LỜI ĐẦU SÁCH

Quyển “Tu Là Chuyển Nghiệp” gồm những bài ngắn, hướng dẫn người tu chuyển nghiệp bất thiện nơi thân khẩu ưcủa phàm phu, thành nghiệp thiện của bậc hiền đức.

Quyển “Đâu Là Chơn Hạnh phúc”, cũng gồm những bài giảng ngắn của Ḥa Thượng Thường Chiếu, nhằm hướng dẫn Tăng Ni và phật tử tu sáu căn. Trong những bài này Ḥa Thượng giảng trạch những cái vui thích tạm bợ trá h́nh của khổ đau,mà người đời cho là hạnh phúc,nên đă lau nhọc t́m cầu đuổi bắt, nhưng không được hạnh phúc lại c̣n khổ đau. Ḥa Thượng cũng giảng trạch rơ ràng cái vui nào là cái vui chân thật cho Tăng Ni và phật tử biết mà thực hiện, để được lợi ích chân thật vĩnh viễn.

Chúng tôi nhận thấy những bài giảng này rất cần cho người mong cầu hạnh phúc chân thật,nên ghi thành sách để tiện bề nghiên cứu thực hiện. Sau khi ghi xong, chúng tôi tŕnh lên Ḥa Thượng xem, được Ḥa Thượng chấp thuận cho xuất bản. V́ ghi từ lời giảng, chắc chắn tập sách này không tránh khỏi những sai sót lỗi lầm. Xin quí độc giả thông cảm, bỏ qua những lỗi mà chúng tôi đă vấp phải.

T.T. Trúc lâm, đầu hạ 1993

THUẦN GIÁC

Kính ghi

?


 

BI VÀ TRÍ

Trong đạo Phật chúng ta thường nghe nói đến trí tuệ và từ bi. Vậy trí tuệ là ǵ, từ bi là ǵ? Người sống như thế nào là sống vớiù trí tuệ và người hành xử như thế nào là người từ bi ?

Đạo Phật là đạo giác ngộ; giác ngộ là thấy đúng lẽ thật. Người thấy đúng lẽ thật không thể thiếu trí tuệ được. V́ vậy mà tất cả chúng ta, nhất là người tu Phật phải lấy trí tuệ làm nền tảng.Ở đây tôi chia trí tuệ ra làm hai loại : Trí thế gian và trí xuất thế gian.Trước hết tôi nói về trí thế gian theo tinh thần Phật pháp. Trí thế gian trong Phật pháp là thấy biết đúng tinh thần nhân qủa. Người tu Phật khi làm việc ǵ phải thấy rơ nguyên nhân và hậu qủa của nó. Người thấy rơ nhân và qủa không lầm là người co trí tuệ. Trong kinh có nói : “Bồ Tát sợ nhân chúng sanh sợ qủa”. Bồ Tát là hữu t́nh giác, một chúng sanh giác ngộ là chúng sanh đó biết sợ nhân ác, chúng sanh mê muội th́ sợ qủa khổ. Cũng sợ vậy, mà hai cái sợ khác nhau, người sợ nhân gọi là giác, người sợ qủa gọi là mê.Trí tuệ của người học đạo tuy là trí thế gian,nhưng cũng là trí tuệ của Bồ Tát. Người biết rơ mỗi hành động mỗi lời nói mỗi ư nghĩ là cái nhân đưa tới đau khổ,th́ tránh không làm không nói và không nghĩ. Đó là người biết sống bằng trí tuệ. Nếu nghĩ nói làm không biết kết qủa ra sao, cứ nói làm càng bướng, khi kết qủa khổ đau đến th́ than khóc, cầu Trời khẩn Phật cứu, đó là cái si mê của chúng sanh. Hiện tại chúng ta sống với trí tuệ hay sống với si mê ?

Tôi đơn cử vài việc rất nhỏ mọn trong đời sống là ăn uống. Mục đích của sự ăn uống là để nuôi dưỡng mạng sống được khỏe mạnh lâu dài. Như vậy, ăn uống là cái nhân, nuôi dưởng mạng sống được khỏe mạnh lâu dài là cái qủa. Nhưng,có người ăn uống những thứ phá hoại mạng sống, vậy người đó là người trí hay người mê ? Chẳng hạn như uống rượu, rưởu làm đau bao tử, zơ gan, viêm phế quản ... mà người ta vẫn cứ uống. Những món ăn không hợp với bệnh, ăn vào là bệnh phát mà người ta vẫn cứ ăn. Khi bệnh phát nặng lo sợ cầu thầy kiếm thuốc, mà cái nhơn gây ra đau bệnh th́ không tránh. Đó là người mê nên gọi là phàm phu thế gian. Người có trí biết cái ǵ ăn vào làm bại hoại mạng sống, làm cho cơ thể đau bệnh th́ không ăn. Món ăn nào giúp cho cơ thể tráng kiện, làm cho mạng sống được lâu dài th́ dùng, đó là người trí. C̣n hút thuố có lợi cho mạng sống hay có hại ? Hút tuốc làm cho nám phổi, ung thư phổi... mà người ta vẫn cứ hút. Á phiện là một loại ma túy làm cho cơ thể con người gầy ốm ốm xanh xao, suy nhược, bại hoại tột đỉnh, vậy mà người ta vẫn cứ hút. Đó là những người si mê đáo để,tự phá hoại thân thể ḿnh một cách vô lư và nguy hiểm. Người si mê vừa vừa th́ phá hoại cơ thể vừa vừa, người si mê ít th́ phá hoại cơ thể ít. Tai họa cuả rượu, của thuốc, cuả á phiện hiện tại các nhà y học đă chứng minh cụ thể và khuyên không nên dùng. Người ta biết hại mà vẫn cứ dùng, thật là đáng thương! Là con người ai cũng có quyền chọn những thực phẩm tốt làm cho cơ thể khỏe mạnh để dùng, c̣n những thứ nào đưa đến bệnh hoạnđau khổ th́ tránh. V́ con ngựi có khỏe mạnh mới vui tươi, đau yếu th́ buồn khổ.

Chúng ta tu Phật là tu theo đạo giác ngộ, những cái ǵ làm cho chúng ta đam mê, say đắm, khi thức tỉnh phải gan dạ bỏ liền. Đó là đă tiến trên đường giác ngộ. Đă tiến trên đường giác ngộ th́ khổ đau ở cỏi đời này tuy chưa hết nhưng cũng đă bớt đi. Ví dụ người ghiền rượu, ghiền thuốc làm mỗi ngày được 50đ, uống rượu 20đ, hút thuốc 10đ,c̣n lại 20đ không đủ tiền ăn cơm nên phải mang nợ. Cả cuộc đời sống trong say sưa thiếu thốn khổ sở vô cùng. Bây giờ biết uống rượu hút thuốc có hại, gan dạ bỏ không dùng nữa. Tiền lương mỗi ngày chỉ dùng cho việc ăn uống th́ vừa đủ, nên thân khỏe mạnh tâm vui vẻ. Đó là người tự tỉnh tự giác bằng trí tuệ thế gian.

Lại có những chén thuốc đắng cay, uống vào không ngon miệng mà người ta lại dùng,v́ họ biết món thuốc đó uống vào th́ hết bệnh, thân thể khỏe mạnh, sống lâu. Đó cũng do con người có trí tuệ thế gian biết giảng nhân nào tốt th́ làm, dù khó làm vẫn cố gắng; nhân nào xấu th́ tránh, không làm dù có hấp dẫn. Người sống như vậy là tu, chớ không phải đi chùa thường, lạy h́ hụt,  khi về nhà cũng rượu thịt say sưa, nói làm sằng bậy, gây khổ cho ḿnh làm khổ lây cho người; đi chùa lạy phật như thế chưa biết tu. Qúi vị cứ sống b́nh thường, mà biết tránh những cái nhân xấu gây đau khổ cho ḿnh, cno gia đ́nh, cho xă hội, đó là tu.

Người có trí tuệ là người có thái độä dứt khoát, biết điều dở, nhất định không làm, dù cho có ai khuyến khích rủ ren. C̣n người b́nh thường phân tích biết điều đó dở mà khi có ai ru cũng chạy theo làm, th́ người này chưa thực có trí, c̣n mơ màng nửa tỉnh nửa mê; gặp người tỉnh th́ tỉnh theo, gặp người mê th́ mê theo. Như vậy, người tu chúng ta phải thực sự tỉnh để tự quyết định việc làm của ḿnh cho chính chắn tốt đẹp.

Về lời nói ngôn ngữ cũng vậy. Có khi nào ḿnh chưởi mắng người mà được người thương mến không ? Chắc chắn là không. Tất cả quí vị hiện có mặt ở đây, có ai muốn cho mọi người ghét ḿnh không ? Chắc chắn là không. Chẳng muốn người ghét , th́ những lời hung ác chê bai chỉ trích... nên nói hay nên dừng ? Nên dừng.V́ những lời đó làm cho ngựi nghe khó chịu, họ sẽ sanh tâm oán ghét người nói. Ở đời nuế bị người oán ghét th́ khi ḿnh gặp khổ, họ sẽ chế nhạo hoặc hăm hại thêm. C̣n nếu được người thương mến khi hoạn nạn được người cứu giúp an ủi. Như vậy có ai dạy khờ ǵ mà cứ tạo những cái nhơn để cho người oán ghét ? Ở thế gian này người ta oán ghét nhau bởi cái ǵ nhiều hơn hết ? Đa số là do cái miệng. Vậy ngang đây qúi vị nhớ tu cái miệng tức là tu khẩu nghiệp. Mỗi khi nói ra là phải lựa lời mà nói, lời lành th́ nói, lời dữ th́ chừa. Như vậy mới đem an vui lại cho ḿnh cho người. Nếu nói lời dữ th́ đau khổ sẽ đến, chớ không tránh khỏi.

Lại nữa, người cứ lo tụng kinh với Phật, hễ ai chọc tức th́ mắng chưởi không tiếc lời. Như vậy tụng kinh một giờ, chưởi người chừng mười phút th́ phước đức tụng kinh cũng không c̣n. Để thấy rơ việc tu hành, người trí biết lời nào nên nói th́ nói, lời không nên nói th́ dừng, điều tốt nên làm th́ làm, điều quấy ác có hại th́ không làm, đó là người giảng trạch được sự thật. Quí vị chớ nói làm một cách mờ ảo có tính cách huyền bí linh thiêng, mà không thông lư nhân qủa. V́ đạo Phật chủ trương con người gặp cảnh khổ hay cảnh vui gốc từ nơi nghiệp lành mà ra. Nói lành làm lành là nghiệp lành, nói hung dữ làm việc ác là nghiệp ác. Muốn được an vui mà gây nhân ác, đó là mê, thiếu trí tuệ. Thế nên muốn được an vui là phải tạo nhân lành, an ủi khuyên lơn giúp đỡ mọi người từ vật chất lẫn tinh thần cho họ được vui vẻ. Người biết sống như thế là người có trí tuệ thế gian.

