LỜI ĐẦU SÁCH

Quyển Hoa Vô Ưu này được kết tập từ các bài giảng của Ḥa thượng Viện chủ Thiền viện Thường Chiếu Thích Thanh Từ.

Trong đó, gồm một số bài Ḥa thượng được thỉnh giảng cho sinh viên một số trường Đại học ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh. Ngoài ra, một số bài Ḥa thượng thường giảng cho Tăng Ni, Phật tử các nơi và tại các Thiền viện.

Để đáp ứng nhu cầu t́m hiểu pháp thiền và hâm mộ tu thiền của Tăng Ni, Phật tử nhưng chưa đủ điều kiện tu học trực tiếp nơi Ḥa thượng, chúng tôi tŕnh xin ư kiến của Ngài và được Ngài hoan hỷ cho biên tập lại các bài giảng trên.

Tuy nhiên, v́ là văn nói nên tập sách không sao tránh khỏi sự trùng lặp tất yếu của nó. Rất mong độc giả đạt ư quên lời. Được thế, hy vọng tập sách sẽ đến tay quư vị với những lợi ích thiết thực nhất. Như vậy, chúng ta có thể t́m hiểu thâm nhập và hành tŕ pháp thiền. Đồng thời trên bước đường tu học, chúng ta có thêm bạn đồng hành luôn cảm thông với chúng ta.

Mùa Hạ năm Canh Th́n

Thường Chiếu, ngày 24-06-2000.

THÍCH NHẬT QUANG


 

VÔ SƯ TRÍ VI TÔN

Vừa rồi chùa Cổ Pháp ở Hà Nội có nhờ tôi đặt cho một đôi liễn và một bảng hoành phi. Trong bảng hoành phi năm chữ tôi đặt như thế này Vô sư trí vi tôn. Đây là câu mà tôi rất tâm đắc. Tôi tin chắc rằng quư Phật tử tu rồi cũng tâm đắc như tôi.

Vô sư trí vi tôn nghĩa là trí vô sư tôn quư nhất. Tại sao tôi nói như vậy? Bởi v́ chúng ta tu cốt là được giác ngộ, cốt được thành Phật nhưng mà giác ngộ cái ǵ? Đó là một vấn đề mà người Phật tử chúng ta cần phải hiểu. Nói đến đây tôi nhắc lại cho quư vị nhớ, thuở xưa đức Phật Thích Ca đi tu, qua những lần học hỏi với các vị tiên nhân nhưng chưa đạt được mục đích, cuối cùng Ngài từ giă hết để tu khổ hạnh. Sau khi tu khổ hạnh không có hiệu quả, Ngài sống trở lại b́nh thường và đến dưới cội bồ đề tọa thiền bốn mươi chín ngày đêm, Ngài được giác ngộ. Sau khi giác ngộ Ngài tuyên bố một câu như thế này: "Ta đă hàng phục tất cả, rơ biết tất cả. Ta không nhiễm một pháp nào. Ta xa ĺa hết thảy, diệt dục mà giải thoát và tự ḿnh chứng ngộ th́ c̣n ai là thầy của ta? " (Kinh Pháp Cú).

Ngay câu nói đó chúng ta tự kiểm nghiệm xem: Ngài hàng phục được tất cả, Ngài không nhiễm tất cả, Ngài ĺa hết thảy, Ngài diệt dục được giải thoát và tự ḿnh chứng ngộ th́ c̣n ai làm thầy? Như vậy cái chứng ngộ của đức Phật không do ai dạy Ngài hết. Nếu có người dạy tức là có thầy nhưng ngược lại không có ai dạy nên không có ai là thầy của Phật. Không thầy tại sao được giác ngộ? Điều đó chắc quư Phật tử cũng nhớ, như Phật đă tuyên bố do Ngài hàng phục tất cả, biết được tất cả, không nhiễm một pháp nào, xa ĺa hết thảy, diệt dục mà giải thoát. Nghĩa là đức Phật tự hàng phục được nội tâm, tự biết rơ được tất cả các pháp thiện ác, nhiễm tịnh v. v... và Ngài không nhiễm các pháp ác, không kẹt các pháp thiện, do đó mà diệt dục được giải thoát là do tự chứng ngộ chớ không có ai là thầy cả.

Hiện giờ tất cả quư Phật tử đang tu tập tọa Thiền, vậy tọa Thiền để làm ǵ? Để hàng phục ḿnh phải không? Hàng phục từ thân đến tâm của chính ḿnh. Trong khi ngồi thiền, nếu ngồi quen nửa giờ mà thêm chừng mười phút nữa th́ sao? Chắc là mười phút cay đắng. Như vậy nếu chúng ta cố gắng ngồi được một giờ hay hơn một giờ v. v... đó là chúng ta đă hàng phục được sự nhọc nhằn của thân. Kế đó đến nội tâm, tức là ư niệm của chúng ta như một ḍng nước chảy xiết vậy, hết niệm này tới niệm kia liên tục không ngừng. Thế nên chúng ta tọa thiền để thắng hết tất cả những thứ niệm đó, không cho nó khởi liên tục, từ từ chúng lặng dần cho đến lúc không c̣n dấy động nữa. Như vậy hàng phục được tất cả niệm lăng xăng của ḿnh. Đó là chúng ta đă tự chiến thắng, đă vào được thiền định. V́ định tức là nội tâm yên tịnh không c̣n lăng xăng nữa. Được như vậy rồi th́ tất cả các pháp nhiễm, tất cả các pháp ác đều xa ĺa. Từ đó mọi ham muốn được tháo gỡ. Nhờ vậy trong khi tu tâm chúng ta được trong lặng sáng suốt, dứt hết các nhiễm ô rồi th́ tự giác ngộ. Mà tự giác ngộ th́ ai là thầy của chúng ta? Tự giác ngộ là trí vô sư sẵn có của ḿnh.

Chúng ta nhớ đức Phật tọa thiền dưới cội Bồ đề bốn mươi chín ngày đêm, tâm yên tĩnh trong lặng, cho đến khi Ngài hướng tâm về quá khứ liền nhớ vô số kiếp về trước đă từng làm ǵ, ở đâu và tất cả sự việc xảy ra như thế nào. Ngài nhớ như là chuyện xảy ra hôm qua rơ ràng không thiếu sót, đó gọi là chứng Túc mạng minh. Khi Ngài hướng tâm về vị lai thấy chúng sinh sau khi chết sẽ đi về đâu? Cái ǵ lôi dẫn đi? Ngài thấy rơ chúng sinh do nghiệp dẫn đi trong các đường, đó là chứng được Thiên nhăn minh. Như vậy chứng Túc mạng minh, chứng Thiên nhăn minh v. v... tất cả cái chứng đó đều do vô sư trí mà ra, chớ không phải ở đâu, không do ai dạy hết.

Chúng ta tu Thiền là cốt cho tâm được thanh tịnh trong lặng. Từ tâm thanh tịnh trong lặng đó hiện ra trí vô sư. Trí vô sư hiện ra rồi th́ chúng ta thấy biết những ǵ trước kia ta chưa hề thấy biết, điều đó rất rơ ràng. Tôi dẫn một việc nhỏ này cho quư Phật tử nghiệm xem, có những Phật tử tu được chút chút, lúc tọa thiền yên lặng, bất chợt nhớ lại câu kinh hôm nào ḿnh học không hiểu, khi nhớ lại bỗng dưng hiểu ra. Cái hiểu này do ai dạy? Lúc đó không có thầy giảng, không có người nói, tại sao nhớ lại rồi bỗng dưng hiểu, hiểu một cách rơ ràng sáng suốt. Thử hỏi ai dạy? Đó là hiện tượng của trí vô sư, điều nhỏ th́ sáng nhỏ, điều lớn th́ sáng lớn.

Như vậy chúng ta tu hành cần đạt được trí vô sư th́ mới có thể được giác ngộ thành Phật. Như vậy Phật ở đâu? Phật sẵn ở nơi ḿnh. Muốn thấy Phật, chịu khó dẹp hết mây phiền năo, mây nghiệp chướng, nếu nó trong sạch hết th́ ông Phật ḿnh hiện ra, chớ không có ở đâu cả. Lâu nay chúng ta cứ nghĩ Phật ở đâu trên non, trên núi nên phải trèo đèo lội suối, phải đi thật xa t́m Phật, nhưng thực t́nh Phật ở ngay nơi ḿnh. V́ vậy, người học đạo không nên có tâm t́m kiếm bên ngoài mà chỉ dồn hết sức ḿnh phá dẹp phiền năo, dừng lặng ḍng tư tưởng lăng xăng. Những thứ đó tan rồi, lặng rồi th́ ông Phật hiện tiền.

Vậy quư Phật tử tu Thiền là lối tu gần hay xa, khó làm hay dễ làm, thực tế hay mơ hồ? Việc làm đó là thực của ḿnh, v́ ḿnh dẹp được phiền năo th́ ḿnh hết khổ, dừng được tâm lăng xăng th́ tâm được an định. Tâm hết phiền năo, được an định th́ trí tuệ bừng sáng, ngay nơi ḿnh chớ không có ở đâu xa hết. Cho nên người Phật tử tu Thiền lúc nào cũng phải dụng công tu hành cho chiến thắng được ḿnh, chớ không được cầu xin ai khác. Lâu nay Phật tử ḿnh đă quen cầu xin, bây giờ phải ngồi lại thấy khổ quá chừng. Hồi đó quen lạy Phật cầu xin cho con cái này cho con cái kia, bây giờ bắt xoay lại ḿnh để quán sát đâu là thực đâu là hư, đâu là xấu đâu là tốt, nhận định rồi tự ḿnh phá dẹp. Thấy việc đó nhọc nhằn không quen nhưng đó mới thực là chỗ tu hành chân chính. Đức Phật ngày xưa đă như vậy, bây giờ chúng ta cũng làm như vậy th́ mới đúng là đi theo Phật, c̣n ḿnh làm khác đi th́ không biết ḿnh theo Phật hay theo ai? Tôi chủ trương tu theo Phật th́ phải sử dụng phương pháp Phật sử dụng ngày xưa, ứng dụng vào sự tu của ḿnh sẽ có kết quả không nghi.

