn bản của hai chữ anh hùng. Anh hùng là ǵ? _ Anh hùng là người tài năng xuất chúng, công to, đức cả khiến mọi người đều kính phục. Thế mà giữa xă hội này, mỗi người quan niệm anh hùng theo mỗi cách. Do đó nên khi ngồi chung nhau thảo luận, th́ mỗi người đều tự vỗ ngực xưng ta đây là “anh hùng”. Bác Phó vào xóm rượu trà, cờ bạc tiền lưng hết sạch mà lại say sưa, ngă bờ té bụi. Về nhà vợ con cằn nhằn, bác lại nổi giận đùng đùng, trợn mắt phùng mang, đánh đập vợ con chạy tứ tán. Ra oai như vậy, bác thấy bác là anh hùng. Anh Hảo, trước mặt các cô thiếu nữ, anh văi tiền như cát để mua một trận cười. Và lúc đó, nếu có ai b́nh phẩm hành động cuồng dại của anh, anh quyết một mất một c̣n tranh hùng với kẻ ấy, để cho những nàng tiên kia thấy chí khí và tài năng của anh. Ở trường hợp này, anh xem mạng sống nhẹ hơn bong bóng. Và dù phải lao ḿnh vào hang beo, miệng cọp, anh cũng coi thường. V́ anh cho làm được như thế là anh hùng. Ông Bạo, v́ tranh hơn thua việc làm ăn với bạn đồng nghiệp mà sanh căi vă, ông nổi nóng chạy về nhà lấy bù lon, đến đập vào đầu người kia phun máu, rồi ông phải ngồi khám. Làm được vậy, ông cũng tự đắc ḿnh là anh hùng. Cậu Tài, đắm mê tửu sắc, bỏ học hành, bị cha mẹ rầy mắng. Cậu t́m dao đâm họng tự tử. Thái độ đó, cậu thấy rất là anh hùng... Tóm lại, trong xă hội có vô số bọn “anh hùng rơm” như vậy. Đến những kẻ có chút gan dạ, nhân thời loạn lập bè, kết đảng, cậy thế, ỷ quyền, tự xưng hùng, xưng bá, may ra được lúc đắc thời, đắc thế, họ sẽ vỗ ngực xưng ta đây là anh hùng. Đó là nhóm “anh hùng thời cuộc”. Sức mạnh của Lư Ngươn Bá, chuyển cặp chùy gần như lay trời, động đất, một tiếng hét muôn quân đều cúi rạp. Nhưng v́ một cơn phẫn nộ không đâu, ông ném cặp chùy để tự sát. Tài cao chàng Lữ Bố, trước vạn quân không hề nao núng, giết kẻ địch như lấy đồø trong túi, thế mà vẫn đắm đuối v́ sắc đẹp của Điêu Thuyền... Chinh phục hằng mấy triệu người, nhưng phải phủ phục trước một mỹ nhân, hay cơn phẫn nộ, là hạng “anh hùng sức khỏe”. Lấy tiết nghĩa làm mục tiêu, giàu sang không thay ḷng, lâm nguy không nhụt chí, thành công mà mất tiết nghĩa không màng, vong thân mà c̣n tiết nghĩa mới toại, đó là hạng anh hùng tiết nghĩa. Người điển h́nh cho hạng anh hùng này, ta thấy có Quan Vân Trường thời Tam quốc Trung Hoa. Vân Trường lúc ở với Lưu Bị cũng như khi về với Tào Tháo, ḷng vẫn không đổi thay. Đánh với Huỳnh Trung trăm hiệp không phân thắng bại, khi ngựa sẩy chân ném Huỳnh Trung xuống đất, Ngài liền dừng đao, không giết kẻ sa cơ. Tào Tháo là kẻ thù nguy hiểm, mà lúc thất thế lội bộ trong nẻo Huê Dung, Ngài cam chịu tội, để tha người cùng lộ. Cho đến đi đường cái, về đường cái, thà chết chứ không khiếp nhược. Những cử chỉ ấy, những thái độï ấy, Ngài đă hiển nhiên thành một vị anh hùng của Á Đông. Nói về khỏe, Ngài đâu hơn Lữ Bố; nói về trí, Ngài sao bằng Khổng Minh. Thế mà, mọi người đều sùng thượng Ngài là vị Thánh, kính cẩn tôn thờ Ngài. Ngài là một vị anh hùng bất tử trong hiện