Sau đây là trí tuệ xuất thế gian. Trí xuất thế gian là trí biết đúng như thật, cái nào giả biết nó lá giả, cái nào thật biết nó là thật. Cái giả cho là thật đó là mê, cái có thật mà không biết cũng là mê, thiếu trí tuệ. Thế nên, cái giả biết rơ là giả, cái thật biết nó là thật, đó là người trí, mà là trí xuất thế gian. Trí này có khả năng thấy suốt được lẽ thật, nhín thẳng nơi con người biết cái nào là giả cái nàolà thật không lầm lộn. Thông thường người đời ai cũng thấy thân này là thật. Nhưng với cái nh́n của người có trí xuất thế gian thấy như chổ Phật đă chỉ bày :Thân này là tướng nhân duyên ḥa hợp, nhân duyên hội đủ th́ thân này tồ tại, nếu thiếu duyên th́ nó tan hoại. Bốn thứ đất, nước gió,lửa hợp lại mà có thân này; những chất cứng như tóc, lông, răng,xương...thuộc về đất. Những chất lỏng như máu, nước miếng mồ hôi... thuộc về nước. Hơi ấm thuộc về lửa. Sự máy động, hơi thở... thuộc về gió. Bốn thứ đó ḥa hợp thành thân này, nếu một trong bốn món đó mất đi th́ thân tan hoại.Bốn món đó là bốn yếu tố chính duy tŕ mạng sống con người. Nhưng bốn món đó lại xung khắc với nhau; lửa gặp nước th́ tắt, đất gặp gió th́ rung rinh... Vậy mà bốn món đó phải họp nhau điều ḥa nhau, th́ mạng sống con người mới điều ḥa an ổn. Nếu có sự chống trái hay dư thừa hoặc hao hụt th́ thân bất an. Chẳng hạn lửa nhiều th́ thân nóng đầu nhức phải dùng thuốc hạ sốt.Lửa ít th́ rét rung phải sưởi ấm, uống thuốc cho tăng nhiệt lượng. Nước nhiều th́ phù thủng phải thải nước ra. Nước ít th́ khô khao gầy đét... Gió nhiều th́ đau nhức... Cứ như vậy mà biến động không dừng ở nơi thân. Nếu một trong bốn thứ đó hoặc qúa thiếu hay qúa thừa th́ mạng sống dừng ngay. Chúng ta thấy sự ḥa hợp của đất, nước, gió, lửa thật là tạm bợ, giờ nào nó c̣n ḥa hợp là thân c̣n, giờ nào nó bất hợp tác th́ thân mất, không có ǵ bảo đảm cả, chỉ cần một hơi thở ra mà không hít vào th́ chết ngay.đó là cái thấy của người trí về thân thể con người. Ngược lại, ai cho rằng thân này là thật, chắc bền vĩnh viễn, đó là cái thấy của người mê. Song, không phải biết thân này tạm bợ để rồi bi quan yếm thế, buồn than cho số phận. Mà, giờ nào c̣n thở, c̣n khỏe mạnh, những điều hay tốt, nên làm ngay, nếu chần chờ khất hẹn, chết đến sao làm kịp ? Tu cũng vậy, giờ nào c̣n thở c̣n hơi ấm th́ lo tu, mai mốt tắt thở làm sao tu kịp ? Biết như vậy để nỗ lực tu, nỗ lực  lực làm điều thiện, chớ không phải thấy nó tạm bợ rồi sống buông xuôi chờ chết, quan niệm như vậy không đúng. Người trí thấy thân này tạm bợ, không thật, nhờ vậy mà hằng tỉnh giác nỗ lực tu hành. Đó là giai đoạn thứ nhất thấy thân này giả.

Giai đoạn thứ hai : Thấy thân này là giả và ngay trong cái giả đó c̣n có cái chân thật không h́nh không tướng mà hằng sáng rỡ không hoại, người trí khéo nhận ra nó và hằng sống với nó. Ví dụ trong nhà giảng này trên đây là bàn phật có h́nh tướng, quí vị nói là có; khoảng không gian trống, đa số người nói là không. Nhưng kỳ thực nó không phải là không. Nếu không th́ mọi người đều chết v́ thiếu không khí thở. Khoảng không gian này không có h́nh tướng thô như cái bàn, tượng Phật, nhưng có không khí, có bụi bặm... Chỉ v́ mắt thường không thấy được nên cho là không. V́ htế mà phủ nhận những ǵ quá tầm mắt thấy. Như vậy, để thấy những cái được cho rằng có là v́ có h́nh tướng thô, c̣n trong không gian cũng có những cái tế, mà mắt thường không thể thấy được, chớ không phải là không. Cũng vậy, thân người phần tứ đại ḥa hợp là cái có thô, c̣n cái hiểu biết được gọi là tâm là cái có tế. Cái có thô là vật chất, cái có tế là tinh thần. Tinh thần có th́ vật chất có,vật chất có th́ tinh thần có,hai cái hỗ tương nhau nên mới có cuộc sống thế này. Bởi có tinh thần nên khi vật chất hoại mà tinh thần bất động không hoại. Người thấy cái thật biết đúng như thật, thấy cái giả biết đúng như giả, đó là người có trí xuất thế gian. Tôi nhắc lại, người học đạo là phải có trí; trước tiên là phải có trí thế gian hay hữu sư trí, do sự học hỏi truyền dạy của bậc thầy mà có, để rồi đi tới trí xuất thế gian do sụ tu hành mà được. Học đạo mà mù tối quá th́ không xứng đáng là người học Phật.

Bây giờ nói tới từ bi. Từ bi từ đâu mà có và muốn có phải làm sao ? Làm thế nào có được t́nh thương đối với mọi người ? T́nh thương và từ bi có giống nhau không ? T́nh thương là t́nh luyến ái giữa cha mẹ, anh em, vợ chồng, con cái, bằng hữu... lại có những t́nh thương không tốt phi đạo lư nữa. C̣n từ bi là thương cao thưọng bất vụ lợi, htưong tất cả mọi loài không v́ bản ngă của ḿnh. Muốùn có t́nh thương bất vụ lợi đó trước tiên chúng ta phải xét cảnh khổ của con người.Bài giảng đầu tiên Phật giảng cho năm anh em ngài Kiều Trần Như tại vườn Lộc Uyển là Tứ Đế. Trong Tứ đế, Khổ đế được nêu lên trước cho mọi người thấy khổ là một lẽ thật không chối cải được. Mục đích là để cho con người thoát ra mọi khổ đau. Do thấy khổ đau dày xéo lên kiếp ngườimà khởi ḷng từ bi thương yêu lẫn nhau, cứu giúp cho nhau ra khỏi biển khổ, chớ không phải nói khổ để mà khóc than cho số phận. Thông thường khi con người cùng ở trong cảnh hoạn nạn khốn khổ th́ dễ thông cảm, dễ thương nhau. Nhưng khi ở trong cảnh giàu sang, quyền thế, người được địa vị cao kẻ ở địa vị thấp khó thông cảm và thương yêu nhau. V́ vậy muốn phát khởi ḷng thương, việc dễ dàngnhất là thấy rơ nỗi khổ của nhau th́ mới thương yêu nhau. Nếu mọi người thấy rơ thân ḿnh cũng như thân người do tứ đại ḥa hợp mà thành. Khi nó bất ḥa th́ thân bệnh hoạn, một đại bất ḥa th́ sanh một trăm lẽ một bệnh. Nếu bốn đại bất ḥa th́ sanh bốn trăm lẽ bốn bệnh. Như vậy thân này là một ổ bệnh, đă là một ổ bệnh th́ khổ vô cùng. Có thân không ai dám nói tôi hoàn toàn không bệnh, không bệnh nặng th́ cũng bệnh nhẹ hoặc bệnh mới phát khởi hoặc bệnh đă khởi lâu, không ai là không bệnh. Để thấy rơ thân chúng ta là thân bệnh hoạn, người nào cũng có bệnh th́ người nào cũng khổ. Tất cả đều khổ nên thương nhau, giúp đở nhau, an ủi nhau cho bớt khổ. Kiếp người vốn đă khổ rồi, lại làm cho khổ thêm th́ qúa ác. Có nhiều người tuy bên ngoài thân lành lặng nhưng bên trong có đôi ba chứng bệnh đang hành hạ, khiến họ đau nhức, rên rỉ hoặc cộc cằn. Nếu họ có lỗi lầm nên tha thứ. Người tu là kẻ từ bi, người đời đă khổ mà làm khổ thêm là thiếu từ bi, không xứng đáng là người tu Phật.

Thứ nữa, là xét cái si mê của chúng sanh mà khởi tâm từ bi. Chúng sanh v́ si mê nên cái giả không biết là giả cho là thật, và cái thật ḿnh tự có không biết lại bỏ quên đi. Do tưởng cái giả là thật, nên bị cái giả chi phối sai sử tảo bao nhiêu nghiệp tội, để rồi đời này mang thân này khổ, đời khác mang thân khác khổ, cứ mang thân khổ trầm luân trong ṿng sanh tử không có ngày dừng. Chúng ta khi thấy người nào đang ở trong cảmh mê, liền dùng mọi phương tiện khuyến khích nhắc nhở cho họ tỉnh. Dù họ chưa hoàn toàn tỉnh song cũng lóe sáng phần nào để bớt mê. Hễ bớt mê là bớt khổ. Đó là ḷng từ bi, v́ thấy người mê nên khởi ḷng thương xót. Như vậy chúng ta là người học Phật phải có trí tuệ và từ bi. Từ bi một là thấy chúng sanh khổ ḿnh thương xót, an ủi giúp đở họ đưọc vui. Hai là thấy người mê cứ gây nghiệp rồi chịu khổ, khổ từ đời này tới đời nọ không có ngày cùng, nên thương xót dùng phương tiện chỉ dẫn cho họ bớt mê. Phật dạy thể hiện ḷng từ bi không ǵ hơn là bố thí, ố thí tài tức là giúp đỡ của cải vật chất cho người nghèo khó bệnh tật. Bố thí pháp là giảng dạy nhắc nhở cho người hết mê lầm.