Tôi xin dẫn câu chuyện sau đây để quư Phật tử nghiệm xem. Thiền sư Nham Đầu và Thiền sư Tuyết Phong Nghĩa Tồn đi đến Ngao Sơn gặp trời trở tuyết, nên hai huynh đệ vào trong cái miếu nhỏ ở tạm. Mỗi hôm ngài Tuyết Phong đều ngồi thiền, c̣n ngài Nham Đầu th́ không ngồi. Ngài Nham Đầu mới quở ngài Tuyết Phong sao ngồi thiền măi như vậy. Ngài Tuyết Phong nói:

- Tôi thật c̣n chưa ổn.

Ngài Nham Đầu bảo:

- Nếu ông thật như thế, cứ chỗ thấy của ông mỗi mỗi thông qua, chỗ phải tôi sẽ chứng minh cho ông, chỗ chẳng phải tôi sẽ v́ ông đuổi dẹp.

Ngài Tuyết Phong kể lại:

- Khi xưa tôi mới đến chỗ Thiền sư Diêm Quan thấy Ngài thượng đường nói về nghĩa sắc không, ngay nơi đó tôi liền được vào cửa.

Ngài Nham Đầu bảo:

- Từ đây đến 30 năm sau rất kỵ không được nói đến.

Ngộ được lư sắc không mà Ngài Nham Đầu nói chưa được, 30 năm sau rất kỵ nói đến cái đó. Như vậy chúng ta mới thấy trong thời gian tu thiền có nhiều chặng. Bước đầu mới vào cửa thiền đa số chúng ta đều học Bát-nhă. Học Bát-nhă là để nhận được lư sắc không (sắc tức thị không, không tức thị sắc). Bước vào cửa không đă là một bước tiến trên đường tu rồi, nhưng chưa phải là chỗ cứu kính. Nên ngài Nham Đầu mới bảo: "Từ đây đến 30 năm sau rất kỵ không được nói đến". Ngài Tuyết Phong kể tiếp:

- Tôi thấy bài kệ của ngài Động Sơn khi qua cầu ngộ đạo (Ngài Động Sơn qua cầu, nh́n dưới ḍng suối thấy bóng của ḿnh, ngay đó Ngài ngộ đạo) liền làm bài kệ:

Thiết kỵ tùng tha mích

Điều điều dữ ngă sơ

Cừ kim chánh thị ngă

Ngă kim bất thị cừ.

"Thiết kỵ tùng tha mích" nghĩa là rất tối kỵ, chẳng nên t́m nơi khác mà được. V́ nếu t́m nơi khác th́ đă cách xa, không phải là ḿnh. "Cừ kim chánh thị ngă", nghĩa là nó chính là ḿnh. "Ngă kim bất thị cừ" nhưng ḿnh th́ không phải là nó. Bởi v́ ngài Động Sơn đi trên cầu, nh́n dưới suối thấy bóng của ḿnh, cái bóng th́ đâu phải là ḿnh nhưng nó có rời ḿnh không? V́ vậy nên nói nó cũng chính là ḿnh "Cừ kim chánh thị ngă". Nhưng ḿnh không phải là nó, tức ḿnh không phải là bóng, ngài Động Sơn do nhận thấy bóng của ḿnh mà ngộ đạo, ngài Tuyết Phong nhân nghe được câu này cũng có tỉnh. Bởi tỉnh nên tŕnh với ngài Nham Đầu nhưng ngài Nham Đầu lại bảo rằng: "Nếu chừng ấy tự cứu cũng chưa xong". Đó là chặng thứ hai.

Chặng thứ nhất là thấu suốt được lẽ sắc không, chặng thứ hai là biết nơi ḿnh, bên cạnh cái giả cócái thật. Bóng là giả nhưng cái giả đó không rời cái thật. Biết được lư ấy rồi cũng vẫn chưa tới nơi, nên ngài Nham Đầu nói: "Chừng ấy tự cứu cũng chưa xong". Ngài Tuyết Phong kể thêm: "Một hôm tôi hỏi ngài Đức Sơn việc tông thừa con có phần chăng, ngài Đức Sơn đánh một gậy hỏi tôi nói cái ǵ? Tôi khi ấy như thùng lủng đáy. " Như thùng lủng đáy nghĩa là rỗng và sạch hết, vậy mà ngài Nham Đầu nạt: "Ông chẳng nghe nói từ cửa vào chẳng phải của báu trong nhà. "

Cái ǵ từ cửa vào th́ không phải là của báu trong nhà. Câu này để giản trạch cho chúng ta hiểu người tu phải nhận được cái chân thật của ḿnh. Cái chân thật của ḿnh luôn có sẵn đây, chớ c̣n nhờ bên ngoài th́ chưa được. Chúng ta ngồi thiền lặng lẽ, tỉnh giác, chợt phút giây nào bừng sáng lên th́ đó mới thật là của ḿnh. C̣n đi hỏi người này, đi học người kia, th́ sự hiểu biết ấy không phải là của ḿnh, mà là của người ta.

Sau này ngài Tuyết Phong hỏi thêm:

- Về sau làm thế nào mới phải?

Ngài Nham Đầu bảo:

- Về sau, muốn xiển dương đại giáo mỗi mỗi từ trong hông ngực lưu xuất, sau này cùng ta che trời che đất đi.

Ngài Tuyết Phong ngay câu này liền bừng ngộ, nên gọi là ngộ đạo ở Ngao Sơn (tức là ở núi Ngao). Như vậy chỗ cuối cùng là từ hông ngực mà phát ra, chớ không phải ở bên ngoài. Nếu c̣n ở ngoài th́ chưa phải tột. Chúng ta tu từ nội tâm phát sáng, từ nội tâm giác ngộ, đó mới là chân thật, là trí vô sư hiện. Trí này là thật của chúng ta, nó trùm khắp không chỉ giới hạn trong thân tứ đại thôi.

Qua những chặng tôi nêu quư Phật tử nên hiểu, ḿnh tu Thiền không phải chỉ một lần ngộ. Khi chúng ta bước vào sự tu, nghe kinh Bát-nhă hoặc đọc kinh Kim Cương, chúng ta thấy lóe được nghĩa Sắc Không cũng đă đáng mừng rồi. Từ chỗ ngày xưa ḿnh thấy Sắc riêng Không riêng, bây giờ thấy Sắc tức là Không, Không tức là Sắc. Đây là bước đầu có tỉnh, có ngộ nhưng chỉ là tiểu ngộ thôi, chớ chưa phải đại ngộ. Đến như đọc một bài kệ, một câu thơ của các Thiền sư, ḿnh nhận ra và lănh hội được ư nghĩa câu đó đúng như điều ḿnh đang hiểu, đang tu th́ xem như bừng sáng một chặng nữa. Đây cũng là một chặng đường thôi. Hoặc giả trong khi tu, đem những lời đạo lư bàn luận với huynh đệ, thưa hỏi với thầy, được thầy nói cho một câu liền bừng sáng, nhẹ người lên. Lúc đó thấy như thùng lũng đáy, như vậy đó mà cũng vẫn chưa rồi. Cho đến bao giờ tự ḿnh phát sáng ra, nhận thấy tất cả thực thể muôn pháp trong thế gian này th́ chừng đó mới thật là đại ngộ. Thế nên ở trong nhà Thiền nói tiểu ngộ th́ vô số, c̣n đại ngộ cũng đôi ba lần, chớ không phải một lần. Tôi từ khi tu cho đến bây giờ, hướng dẫn Tăng, Ni cũng như Phật tử tu, thấy tiểu ngộ khá nhiều, c̣n cũng có vài người gần như được đại ngộ. Đây là điều đáng mừng.

Lúc trước tôi có mặc cảm ḿnh dạy người ta tu Thiền, nhất là giai đoạn đầu ra Chân Không, tôi mở khóa thứ nhất có mười người thôi, không dám nhận đông. Tại sao vậy? Bởi v́ tôi nghe nhiều người nói: "Coi chừng! Tu Thiền điên", nên tôi thí nghiệm mười vị này xem có điên không. Dù biết tôi tu không điên, nhưng chưa rơ những người tu theo tôi th́ sao? Qua ba năm không thấy ai điên hết nên khóa thứ hai tôi tăng lên ba, bốn chục vị. Rồi bây giờ đến mấy trăm người cũng không thấy ai điên. Do đó tôi hết mặc cảm lời người ta nói. Nếu bảo rằng tu Thiền điên là điều hết sức tai hại cho người tu Phật.