tại cũng như suốt vị lai. Trong bài ca khen Ngài có câu: “... Trung nghĩa tham thiên địa. Anh hùng quán cổ kim...” Ngài chỉ tiết chế phần nào ḷng tham, để đưa đời Ngài đi theo chánh nghĩa, mà được mọi người quí chuộng dường ấy; huống nữa, người tiết chế toàn vẹn tham, sân, si để đem đời ḿnh phụng sự cho nhân loại, th́ cao quí biết ngần nào! Lăo Tử nói: “Thắng nhân giả lực, tự thắng giả cường.” Thực vậy, thắng người chỉ là vấn đề sức khỏe hay mưu chước xảo quyệt. Anh yếu tôi mạnh, tôi có thể lấn át được anh; anh thật thà chất phác, tôi mưu thần chước quỉ, tôi sẽ hơn được anh. Nhưng đó chỉ là vấn đề bên ngoài. Về nội tâm, một lần tôi hơn anh, là một lần tôi đă thua tôi. V́ anh yếu, tôi mạnh, tôi ỷ sức mạnh hiếp người yếu, đó là ḷng “khinh mạn” đă làm chủ tôi. Anh thật thà, tôi xảo quyệt, ư trí khôn xảo của ḿnh, tôi lường gạt anh, là tôi đă làm nô lệ cho ḷng “tham lam”. Tôi lấn át, lường gạt anh, anh thua tôi nhưng chưa hẳn là anh phục tôi. Để ḷng “khinh mạn”, “tham lam” làm chủ, tôi đă thật sự đầu hàng nó. V́ thế, thắng người chưa phải là mạnh. Thắng ḿnh mới thật mạnh; trước một vẻ đẹp yêu kiều, bạn giữ ḷng không xao xuyến. Sắp nắm trong tay một mối lợi khổng lồ nhưng không hợp đạo nghĩa, bạn bỏ qua không chút hối tiếc. Đời bạn hoàn toàn trong sạch mà bỗng nhiên một đứa thất phu vô cớ thóa mạ bạn, lúc đó bạn vẫn giữ ḷng an tịnh không chút rạo rực... Những việc đó bạn nghĩ có dễ làm chăng? Người tầm thường có thể làm được không? _ Chắc bạn cũng đồng ư như tôi, người thắng được ḷng ḿnh một cách quả cảm, đ̣i hỏi phải có một nghị lực phi thường, một bản lĩnh xuất chúng. V́ thế, người thắng được ḷng ḿnh mới thật là người mạnh. Đây tôi giới thiệu bạn một phương pháp làm “anh hùng thật sự”, “anh hùng muôn đời”. Muốn làm vị anh hùng này, trước bạn phải tập tu đức nhẫn nhục. Nghe nói đến nhẫn nhục, bạn đă bật cười!... Khoan! khoan! Bạn đừng cười vội. Tôi biết bạn sẽ bảo: “Tôi thanh niên đâu phải như những ông già bạc nhược, mà mỗi cái bảo phải nhẫn nhục.” Vâng! Bạn là thanh niên, nhưng bạn đừng lầm hiểu nhẫn nhục là hèn yếu khiếp nhược. Nhẫn nhục là một “khả năng chịu đựng”. Có chịu đựng được mọi thử thách, mọi thống khổ, mọi bực dọc... người ta mới giàu nghị lực, mới đủ kinh nghiệm, mới tiến lên bậc Hiền, Thánh và xứng đáng là anh hùng. Một em bé ôm tập đến trường, nếu không chịu đựng nổi sự rầy phạt của ông thầy, em có thể biết chữ chăng? Một nhà thương măi, nếu không chịu đựng được tiếng chê khen của khách hàng, những lỗ lă, nhà thương măi ấy có làm giàu được không? Một kỹ nghệ gia, nếu không chịu đựng được sự hư hao thất bại, sự thắc mắc của nhân công, có thể lập nên những xí nghiệp vĩ đại chăng?... Tóm lại, ở giữa xă hội này, trong mỗi ngành, mỗi nghề, nếu người không có sức chịu đựng, th́ không làm được việc ǵ cả. Chịu đựng được ngoại cảnh chưa phải khó, chịu đựng được nội tâm mới thật ngàn lần khó hơn. Tôi đang ngồi chơi, vô cớ một người đến thóa mạ tôi. Khi ấy, tôi chửi mắng lại họ là