Trách nhiệm của người tu là phải tự ḿnh có trí tuệ để giải khổ cho ḿnh, và xót thương mọi loài đang đau khổ mà giúp cho họ giải khổ. Tự ḿnh làm sao thoát khỏi những cái dở, những thói quen tật xấu từ lâu đời để ḿnh hết khổ và giúp cho mọi người hết khổ là tu. Tu bằng trí tuệ và từ bi.

]


 

ĐÂU LÀ CHÂN HẠNH PHÚC

Tất cả chúng ta có mặt trên trần gian này, ai cũng mơ ước sống một cuộc đời hạnh phúc, chẳng ai muốn cuộc đời ḿnh bất hạnh. Thế nên mỗi năm vào ngày mồng một tết gặp nhau đều chúc nhau một năm hạnh phúc. Hạnh phúc là điều ḿnh mơ ước và mọi người chúc tụng, vậy quí vị sống có hoàn toàn hạnh phúc không ? - Không. Tại sao mơ ước hạnh phúc và chúc tụng nhau hạnh phúc mà không được hạnh phúc ? Ngay trong cuộc sống này có ai dám vỗngực tự xưng rằng ḿnh hoàn toàn hạnh phúc không ? Nếu có, chỉ có chút ít thôi, mười phần chỉ được một hai, chớ không được trọn vẹn. Hạnh phúc là ǵ mà ai cũng mơ ước chúc tụng cho nhau ?

Ví dụ đi lở đường, bụng đói cồn cào, lúc đó được bửa cơm ngon  miệng, no ḷng, đó là hạnh phúc. Giả sử thân đang bị rét lạnh được áo len mền nỉ th́ thân được ấm, không c̣n rét run nữa, đó là hạnh phúc. Hạnh phúc là người đời thấy khi đói được ăn no, khi lạnh được sưởi ấm... Tóm lại, hạnh phúc không ngoài mắt thấy được sắc đẹp, tai nghe được âm thanh hay, mũi ngửi được mùi hương thơm, lưỡi nếm được vị ngon, thân xúc chạm được vật êm ấm. Những cái ưa thích của mắt, tai, mũi, lưỡi, thân được toại nguyện là hạnh phúc chớ ǵ?

Vậy năm căn tiếp xúc với năm trầnđược thỏa măn đó là hạnh phúc. Ở đây tôi chỉ nói riêng lỗ tai thôi, hàng ngày lỗ tai thường được nghe tiếng êm dịu hay cũng có khi nghe lời thô bỉ cộc cằn ? Có khi được khen, có lúc cũng bị chê. Song, chê nhiều hơn khen. Như vậy, muốn được hưởng những âm thanh vừa với lỗ tai th́ ít, mà trái với lỗ tai th́ nhiều. Muốn được tất cả mọi người đều khen th́ dễ hay khó ? Như Phật là bậc toàn giác mà có được khen hoàn toàn đâu ? Trên thế gian này ai là người được khen hoàn toàn ? Hễ có khen th́ liền bị chê, khi khen th́ vui tươi là hạnh phúc, lúc chê th́ buồn khổ là bất hạnh.  Cũng vậy, mũi ngửi mùi hôi nhiều hơn mùi thơm, lưỡi nếm vị dở nhiều hơn vị ngon, mắt thấy sắc xấu nhiều hơn sắc tốt, thân xúc chạm vật bất như ư nhiều hơn như ư. Kiểm lại th́ con người bất hạnh nhiều hơn là hạnh phúc, nên ai cũng tự than là khổ, không ai thấy ḿnh sống thật hoàn toàn hạnh phúc cả.Tại sao vậy ? V́ cái mà ḿnh cho là hạnh phúc đó là do căn tiếp xúc với trần sanh cảm thọ vui là tướng vô thường; âm thanh êm diệu nghe thoáng qua rối mất, vị ngon lưỡi vừa nếm nuốt qua khỏi cổ cũng không c̣n... Tất cả cái mà con người thọ hưởng đó bản chất nó là vô thường, hễ vô thường th́ tạm bợ, nên vừa thấy hạnh phúc đó liền mất, muốn giữ lại mà không được, v́ vậy mà cảm thấy khổ. Tất cả những cái mà con người cho là hạnh phúc chỉ có giá trị tạm thời, không lâu bền chắc thật. Sau đây Phật dùng ví dụ để chỉ cho mọi người thấy rơ hạnh phúc trần gian là tạm bợ.

Xưa có một vị vua và hoàng hậu lớn tuổi mới sanh  được  một  nàng  công  chúa,  nên hết mực cưng chiều. V́ quá cưng chiều nên công chúa rất nhỏng nhẻo. Một hôm trời mưa nước động lại trên mái nhà, rơi xuống hồ nước, khiến cho bong bóng nước nổi lên mặt hồ, ánh nắng mặt trời chiếu rọi bong bóng nước óng ánh rất đẹp. Công chúa nh́n thấybóng nước óng ánh , cô thích quá, cô bèn nghĩ : Nếu được một xâu chuỗi bằng bong bóng nước như thế để đeo th́ tuyệt đẹp. Nghĩ vậy, rồi cô vô pḥng nằm trùm chăn từ sáng đến chiều. Hoàng hậu thấy vắng, đi t́m, thấy cô nằm im trùm chăn, bà nghĩ cô bệnh, cuống quưt hỏi han đủ điều, hỏi măi mà cô vẫn làm thinh không trả lời. Hoàng hậu báo tin cho vua hay, vua đến thăm hỏi, cô cũng không trả lời. Năn nỉ tới chiều cô mới nói nho nhỏ rằng :

- Nếu có xâu chuỗi bằng bong bóng nước đeo th́ con sẽ mạnh, nếu không cókhông có xâu chuỗi ấy chắc là con chết.

Vua nghe hoảng hốt, nếu công chúa chết th́ nhà vua sẽ khốn khổ vô cùng. Vua bèn ra lịnh cho bá quan t́m người xâu bong bóng nước thành chuỗi, cho công chúa đeo và hứa  sẽ  thăng  quan  trọng  thưởng  cho người xâu. Quí vị có dám lănh trách nhiệm làm việc đó không ? - Không. Như vậy, mà có một ông già tới xin nhận trách nhiệm đó.Vua đưa ông tới chỗ công chúa ở. Bấy giờ cô vẫn c̣n nằm. Vua giới thiệu ông già với công chúa :

- Đây là người xâu chuỗi bong bóng nước, ông có biệt tài xâu chuỗi rất đẹp, cha sẽ nhờ ông xâu cho con một xâu chuỗi như ư con muốn, vậy con hăy ngồi dậy.

 Công chúa nghe mừng quá, liền chỗi dậy ông già chậm răi nói :

- Tôi chuyên nghề xâu bong bóng nước bây giờ công chúa hăy ăn uống trở lại đi, sáng mai tôi sẽ xâu cho công chúa một xâu chuỗi bong bóng nước.

Công chúa vui mừng ăn uống b́nh thường. Sáng hôm sau, công chúa, nhà vua, hoàng hậu và ông già xâu chuỗi cùng ra trước thềm, trên mặt hồ vẫn có những hạt bong bóng nước, nổi lóng lánh. Mọi người nh́n bong bóng nước, ông già bèn than:

Tôi chuyên nghề xâu bong bóng nước làm chuỗi, song rất tiếc, tôi già cả, hai mắt sờ sệt e thấy không rơ. Vậy công chúa hăy lựa cái bong bóng nào thực đẹp vừa ư đưa tôi xâu cho.

Công chúamừng rỡ, chờ giọt nước rơi xuống, bong bóng nước nổi lên, liền đưa tay vớt, nhưng bong bóng nước vừa lên khỏi mặt nước là bể tan. Từ sáng tới trưa vớt không được cái nào hết. Công chúa mệt mỏi chán nản xoay qua nhà vua nói :

- Thưa cha, thôi, bây giờ con không thèm xâu chuỗi bong bóng nữa.

Nhà vua gật đầu :

- À, th́ cha sẽ cho con xâu chuỗi kim cương.

Bong bóng nước dụ cho hạnh phúc ở trần gian, xa nh́n th́ thấy nó đẹp lắm nhưng vừa nắm bắt được là nó tan mất, v́ nó vô thường. Thế nên người t́m hạnh phúc trong ngũ dục, suốt đời không bao giờ được thoả măn. Công chúa dụ cho mọi người chúng ta. Cả cuộc đời đuổi theo hạnh phúc rốt cuộc rồi lại tay không, không ai là người tự hào rằng ḿnh hưởng hạnh phúc trọn vẹn, v́ hạnh phúc là mà chúng ta mơ ước, vừa chạm tới là nó tiêu tan. Ví cái mà con người mơ ước trông chờ là cái vô thường. 

]


 

GẦN VÀ XA NIẾT BÀN

Tất cả mọi người tu, ai cũng có ước nguyện sanh về cơi Cực Lạc hoặc nhập Niết Bàn vô sanh không c̣n luân hồi sanh tử. Nhưng tu thế nào mới được gần và được Niết Bàn ? Tu thế nào xa và không được Niết Bàn. Bài kệ sau đây của một Tôn giả đệ tử Phật nói về việc gần và xa Niết Bàn :

            Thấy sắc niệm say mê,

            Nếu tác ư ái tưởng,

            Tâm tham đắm cảm thọ

            Tâm nhập và an trú,

            Thọ người ấy tăng trưởng,

            Nhiều loại do sắc sanh,

            Tham hại tâm lớn mạnh.

            Chúng gia hại tâm nó,

            Khổ chất chứa như vậy

            Rất xa vời Niết Bàn.   

Người đối với mọi h́nh sắc, vừa thấy liền khởi niệm say mê, rồi tác ư ưa thích nghĩ tưởng h́nh sắc, thế là ḷng tham ch́m đắm trong cảm thọ. Do tham đắm trong cảm thọ, nên tâm nhập vào sắc và an trú nơi sắc th́ cảm thọ của người ấy đối với sắc càng ngày càng tăng thêm. nếu cảm thọ tăng thêm, th́ có nhiều thứ phiền năo tội lỗi do cảm thọ sắc mà sanh ra, như tâm tham, tâm hại càng ngày càng lớn mạnh. Nếu tâm hại càng lớn mạnh th́ tâm bồ đề bị lu mờ : Nghiệp chướng phiền năo chất chồng, càng ngày càng xa niết bàn. Không những đối với sắc, đắm mê sắc có những cái hại như thế,mà đuổi theo thanh đắm mê thanh, đuổi theo hương đắm mê huơng, đuổi theo vị đắm mê vị, đuổi theo xúc đắm mê xúc cũng có những cái hại tương tự. Càng ngày càng xa Niết Bàn. Nguợc lại th́ gần với Niết Bàn :

            Không tham nhiểm các sắc

            Thấy sắc giữ chánh niệm

            Tâm không tham cảm thọ

            Không xâm nhập an trú

            Thấy sắc như thế nào ?