Chúng ta đă biết đức Phật Thích Ca do ngồi thiền ngộ đạo, bây giờ sao đệ tử Ngài ngồi thiền lại điên? Nói như vậy là một cái họa cho người tu Phật, nhất là tu Thiền. C̣n một điều nữa, có người nói tu Thiền chỉ dành cho hàng thượng căn thượng trí mới tu được thôi, thời này ḿnh tiểu căn tiểu trí tu không được.Ngày xưa tôi cũng mặc cảm v́ câu nói đó nhưng sau này tôi lại nghĩ khác. Chúng ta có bệnh cứ nghĩ người xưa mới thông minh, người xưa mới có căn trí bén nhạy, c̣n chúng ta bây giờ đần độn, ngu tối. Thật ra nếu xét kỹ có phải vậy không? Hồi xưa có người thông minh nhưng cũng có người đần độn. Ngày nay cũng thế, có nhiều người thông minh lắm chứ. Biết bao điều người xưa chưa biết, bây giờ nhờ khoa học và văn minh chúng ta được biết. Có những việc người xưa không làm được mà bây giờ ta làm được, tại sao lại nói ta đần độn? Như vậy bây giờ phải khôn hơn hồi xưa chứ! Nếu dại hơn th́ hồi xưa chỉ biết đi bộ, sao bây giờ biết đi máy bay. Hồi xưa cái ǵ cũng thô sơ sao bây giờ cái ǵ cũng tinh vi? Người đời khôn hơn thời xưa, chẳng lẽ người tu dại hơn người xưa? Sao tệ vậy! Cho nên tôi không chịu. Tôi nói người xưa làm được th́ ngày nay chúng ta làm cũng được, chỉ có điều chúng ta làm có đúng như người xưa không. Người xưa do đủ điều kiện mà thành công th́ chúng ta nếu đủ điều kiện chắc chắn cũng sẽ thành công. Cứ cho rằng người xưa thông minh, thượng căn thượng trí và nghĩ ḿnh là đần độn, như vậy là tự khi ḿnh; mà khi ḿnh th́ tiến không được.

Trong nhà Thiền có câu: "Đệ tử bằng thầy là đă thua thầy nửa đức, đệ tử hơn thầy mới kham ǵn giữ sự nghiệp của thầy". Tại sao trong nhà Thiền nói như vậy? Thí dụ như tôi tu năm mươi năm, bây giờ có người đệ tử ngộ bằng tôi, nhưng tu mới mười năm th́ đă thua tôi phân nửa rồi. V́ ngộ th́ bằng nhưng công đức tu chưa bằng, nên nói thua thầy. Khi nào thầy ngộ mười mà đệ tử ngộ được hai mươi mới kịp với thầy. Vậy ông thầy trông cho đệ tử giỏi hơn, chớ không muốn đệ tử thua ḿnh. Không nên nói: "Ta trước căn cơ bậc thượng, c̣n người sau căn cơ bậc hạ, tu không được". Người sau vẫn có khả năng như người trước, chỉ có điều nếu người sau không làm đúng nguyên tắc người trước đă làm th́ người sau tu sai trật; sai trật th́ tu không có kết quả.

Gần đây tôi thấy Tăng, Ni tu có tiến, thỉnh thoảng một vài Phật tử tu cũng có tiến. Như vậy tôi rất mừng, v́ việc làm của chúng ta không phải phí công vô ích, mà có kết quả thật sự. Người nào ham tu th́ giảm phiền năo, một trăm phần cũng giảm được vài chục phần. Như vậy có tu th́ có tiến. Tu ít th́ kết quả ít, tu nhiều th́ kết quả nhiều. Tất cả kết quả đó đều do công phu soi sáng lại chính ḿnh để nhận ra cái chân thật của ḿnh. Khi đă nhận ra rồi th́ tự ḿnh sẽ vượt qua hết những khó khăn, những đau khổ ở đời. Đến đây tôi kể thêm một chuyện nữa để làm sáng tỏ thâm ư trên. Câu chuyện này được trích từ tác phẩm "Góp nhặt cát đá" của Nhật Bản. Có một chú mù lâu ngày nhớ bạn, nên hôm đó chú chống gậy đi t́m thăm bạn. Gặp lại bạn cũ chú mừng quá nên ở chơi, nói chuyện đến khuya vẫn chưa chịu về. Thấy vậy, người bạn nhắc chú: "Đă khuya quá rồi anh nên về", chú mới chịu về. Người bạn thấy bên ngoài trời tối mà bạn ḿnh lại mù, sợ nguy hiểm nên nói:

- Để tôi đốt cho anh cây đèn, anh cầm đi về.

Chú mù cười:

- Tôi th́ ngày như đêm, đêm như ngày; bây giờ anh đốt đèn, tôi cũng đâu thấy cái ǵ.

Anh bạn nói:

- Biết vậy. Nhưng nhờ anh cầm cây đèn, người khác thấy được sẽ không đụng anh.

Nghe có lư nên chú mù cầm đèn đi về. Được nửa đường bỗng có người đầu kia đi lại đụng phải, chú la lên:

- Bộ anh không thấy tôi sao?

Người kia nói:

- Dạ thưa ông, tôi không thấy.

- Tôi cầm cây đèn đây mà anh không thấy à?

- Cây đèn của ông đă tắt từ bao giờ rồi!

Qua câu chuyện đó quư vị hiểu thế nào? Nếu ḿnh không tự sáng, dù cho người khác đem ánh sáng đến trao tay cho ḿnh cũng không cứu được ḿnh. Đèn bên ngoài đưa lại, đó là hữu sư trí. Trí do người khác cho ḿnh th́ cứu ḿnh không được, chỉ con mắt ḿnh sáng mới cứu được ḿnh thôi. Mắt ḿnh sáng đó là vô sư trí, không ai dạy mà tự sáng. Bởi vậy nên người học Phật hay tu Phật phải khai thác trí sẵn có của ḿnh là quư hơn hết.

Kế nữa là câu chuyện của Ngài Đức Sơn. Một hôm Ngài đứng hầu thầy là Thiền sư Sùng Tín. Thấy khuya quá ngài Sùng Tín bảo:

- Ông đi nghỉ đi.

Ngài Đức Sơn vâng lời xá thầy, vén rèm bước ra. Thấy bên ngoài tối quá nên Ngài quay trở lại, ngài Sùng Tín hỏi:

- Sao ông trở lại?

Ngài Đức Sơn thưa:

- Bạch Ḥa thượng, bên ngoài trời tối đen.

Nghe nói vậy, ngài Sùng Tín bèn đốt cây đèn cầm đưa cho Đức Sơn. Đức Sơn vừa đưa tay nhận cây đèn th́ ngài Sùng Tín vụt thổi tắt. Ngài Đức Sơn liền ngộ. Như vậy ngài Đức Sơn ngộ cái ǵ? Nếu ḿnh thấy tối phải nhờ đèn, nhưng nếu đèn do người khác trao th́ chưa làm ḿnh sáng được. Ngài Đức Sơn vừa cầm đèn th́ ngài Sùng Tín liền thổi tắt. Ngay đó Đức Sơn tự bừng ngộ, cho nên "cái đó" phải tự ḿnh sáng ra, chớ người khác trao cho không được.

Như vậy tôi giảng Thiền, dạy Thiền cũng chỉ là hướng dẫn cho quư vị thực hành thôi, sáng hay tối là do quư vị chớ không phải tôi. Bởi tôi không có khả năng làm cho quư vị sáng mà chỉ hướng dẫn thế này, thế nọ... rồi tự quư vị theo đó tự khai thác, tự ngộ. Chừng nào ngộ, báo tin cho tôi mừng thôi. Tôi không làm ǵ cho quư vị cả. Lẽ thực trong đạo là vậy.

Qua những câu chuyện trên, chúng ta thấy người tu Thiền là người đang đào bới thửa đất tâm của ḿnh để t́m cho ra ḥn ngọc trong đó. Đến khi nào chúng ta phát hiện và nắm ḥn ngọc được rồi là điều quư nhất, đáng mừng nhất của người tu. Được "cái đó" mới gọi là chân thật, c̣n tất cả những ǵ chúng ta hiểu, chúng ta nghe ai nói chỉ là phụ thôi. Đó là ư nghĩa vô sư trí mà mỗi người chúng ta phải tự thấy, tự biết.

Nếu không nhờ vô sư trí th́ có lẽ các nhà khoa học sẽ không có các phát minh. Bởi v́ phát minh là thấy biết, phát hiện ra những điều từ trước đến giờ chưa ai biết; mà điều chưa ai biết th́ ai dạy ḿnh? Chỉ người có chí dồn hết tâm lực vào một việc, rồi ngày nào tự bừng sáng lên, gọi là phát minh. Người thế gian lo giúp cho đời nên phát minh vật chất, c̣n chúng ta tu hành th́ lo phát minh cái sẵn có của ḿnh. "Cái đó" bị chôn vùi, bây giờ chúng ta phải làm cho nó sáng ra, hiển bày ra. Khi được sáng, được hiển bày rồi th́ lúc đó chúng ta phải làm ǵ nữa, chui vô non vô núi ở cho đến chết luôn phải không? Khi ḿnh nhận được ḥn ngọc thật và biết mọi người cũng đều có ḥn ngọc đó nhưng họ quên, th́ chúng ta khởi ḷng từ bi thương tất cả, muốn chỉ anh có, tôi có, người khác có. Chỉ ra ḥn ngọc của mỗi người sẵn có là cái chỉ b́nh đẳng, không thiên vị. Dù kẻ đó là quan nhưng ông quên, ḿnh cũng thương như người khác, c̣n kẻ cùng đinh mà quên th́ ḿnh cũng thương như ông quan. Bởi v́ chúng ta chỉ thương cái mê, cái quên của họ thôi. Nếu nói thấy ai nghèo ḿnh thương, c̣n người giàu không thương, như vậy là mất b́nh đẳng. Thương cái mê, cái quên v́ họ có của báu mà không nhớ, nên người nào quên chúng ta cũng thương, như vậy ḷng thương đó mới b́nh đẳng. Chính v́ ai cũng có của báu, có ḥn ngọc quư, nên dù nam hay nữ cũng tu thành Phật được hết. Chỉ quên th́ không có, c̣n nhớ và ráng tu là được. Thế nên tinh thần Thiền tông hết sức b́nh đẳng, nam nữ như nhau, ai cũng có ḥn ngọc quư nên ai cũng có quyền thành Phật cả.