khó? Hay tôi giữ ḷng phẳng lặng không cho cơn giận dấy lên là khó? Người chửi ḿnh, ḿnh chửi lại, việc ấy trẻ con lên ba cũng thường làm. Người chửi ḿnh, ḿnh vẫn giữ thái độ b́nh thản, ḷng không rạo rực, mới thực khó. Điều này, chỉ những bậc Thánh nhân, những hạng anh hùng mới làm được. Muốn làm anh hùng, bạn phải làm những việc các bậc anh hùng đă làm. C̣n việc hàng ngày của trẻ con ấy, bạn nên tránh xa; nếu bạn làm theo, bạn đă trở thành trẻ con nốt! Chắc bạn sẽ băn khoăn hỏi tôi: Tại sao các bậc Thánh nhân chịu đựng được những cái khó chịu đựng ấy? _ Thưa bạn! bởi các Ngài dồi dào nghị lực, sáng suốt nhận định lẽ phải nên chịu đựng rất dễ dàng. Bằng chứng, đức Thích-ca một hôm đang giảng đạo, bỗng một kẻ ngoại đạo đến nhục mạ Ngài. Ngài yên lặng không đáp, gương mặt tươi tỉnh như không. Nói mà không người đáp, khác nào nhóm lửa giữa hư không, kẻ ngoại đạo bực tức hỏi Ngài: “Tại sao tôi nhục mạ ông, mà ông không trả lời?” Phật ung dung đáp: “Này ngươi! Ngươi đem một món quà đến cho ta, ta không nhận, món quà ấy về ai?” Người ngoại đạo đáp: “Tôi cho ông, ông không nhận là về tôi.” Phật bảo: “Cũng thế, ngươi nhục mạ ta, ta không nhận th́ ngươi tự chuốc họa vào ḿnh.” Một hôm đi dạo phố, bạn gặp người điên rượt đánh bạn. Trường hợp đó, bạn nghĩ sao? Đánh lại họ chăng, hay chạy tránh họ? _ Nếu bạn nhận bạn là người trí, bạn chỉ yên lặng lánh xa họ. V́ họ đă là điên mà ḿnh chống cự họ, ḿnh cũng điên nốt. Cũng thế, giữa đời này những kẻ gây sự vô cớ, khác nào người điên kia. Ta là người trí nên tránh họ, mà không nên chống đối. Người tu đức nhẫn nhục không những chịu đựng những cơn phẫn nộ không cho dấy khởi, mà bất cứ điều ǵ làm cho tâm hồn xao xuyến rạo rực đều chịu đựng để dằn ép chúng trở về trạng thái yên tĩnh. Nhẫn nhục là một cách súc tích khí lực điều khiển thân tâm ḿnh. Người làm chủ được ḿnh là một sức mạnh vô biên. Phật dạy: “Thắng một vạn quân, không bằng thắng ḿnh, thắng ḿnh mới là chiến công oanh liệt.”(Kinh Pháp Cú) Người đời chỉ mong chinh phục kẻ khác, chinh phục ngoại cảnh mà quên đi nội tâm. Khác nào con trong nhà không dạy, không răn, mà đi dạy răn con người hàng xóm, thật là một việc viển vông. Bắt nạt người cung kính, tuân lệnh ḿnh, mà ḿnh nô lệ thất t́nh lục dục, th́ c̣n tai hại nào to hơn! Ông A có uy quyền, có thế lực, ai cũng sợ, cũng khiếp, bảo điều ǵ ai cũng phải theo. Như vậy nếu ông A bị nô lệ ḷng tham, chúng ta thử nghĩ, những kẻ dưới tay ông sẽ là ǵ? _ Phải chăng sẽ là những con chó săn đang lao ḿnh trong rừng rậm. Trong xă hội này, nếu ai cũng muốn tạo uy quyền bên ngoài, mà không thắng được bên trong, th́ xă hội sẽ ra sao? Tóm lại, tạo uy quyền bên ngoài tuy khó, nhưng đă lắm người tạo được. Điều phục nội tâm là chuyện khó gấp bội lần hơn, chỉ những bậc Thánh nhân, những vị anh hùng mới làm được. V́ thế, đức Thích-ca chưa từng cầm gươm lên ngựa chinh phục một ai, chỉ ngồi tĩnh tọa dưới cội bồ-đề, chuyên gạn lọc nội tâm, mà Ngài đă được hiệu “Điều Ngự Sư” hay