            Như vậy có cảm thọ

            Từ bỏ không tích lũy

            Chánh niệm hành tŕ vậy

            Như vậy không chứa khổ

            Được vậy gần Niết Bàn. 

Người thấy sắc không nhiểm sắc, tuy mắt thấy sắc mà tâm vẫn an trú trong chánh niệm nên không chạy theo cảm thọ lạc hay cảm thọ khổ. Đă không chạy theo cảm thọ th́ tâm không xâm nhập nơi sắc và không an trú nơi sắc. Thấy sắc như thế nào th́ ghi nhận (thọ) như thế ấy. Không khởi tâm phân biệt thủ xả chấp trước, hằng ở trong chánh niệm th́ phiền năo trần lao khổ không dấy khởi. Người không phiền năo không khổ đau là gần với Niết Bàn. Vậy, xa với Niết Bàn hay gần với Niết Bàn là do mắt, tai, mũi, lưỡi, thân tiết xúc với sắc, thinh, hương, vị, xúc; nếu dính, kẹt, nhiễm trước th́ xa Niết Bàn; không kẹt, không nhiễm trước, là gần với Niết Bàn.

Một hôm Tôn giả Phú Lâu Na đến đức Phật đảnh lễ, quí thưa :

Bạch Thế Tôn, con nuốn  đến  một  chỗ  vắng vẻ để  tu. Xin  Thế  Tôn  dạy cho  con phương pháp tu đơn giản dễ nhớ, để con đến đó tu hành chóng đạt được đạo.

Phật dạy :

- Mắt thấy sắc không nhiễm trước, không dính mắc là gần với Niết Bàn, tai nghe tiếng không nhiễm trước, không dính mắc la gần với Niết Bàn; mũi ngửi mùi, lưỡi nếm vị, thân chạm xúc không nhiễm trước, không dính mắc là gần với Niết Bàn. Ngược lại, nếu nhiễm trước, nếu dính mắc là xa với Niết Bàn.

Tôn giả Phú Lâu Na vâng lời Phật dạy đi đến chổ vắng vẻ để tu.

Phật dạy tu rất là đơn giản.

Tại sao mắt thấy sắc nhiễm trước dính mắc lại xa với Niết Bàn ? Mắt của quí vị hiện thấy h́nh sắc, cái thấy đó có giống nhau không ? Thế thường người đời hay nói : chính mắt tôi thấy, đó là sự thật. Theo quí vị th́ mắt, tai thấy nghe có đúng sự thật không ? Ví dụ có một nhóm người vào tiệm bán vải. Tiệm vải chưng bày nhiều xấp hàng cùng loại mà khác màu : nào  xanh,  vàng,  đỏ,  trắng,  đen, tím... Khi chọn hàng  mua, kẻ  th́  chọn  màu trắng, ngựi th́ chọn màu lam, kẻ th́ chọn màu vàng, mỗi người tùy theo sở thích của ḿnh mà chọn mỗi màu. Người chọn màu trắng cho màu trắng đẹp, người chọn màu lam cho màu lam đẹp, người chọn màu vàng cho màu vàng đẹp. Mỗi người có mỗi nhận định, có mỗi sở thích khác nhau.Vậy màu nào đẹp thật ? Nếu mỗi người mỗi chấp màu ḿnh thích là đẹp nhất, th́ có căi lộn nhau không ? Không đồng ư nhau khư khư với cái chấp của ḿnh ắt sanh tranh căi. Như vậy thấy sắc chấp chặt vào sắc th́ sanh nhiễm trước, rồi bảo vệ cái mà ḿnh chấp. Do bảo vệ cái chấp của ḿnh, có ai nói khác với cái chấp của ḿnh th́ chống đối ...Từ chấp trước sanh sân hận, từ sân hận gây ra nhiều thứ phiền năo khổ đau. Đă khởi phiền năo sân hận làm sao gần niết bàn được ?

Cái nghe cũng vậy, nhiều người cùng nghe một bài pháp, người th́ khen đoạn này hay, kể chuyện quá hay, kẻ th́ khen đoạn kia lư tuyệt. C̣n người th́ ngồi ngủ gục không biết hay. Cùng nghe một bài pháp người khen chỗ này, người khen chỗ kia, người th́ không khen. Nếu nguời khen chấp chặt cái khen của ḿnh là đúng th́ có cải lộn nhau không ? Cái nghe của mỗi người có đến lẽ thật, có phải là chân lư không ? V́ không phải là chân lư mà chấp chặtnên gây ra phiền năo khổ đau, xa Niết Bàn.

Đến cái ngửi, thông thường hương thơm th́ mũi ai cũng ghi nhận thơm, mùi hôi th́ mũi ai cũng biết hôi. Tuy nhiên có cái người nàykhen thơm, người khác lại chê hôi. Chẳng hạn như người chưa từng ăn sầu riêng th́ chê sầu riêng hôi; c̣n người quen ăn sầu riêng th́ thích, khen sầu riêng thơm. Vậy mùi sầu riêng thơm hay hôi mà người khen thơm, người chê hôi ? Thơm hôi tùy theo sở thích sai biệt của mỗi nguời, nó không cố định. Không định được thơm là đúng hay hôi là đúng. Nếu chấp chặt vào đó mà tranh căi th́ sân hận dấy khởi, bao nhiêu thứ phiền năo khổ đau chất chồng, làm sao gần Niết Bàn được ?

Thứ nữa là lưỡi nếm vị, vị nếm có giống nhau không ? Cùng ăn một món mà người khen ngon kẻ chê dở. Chẳng hạn cô  đầu  bếp  quen ăn mặn, nấu thức ăn cô nấu vừa với khẩu vị của cô. Khi dọn cơm lên người khách xa ăn thấy mặn. Người nói mặn, người nói vừa ăn, ai nói đúng ? Nếu người nói vừa ăn là đúng, th́ người nói mặn trật sao ? Nếu cần kiểm chứng th́ ai là người làm chứng cho ra lẽ thật ? Nếu người quen ăn lạt xác chứng th́ thức ăn của đầu bếp mặn, đầu bếp nấu ăn dở. Nếu người quen ăn mặn xác chứng th́ thức ăn của người đầu bếp vừa ăn. Để thấy khẩu vị của mỗi người không giống nhau mà chấp chặt vào đó, sẽ sanh tranh căi, tranh căi th́ đưa tớigiận hờn phiền năo khổ đau xa Niết Bàn.

Bây giờ tới thân xúc chạm. Thân xúc chạm cũng không giống nhau nữa. Ví dụ ở miền Nam Việt Nam, vào mùa Đông người có thân h́nh mập mạp và người có thân h́nh ốm yếu cùng ở chung một pḥng. Người có thân mập mạp cảm thấy vừa mát, c̣n người ốm cảm thấy lạnh buốt. Trong pḥng có bao nhiêu cửa sổ người ốm đều đóng lại để giữ hơi ấm. Khi đóng cửa th́ người mập cảm thấynóng nực. Như vậy th́ sao ? Nếu đóng cửa th́ người mập nóng, không đóng cửa th́ người  ốm lạnh run. Vậy xúc chạm của ai đúng ?  Người thấy lạnh đúng hay người thấy nóng đúng ? Để thấy xúc chạm cũng không giống nhau, xúc chạm của người này người kia không chấp nhận. Vậy xúc chạm cũng không đúng sự thật. Đă không thật mà chấp chặt vào đó th́ sanh tranh căi buồn phiền với nhau, xa Niết Bàn. Như vậy mắt, tai, mũi, lưỡi, thân chúng ta xúc chạm với sắc, thinh, hương, vị, xúc, mỗi người đều cho cái thấy của ḿnh là đúng rồi chấp chặt vào đó, sanh tranh cải với nhau gây bao nhiêu thứ phiền năo cho nhau, nên cách Niết Bàn quá xa. C̣n nếu không chấp chặt, không cho cái thấy biết của ḿnh là đúng, không cho cái thấy biết của nguời khác là sai, th́ không phiền năo. Không phiền năo th́ gần với Niết Bàn. 

Vậy xa Niết Bàn và gần Niết Bàn là tại đâu ? Năm căn tiếp xúc với năm trần chấp chặt là xa Niết Bàn, Ngược lại năm căn tiếp xúc với năm trần mà không đuổi theo, không chấp chặt là gần với Niết Bàn.

Thuở xưa ở xứ Ba La Nại,  Quốc  Vương nước này sanh ra một trăm người con. Vị Hoàng tử út thầm nghĩ rằng : Ḿnh là con thứ một trăm, ngai vàng mà vua cha truyền lại không bao giờ đến ḿnh. Người được nối ngôi là anh cả. Nếu anh cả có chết th́ anh hai, anh ba... Nên Hoàng tử cầu nguyện với bậc Hiền Thánh chỉ cho một quốc độ mà Hoàng tử có thể t́m đến để làm vua. Ḷng ước nguyện của Hoàng tử được cảm ứng. Một vị Phật Bích Chi đến bảo rằng :

- Cách nước ngươi một trăm dặm, ngươi qua xứ ấy sẽ được làm vua. Nhưng từ đây tới đó phải qua một khu rừng có quỉ la sát. Đa số người qua rừng này đều bị quỉ ăn thịt, ít ai qua khỏi. Nếu qua khỏi th́ chắc chắn được làm vua. Và muốn qua khỏi khu rừng đó không bị quỉ la sát ăn thịt th́ tất cả những ǵ mà quỉ hiện ra để quyến rủ dụ dỗ phải từ chối hết. Cứ thẳng tới trước mà đi th́ không bị hại. Nếu mắc kẹt ở đó nhất định sẽ bị quỉ la sát ăn thịt.

Hoàng tử nghe vị Phật Bích Chi nói như thế liền xin phép vua cha để đến xứ ấy. Khi chuẩn bị hành lư th́  có  một  số  bạn  bè thân mến xin đi theo. Hoàng tử nói rằng :

- Con đường này hiểm trở lắm, các anh đi, e dọc đường quỉ la sát ăn thịt. Tôi không dám rủ các anh đi.

 Những người bạn nói rằng :

- Anh đi được th́ chúng tôi đi được. Anh hăy cho chúng tôi cùng đi. Có ǵ chúng tôi cam chịu.

Hoàng tử nghĩ nếu không cho các bạn đi là ḿnh ích kỷ, nên tùy thuận để cho các bạn cùng đi. Có năm người cùng đi theo Hoàng tử.