Trong kinh Pháp Hoa, phẩm Đề Bà Đạt Đa, có Long Nữ được ngài Văn Thù giáo hóa. Ngài Văn Thù nói với ngài Xá Lợi Phất: "Long Nữ này sẽ thành Phật", ngài Xá Lợi Phất không tin v́ người nữ và hơn nữa là súc sanh th́ làm ǵ thành Phật được. Long Nữ nghe nói như vậy liền đem viên ngọc minh châu dâng lên cúng dường Phật. Phật nhận, Long Nữ hỏi ngài Xá Lợi Phất:

- Tôi dâng ngọc, đức Thế Tôn nhận có mau không?

Ngài Xá Lợi Phất nói:

- Mau.

- Tôi thành Phật cũng mau như vậy đó.

Liền khi đó Long nữ ẩn ḿnh qua nước khác thành Phật. Như vậy là sao? Văn Thù Sư Lợi trong kinh Pháp Hoa là tiêu biểu cho vô sư trí. Đă có vô sư trí th́ nam nữ ǵ cũng thành Phật chớ không phân biệt phái nào.

Người nữ đứng về mặt nghiệp tướng th́ khác, nhưng về mặt vô sư trí th́ b́nh đẳng với người nam. V́ vậy Thiền tông luôn khai thác trí vô sư đó. Dưới con mắt nhà Thiền thấy nam nữ b́nh đẳng như nhau, ai cũng có khả năng thành Phật. Tăng Ni, Phật tử nam hay Phật tử nữ, cho đến cả người thế gian chưa từng biết đạo cũng có ḥn ngọc quư, cho nên không ai là kẻ bần cùng, chỉ người quên mới bần cùng thôi.

Nếu chúng ta ứng dụng tu cho đến nơi, đến chốn th́ quyền thành Phật là quyền của ḿnh, chớ không phải Phật cho ḿnh thành Phật. Phần nhiều chúng ta mong muốn được Phật thọ kư, nhưng chúng ta có làm được th́ Phật mới thọ kư, c̣n không làm được th́ Phật làm sao thọ kư? Chúng ta có quyền làmPhật và chúng ta cũng có quyền làm ngạ quỷ, súc sanh. Chính v́ chúng ta có quyền đó nên chúng ta phải nỗ lực tinh tấn tu hành, để đi lên chớ đừng đi xuống. Không ai phạt chúng ta cả, trời không phạt, Phật không phạt mà chỉ v́ ḿnh chọn đường đi. Chọn đường đi xuống th́ đi xuống, chọn đường đi lên th́ đi lên, tất cả đều do ḿnh chọn.

Có người nói Thiền tông nói ǵ cũng hướng về ḿnh hết, không nhờ bên ngoài; như vậy không nhờ Phật sao? Thật ra chúng ta phải hiểu như vầy: Phật chỉ cho chúng ta đường lối tu, căn bản các pháp tu là đă gia hộ cho chúng ta rồi. Cũng như quư vị không biết ǵ hết, tôi chỉ cho quư vị biết chút chút rằng, quư vị có ḥn ngọc quư báu, có cái sáng suốt, nhưng quư vị phải tự t́m lấy. Đó là tôi đă gia hộ cho quư vị, chớ đâu phải đợi gặp tai nạn rồi ban cho điều này, điều kia mới gọi là gia hộ. Hướng dẫn một lối đi, chúng ta theo đó tự sáng lên tránh khỏi mọi khổ đau. Đó gọi là gia hộ. Lại, nói về thầm gia hộ th́ như đứa học tṛ siêng năng cần mẫn, thông minh, thầy cô giáo dạy đâu đều học, đều hiểu và đều thực hành được hết. Làm bài nó có xin thầy giáo cho con điểm cao và thầy cô có chiều nó không? Nếu nó thông minh, học giỏi, làm bài hay th́ nhất định thầy cô phải cho điểm cao. Cho điểm cao là thầy cô thương nó hay là tại cái ǵ? Tại nó cố gắng học.

Cũng vậy, người tu của chúng ta, nếu tu chân chánh, cần mẫn th́ sau này có kết quả tốt. C̣n nói rằng Phật thọ kư hay Bồ tát hướng dẫn cho ḿnh, thật ra đó là do công phu nỗ lực của ḿnh, cố gắng thực hành theo lời dạy bảo của các Ngài, nên việc tu mới có kết quả. Nhờ sự nỗ lực, cố gắng đó mà được điểm tốt. Thầm gia hộ là như vậy. Phật thương chúng ta, muốn chúng ta tu tiến từ chính sự cố gắng nỗ lực của chúng ta. Được thế, Phật mừng và khen ngợi; khen ngợi đó là thầm gia hộ rồi.

Hôm nay tôi đến thăm Đạo tràng Thái Tuệ, vừa để biết chỗ nơi tu hành của quư Phật tử, vừa trực tiếp nhắc nhở sách tấn quư vị tu tập. Tôi nghĩ quư Phật tử cũng từng nghe giảng, nghe tôi nói nhiều rồi, mong rằng từ đây về sau tất cả quư Phật tử trong Đạo tràng và những Phật tử xung quanh biết ḿnh có của báu quư giá rồi, phải ráng nỗ lực khai thác t́m ra cho được mà dùng, đừng làm cùng tử lang thang nữa. Đó là sự mong mỏi của tôi.


 

TAM HUỆ HỌC - TAM VÔ LẬU HỌC

Ngày xưa tôi đă từng nói, tôi là kẻ nợ của Tăng Ni. Có nhiều người lấy làm lạ, tại sao tôi là kẻ nợ của Tăng Ni? Bởi v́ suốt đời tôi từ khi học đạo rồi đi dạy măi cho tới ngày nay, lúc nào cũng đem hết tâm tư lo lắng suy nghĩ, giúp cho Tăng Ni tu được, học được, có kết quả tốt. Bởi suy nghĩ như vậy nên ở đâu tôi cũng lo lắng cho Tăng Ni. Thế nên tôi nghĩ rằng người lănh đạo Phật giáo Việt Nam, hiện tại và mai sau không thể chối bỏ trách nhiệm đối với Tăng Ni được. Tại v́ Phật giáo Việt Nam c̣n hay mất là gốc ở Tăng Ni.

Là đệ tử Phật, lúc nào chúng ta cũng nhắm thẳng cội gốc để lo xây dựng và giữ ǵn mạng mạch của Phật pháp. Một ngôi chùa mà thiếu Tăng Ni trụ tŕ hướng dẫn cho Phật tử th́ ngôi chùa đó không phát triển được. Như vậy rơ ràng trách nhiệm của Tăng Ni rất nặng đối với Phật giáo. Nếu Tăng Ni không đủ tư cách học, tu và giáo hóa th́ trách nhiệm đó không tṛn. Muốn việc học, tu và giáo hóa đầy đủ th́ phải hội tụ được ba yếu tố mà nhà Phật gọi tam huệ học, nghĩa là Văn Tư Tu.

Văn là chúng ta học với những bậc trưởng thượng, những người đi trước, các Ngài đem sự thấy, nghe, hiểu giảng dạy cho chúng ta. Chúng ta lắng nghe để nhập thần những điều ấy, đó là văn. Tuy nhiên đạo Phật không cho phép chúng ta nghe rồi tin liền, mà phải vận dụng trí tuệ của ḿnh để gạn lọc, suy lường, xem lời dạy ấy có phải là chân lư chưa, đúng lẽ thật chưa? Bởi v́ những vị đi trước chúng ta cũng là phàm tăng chứ chưa phải thánh tăng. Đă là phàm th́ có điều nói rất đúng nhưng thỉnh thoảng vẫn có điều nói sai. V́ vậy mà chúng ta phải gạn lọc, nghe rồi suy tư, gẫm xét lại điều chúng ta nghe có đúng lẽ thật hay không? Khi suy gẫm xét đoán như vậy là chúng ta có trí tuệ nên gọi là tư huệ. Có văn mà không có tư là thiếu sót lớn, bởi v́ nghe đâu tin đó, nói đúng cũng tin, nói sai cũng tin th́ người đó chưa đủ thông minh trí tuệ. Nên tư huệ là điều kiện thiết yếu giúp chúng ta mở sáng con mắt trí tuệ của ḿnh. Nhưng tư không chưa đủ. Nghe và nghiệm lời đó đúng th́ chúng ta phải tu, nghĩa là ứng dụng điều đó vào ngay trong cuộc sống. Đây gọi là tu huệ.

Như nghe nói về lư vô thường th́ chúng ta phải suy gẫm lư vô thường có thật đúng hay chưa, có ǵ ngoại lệ không? Suy gẫm đến nơi đến chốn thấy đúng liền ứng dụng lư vô thường vào cuộc sống của ḿnh. Ứng dụng thế nào? Chúng ta thấy đời vô thường nên chán quá, hết muốn làm ǵ phải không? V́ vô thường nay c̣n mai mất th́ làm chỉ uổng công nhọc sức. Suy nghĩ như vậy đúng không? Không đúng. Khi chúng ta hiểu cuộc đời là vô thường, chúng ta cần phải tranh thủ. Ngày nay, giờ này ḿnh c̣n khỏe mạnh, phải học, phải tu, làm lợi ích cho chúng sanh, để mai kia chết rồi làm sao tu, làm sao học, làm sao lợi ích cho chúng sanh được. Như vậy là biết ứng dụng lư vô thường.