đấng “Đại Hùng Đại Lực”. Ngài là một vị “Anh hùng muôn đời”. Tôi mong bạn, một thanh niên của nước Việt Nam, bạn hăy đắn đo cẩn thận, trước khi bạn tập làm “anh hùng”. ] PHƯƠNG PHÁP LẬP NGHIỆP VĨNH CỬU Đă làm người, ai không muốn lập công danh hiển hách, sựï nghiệp vẻ vang để lưu truyền vạn đại. Sự ước mong là thế, nhưng trên đường lập nghiệp đă biết bao người, hoặc đuối sức quằn quại tắt thở bên vệ đường, khi nh́n thấy thành tŕ sự nghiệp c̣n xa lắc; hoặc đă rỗ chân, sầy trán mà t́m không thấy bóng thành tŕ sự nghiệp ở đâu, rồi âm thầm nuốt hận quay về với hai bàn tay trắng và gương mặt hốc hác héo sầu. May ra, cũng có vài người đến thành sự nghiệp, nhưng khi đến nơi nó đă trở thành giả ảnh tan theo như sương mù buổi sớm, bọt nước chiều hôm. Tại sao có những cuộc dở dang và thất bại ê chề trên con đường t́m sự nghiệp? *Là v́ động cơ lập nghiệp của người đời là ḷng tham, mà ḷng tham không bờ bến, c̣n sức người có chừng; nên chi đều thất vọng. Người ôm ḷng tham chạy t́m sự nghiệp, th́ ôi! Khác ǵ kẻ mang kiếng xanh soạn t́m tờ giấy trắng, biết bao giờ gặp được. Ngày xưa có một nhà vua muốn xem thử ḷng tham của người lên đến độï nào. Ông ra lệnh cho một lực sĩ rằng: “Từ mai sớm khi mặt trời hừng mọc, cho đến chiều hôm khi mặt trời vừa lặn, ngươi chu vi đất được bao nhiêu ta sẽ cho ngươi hết.” Chàng lực sĩ hớn hở lui về, dự bị lương thực dùng một ngày. Hôm sau vừa sớm tinh sương, chàng chực sẵn trước đền vua. Mặt trời vừa ló dạng, chàng cắm đầu chạy. Chàng chạy hăng quên cả cơm nước. Mặt trời đă đứng đầu, chàng nh́n quay lại thấy khu đất c̣n nhỏ xíu. Bóng đă ngả dài, tranh thủ với thời gian, chàng chạy nhanh hơn, cho đến thân h́nh chàng chỉ c̣n là một vật chao động dưới bóng mặït trời. Vầng ô vừa kề đầu núi, chàng vận dụng hết tàn lực chạy cho đến đích, khi mặt trời vừa lặn. Đến đích, th́ ôi! Chàng chỉ c̣n là một xác không hồn. Lại nữa, nền móng và nguyên liệu xây cất sự nghiệp, người đời đă đặt và dùng sai lầm, nên chỉ sớm đổ vỡ. Ṭa lâu đài sự nghiệp họ đặt trên vũng bùn tham lam, nguyên liệu xây cất ṭa lầu ấy, toàn bằng xương và máu th́ làm sao thành tựu vững bền được! Bằng chứng, sự nghiệp của Tần Thủy Hoàng ở Trung Hoa hồi thế kỷ thứ III rất to tát và vĩ đại, nhưng kết tinh bởi ḷng tham lam và xây đắp bằng xương máu của muôn dân, nên chi ông cố t́m mọi phương thế để ǵn giữ nó, mà rốt cuộc cũng không trường tồn. Đến công nghiệp vẻ vang và oai hùng của Napoléon ở Pháp vào đầu thế kỷ XIX, cũng do động cơ tham lam vô bờ bến của ông. Muốn thôn tính hết các nước Âu châu, nên công nghiệp ấy chóng tàn như hoa phù dung buổi sáng, và sau cùng ông bị an trí tại đảo Sainte Hélène. Lại giữa thế kỷ XX, sự nghiệp rực rỡ nhất thời của Hitler đă làm vang động thế giới, nhưng cũng bởi ḷng tham muốn làm bá chủ thế giới, nên ước nguyện chưa thành mà đời ông đă mai một... Có câu: “Xây dựng sự nghiệp ḿnh trên xương máu của người chỉ là mầm tan hoại.” Như trên đă thấy, càng tham lam bao nhiêu th́ càng chóng