Qua khỏi ranh bổn quốc th́ tới một khu rừng già. Tới đây đoàn người lữ hành đi đường xa đă thấm mệt, bỗng một quán rượu hiện ra, người bán th́ đẹp, rượu và đồ nhắm thơm ngon. Trong đoàn có người đă quen uống rượu, nên bị mùi rượu kích thích. Anh bèn xin dừng lại uống rượu rồi sẽ đi sau. Hoàngtử cảnh cáo :

- Không được, coi chừng quỉ la sát nó hiện ra đó, anh ở lại nó ăn thịt anh.

Người thích rượu trả lời :

- Không hề ǵ, tôi uống xong đi liền.

Người ấy vô quán rượu, đoàn của Hoàng tử cứ đi. Người thích uống rượu say, bị quỉ la sát ăn thịt.

Đoàn Hoàng tử đi thêm một đoạn đường dài khá xa, mọi người đều mỏi mệt. Trước mặt hiện ra một ngôi nhà thiệt đẹp, trong nhà có nhiều cô gái nhan sắc kiều diễm. Đoàn người đi ngang, một cô chạy ra mời vào nghĩ cho khỏe rồi hăy đi. Trong đoàn có một anh háo sắc, thấy gái đẹp động tâm. Hoàng tử không bằng ḷng dừng lại, tiếp tục dẫn đoàn đi... Anh háo sắc nói :

- Các anh hăy đi, tôi ở lại nghỉ một đêm, rồi mai tôi theo sau cũng được.

Hoàng tử cảnh cáo :

- Anh ở lại coi chừng quỉ la sát nó ăn thịt anh.

Anh háo sắc không nghe lời Hoàng tử, cứ làm theo thị hiếu của ḿnh, anh ở lại nghỉ một đêm, khuya bị quỉ la sát ăn thịt.

Đoàn Hoàng tử đi thêm một đoạn đường dài nữa. Người trong đoàn hết sức mệt mỏi. Trước mặt lại có ngôi biệt thự hiện ra, từ biệt thự vang ra những  tiếng  ca véo von  với điệu nhạc du dương. Và một cô gái ra mời đoàn người vào nhà uống trà nghe nhạc. Trong đoàn có anh mê âm nhạc, nên xin ở lại uống trà nghe âm nhạc.

Hoàng tử không bằng ḷng can ngăn:

- Không được, anh ở lại sẽ bị quỉ la sát nó ăn thịt.

 Nhưng anh mê âm nhạc không nghe, dứt khoát ở lại uống trà nghe nhạc. Tối đến bị quỉ la sát ăn thịt.

Đoàn người c̣n lại vẫn tiếp tục đi, đi được một quảng đường khá dài, lương khô gần cạn, bụng đang đói cồn cào. Trước mặt hiện ra một quán cơm với mùi thức ăn chiên, kho... bay thơm ngào ngạt. Trong đoàn có anh xấu bụng đói, nghe mùi thức ăn thơm ngon,anh chịu không nổi xin ở lại ăn cơm. Hoàng tử không đồng ư, khuyến cáo rằng :

- Không được, anh ở lại quỉ la sát sẽ ăn thịt anh.

Kệ, ăn th́ ăn, tôi ở lại, đói quá rồi.

Anh ở lại ăn no nê rồi th́ quỉ la sát nó ăn thịt anh.

Người thích rượu ngon, người ưa sắc đẹp người ưa âm nhạc, người thích cao lương mỹ vị đi không được, nên bị quỉ la sát ăn thịt hết rồi ! Trong đoàn chỉ c̣n lại một người với Hoàng tử. Cả hai tiếp tục đoạn đường c̣n lại, đi được khoảng hai phần ba đường th́ một biệt thự khang trang hiện ra, trong nhà có một góa phụ với một tỳ nữ hầu hạ. Góa phụ ra đón mời hai người với lời giới thiệu ngôi biệt thự đầy đủ tiện nghi nào chăn êm, nệm ấm, không thiếu món ǵ. Người bạn c̣n lại trong đoàn quá mỏi mệt, nghe nói nhà ở đầy đủ tiện nghi, anh thích quá nên ngỏ ư ở lại nghỉ một đêm, Hoàng tử ngăn :

- Không được, anh ở lại sẽ bị quỉ la sát nó ăn thịt.

- Không sao, tôi nghỉ một đêm rồi sẽ tiếp tục đi. 

Thế là tối đêm đó quỉ la sát ăn thịt anh. Chỉ c̣n lại một ḿnh Hoàng tử tiếp tục cuộc hành tŕnh. Ngài biết năm người bạn đồng hành với Ngài, đều bị quỉ la sát ăn thịt hết rồi. Ngài hết sức là dè dặt cảnh giác. C̣n lại một ḿnh Ngài đi đến cuối bià rừng th́ thấy một căn nhà, trong nhà có hai vợ  chồng trẻ đang gây lộn đánh lộn nhau. Cô vợ rất đẹp, bị chồng đánh, cô kêu ca, cầu cứu. Tuy htấy cảnh thương tâm, nhưng Hoàng tử không dám tới cứu, sợ quỉ la sát gạt, cứ lầm lũi mà đi. Cô vợ kêu cầu Hoàng tử cứu không được, thấy Hoàng tử đi, cô chạy theo năn nỉ :

Xin Ngài cứu tôi, chồng tôi nó hung dữ đánh đập tôi, tôi khổ lắm, Ngài có ḷng từ bi đâu để tôi khổ...

Nếu là người hùng, gặp cảnh thương tâm nhảy ra cứu giúp. Song, Hoàng tử biết quỉ la sát trá h́nh để gạt Ngài. Nên Ngài không nói ǵ hết, cứ lầm lũi mà đi, nó cũng cứ đi theo Ngái măi. Khi Ngài tới nơi, vào trọ nhà khách của quốc vương xứ ấy. Những người quản lưnhà khách quí trọng Ngàivà cấp báo cho vua hay là có một khách quí từ nước láng giềng đến. vua nghe cũng quí trọng, dẫn bá quan đến thăm Ngài. Khi gặp Ngài, nhà vua lại thấy bên cạnh Ngài có một cô gái thật đẹp, làm vua động tâm, nên mới hỏi :

- Người đàn bà theo khanh có phải là vợ khanh không ?

Hoàng tử đáp :

- Cô này chắc là quỉ la sát, chứ không phải vợ của hạ thần.

Người đàn bà nói :

- Đàn ông bội bạc, khi thương nói vợ chồng, chừng giận nói quỉ la sát.

Nhà vua không biết cô ấy là vợ Hoàng tử hay quỉ la sát. Song, v́ cô quá đẹpnên nhà vua mê mẫn tâm thần, hỏi lại một lần nữa để xác định :

- Cô này có phải là vợ của khanh không?

Hoàng tử khẳng định dứt khoát :

- Không phải vợ của hạ thần, cô là quỉ la sát.

Người đàn bà ấy cũng nói :

- Đàn ông bội bạc, khi thương nói vợ chồng, chừng giận nói quỉ la sát

Nhà vua quá sủng ái nàng, mới nói với Hoàng tử :

- Nếu nói không phải vợ khanh th́ trẫm rước nàng về cung.

Hoàng tử lại một lần nữa nói :

-Tâu bệ hạ, coi chừng cô ta là quỉ la sát.

Nhà vua truyền lệnh rước nàng về cung.

 Tối đêm đó vua bị quỉ la sát ăn  thịt, chỉ  c̣n để lại một bộ xương. Bấy giờ nước không có vua, bá quan mới nghĩ : Vị khách quí này là một vị hoàng tử của nước láng giềng, qua được đường rừng la sát mà toàn tánh mạng, phải là người tài đức phi thường. Nay vua nước ḿnh băng hà, nên thỉnh khách quí lên ngôi báu. Hoàng tử thứ một trăm lên làm vua, đúng như ḷng nguyện ước của Ngài và lời dạy của Phật Bích Chi.

Chuyện này ngụ ư dạy cái ǵ ? Ngôi vị ông vua ngầm chỉ cho Niết Bàn thanh tịnh, riêng quỉ la sát chỉ cho ngũ dục lạc thế gian. Người bị quỉ la sát ăn thịt dụ cho người tu đắm ch́m trong ngũ dục, tâm thần mê muội, thoái tâm Bồ đề không tiến đạo được. Người tu muốn được Niết Bàn giải thoát th́ đối với sắc, thinh, hương, vị, xúc phải xa ĺa, chớ có đuổi theo, chớ có nhiễm trước dính mắc. Ngược lại, đối với năm trần mà đuổi bắt, chấp trước th́ khó mà đến Niết bàn. Niết Bàn càng ngày càng xa.

Trong kinh Tạp A Hàm, Phật đưa ra một ví dụ. Có một tội nhân phạm pháp bị án tử h́nh. Sau đó vua  xét  lại, tha  anh với điều kiện là anh phải bưng đĩa dầu đầy, đi từ đầu đuờng đến cuối đường, không để rơi một giọt dầu th́ sẽ khỏi tội chết. Nếu bất cẩn để dĩa dầu chao, dầu đổ chỉ một giọt th́ tên đao thủ đi sau liền chém đầu anh. Anh tội nhân được tha với điều kiện đó, mừng lắm, chấp nhận ngay. Trên đường đi từ đầu đường đến cuối đường, hai bên lề, chỗ nào cũng có gái đẹp, quán rượu, quán nhạc, đủ tṛ ăn chơi hấp dẫn. Anh tử tội chăm chăm bưng đĩa dầu đi, không dám nh́n qua liếc lại,v́ biết sau lưng ḿnh có tên đao thủ đi theo, hớ hên một chút, dầu đổ th́ bay đầu. Với tâm trạng đó anh đi từ đầu đường cho tới cuối đường, dầu không đổ, anh thoát chết. Câu chuyện này ư nói ǵ ? Anh tử tội là chỉ cho con người, ai ai rồi cũng phải chết, người già th́ khoảng bảy tám mươi tuổi chết, người trung niên th́ năm sáu mươi tuổi chết, người trẻ th́ đôi ba mươi tuổi chết... trước sau ǵ cũng chết. Gái đẹp, quán rượu... những tṛ ăn chơi hấp dẫn chỉ cho ngũ dục lạc thế gian. Dĩa dầu đầy, dụ cho pháp tu mà Phật dạy. Người tu Tịnh độ câu niệm Phậtví như dĩa dầu, không bao giờ  dám  quên. Người tu Thiền, an trụ tâm trên hơi thở, trong Tứ niệm xứ... không bao giờ dám lơi lỏng. Tên đao thủ đi sau lưng người tử tội, dụ cho quỉ vô thường đang chực sẵn cướp lấy mạng sống con người. Người tu biết rơ mọi thú vui của ngũ dục tuy hấp dẫn nhưng sẽ làm hại con người, làm cho con người hao ṃn sức lực, sanh bịnh hoạn... không có gía trị thật nên không nhiễm trước nó. Muốn thoát khỏi cái khổ vô thường sanh tử là phải an trú tâm vào pháp tu mà ḿnh đang thực hành, không dám xao lăng.