Cho nên các Tổ hồi xưa thường dạy: Thị nhật dĩ quá, mạng diệc tùy giảm, như thiểu thủy ngư, tư hữu hà lạc, đại chúng đương cần tinh tấn, như cứu đầu nhiên v. v… Nghĩa là, ngày nay đă qua, mạng sống của chúng ta giảm đi một phần, như con cá ở dưới ao nước sắp cạn, mỗi ngày qua là mỗi ngày gần với cái chết. Vậy phải làm sao? Phải tinh tấn tu hành, làm lợi cho người gấp, như cứu lửa cháy đầu. Nếu đầu có tóc bị một đốm lửa rớt vào, lúc đó chúng ta thong thả xem nó ngún ra sao hay phải dập tắt liền? Phải dập tắt liền. Cũng vậy, biết được thân này vô thường, mạng người trong hơi thở th́ chúng ta không thể chần chờ được, không thể sống ngày nay, chờ ngày mai, sống ngày mai chờ ngày mốt. Cứ như vậy để ngày qua ngày, mất hết th́ giờ quư báu. Chúng ta phải ứng dụng lư vô thường vào việc tu, việc học để tự lợi và làm lợi ích cho chúng sanh. Đó là hiểu được lư vô thường. Như vậy là Văn Tư Tu nhịp nhàng theo nhau. Nếu nói hiểu lư vô thường mà chỉ ngồi nói dóc với nhau chơi chớ không gắng tu, gắng học, gắng làm việc lợi ích cho chúng sinh th́ chưa thể gọi là hiểu lư vô thường đúng với tinh thần Phật dạy.

Tôi nhắc lại Văn Tư Tu huệ. Văn là học, học rồi suy gẫm nhận xét là Tư. Từ Văn, Tư ứng dụng tu hành là Tu, đó là giáo lư căn bản của người học Phật.

Nhưng ngoài ba điều căn bản của người học Phật này c̣n có ba điều nữa là Giới, Định, Tuệ. Ba điều này gọi là tam vô lậu học, nghĩa là sao? Tức là ba việc học không bị lọt, không bị rớt. Nói cách khác là ba môn học giải thoát. Chữ vô lậu: Vô là không, lậu là rớt. Không rơi rớt ở đâu? Không rơi rớt trong tam giới. Mà không rơi rớt trong tam giới là giải thoát rồi. Nên nói tam vô lậu học nghe khó hiểu, mà phải nói rơ rằng ba môn học để giải thoát sanh tử. Tam huệ học là để sống tu và làm lợi ích chúng sinh, c̣n tam vô lậu học này là để giải thoát sanh tử. Muốn tu giải thoát sanh tử th́ phải có đủ giới định tuệ.

Giới là giới luật. Hàng Sa di th́ giữ 10 giới. Tỳ kheo 250 giới, Tỳ kheo Ni 348 giới. Giữ giới là điều căn bản, nhưng thực t́nh tôi thấy chư Tăng Ni bây giờ không giữ nổi những giới chi tiết. Như hiện chúng ta tu theo Bắc tông, buổi chiều đâu phải ai cũng ăn cháo sơ sơ như trong luật dạy. Như vậy có giữ được giới thứ chín chưa? Đó là tôi nói chi tiết nhỏ, hạn cuộc trong giới của Sa di thôi mà ḿnh c̣n chưa giữ tṛn, huống nữa là giới Tỳ kheo, các phần chi tiết như y bát v. v… không thể giữ được. V́ vậy nên chủ trương của tôi là Tăng Ni phải giữ những giới căn bản, giữ cho được. C̣n những chi tiết, giữ được bao nhiêu tốt bấy nhiêu. Quan trọng là những giới căn bản. Đó là giữ giới.

Từ giới sanh định. Thường người ta nói giới sanh định nhưng thật sự giới chưa sanh định. Giới chỉ giúp để bảo vệ cho chúng ta tăng trưởng thiền định. Thí dụ chúng ta ngồi thiền cốt để cho tâm không xao lăng, không chạy bậy. Nếu người nào phạm giới rồi th́ ngồi nhưng tâm vẫn chạy bậy, kềm không nổi. Vậy nên giới là hàng rào ngăn ngừa không cho chúng ta chạy bậy hay rơi vào những nơi tội lỗi sâu thẳm khác.

Nếu nói cho đủ giới là Pḥng phi chỉ ác. Pḥng là ngừa, phi là lỗi, ngăn ngừa các lỗi cho ḿnh, chỉ ác là dừng bỏ tội ác. Như vậy giới có tánh cách ngừa lỗi và dứt ác cho chúng ta, chớ không phải là thiền định. Nhưng giới giúp cho thiền định. Nên trong kinh hay ví dụ ngọn đèn đốt để ngoài trời bị gió thổi nên dễ tắt. Nếu ngọn đèn đó có ống khói chụp lên th́ nó đứng yên. Cũng vậy, giới như ống khói chụp đèn, giữ cho ngọn đèn trí tuệ của chúng ta được sáng. Giới là ngừa đón, nên nói giới sanh định là v́ thế. Nhờ có giới cũng như nhờ có bóng đèn nên ngọn đèn không bị tắt. Cũng vậy, nhờ giới mà tâm chúng ta không xao lăng, được yên định, yên định nên trí tuệ phát khởi. V́ vậy mà nói giới sanh định, chúng ta không nên hiểu lầm giới trực tiếp sanh ra định. Phải có pháp tu thiền định mới tăng trưởng được trí tuệ. Nên nói định sanh tuệ.

Tại sao thiền định lại sanh trí tuệ? Chúng ta do học nên sanh trí tuệ th́ có lư, c̣n thiền định là không suy nghĩ ǵ cả, sao lại sanh trí tuệ? Đây là vấn đề Tăng Ni cần phải hiểu cho tường tận. Tôi mượn một ví dụ để nói rơ điều này. Ví như có cái lu không, chúng ta xuống ao múc nước đổ vào lu. Nước mới đổ vào c̣n đục, chúng ta nh́n vô trong lu không thấy bóng mặt ḿnh. Tại sao? V́ nước đục cấu bợn, không trong, không sáng nên không thấy h́nh ảnh bên ngoài. Bây giờ chúng ta chịu khó quậy rồi lóng cặn xuống chừng một vài giờ, các cặn bă lặng hết xuống tận đáy lu rồi th́ khi đó nước trong, chúng ta nh́n vô mới thấy mặt ḿnh rơ ràng. Chẳng những đầu mặt ḿnh mà tất cả cảnh vật đều chiếu rọi trên mặt nước đó.

Cũng như vậy, chúng ta tu thiền định là để lóng lặng tâm vọng. V́ tâm này chạy như khỉ vượn. Bởi chạy như khỉ vượn nên nó xáo trộn, muốn hết ngàu đục th́ phải lóng lặng lại. Lóng lặng lại tức là thiền định, khi lóng lặng rồi th́ trí tuệ phát sáng. Vậy trí tuệ đó là trí tuệ ǵ? Trí vô sư. Từ Văn Tư Tu cũng có trí tuệ. Từ Giới Định Tuệ cũng có trí tuệ, vậy hai thứ trí tuệ này là một hay khác? Khác vậy. Trí tuệ trước là trí hữu sư, trí do có học. Trí tuệ sau là trí vô sư, không do học. V́ lúc thiền định đâu có học với ai. Mọi thứ vọng động lặng xuống th́ sáng. Đấy gọi là trí vô sư. Trí hữu sư là trí từ bên ngoài mà được, c̣n trí vô sư là trí tự tâm ḿnh phát ra. Như vậy trí vô sư mới có công năng giải thoát sanh tử, c̣n trí hữu sư không giải thoát nổi. Hiểu như vậy chúng ta mới nắm vững con đường tu.

Đức Thế Tôn khi chưa thành đạo, Ngài ngồi dưới cội Bồ-đề bốn mươi chín ngày đêm. Ngài ngồi như vậy để làm ǵ? Ngồi để thiền định. Khi định đă sâu, tâm vắng lặng bỗng dưng phát ra trí tuệ sáng suốt vô cùng. Trí tuệ ấy từ trong nội tâm lưu xuất, cho nên khi sáng lên rồi, Ngài biết tất cả những ǵ trước kia chưa từng biết. Bởi v́ sau khi ngộ đạo dưới cội Bồ đề th́ Ngài có đủ Tam minh, Lục thông, Tứ vô sở úy, Thập bát bất cộng v. v…

Ở đây tôi chỉ nói Tam minh thôi.

Một là Túc mạng minh: Khi Ngài tu, tâm lóng định phát sáng liền nhớ lại vô số kiếp về trước đă từng ở đâu, làm ǵ, tên ǵ v. v… đây gọi là Túc mạng minh. Khi ấy tâm hoàn toàn thanh tịnh, Ngài nhớ lại câu hỏi khi c̣n tại gia Ngài đă thắc mắc, con người từ đâu đến, trước khi có mặt ở đây ḿnh ở đâu? Giờ phút chót bừng sáng Ngài nhớ rơ ràng.

Trong một bài kinh A-hàm Phật có kể: Khi Ngài chứng Túc mạng minh Ngài nhớ lại vô số kiếp về trước như chuyện mới xảy ra hôm qua. Nhớ một cách rơ ràng tường tận. Từ đó Ngài hiểu được và giải quyết được vấn đề con người từ đâu lại. Chúng ta không phải ngẫu nhiên có mặt một lần ở đây, mà từ thuở nào lang thang luân hồi. Bây giờ được làm người mới biết tu hành để thấy rơ cội gốc ấy. Do đó đức Phật thừa nhận thuyết luân hồi là chân lư.

Hồi c̣n học Tăng, tôi thường khổ sở về vấn đề này. Bởi nghiên cứu kỹ những sách vở Ấn Độ tôi thấy thuyết luân hồi nghiệp báo có từ đạo Bà-la- môn, chớ không phải do Phật đặt ra. Tôi hơi mặc cảm, tại sao Phật lại nhận giáo pháp của người ta. Nhưng về sau tôi thấy điều đó không lỗi lầm ǵ cả. Khi ngộ đạo, thấy được lẽ thật rồi th́ ai nói đúng chúng ta nhận là đúng, sai biết là sai. Nếu việc đúng mà chúng ta không thừa nhận là ḿnh quá thiên kiến rồi. Cho nên đức Phật rất sáng suốt. Những ǵ trước đúng th́ Ngài dùng, trước sai th́ Ngài sửa, chớ không phải bác bỏ tất cả để lập một triết thuyết hoàn toàn của riêng ḿnh. Như vậy tinh thần của đức Phật rất là khoa học.