tan hoại và đổ vỡ bấy nhiêu. Vậy chúng ta không nên dùng động cơ tham lam gây dựng sự nghiệp, mà cần phải lấy nguyên liệu từ bi đắp xây thành tŕ sự nghiệp th́ mới kiên cố và trường tồn. Bởi v́ kẻ tham lam muốn lập nên nghiệp cả, bao giờ cũng chăm ḷng tóm thâu vơ vét của người về ḿnh, mà tóm thâu vơ vét càng nhiều th́ gây oán, kết thù càng lắm. Đă có oán thù, là có người manh tâm phá hoại, rồi một người cố giữ ǵn, mà cả ngh́n muôn người quyết phá hoại, th́ dù gian hùng như Tào Tháo, mưu trí như Khổng Minh cũng không tài nào giữ nổi. Ngược lại, lấy từ bi làm động cơ lập nghiệp, tức là lấy sự ban ân bố đức cho người làm sự nghiệp ḿnh. Tuy nhiên đem tiền của và hạnh phúc ḿnh tung văi cho người là đời ḿnh sẽ thấy khổ sở và thiếu thốn; nhưng một nụ cười nở trên môi người đói khát khi được chén cơm, một cái nh́n tri ân của người vừa thoát nạn, một cái chào cảm mến của người lạc lối khi được đưa đường... bấy nhiêu ấy là nguồn hạnh phúc vô biên, là của tiền vô lượng của chúng ta vậy. Sự nghiệp ấy mới nh́n qua như không có, nhưng kỳ thật nó có rất nhiều. Bởi v́, thói thường người đời hễ thương mến ai th́ muốn ủng hộ, bảo vệ cho người ấy được an vui. Chúng ta đă gieo rắc t́nh thương khắp mọi người th́ sự an vui đến với chúng ta vô lượng. Thế là sự nghiệp vĩ đại và vĩnh cửu chớ ǵ! Hơn nữa, người có ḷng từ bi không thấy hạnh phúc và sự nghiệp riêng ḿnh, mà chỉ thấy hạnh phúc và sự nghiệp chung của tất cả chúng sanh. Như vậy, càng gây cho chúng sanh được nhiều hạnh phúc, nhiều sự nghiệp, thế là hạnh phúc và sự nghiệp ḿnh càng to. Đức Thích-ca xa ĺa đài vàng ngôi báu, chối bỏ tất cả hạnh phúc riêng, Ngài chỉ ôm b́nh bát đi xin ăn để gieo rắc t́nh thương và cảm hóa nhân loại. Do đó, mà khắp năm xứ ở Ấn Độ thời ấy, từ vua chúa đến quan dân đều tôn kính Ngài là bậc Từ phụ, sẵn sàng hiến dâng những ngôi vườn đẹp đẽ, để Ngài làm nơi giảng đạo. Cho đến ngày nay cách Phật đă trên hai mươi lăm thế kỷ, mà hầu khắp các nước trên thế giới đă xây cất biết bao ngôi chùa nguy nga tráng lệ để phụng thờ Ngài và trên sáu trăm triệu người kính thành, tôn Ngài là đấng cha lành. Nên trong kinh có câu: “Xả tất cả sẽ được tất cả” là thế. Tóm lại, chúng ta phải sáng suốt không nên nh́n thiển cận ở sự nghiệp nhất thời mà bị ḷng tham lam sai sử, rồi cả đời luống lao tâm tiêu tứ, kết quả chỉ chuốc lấy đau khổ. Chúng ta phải tung văi hạnh phúc ḿnh cho mọi người, gieo rắc t́nh thương cùng khắp nhân loại, ấy là thứ hạnh phúc chân thật, sự nghiệp vĩnh cửu của ḿnh đấy. Một Phật tử đă biết áp dụng điều này, Vua A-dục, nói: “Ta xem hạnh phúc của chúng sanh là mục tiêu thứ nhất ta phải tranh đấu.” ] GIAN LAO KHÔNG LÀM TA NHỤT CHÍ Bạn với tôi là cùng màu áo, chung thờ một lư tưởng. Đă lâu chúng ta không gặp nhau, hoặc đă gặp mà không có dịp trao đổi ư kiến cùng nhau. Hôm nay ngày hoan hỉ đă về, ḷng tôi thấy nao nao, nhớ đến bạn và cần nhủ đôi lời cùng bạn, gọi là thực hiện phần nào điều KIẾN H̉A ĐỒNG GIẢI của đức Từ Phụ đă dạy chúng