Quí vị có thấy quỉ vô thường ŕnh quí vị không ? Khi nhớ th́ thấy, khi quên th́ không, v́ vậy mà nh́n qua ngó lại hoài nên tu hành không tới nơi.

Gần đây có một Phật tử hỏi tôi :-Thầy cất chùa có coi ngày không ?

Tôi đáp :-Không.

Nếu gặp ngày sát chủ th́ sao ?

-Vậy Phật tử có biết ngày nào không sát chủ, cất chùa lên thầy trụ tŕ sống măi măi không chết ?

- ! ! !

Đă có sanh ắt phải có tử, không chết sớm là chết muộn, trước sau ǵ cũng chết. Trên đời này có ai khỏi chết đâu ! Tại sao cứ lo sợ hoài ? Cái đáng sợ là pháp tu mà ḿnh quên ḿnh xao lăng, để cho tâm xao xuyến loạn động, phiền năo ngăn che không thoát được luân hồi sanh tử. Muốn đến chỗ giải thoát th́ phải chuyên nhất, an trụ tâm trên pháp tu của ḿnh, không quên, không lơi lơng th́ tâm mới an định. Tâm an định mới thoát ly sanh tử, không bị sanh tử chi phối. Bài kệ sau đây nói lên ư nghĩa người tu an trú tâm nơi pháp tu, cũng giốngnhư kẻ tử tội bưng bát dầu :

            Như người bưng bát dầu

            Đầy tràn không cho đổ

            Cũng vậy, bảo vệ tâm

            Như bị phương hướng lạ

Như vậy, tu muốn giải thoát, dễ hay khó ? Người ta cứ nghĩ tu phải có pháp mônǵ kỳ đặc mới giải thoát được. Kỳ thật không phải vậy. Chỉ cần năm căn tiếp xúc với năm trần không nhiễm trước, không  dính  mắc  là giải thoát.

Trở lại câu chuyện Phú Lâu Na, sau khi Phật dạy năm căn không dính với năm trần là gần Niết Bàn. C̣n năm căn dính với năm trần là xa Niết Bàn. Ngài hỏi tiếp:- Ông đi đến quốc độ nào ?

- Bạch Thế Tôn, con qua nước phương Tây.

- Dân xứ đó hung dữ lắm, ông tới đó nếu họ mắng chưởi nhục mạ, th́ ông sẽ thế nào?

- Bạch Thế Tôn, nếu người ta chưởi mắng nhục mạ con, con nghĩ rằng dân xứ này c̣n lương thiện, v́ họ mới chưởi mắng nhục mạ chớ chưa dùng tay đánh, chưa dùng đá ném con.

- Giả sử họ dùng tay đánh, dùng đá ném ông, th́ ông thế nào  ?        

- Bạch Thế Tôn, nếu họ dùng tay đánh, họ dùng đá ném, con nghĩ rằng dân xứ này vẫn c̣n lương thiện, v́ mới dùng tay đánh, dùng đá ném, chưa dùng gậy đánh, chưa dùng dao chém con. 

- Giả sử họ  dùng  gậy  đánh, dùng dao chém ông th́ ông thế nào?

- Bạch Thế Tôn, nếu họ dùng gậy đánh, dùng dao chém th́ con nghĩ rằng họ c̣n lương thiện, v́ họ chưa giết con chết.

- Nếu họ giết ông, th́ ông thế nào?

- Bạch Thế Tôn, nếu họ giết con, th́ con nghĩ rằng dân xứ này tốt, v́ đệ tử của Phật khi thấy thân này ô uế bất tịnh chán ngán nó, phải t́m người giúp cho nó chết. C̣n con không mượn mà họ giúp giùm con bỏ thân ô uế này.

- Lành thay ! ông có đầy đủ sự nhiếp phục và an tịnh, th́ ông đến xứ ấy được.

Tôn giả Phú Lâu Naqua xứ ấy, chỉ tu trong ba tháng an cư th́ chứng quả A La Hán và độ được năm trăm người xuất gia.

Tôn giả Phú Lâu Na thực hiện đúng như lời Phật dạy là sáu căn không dính mắc sáu trần làm căn bản, cộng thêm thái độ không giận hờn, không oán thù, trước mọi đối xử tệ hại của người, nên Ngài chóng đến Niết Bàn. Hiện tại nếu có người mắng chưởi hay đánh đập, chúng ta nhịn họ, nhưng trong tâm nghĩ đây là kẻ ác, rán mà nhịn nó. Nhịn ma thấy đó là kẻ ác, không phải là người lương thiện ...C̣n Tôn giả Phú Lâu Na th́ Ngài thấy là lương thiện v́ mới chưởi mắng chứ chưa đánh đập. Bị đánh đập Ngài cũng thấy là lương thiện v́ chưa giết chết. Khi giết chết Ngài cũng nghĩ là lương thiện v́ giúp Ngài sớm bỏ thân ô uế. Hại tới chết Ngài vẫn không oán hận. C̣n chúng ta nếu bị người bức hiếp, không đánh trả lại, không nói ra lời, chớ tâm c̣n buồn phiền hờn giận; lúc nào cũng có chứa phiền chứa giận, nên tu lâu mà không đắc đạo là vậy. Thế nên quí Phật tử tu hành, điều cốt yếu phải hiểu giáo lư đúng với tinh thần Phật dạy là sáu căn không dính với sáu trần, đó là gốc của sự tu hành.

Từ trước tôi dẫn kinh A Hàm. Sau đây tôi dẫn kinh Đại Thừa, trong kinh Kim Cang  ngài Tu Bồ Đề hỏi Phật :

- Bạch Thế Tôn, người phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác làm sao an trụ, làm sao hàng phục tâm ?

Phật trả lời :

- Bất ưng trụ sắc sanh tâm, bất ưng trụ thinh , hương, vị, xúc, pháp sanh tâm, ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm.

Nghĩa là chẳng nên khởi tâm dính mắc nơi sắc, nơi thinh, nơi hương, nơi vị, nơi xúc, nơi pháp, tức là không dính mắc với sáu trần, đó là an trụ tâm của người phát tâm Vô thượng Bồ đề. Thế nên Lục Tổ Huệ Năng khi nghe Ngũ Tổ giảng tới đây Ngài liền ngộ đạo nhận ra bản tâm của ḿnh, thốt lên : Đâu ngờ tánh ḿnh vốn tự thanh tịnh, đâu ngờ tánh ḿnh vốn không sanh diệt... Để thấy từ kinh A Hàm đến kinh Đại Thừa, kể cả Thiền Tông đều dạy sáu căn không dính mắc sáu trần là gần Niết bàn là giải thoát. Nếu để sáu căn dính mắc với sáu trần th́ phiền năo triền phược xa Niết Bàn, không giải thoát, đừng tưởng đi chùa nhiều, tụng kinh giỏi là mau giải thoát. Người tu phải hiểu rơ điều này.

Buổi nói chuyện hôm nay tuy tôi dẫn nhiều câu chuyện, nhưng trọng tâm không ngoài việc : sáu căn tiếp xúc với sáu trần không nhiễm trước không dính mắc, lúc nào tâm cũng an trú nơi pháp tu, không quên, không lơi lỏng là gần Niết Bàn, là giải thoát.

]


 

KHỔ VUI QUA MẮT KẺ MÊ NGƯỜI TỈNH

Ở thế gian có những sự việc xảy ra, nguời mê lấy làm vui thích, người tỉnh th́ không tán thán, lại có những việc người mê cho là khổ mà người tỉnh lại vui vẽ thực hành. Đó là điều mà tất cả chúng ta cần nên biết. Bởi v́ cuộc sống giữa đời này ai cũng sợ khổ cầu vui; thế nên chúng ta phải sốngnhư thế nào để không khổ mà lúc nào cũng vui.

Trước tiên tôi nói cái vui của người thế tục. Ví dụ người đời lở mắc bệnh ghiền thuốc hay ghiền rượu, lúc không tiền hút thuốc hoặc uống rượu, ngay khi đó có ai cho điếu thuốc hay cho ly rượu, th́  họ vui sướng vô  cùng, họ  thấy như có một niềm vui lớn đối với họ. Đó là cái vui của người ghiền thuốc, ghiền rượu. Trường hợp nguời ghiền rượu mà giàu có, th́ rủ bạn bè năm bảy người vào quán, ăn nhậu say túy lúy. nhờ uống rượu mà thỏa mản cơn ghiền, nên họ cảm thấy vui sướng. Song, với người không ghiền rượu thấy gia cảnh người ghiền rượu, ghiền thuốc nghèo thiếu, hoặc thấy những người giàu có họp năm họp bảy chè chén say sưa cả ngày, th́ họ cho đó là khổ. Người ghiền dụ cho người mê, người không ghiền dụ cho người tỉnh. Như vậy, cái mê của người mê, người tỉnh thấy là khổ; đồng một sự việc mà người mê và người tỉnh thấy khác nhau. Tại sao ? V́ người mê chỉ biết tham vầu thỏa măn sở thích nhất thời nênthấy vui, chớ không thấy được cái nhân đau khổ về sau. C̣n người tỉnh th́ thấy một nhóm người tụ năm họp bảy chè chén say sưa, hao tiền tốn của là cái nhân gây đau khổ. Chi phí cho tiệc eượu đó, gia đ́nh họ có thể sống trong nămba ngày ht́ họ phải ra sức làm việc gấp năm ba lần mới đủ cung cấp tiền cho gia đ́nh sống. Đó là cái khổ về thân. C̣n cái khổ về tâm : Nếu người có gia đ́nh rủ bạn bè ngồi quán rượu chè chén  hết  tiền, về nhà bị vợ  cằn  nhằn gây gổ. Đó là chưa nói đến người uống rượu say mèm, đi nghiên tới ngă lui, về nhà nằm uạ mửa hôi hám, làm nhơ bẩn cả nhà cửa, làm cho vợ con chê chán, cha mẹ buồn phiền. Uống rượu lâu ngày sanh ra bệnh hoạn nào đau dạ dày, xơ gan, viêm thực quản ... đó là cái khổ của nhiều ngày về sau. Cái vui của người mê là cái vui trá h́nh của đau khổ, nên người tỉnh thấy là khổ, là thấy đúng lẽ thật. Chúng ta biết tu là tỉnh, nhờ tỉnh mới thấy những cái khổ mà người thế gian tưởng là vui, để tránh. Đó là cái vui và khổ của người tỉnh và người mê đối với thuốc và rượu.