Ngày nay các nhà khoa học nghiên cứu những vấn đề mà họ thắc mắc. Khi phát minh được, thấy đúng như những ǵ người trước phát minh th́ họ không bác bỏ mà càng trân trọng thừa nhận. Như vậy tinh thần học Phật rất khoa học, không có tánh cách độc đoán tự lập để khoe ḿnh giỏi. Điều ǵ trước đúng nhận là đúng. Điều ǵ biết sai bảo là sai để chỉnh lại, đó là tinh thần của đạo Phật.

Khi chứng Túc mạng minh rồi, Ngài thấy không phải Ngài có mặt một lần mà vô số lần hiện thân trong các loài khác nhau. Hiểu như vậy nên Ngài nói con người là luân hồi. Do đó nhà Phật thường nói lang thang trong kiếp luân hồi, nay đây mai kia, không biết bao nhiêu lần sanh bao nhiêu lần tử. Điều này Phật đă thấy rơ chớ không phải học của người trước.

Thế nên trong kinh A-hàm, mới nghe Phật nói thấy như bi quan, như "nước mắt chúng sanh nhiều hơn nước biển". Lời này đúng không? Xét trong một đời chúng ta gom lại chừng bao nhiêu nước mắt? Được một chén đi. Như vậy mỗi người một chén, một triệu người gom lại chừng một hồ, một ao là nhiều. Nếu mấy trăm triệu người gom lại chừng bằng con sông nhỏ thôi, sao Phật nói nhiều hơn nước biển cả? Chúng ta hiểu cạn cợt th́ không thể tin lời Phật nói được. Phải hiểu xa hơn, v́ Phật nói nước mắt chúng sinh đâu chỉ một lần này mà vô số kiếp sanh tử, vậy nước mắt ấy không nhiều hơn nước biển cả là ǵ? Gom hết cái khổ đời này đời trước, đời trước nữa v. v… mới thấy cái khổ quá lớn v́ không phải chỉ ở một đời. Song phần nhiều chúng ta chỉ nhớ trong đời này nên cho rằng Phật nói quá đáng, chớ sự thật không phải quá đáng. Đó là lời nói chí lư. Đức Phật nói luân hồi không phải do suy gẫm mà do ngộ đạo rồi, thấy đúng như thật mà nói.

Hai là Thiên nhăn minh: Túc mạng minh là đứng về thời gian quá khứ, hiện tại, vị lai. Thiên nhăn minh là đứng về không gian. Minh này thấy được vật hết sức nhỏ, hết sức xa, thấy tường tận nghiệp quả của tất cả chúng sanh. Chúng sanh ra đời là do nghiệp của quá khứ hoặc lành hoặc dữ, mà dẫn tới thọ sanh đời này, tốt xấu khác nhau, thấy rất rơ ràng.

Kinh nói, khi chứng được Thiên nhăn minh rồi, Ngài thấy trong bát nước có vô số vi trùng. Hai mươi lăm thế kỷ trước khoa học chưa phát triển, chưa có kính hiển vi mà đức Phật đă thấy được vi trùng. V́ vậy các chùa Bắc tông trước khi uống nước hay tụng bài kệ "Phật quán nhất bát thủy, bát vạn tứ thiên trùng" v. v… Nghĩa là, Phật nh́n trong một bát nước thấy tám vạn bốn ngàn vi trùng. Hồi đó ai tin lời Phật nói. Không ai tin hết. Chỉ có những vị chứng A La Hán mới tin.

Một lần có vị Tỳ-kheo chứng A La Hán đi đường, khi qua sa mạc khát nước quá, Ngài gặp cái ao hơi cạn định lấy nước uống. Nhưng khi dùng thiên nhăn, Ngài nh́n thấy vô số vi trùng ở trong nước nên không dám uống và trở lại bạch Phật:

- Con quá khát nước mà t́m được ao nước th́ thấy vô số vi trùng nên không uống được. Bạch Thế Tôn, bây giờ con phải làm sao, nhịn khát để chết hay là uống?

Phật quở:

- Sao ông không dùng nhục nhăn để nh́n. Nếu dùng nhục nhăn th́ không thấy vi trùng.

Nghe Phật dạy vậy Ngài liền dùng nhục nhăn nh́n nên không thấy vi trùng. Nhờ thế Ngài khỏi chết khát.

Như vậy rơ ràng Phật thấy được vi trùng, các vị A La Hán thấy được vi trùng. Nên trong Luật dạy chúng ta lọc nước trước khi uống là v́ thế. Đi đâu phải mang theo đăy lọc nước v́ sợ uống nước sẽ giết hại vi trùng. Ngày nay chúng ta không mang đăy lọc nước theo là v́ nước đă được lọc sẵn rồi, chỉ cần vặn robinet là uống liền, mang đăy lọc theo chi nữa.

Hiện nay có người đi đâu cũng quải theo nào là đăy lọc nước, y bát, đủ thứ hết nhưng không bao giờ dùng. Đó là chỉ biết giữ mà không biết dùng. Sở dĩ Phật chế giới, chế món đồ là cần thiết với hoàn cảnh bấy giờ. Cái lọc dùng để lọc nước uống cho không hại vi trùng. Ngày nay nước hoặc nấu chín, hoặc đă khử trùng rồi th́ đem theo lọc để làm ǵ? Tôi chủ trương giới luật là quan trọng nhưng giới nào hợp với hoàn cảnh của ḿnh th́ áp dụng, c̣n giới nào không hợp th́ xin học cho biết thôi, chớ như cái đăy lọc nước đi đâu cũng mang theo mà không dùng th́ thật là cố chấp.

Đó là nói về vật rất nhỏ. C̣n vật xa, Phật nh́n trong bầu vũ trụ thấy có hằng hà sa số thế giới tức là thế giới nhiều như cát sông Ganga ở Ấn Độ. Cát sông Ganga chừng bao nhiêu? Tôi nói gần nhất như cát sông Đồng Nai, có ai đếm được không? Sông Đồng Nai chỉ bằng một phần tư sông Ganga mà chúng ta c̣n không thể đếm nổi th́ cát sông Ganga chừng bao nhiêu?

Ngày xưa người ta cứ tưởng trời tṛn đất vuông. Đất là mảnh ở dưới để chở, c̣n trời là mái ở trên để che, chỉ biết trên trời dưới đất thế thôi, nhưng Phật nh́n thấy ngoài hành tinh của chúng ta c̣n vô số hành tinh khác. Hồi xưa đâu có viễn vọng kính, Phật dùng thiên nhăn thấy được vật ở rất xa, rất nhỏ và do đó Ngài thấy được tường tận nghiệp của chúng sanh. Ai mang nghiệp thiện, nghiệp ác th́ theo nghiệp đó dẫn đi thọ sanh.

Trong A-hàm có một bài kinh Phật nói: Ta nh́n thấy chúng sanh theo nghiệp đi luân hồi trong lục đạo như người đứng trên lầu cao nh́n xuống ngă tư đường, thấy kẻ đi qua người đi lại rơ ràng tường tận, không chút nghi ngờ. V́ vậy Ngài dạy mọi chúng sinh nếu biết tu thiện, tạo nghiệp lành th́ sanh trong cơi lành, c̣n tạo nghiệp dữ th́ sanh trong cơi ác, không sai chạy, không nghi ngờ. Những ǵ Phật thấy và nói lại là do Ngài chứng kiến chớ không phải suy luận. Những bài kinh Bổn sanh hay Bổn sự ngày nay chúng ta đọc được trong tạng chữ Pali hoặc chữ Hán là những bài kinh nói về tiền kiếp của đức Phật và các vị Thánh đệ tử.

Kinh bổn sanh là nói tiền kiếp nhiều đời của đức Phật. Kinh Bổn sự nói sự việc xảy ra giữa các vị Bà la môn hay các vị Tỳ kheo đời trước đă từng làm ǵ, bây giờ chịu cảnh nghiệp quả ấy. Như có vị Tỳ kheo chứng quả A La Hán rồi nhưng đi khất thực vẫn không có cơm ăn. Phật nói vị Tỳ kheo này đời trước bỏ đói một vị Tỳ kheo cùng tu, nên bây giờ đi khất thực không ai cúng, dù đă chứng quả A La Hán.

Như vậy những sự việc của chư Tăng xảy ra trong thời đức Phật, Ngài thấy rơ từ những kiếp trước, Ngài nói và người sau ghi chép lại gọi là kinh Bổn sự. C̣n những sự việc của Ngài về vô số kiếp trước gọi là kinh Bổn sanh. Từ chỗ chứng được Túc mạng minh, nhớ vô số kiếp trước, cho nên mới ghi chuyện Bổn sanh của Ngài. Từ chứng được Thiên nhăn minh, thấy được rơ ràng mỗi người sanh ở đâu. Do theo nghiệp mà sanh cơi lành, cơi dữ chớ không phải ngẫu nhiên, cũng không phải do Phật thương ai đưa về cơi đó, ghét ai đẩy qua cơi kia hoặc thiên đường hoặc địa ngục v. v… Giáo lư đạo Phật không phải vậy, làm lành th́ được quả lành, làm dữ th́ chịu quả dữ. Cho nên đối với lư nhân quả luân hồi của Phật dạy không có ǵ để nghi hết.

Ba là Lậu tận minh: Lậu là lọt, là rớt. Không c̣n rớt trong tam giới nữa, tức là chứng được Lậu tận minh. Đây là vấn đề mà trước khi xuất gia Ngài đi dạo bốn cửa thành thấy người già, người bệnh, người chết, Ngài thức tỉnh. Từ đó Ngài nghĩ phải t́m một phương pháp nào thoát khỏi sanh già bệnh chết, nên Ngài đi tu chính v́ mục đích ấy. Minh cuối cùng này giải quyết được mục đích của Ngài là ra khỏi sanh tử luân hồi và do chứng được Lậu tận minh nên Ngài biết rơ nguyên nhân đi trong sanh tử luân hồi và nguyên nhân ra khỏi luân hồi sanh tử. Biết một cách rơ ràng tường tận. V́ vậy Ngài mới tuyên bố "Ta đă thành Phật".