ta. Bạn ạ! Trên đường học đạo thật xa diệu vợi, chúng ta tiến bước đă dẫm phải bao mũi gai nhọn cản trở, và hiện thăm thẳm những hố sâu, sừng sững những vách đá chơi vơi chặn lối đi của chúng ta. Ở trường hợp này, bạn xử trí thế nào? Lùi lại chăng? Hay hăng hái tiến tới? Chắc bạn sẽ đồng thanh với tôi, chúng ta không thể lùi lại, mà vẫn anh dũng tiến lên, v́ đó là hướng ta nhắm. Bảo thành đă hiện trước mắt ta rồi, dù phải tan thân mất mạng, chúng ta cũng được hài ḷng, v́ cái chết đó làm tăng thêm giá trị ta và đưa ta vượt lên một nấc khá cao trên cây thang đạo hạnh. Bạn thử nghĩ! Những học sinh trung học, sinh viên đại học chịu biết bao khổ sở do những cuộc thi hành phạt. Có đôi khi, họ phải gạt nước mắt, cho đến muốn tự tử là khác. Như vậy người bày ra cuộc thi, phải chăng v́ muốn ngăn bước tiến của họ? - Nhất định là không. Đó là những cuộc thử thách để khuyến khích họ cố gắng thêm, là cây thước để đo tŕnh độ và khả năng của họ, cũng là làm tăng giá trị của họ vậy. Nếu một sinh viên đủ lư trí, có sợ thi khó mà bỏ học chăng? Có cưu ḷng oán hận người khảo hạch ḿnh không? - Chắc là không, họ sẽ mang ơn những người khảo hạch, v́ nhờ đó mà họ tiến thêm. Lại nữa, một chiến sĩ, v́ bảo vệ non sông tổ quốc và rạng danh cho giống ṇi, nên xem thường chết sống, lăn ḿnh vào rừng bom đạn. Nếu một chiến sĩ mặc bộ nhung phục bóng láng, cỡi con bạch mă thật xinh, mỗi khi ngồi trên lưng ngựa xem rất oai vệ, nhưng suốt đời chỉ ăn với ngủ, th́ c̣n gọi được là “chiến sĩ” chăng? Cố nhiên, người chiến sĩ muốn được ngày khải hoàn rực rỡ: mỗi nhịp ngựa là hằng vạn tiếng hoan hô, hoa bội tinh bừng nở trên ngực, trước muôn triệu cặp mắt nh́n quên nháy và ước mơ, th́ phải lăn ḿnh trong ngàn tên muôn giáo, xem cái chết nhẹ hơn làn gió thoảng. Như vậy, những nguy hiểm gian lao đối với người chiến sĩ anh dũng sẽ không thấy gian lao mà chỉ thấy là công danh sự nghiệp. Bạn ạ! Chúng ta là người chèo thuyền ngược ḍng đời, th́ làm ǵ có sự dễ dàng b́nh thản. Giả sử có, th́ mục đích chúng ta nhắm đâu c̣n cao quí, v́ mọi người đều có thể đến được. Bạn thử tưởng tượng, nếu một tu sĩ ăn no, ngủ kỹ, đầy đủ mọi nhu cầu, măi sống trong cảnh nhàn hạ, mà được thành Phật, th́ ông Phật ấy c̣n ai chịu lạy chăng? - Chắc là không! V́ dễ làm quá, có ǵ khó khăn mà phải kính phục. Sở dĩ chúng ta và mọi người đều tôn sùng kính lạy đức Phật, v́ Ngài làm những điều mà chúng ta chưa làm được. Như vậy, giá trị người tu có là do vượt qua mọi hiểm trở khó khăn, ở chỗ ô trọc, mà tâm vẫn thanh bạch cao khiết. Bạn đang tu hạnh nhẫn nhục chăng? Nếu bạn tu hạnh nhẫn nhục, mà không có người mạ nhục, đánh đập để thử ḷng bạn có phiền, có giận chăng? Th́ cái nhẫn nhục ấy chỉ là nhẫn nhục ở đầu môi. Muốn chứng thật hạnh nhẫn nhục của bạn, phải có người mạ nhục, đánh đập: ấy là lửa thử vàng nhẫn nhục của bạn vậy. Đức Thích-ca khi c̣n làm vị tiên tu nhẫn nhục, nhờ có vua Ca-lợi cắt tay, thẻo mũi... Ngài mới chứng được nhẫn nhục Ba-la-mật. Bạn đang tu hạnh