Tới đây là cái vui và khổ của x́ ke á phiện đối với kẻ mê người tỉnh. Có lắm người nhiều tiền nhiều của, hay những người trai trẻ bất đắc chí muốn t́m khoái lạc nên họ hút á phiện.Lúc đầu hút năm ba điếu thấy sảng khoái lâng lâng như người thoát tục, nên rất thích thú, sau đó t́m hút hoài ... Đó là cái mê của người hút á phiện. Song, v́ hút nhiều lần nên ghiền, ngày nào không hút th́ ụa ngáp oằn oại trong cơn ghiền . Hút lâu ngày hao ṃn sức khỏe, thân thể gầy ốm bệnh hoạn, sống dở sống, chết dở chết. Đó là chưa nói đến hao tiền tốn của, tán gia bại sản vô gia cư, vô nghề nghiệp ... vô cùng thiếu khổ. Cách đây vài năm có một chú thanh niên trên hai mươi tuổi, không biết từ đâu đến trước cổng chùa xin ăn, thân thể gầy ốm trơ xương. Hỏi ra mới biết chú ghiền á phiện, phá của, cha mẹ không cho ở nhà, đuổi đi, nên sống lang thang nay đầu đường mai cuối ngơ để xin tiền. Xin được chút ít tiền th́ mua á phiện hút hoặc chích cho đỡ ghiền, bữa nào xin không được tiền th́ nằm ra đó thật là đau khổ. Người mê lầm tưởng hút á phiện là vui nên lao vào. Khi ghiền rồi th́ cha mẹ, vợ con, anh em bỏ, sống dở, chết dở thật là đau khổ. Người tỉnh sáng thấy á phiện gây cho người hút một chút khoái cảm buổi đầu, nhưng đó chính là cái nhân đau khổ về sau, như thân tàn ma dại, tán gia bại sản, trộm cắp của người, cha mẹ, anh em từ bỏ, bạn bè xa lánh ... V́ vậy mà tránh ngay từ buổi đầu nên qủa khổ không có. Đó là cái vui và cái khổ của người tỉnh và người mê đối với á phiện.

Sau đây là cái vui và khổ  của việc làm không lương thiện. Mấy đứa trẻ mười ba mười lăm tuổi, bắt cá lia thia, bắt dế nhốt chung cho nó đá lộn  với nhau. Con này rượt  con  kia chạy th́ chúng nó vỗ tay reo cười. Hoặc có người nuôi gà ṇi, gà tre, ngày ngày cạo chuốt cái cựa gà cho bén để đi đá lộn. Khi hai con gà đá nhau, cựa con gà này chích vào thịt con gà kia máu chảy, con gà kia chạy, con gà này rượt theo... th́ họ vỗ tay vui cười. Đó là cái vui của tâm tàn nhẫn thiếu đạo đức, lấy cái khổ của chúng sanh làm cái vui cho ḿnh.

Lại có những người coi đấu vơ trên đài, hai vơ sĩ quần thảo với nhau, đến hồi quyết liệt, vơ sĩ này đánh thắng vơ sĩ kia, th́ ở dưới đài khán giả vỗ tay hoan nghinh . Tôi có quen một vài vơ sĩ, có lần tôi hỏi họ : “Tại sao nở xuống tay hạ người ta đo ván như vậy ? Có lợi ǵ cho ḿnh mà làm như thế ?” Vị ấy trả lời rằng: “Thưa thầy , khán giả họ độc lắm, lên khán đài mà ḿnh đánh nhẹ nhẹ với nhau, th́ họ cho rằng ḿnh đánh cụi, họ la lên phản đối. Nếu ḿnh đánh thẳng tay th́ đối phương phải gục ngă, khi thấy có người bị hạ th́ họ vỗ tay hoan nghinh reo cười...” Chúng ta thấy, trước người ta vui trên cái khổ của loài thú như dế, gà, tới đây người ta vui trên cái khổ của con người. Vơ sĩ biểu diễn tài nghệ qua thuật đánh nhẹ,th́ người ta không thích, lại muốn họ đấm đá nhau đến gục ngă th́ người ta mới vui ! Thật tâm người không lương thiện ! Là Phật tử chúng ta đặt cái vui của ḿnh trên cái vui của người, làm cho người vui th́ ḿnh mới vui. Nếu làm khổ cho người th́ không bao giờ làm.  Những cái vui trên việc làm mà tôi vừa kể, tức là làm khổ vật, làm khổ người để mua vui cho ḿnh, đó là cái vui phi đạo đức, cái vui của kẻ mê, không phải cái vui của người tỉnh.

Lại nữa, có những chú thanh niên, mười lăm, mười bảy tuổi dùng ná hoặc dùng súng nhỏ đi vào vườn vào rừng t́m thú để bắn. Trên cành cây, chim trống chim máy đang đậu rỉa lông, hoặc kêu hót rất dễ thương. Thế mà mấy chú vươn ná hoặc súng nhắm bắn. Một con chim bị thương té nhàu xuống đất, th́ các chú xúm lại vỗ tay vui mừng. Đoạn mạng sống của chúng sanh là hành động xấu. Làm việc ác xấu mà lấy làm vui ! Chẳng những người bắn vui mà những người ở chung quanh cũng vỗ tay vui hùn nữa ! Chúng ta vui trên cái chết chóc của loài vật ! Giết được một con vật th́ khởi niệm vui mừng, thật ḷng người quá ác ! Từ thái độ xem  thường mạng sống của loài vật, lần lần sẽ xem thường mạng sống của loài người, để đi đến chổ giết người !

 Lại có người tham lam thấy người ta đeo ṿng vàng liền giựt lấy, được của, đem về nhà vợ chồng con cái vui cười hỷ ha, trpong khi người bị mất của th́ buồn khổ. Hoặc những kẻ ăn trộm, lén đào ngạch khoét vách lấy trộm của người, đem về nhà họ cùng vợ con ăn tiêu vui vẻ, không hề nhớ tới cái khổ của người mất của. Như thế, chủ khổ nhiều chừng nào th́ kẻ trộm càng vui chừng nấy. Từ chổ quen tay lấy trộm của người, lần đến chổ cướp của giết người, không e ngại không gớm tay, miễn thỏa măn thú vui của ḿnh th́ làm. Cái vui đó quá tàn ác, không chút lương tâm... Thế mà ở thế gian này có lắm người làm như vậy ! Đó là những kẻ mê, do mê nên mới đặt cái vui trên cái khổ của người khác. Người tỉnh th́ không bao giờ vui trên khổ đaucủa kẻ khác. Chúng ta là người tu là người tu th́ phải tỉnh để tránh mọi hành động, mọi vui chơi có phương hại gây đau khổ đến người vật.

Lại có những người chạy theo sắc dục, lấy đó làm vui. Chẳng hạn một chú thanh niên, cùng một lúc giao tiếp với năm bảy cô gái và được cá`c cô ái mộ, chú lấy đó làm vui thích, tự hào là kẻ tài hoa được nhiều người  yêu thương. Nhưng chú không ngờ cái vui đó là cái vui trên cái khổ. Khổ v́ thân xác hao ṃn, khổ v́ tâm thần rối rắm... Nhiều người đă có gia đ́nh lại c̣n lôi thôi, nay thay chồng mai đổi vợ, họ lấy đó làm vui. Họ không ngờ mỗi lần đổi thay la mỗi lần đau khổ, con cái đứa thiếu cha đứa thiếu mẹ, nó bơ vơ khốn khổ. Cái vui ích kỷ của cha hoặc mẹ làm cho con cái khổ sở, khốn đốn mà người làm cha làm mẹ không bao giờ nghĩ đến, cứ sống theo thị dục thú vui riêng của ḿnh !

Lại có những người có máu cờ bạc, lấy sự đánh bạc làm vui. Khi được th́ đem tiền về sắm sửa ăn mặc, thết đăi bà con bạn bè, lúc đó lấy làm vui vẻ thích thú. Nhưng khi thua th́ buồn khổ. Khổ v́  hết  tiền nghèo  nàn đói  rách, nhà cửa tan hoang, nợ nần bủa vây, nay người này đói nợ, mai người kia đ̣i nợ, đ̣i mà không có tiềntrả th́ bị nặng lời hoặc bị mắng chưởi... Cờ bạc ăn th́ ít mà thua th́ nhiều, nên khổ nhiều hơn vui, vui trên đau khổ.

Với người biết tu th́ tránh xa những thú vui vừa kể, mà vui với những thú vui của hạnh nghiệp lương thiện, phù hợp đạo lư, vui mà không làm phiền làm khổ ai cả. Ví dụ như ăn chay, mỗi tháng người Phật tử ăn chay hai ngày, hoặc sáu ngày, hoặc mười ngày... Thoạt nh́n, thấy ăn chay là khổ, v́ không được ăn uống tự do phải hạn chế thức ăn, ăn không ngon miệng, mau đói... Song, đối với người biết tu, ăn chay được, họ lấy làm vui, v́ không giết hại sinh vật để bồi bổ cho xác thịt của ḿnh. Một ngày không giết hại là một ngày không làm khổ chúng sanh. Một ngày không làm khổ chúng sanh là một ngày an vui. Cái vui của người ăn chay là cái vui tránh khổ cho loài vật, nhờ vậy mà ḷng từ tăng trưởng. Ăn chay là tránh sát sanh, không làm tổn hại sanh mạng loài vật là vui. Chớ không phải hôm nay là ngày chay, nhiều  người  cử  ăn  thịt  cá, nên cá thịt rẻ,ra chợ mua, nhất là mua cá đem về bỏ trong hủ rộng , để mai mốt ăn cho đở tốn kém. Nếu tính như vậy là c̣n nhiều ích kỷ quá ! Chưa có thật vui ! Thế nên chúng ta phải thấy rằng : ăn chay cốt không làm tổn hại sinh mạng chúng sanh, tránh được tội lỗi, làm được điều tốt, tiết dục không ham muốn nhiều, v́ ít muốn th́ an vui.