Như vậy việc ngộ đạo của Ngài từ đâu có? Đó là vấn đề mà người học đạo chúng ta phải nắm thật vững. Nếu không chúng ta sẽ lúng túng. Hồi xưa tôi có cái nghi, nghi Ngài ngồi bốn mươi chín ngày đêm dưới cội Bồ đề là ngồi suốt hay ngồi ít tiếng đồng hồ rồi xả, phải đi ra ngoài giải quyết những vấn đề tiểu tiện v. v… Thật ra những việc này nếu thiếu kinh nghiệm chúng ta sẽ lúng túng. Nên hồi xưa tôi đă nghi và chắc rằng quư vị cũng có người nghi. Nhưng bây giờ th́ tôi hết nghi, tôi biết rơ ràng lắm.

Bởi v́ thiền định mà chưa đến nơi đến chốn th́ chúng ta ngồi trông cho hết giờ. Nếu ngồi một giờ th́ tới nửa giờ sau thấy hơi khó chịu, nghe đồng hồ reo là mừng lắm. Đó là bệnh của người mới tập tọa thiền, c̣n người nhập định được rồi th́ quên thời gian. Hồi xưa sách sử kể lại các Ngài nhập định một năm, nửa năm. Gần đây tôi thấy rơ quanh tôi có những người nhập định suốt bảy ngày mà không nghe nói đói, không mắc tiểu tiện ǵ hết. Tôi đă chứng kiến việc này chớ không phải chỉ nghe kể lại. Ngày nay chư tăng nhập định sơ sơ như vậy c̣n được bảy ngày, huống nữa là Phật. Nếu nhập diệt tận định th́ thời gian rất lâu.

Sách ghi có vị Tỳ kheo vào đời Đường nhập diệt tận định trong một bọng cây bảy trăm năm, cho tới đời Minh cây đó híp lại. Một hôm nhân có giông băo ngang qua, v́ bọng cây mỏng quá nên găy, Ngài rơi ra ngoài. Lính đi tuần không biết khối ǵ, họ mời các Thiền sư đến xem mới biết đây là một vị Tăng nhập định. Thiền sư lắc linh (chuông nhỏ), lúc ấy tóc, móng tay bung lần ra. Vị Tăng nhập định hỏi bây giờ là lúc nào, thời nào. Nghe mọi người kể lại mới biết đă bảy trăm năm. Sức định thật phi thường, chúng ta không thể lấy lượng phàm t́nh mà hiểu được. Có tu mới thấy cái hay, cái cao siêu của người xưa.

Nhân chứng Lậu tận minh nên Ngài rơ được nguyên nhân v́ sao con người phải trôi lăn trong sanh tử và thấy rơ con đường thoát ly sanh tử. Chính bản thân Ngài thoát ra được rồi nên mới thấy, c̣n ở trong đó th́ không thấy. Thí như người ngồi trong lu, không thấy được bên ngoài lu. Muốn thấy toàn bộ cái lu th́ phải ra ngoài mới thấy. Ngài cũng vậy, chứng Lậu tận minh rồi dứt ḍng sanh tử, nh́n lại mới thấy manh mối sanh tử và biết cách để thoát ly. Đó là chủ yếu đời tu của Ngài. Ngài tuyên bố giác ngộ thành Phật là giác ngộ viên măn.

Chúng ta thử t́m xem trí ngộ đạo đó ở đâu mà có, do đâu Ngài biết được manh mối sanh tử và thoát ly sanh tử. Chúng ta nhớ trong kinh Pháp Cú, đức Phật nói: "Ta học đạo không thầy". Không thầy mà sao thành đạo? Do Ngài thiền định nên tất cả vọng tưởng, tất cả những thứ tâm ngàu đục u tối đều lặng tan hết. Từ đó vô sư trí bừng sáng, cho nên Ngài tuyên bố học đạo không thầy. Chúng ta tu theo Phật phải có hai trí. Hữu sư trí là giai đoạn đầu và vô sư trí là giai đoạn cuối, chớ không thể hài ḷng thỏa măn với hữu sư trí.

Trong những năm dạy ở Vạn Hạnh, tôi có chút buồn. Tôi nghĩ rằng vô t́nh người lớn đánh lừa người nhỏ. Tại sao? Bởi v́ tu Phật là dứt bỏ tham sân si, mà bắt Tăng Ni thi. V́ sợ rớt nên họ phải quay bài. Mỗi lần gác thi tôi thấy buồn quá mà không nói được. Như vậy có phải gian tham không? Vô t́nh người trước bày cho người sau gian tham. Họ sợ rớt th́ họ phải bày tṛ. V́ vậy sau này tôi chủ trương học, hiểu, tu chớ không thi. Đó là tôi nói trong nội bộ nước ḿnh. C̣n chuyện nước ngoài nữa.

Những năm tôi đi Ấn Độ, đến trường Nalanda thăm quư thầy, tôi cũng thấy được việc học. Văn bằng Tiến sĩ không phải là vị Giáo sư tu tại Thiền viện cấp mà do Bộ Giáo dục cấp. Ông Bộ trưởng là Thánh hay phàm? Như vậy bằng Tiến sĩ do một người thế tục cấp th́ thử hỏi làm sao? Bởi chúng talà người xuất gia giải thoát, cao siêu hơn tục gia cư sĩ, bây giờ nhận bằng cấp từ một người đời th́ đi tới đâu. Cho nên có nhiều vị nói đùa: Vua Diêm Vương không sợ bằng Tiến sĩ của quư thầy đâu. Chừng nhắm mắt xuống dưới tŕnh, nói tôi đậu bằng Tiến sĩ chắc Diêm Vương cũng cười thôi. Bằng cấp của ông đâu phải do những vị Thánh nhân hoặc chứng A La Hán, Tu đà hoàn, Tư đà hàm cấp mà là cư sĩ phàm tục cấp th́ ai mà sợ.

Sang Nhật Bản gặp quư thầy học ở đây, tôi cũng thấy tương tự như vậy. Bằng Tiến sĩ do Bộ Giáo dục cấp là một danh dự, nhưng cũng từ cư sĩ cấp nữa. Có Bộ trưởng giáo dục nào là người tu đâu. Vậy mà chúng ta rất hănh diện. Chúng ta hiếu học th́ tốt nhưng hiếu danh là không tốt. Đó là điều làm cho chúng ta phải cực nhọc, có khi phạm lỗi lầm.

Người xưa cho học cho thi là có ư nâng đỡ Tăng Ni học tới nơi tới chốn. Nếu chỉ nói tu th́ có nhiều người lười không chịu học, nên bắt phải thi lên lớp như vậy mới ham học. Người sau không hiểu thâm ư ấy nên vô t́nh thành ra bị mắc kẹt trong danh tướng. Nếu học là học chớ không mắc kẹt trên danh tướng th́ hay. Điều này đúng. Ngược lại học mà kẹt danh tướng rồi sanh ra tự cao ngă mạn th́ sai. Như vậy trở thành phàm tục mất, không c̣n đạo lư nữa.

Trí vô sư không phải là trí của sở học mà trí của sự tu. Tu là ǵ? Nếu mỗi ngày chúng ta chỉ có hai thời khóa tụng th́ suốt đời không bao giờ phát sinh trí vô sư. Phải thiền định. Dứt khoát như vậy. Trí của đức Phật thấy vô số thế giới ngoài thế giới của chúng ta, thấy được vi trùng, thấy cả tế bào ở trong con người. Ngày xưa không nói tế bào mà nói vi trùng. Trùng có hai thứ, một là hộ trùng, hai là hoại trùng. Bây giờ gọi là tế bào. Tế bào có sự sinh hoạt giống như vi trùng. Có loại tế bào bảo vệ chống những vi trùng bên ngoài xâm nhập cơ thể, nên gọi là hộ trùng. Tế bào lâu ngày hư hoại nên gọi là hoại trùng. Đức Phật thấy tường tận con người, tường tận thế giới chung quanh. Chỗ Phật thấy Ngài chưa nói hết với chúng ta.

Có một bài trong kinh A-hàm kể, đức Phật đi vào rừng, Ngài nắm một nắm lá khô trong tay rồi hỏi các thầy Tỳ kheo:

- Lá cây trong nắm tay ta nhiều hay lá cây trong rừng nhiều?

Các Thầy trả lời:

- Bạch Thế Tôn, lá cây trong rừng nhiều c̣n lá cây trong nắm tay của Thế Tôn rất ít.

Phật bảo: - Cũng vậy, những ǵ ta biết và dạy cho các ông ít như lá ở nắm tay. C̣n những ǵ ta biết mà chưa dạy cho các ông như lá cây trong rừng.

Bởi vậy nên nói Phật được nhất thiết trí hay nhất thiết chủng trí là trí biết tất cả. Nhưng v́ người sau hiểu quá ít nên Ngài chỉ dạy một ít thôi, chớ chưa dạy hết được. Qua đó, chúng ta thấy giá trị của sự tu cao siêu phi thường, chớ không phải tầm thường. Nhưng phần nhiều những người tu bây giờ chỉ hài ḷng với những cái tầm thường.

Kế tiếp chúng ta t́m hiểu xem nguyên nhân nào khiến cho chúng ta đi trong sanh tử và làm sao để thoát khỏi sanh tử? Bài kinh đầu tiên đức Phật thuyết là Tứ diệu đế. Bài kinh đó là căn bản của sự giải thoát, trong kinh chúng ta thấy hai phần rơ ràng như Khổ đế, Tập đế. Tập đế là nhân, Khổ đế là quả. Quả khổ không thể ngẫu nhiên có mà do tập nhân mới có. Tại sao đức Phật nói ngược, lẽ ra phải nói tập trước, khổ sau. Đây là những ư tứ nhỏ nhưng rất vi tế.