bố thí chăng? - Thế là những kẻ đến xin đều là ân nhân của bạn. Nếu thiếu họ, bạn sẽ không viên măn công hạnh. Mặc dù trong số người xin cũng có một hai kẻ đèo ḅng, xin những điều không thể cho được. Nhưng bạn đừng vội phiền họ, mà bạn phải tự trách ḿnh hạnh bố thí chưa cứu kính. Người Bà-la-môn xin con Thái tử Tu-đại-noa, chính là người đă giúp Ngài thành tựu hạnh bố thí Ba-la-mật, các hạnh khác cũng thế. Tất cả cuộc thử thách đều là sự chứng thật hạnh tu hành của ḿnh. Người hay hoàn cảnh để thử thách ta đều là ân nhân, là cảnh tốt nâng đỡ ta lên từng lầu thánh nhân. V́ thế trong kinh Pháp Hoa, đức Phật đă nói: “Đề-bà-đạt-đa là thiện hữu tri thức bậc nhất của ta, nhờ Đề-bà-đạt-đa mà ta mau chứng quả Vô thượng Chánh đẳêng Chánh giác.” Như trên bạn đă thấy, cái “khó” không phải là điều làm nhụt chí ta, mà là sự nghiệp, là chứng thật đời tu của ta. Càng gian lao, càng khó khổ, chiến thắng được nó th́ giá trị ta càng cao, sự nghiệp ta càng lớn. V́ thế, các vị Bồ-tát hy sinh cảnh Niết-bàn để vào địa ngục cứu độ chúng sanh. Chúng ta đă là người tu, người sẵn sàng chịu khó khổ, mọi thử thách để rèn luyện ḷng ḿnh, để thay khổ cho chúng sanh, th́ bao giờ có thở dài khi gian lao, chau mày khi nguy hiểm... mà nhất định tươi tỉnh hăng hái tiến thẳng đến mục đích tuyệt vời của ḿnh đă nhắm. Ấy là con đường mà tôi và bạn cùng đi, cùng hướng. Vậy chúng ta sẽ hẹn ngày để gặp nhau ở điểm cứu kính này. ] THANH NIÊN VỚI VIỆC ĐI CHÙA Hôm nay đem việc đi chùa mà bàn với các bạn thanh niên thật là một chuyện rất tầm thường. Thưa bạn! Tôi lại thích nói những chuyện tầm thường ấy, v́ nó rất gần chúng ta, mà đă bị nhiều người lăng quên đi. Nếu một hôm có người đến mời bạn đi chùa, chắc bạn sẽ cau mày lộ vẻ khó chịu, nếu không bĩu môi kiêu ngạo. V́ bạn thanh niên cho việc đi chùa là việc của những người giàu ḷng tín ngưỡng, việc của bà già, ông cụ, c̣n thanh niên là những con người khoa học thực tế mà ai đi làm việc ấy. Quan niệm đó có thể đúng với người không hiểu ư nghĩa đi chùa, e không đúng với những người đă hiểu ư nghĩa đi chùa. Thưa bạn! Trong nhà Phật mỗi việc làm, mỗi hành động đều có ư nghĩa của nó, đáng tiếc có một số tín đồ không chịu t́m hiểu, nên việc làm sai lạc, gây sự hiểu lầm cho khách bàng quan. V́ thế, tôi cần biện bạch ư nghĩa đi chùa để các bạn biết qua. Đi chùa có những ư nghĩa: Chùa là nơi thờ cốt, tượng của chư Phật - người từ bi và giác ngộ đă viên măn - Phật tử đến chùa là tỏ ḷng kính mến, sùng thượng gương cao cả của Ngài mà học đ̣i bắt chước theo, như châm ngôn ta có câu: “Trọng thầy sẽ được làm thầy” vậy. Bạn một phen bước chân đến cổng chùa là trong kư ức bạn đă quay lại đức hy sinh cao cả, gương trí tuệ sáng ngời của Phật Tổ rồi. Bước vô chánh điện, nh́n lên chân dung của Phật, bạn sẽ thấy cặp mắt hiền lành, vẻ mặt từ bi của Ngài h́nh như lúc nào cũng chực đưa tay cứu vớt chúng sanh đang đắm ch́m trong đau khổ. Chỉ chừng ấy thôi, bạn cũng đă thấy h́nh dáng Phật gây cho bạn một