Kinh A Hàm, Phật dạy người tukhi “ly dục sanh hỷ lạc” th́ chứng sơ thiền. Do ĺa (ly) ngũ dục : Sắc, htinh, hương, vị, xúc, hoặc tài, sắc, danh, thực, thùy th́ sanh hỷ lạc. Hỷ lạc là vui, do ĺa ngũ dục mà được vui, chớ không phải thọ ngũ mà vui. Đó là tôi kể sơ qua những cái vui của người biết tu, và cái vui của người không biết tu tâm ô nhiễm theo trần tục. Người không biết tu th́ vui trên cái khổ của kẻ khác hoặc của loài vật. C̣n người biết tu th́ vui khi tránh được điều ác, không làm tổn hại người vật, làm được việc thiện lợi ḿnh lợi người. Thế nên nói nguời tu được cái vui thoát tục, tức là vượt khỏi cái vui tầm thường của người thế gian.

Ở thế gian có những người thanh niên trẻ tuổi, sống với cái vui thoát tục  xa  ĺa  ngũ  dục, ăn chay lo tu tỉnh, th́ bị những người thọ hưởng ngũ dục, phê b́nh châm biếm cho là ngu dại, không biết thụ hưởng thú vui ở đời. Chúng ta nghiệm xét lại người uống rượu, hút á phiện, cờ bạc...và người không uống rượu, không hút á phiện, không cờ bạc... sẽ đưa đến nghèo đói, bệnh hoạn, nhà tan cửa nát... Người dùng nó không thấy hậu quả việc làm của ḿnh, cứ chạy theo thị hiếu, thỏa măn ḷng tham muốn, cuối cùng tự chuốt khổ họa vào thân th́ không khôn, không phải là người trí. Người trí biết cờ bạc, rượu chè, hút sách... là cái nhân đưa đến nghèo đói, bệnh hoạn, khổ đau, nên tránh, tự thân không bị khổ và không làmphiền lụy cho người khác, đó mới là người khôn.

Kinh A Hàm, Phật dạy : “Sắc, thinh,hương, vị, xúc, tất cả những pháp này khả lạc, khả hỷ, khả ư. Khi nào chúng ta hiện hữu, thế giới chư thiên xem chúng là khả lạc, khi chúng bị hoại diệt mới thấy chúng là khổ. Bậc Thánh thấy là lạc khi có thân đoạn diệt, Đây hoàn toàn trái ngược điều mọi người được thấy. Điều người khác gọi lạc, bậc Thánh gọi là khổ; điều người khác  gọi  khổ  bậc Thánh biết là lạc, hăy xem pháp khó biết, kẻ không thấy mê mờ”. Ở đây Phật dạy rằng người đời khi được những món ngũ dục, sắc, thinh, hương , vị,xúc th́ cảm thấy vừa ư cho là vui. Chẳng những người đời, mà cả chư thiên cũng thấy như thế. Người trời thấy ngũ dục là vui nhưng khi chúng bị hoại diệt, tức  là khi chúng mất đi th́ chừng đó mới thấy khổ. C̣n bậc Thánh thấy vui, khi nơi thân này ḿnh đoạn diệt được tham trước ngũ dục lạc, là cái mầm dẫn đi trong luân hồi sanh tử. Cái vui khi dứt mầm sanh tử mới là cái vui chân thật vĩnh viễn.

Cái vui của bậc Thánh khác với cái vui của phàm phu; cái vui của phàm phu bậc Thánh cho là khổ, cái vui của Thánh nhân phàm phu cho là khổ. Thí dụ một tu sĩ ăn mặc đơn sơ thường tọa thiền dưới cội cây. Người nhậu nhẹt ăn chơi cho sống tiết chế kham khổ như thế là ngu không biết thụ hưởng thú vui của đời. Ngược lại bậc Thánh thấy người đời vui say ngũ dục ăn chơi trà đ́nh tửu điếm, cho đó là mê mờ thiếu trí tuệ đem ḷng thương xót. Thế nên người đời phải khéo biết cái vui nào là cái vui chân thật trường cữu, để duy tŕ và ǵn giữ. Cái vui nào trá hính của khổ đau để tránh. Thấy như vậy sống như vậy là không bị mê mờ. Nhược bằng cứ chạy theo cái vui trá h́nh của khổ đau, th́ vui trong chốc lát mà khổ lâu dài, sống như vậy là mê mờ thiếu trí tuệ.

Sau đây tôi nêu lên những cái vui của người tỉnh. Người biết tu tỉnh khi tâm hồn b́nh thản thanh tịnh th́ vui. Lúc ngồi dưới gốc cây, bên sườn núi, cảnh vắng vẻ, nh́n trời mây, nh́n cây cỏ hoa lá, tâm hồn thanh thản an định, cảm nhận một niềm vui tràn khắp thân tâm cảnh vật. Người tỉnh tu khi tâm thanh tịnh, vui trên sự thanh b́mh của vạn vật, không làm tổ hại bất cứ loài vật nào, không tổn hại sức khỏe, cũng không hao tiền tốn của. Người đời ở chổ vắng vẻ th́ buồn chán, thường vui ở nơi nhộn nhịp ồn náo.

Lại nữa, người tỉnh tu vui khi phá được vô minh phiền năo. Giả sử có người gièm pha chỉ trích, nói lời nhạo báng Phật pháp. Người tu nghe qua khởi niệm bực bội, muốn nói lại cho đă giận. Liền khi đó tỉnh giác, biết giận là phiền năo mê mờ nói lời xúc chạm gây buồn đau cho người là tội lỗi. Ngang đó liền thôi, cơn giận từ từ lắng xuống. Sau đó tâm được b́nh an, ḷng vui sướng thấy ḿnh chiến thắng được phiền năo sân giận. Nếu không thắng được cơn giận th́ phát ngôn bừa băi, nói ra những lời đau đầu nhức óc, kẻ nói qua người trả lại. Lúc đầu th́ đấu khẩu, sau đó th́ đấu tay chân... Như vậy, chỉ là khổ thôi, chẳng lợi ích ǵ! Giờ đây tự phản tỉnh, thấy rơ từng tâm niệm của ḿnh, niệm sân vừa khởi liền biết, không chạy theo nó. Đó là tự thắng ḿnh, thắng được phiền năo sân giận. Thế là ḿnh được  an ổn và mối quan hệ giữa ḿnh và người b́nh thường vui vẻ, không có chuyện buồn ghét xảy ra. Thế nên nói người biết tu, vui khi thắng được phiền năo, một cơn giận một niệm buồn khởi lên, liền biết dừng ngay. Cứ thế mà tu tỉnh hằnh giờ, hằng ngày, hằng tháng, hằng năm th́ sự an vui cũng hằng hữu trọn giờ, trọn ngày, trọn tháng, trọn năm... Ngược lại, hễ ai đụng tới là buồn giận, không phản tỉnh, không biết dừng th́ buồn khổ hoài. Như vậy, phá được vô minh phiền năo là gốc vui chân thật. Ngược lại để cho vô minh tăng trưởng, không điều phục nó là gốc của đau khổ. V́ vậy mà người  tu  phải  thường  xuyên  phản tỉnh, chế ngự phiền năo để được an vui, ở thế gian có nhiều người thật đáng thương, hễ ai nói hay làm điều ǵ trái ư th́ họ nói hoặc làm trả lại bằng, hoặc hơn mới vừa ḷng. Hơn thế nữa, họ c̣n hài ḷng thích thú cho lời nói và việc làm của ḿnh là hay, là khôn, là đắc thắng. Họ không ngờ nói làm như thế, khiến cho người ta buồn giận là ḿnh đă gieo cái nhân bất thiện, mai kia sẽ thọ nhận qủa báo khổ đau.

Lại nữa, người tỉnh tu vui khi làm lợi ích cho người. Ví dụ người làm việc từ thiện xă hội đem được gạo tiền, thuốc men, quần áo... đến tận vùng bảo lụt, đưa tận tay cho người mắc nạn, giúp cho họ được no ḷng, ấm thân... th́ thấy ḷng ḿnh vui sướng, v́ đă làm được điều lợi ích cho người. Hoặc một ông thầy giảng dạy hướng dẫn cho học tṛ học hành thông suốt giáo lư Phật, biết sống đời lương thiện, ít khổ đau th́ vui, v́ đă giúp cho người sáng suốt tránh được nhân đau khổ. Người tỉnh giác càng làm lợi ích cho người, càng giúp cho người sáng ra là càng vui. niềm vui chân thật lâu dài.

Lại nữa, người tỉnh tu vui khi bỏ bóng nhận đầu, là niềm vui cao siêu bất tuyệt. Trong

 

Kinh Thủ Lăng Nghiêm đức Phật có kể cho ngài A Nan nghe một ví dụ : Có một anh chàng tên Diễn Nhă Đạt Đa, vào một buổi sáng nọ anh cầm gương soi mặt thấy đầu mặt hiện bóng trong gương rơ ràng. Sau đó anh úp guơng lại, anh thấy đầu mặt trong guơng không c̣n nữa. Anh hoảng kinh chạy cùng làng cùng xóm la : Tôi mất đầu rồi ! Tôi mất đầu rồi ! Đó là cái điên của người nhận bóng quên đầu. Cái bóng trong gương mất chớ cái đầu của anh đâu có mất, vẫn c̣n sờ sờ đó ! V́ mê, chấp bóng là đầu nên anh khổ sở điên cuồng la lối ... Nguời tỉnh tu biết quên bóng, nhớ đầu; khi thấy đầu mặt trong gương không c̣n, chợt tỉnh, liền sờ lại đầu, th́ đầu ḿnh hăy c̣n đấy ! Nên nói bỏ bóng mà nhớ đầu là cái vui chân thật. Trong kihn Pháp Hoa có nêu lên ví dụ : Gă cùng tử con ông trưởng giả giàu có, v́ khờ dại bỏ nhà bỏ cha đi lang thang phiêu bạt khắp nơi, thân đói rách nghèo nàn, xin ăn hoặc làm thuê làm mướn sống qua ngày. Một hôm anh nhớ cha mẹ quê hương, anh trở về quê củ gặp lại cha, ông trưởng giả nhận anh là con đẻ, ông trao cả gia sản sự nghiệp cho anh. Anh được niềm vui lớn không thể diễn tả, nên nói là cái của cùng tử gặp cha. Dụ như thế quí vị có hiểu ǵ không ? Từ xưa đến nay, mỗi người chúng ta ai cũng có sẳn ông Phật nơi ḿnh mà quên đi, cứ chạy theo vọng tưởng rồi tạo nghiệp dẫn đi trong luân hồi sanh tử, từ đời này đến kiếp nọ khổ đau không cùng tận. Giờ đây biết vọng tưởng là vô thường không thật dẫn ḿnh đi trong luân hồi sanh t&#