ấn tượng tốt lành, một gương sáng cao quí. Bạn đi đến chùa để nhớ lại công hạnh vị tha không bờ bến, đức độ hỉ xả vô biên giới của Phật mà bắt chước theo, chớ đâu phải đi chùa để lễ bái, để khấn nguyện. Như các nhà ái quốc hằng đến thăm lăng, miếu các công thần. Không phải các ông đến đó để xin xăm, để khấn vái, cầu sự ủng hộ cho ḿnh, mà để ôn lại cuộc đời oanh liệt của các Ngài qua những tấm bia, chiếc măo... cho ḷng ái quốc của ḿnh được nồng nhiệt thêm. Phật thuyết pháp hơn ba trăm hội, những lời vàng ngọc ấy được ghi chép lại thành ba tạng kinh điển, trong ấy chứa đựng một nền triết lư cao siêu, một biển từ bi bát ngát. Bạn đến chùa để học hỏi giáo lư, qua lời chỉ dẫn của các nhà sư. V́ bạn là một thanh niên Việt Nam, bạn không thể chối căi được ảnh hưởng ít nhiều của đạo Phật, một đạo cổ truyền của dân tộc mà người Việt Nam đă nh́n nhận là đạo ông bà. Hơn nữa, đạo Phật là một tôn giáo lớn nhất, một nền triết lư cao nhất của Á Đông, bạn là một thanh niên trí thức Á Đông, không có lư do ǵ bạn không biết. Nếu bạn nói không biết th́ chẳng hổ với những học giả Âu Tây đang hướng về Á Đông để nghiên cứu ấy sao? Hoặc bạn viện lẽ: “Tôi ở nhà đọc sách Phật th́ cũng hiểu được, cần ǵ phải đi đến chùa.” Thưa bạn! Điều ấy chưa hẳn là đúng. V́ sao? V́ bạn đang bận sự học hành hoặc đang lo sanh kế, thời giờ đâu bạn nghiền ngẫm kinh sách, nếu có thời giờ th́ cũng rất eo hẹp. Chắc bạn cũng thừa hiểu kinh điển của nhà Phật như biển cả bao la, nền triết lư Phật giáo như trời cao thăm thẳm. Muốn thấu hiểu, người ta phải chuyên học cả năm, mười năm mà chưa hẳn là đă đạt được; phương chi nằm nhà đọc qua vài ba quyển sách mà có thể thấu triệt được ư? Lại nữa, thà rằng bạn không hiểu ǵ về Phật giáo c̣n hơn là bạn hiểu không đúng chân tinh thần của Phật giáo. V́ sự hiểu sai lạc sẽ làm giảm giá trị của Phật giáo và gây cho những người chung quanh một quan niệm sai lầm, nên không hiểu th́ thôi, có hiểu cần phải hiểu cho đúng. Do đó, muốn hiểu Phật giáo, bạn cần đến chùa nhờ những vị sư học rộng giáo điển giảng dạy cho, có phần bảo đảm hơn. Trong những ngày đem hết tâm lực tranh đấu với đời, bạn nghe đầu óc nóng ran, tâm trí quay cuồng, bạn muốn t́m một nơi giải trí cho nó êm dịu lại. Hoặc bạn đến rạp chiếu bóng. Ở đây bạn thấy nghẹt cả người, hơi người đă khiến bạn nghe mệt. Nếu cố gắng mua vé vào cửa, bạn cũng thấy trên màn bạc toàn là sự tranh đấu, giết chóc, khổ vui, rốt cuộc chỉ làm cho thần kinh bạn thêm căng thẳng. Hoặc bạn đến nhà hàng để tiêu khiển bằng những chung rượu, chén trà. Nhưng vừa ngồi lại, bạn đă nghe lời bàn bạc, tiếng căi vă về hơn, thua, khôn, dại của những người lân cận, khiến bạn phải nhức đầu. Như thế cũng là một trường tranh đấu, tranh đấu bằng lư thuyết. Bạn sẽ đến và đến nhiều nơi nữa, nhưng ở đâu rồi cũng gây thêm cho bạn một ư niệm so sánh, tranh đấu. Chi bằng, bạn đi thẳng đến chùa, không khí ở chùa sẽ ru êm, xoa dịu tâm hồn bạn. Ở đây, bạn sẽ thấy cả một trời thanh tịnh. CN |