Ví như ngày nay, trong ngành y học thấy hiện những tướng bệnh nặng hay nhẹ là quả. Từ đó người ta phăng t́m ra nguyên nhân, xem hư bộ phận nào, do vi trùng ǵ v. v… mới có cách trị liệu diệt vi trùng. Trước khi t́m vi trùng phải dựa vào hiện tượng ở ngoài v́ nó dễ thấy dễ biết. Từ đó phăng lần vô trong.

Như vậy cách dạy của Phật rất khoa học. Nếu nói tập nhân th́ đâu biết tập nhân là ǵ, nên nói quả khổ trước. Mà mọi người có ai không có quả khổ này đâu.

Tôi nói về tứ khổ trước. Chúng ta có ai tránh khỏi tứ khổ không? Sanh, già, bệnh, chết. Ai cũng sanh già bệnh chết, đó là việc trước mắt. Thêm nữa là bát khổ: Ái biệt ly khổ, cầu bất đắc khổ, oán tắng hội khổ, ngũ ấm xí thạnh khổ. Tứ khổ hay bát khổ ai không có? Đây là lẽ thật không nghi ngờ nên gọi là Đế. Tứ đế là bốn điều chân thật, không bao giờ sai chạy.

Như khổ đế, có người nào thoát khỏi sanh già bệnh chết? Có người nào khỏi ái biệt ly khổ? … Như vậy hoặc tứ khổ hoặc bát khổ, người nào cũng gặp không ai tránh khỏi. Từ quả này mới đi t́m nguyên nhân xem quả khổ từ đâu mà ra. Phăng tới nguyên nhân của nó là tập đế. Tập đế là ǵ? Tức là tham sân si, nói thêm chút nữa là tham, sân, si, mạn, nghi, ác kiến. C̣n nói nhiều hơn nữa th́ vô số. Những thứ phiền năo này là nguyên nhân đưa tới đau khổ, không thể chối căi được. Tất cả chúng ta ai không có tham sân si?

Về tham th́ có tham tài, tham sắc, tham danh, tham lợi, tham thực, tham thùy hoặc tham sắc, thinh, hương, vị, xúc. Nhưng tôi cho rằng con người tham sống là số một. Có người nào không sợ chết đâu? Nếu không sợ chết th́ không tham sống, c̣n sợ chết là tham sống. Bởi sợ chết cho nên chúng ta mới muốn có cái này, cái kia để bảo vệ sự sống. Tham sống là cái tham căn bản, là cái tham chấp ngă cho nên chỗ khác dùng từ ái ngă để chỉ cho cái tham này. Chúng ta nói thương người này, thương người kia, thương người nọ, nhưng thật ra chúng ta không thương ai bằng thương ḿnh hết. Thương ḿnh là thương cái ǵ? Thương thân tứ đại giả hợp này. Song xét cho kỹ thân tứ đại giả hợp này có ǵ đáng yêu, đáng thương không?

Trong kinh Niết Bàn có thí dụ h́nh ảnh tứ xà đồng nhiếp, tức là có bốn con rắn ở chung trong một cái rọ. Đất là rắn, nước là rắn, gió là rắn, lửa là rắn. Bốn con cứ gây lộn nhau hoài. Tất cả chúng ta đều có bốn con rắn đó. Chúng có ḥa không? Rắn đất với rắn nước hay rắn đất với rắn gió cắn nhau th́ sanh bệnh. Như khi nào chúng ta bị trúng gió th́ phải đánh gió cấp tốc. Có ǵ lạ đâu v́ gió mạnh th́ đất rung rinh, ê ḿnh, đánh gió một hồi nghe bớt đau. Nước với lửa cũng vậy. Hôm nào nghe đầu nóng hổi th́ biết lửa mạnh quá, phải kiếm đồ mát uống vô. Khi nào thấy sưng phù là nước tăng, phải uống đồ ấm để b́nh trở lại. Chúng ta điều ḥa đất nước gió lửa như điều ḥa bốn con rắn. Chúng cứ cắn lộn nhau hoài. Nếu bắt chúng ta điều ḥa bốn con rắn thật ở ngoài chắc ḿnh chán lắm. Vậy tại sao điều ḥa bốn con rắn ở trong th́ lại thương nó. Nó làm ḿnh phiền đủ thứ hết mà thương là sao, chúng ta sáng suốt hay si mê? Bởi si mê nên bị chúng điều khiển. Nay chạy kiếm thầy này, mai chạy kiếm thầy kia để điều trị cho nó ḥa lại. Bản chất nó không khi nào chịu ḥa mà chúng ta cứ thương nó hoài.

Thân này do bốn thứ chống chọi nhau hợp thành. Nhiều khi nh́n kỹ tôi thấy tức cười. Người ta cứ trách sao huynh này, huynh kia sống chung không ḥa thuận, nhưng tôi đặt lại câu hỏi: Bản thân ḿnh có ḥa thuận với ḿnh chưa? Thân th́ bốn thứ chọi nhau. Tâm cũng vậy, có lúc nghĩ hay, có lúc nghĩ bậy. Cái nghĩ hay nó rầy cái nghĩ bậy rồi hối hận, tự mâu thuẫn nhau. Ḿnh mà không ḥa được th́ ḥa với ai. Chưa có người nào tự ḥa được trọn vẹn. Nếu ḥa được th́ khỏi đi bác sĩ. Chú nước, chú đất lấn nhau, chú gió, chú lửa cũng cự hoài, không cho ḿnh yên. Cho nên điều ḥa thân ḿnh đă khó, điều ḥa tâm ḿnh lại càng khó hơn, huống nữa điều ḥa với người khác. Cho nên sống giữa đời này là cái ṿng mâu thuẫn. Mâu thuẫn về thân, mâu thuẫn về tâm. V́ vậy nói tới tu là điều hết sức cay đắng. Bởi có nh́n sâu vào con người chúng ta mới thấy đủ thứ phiền.

Phật nói người chủ nuôi bốn con rắn, cố điều ḥa mà nó cứ cắn nhau hoài. Hôm nào rọ hư, bốn con mạnh đứa nào đứa nấy chạy. Thế là ông chủ sửa rọ lại nuôi bốn con khác. Thời gian sau rọ lại hư, chúng bỏ chạy rồi ông chủ cũng tiếp tục sửa rọ nuôi nữa. Cứ như vậy mà tiếp tục nuôi hoài, vừa nuôi rắn vừa thương nó nữa, khổ chưa!

Cuộc đời của chúng ta có giống chú nuôi rắn đó không? Cứ rọ này hư sửa rọ khác nuôi rắn. Khách quan chúng ta phải nói thế nào? Sao ḿnh ngu quá vậy, nó chạy đi lẽ ra chúng ta hết nợ, dại ǵ lại phải nuôi nữa. Do đó mà đức Phật nói chúng sanh đáng thương. Có thân là khổ mà cứ yêu thân. Mất thân này chụp thân khác, chịu khổ vô cùng tận, cứ mải đi trong luân hồi.

Đức Phật nói tham, sân, si, mạn, nghi v. v… là Tập đế, nguyên nhân của mất thân này, t́m thân khác tiếp tục măi măi. Khổ là quả c̣n nhân th́ có nhiều thứ nhưng trọng tâm là ái ngă. V́ ái ngă mà có tham, có sân, có si v. v… Muốn ra khỏi sanh tử phải phá cho được nhân ái ngă này th́ khổ sanh tử mới dừng. Nếu c̣n ái ngă th́ dù nói tu hay ǵ nữa cũng phải trở lại, chớ chưa thể thoát khỏi sanh tử. Cho nên Phật dạy muốn giải thoát sanh tử th́ phải vô ngă. Bởi chúng ta ái ngă nên mất thân này tạo thân khác liên tục trong lục đạo luân hồi. Muốn khỏi luân hồi phải vô ngă, không c̣n niệm ái ngă, không c̣n niệm yêu chuộng cái ta này là thật nữa, th́ lư vô ngă sẽ giúp cho chúng ta thoát ly sanh tử. V́ từ ái mà sanh ra các thứ khác tạo quả khổ. Nhân và quả theo nhau. C̣n ái ngă th́ c̣n luân hồi, không nghi ngờ ǵ nữa. Như vậy Khổ và Tập là nhân quả trong luân hồi.

Bây giờ Phật dạy Diệt đế và Đạo đế là nhân quả giải thoát. Đức Phật nói nếu chúng ta không c̣n sanh tử nữa, đó là Diệt đế. Phật không nói Niết bàn giải thoát mà nói Diệt v́ diệt hết mầm sanh tử là giải thoát. Muốn diệt hết mầm sanh tử phải thực hành Đạo đế. Đạo đế gồm ba mươi bảy phẩm trợ đạo như: Tứ niệm xứ, Tứ chánh cần, Tứ như ư túc, Ngũ căn, Ngũ lực, Thất giác chi, Bát chánh đạo v. v… Đây là pháp để diệt ái ngă. Chúng ta thử xét như Tứ niệm xứ có phải là căn bản để phá ái ngă không?

Một là quán thân bất tịnh. Do quán thân bẩn thỉu, nhớp nhúa không ra ǵ nên chúng ta chán nó, không c̣n tiếp tục ái nó nữa. Kế quán thọ thị khổ, tất cả cảm giác mà mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ư tiếp xúc với sáu trần bên ngoài cảm thọ khổ, lạc, không khổ, không lạc; ba thứ này Phật kết luận đều là khổ. Tại sao? Dù khổ, lạc hay không khổ không lạc đều là những hiện tượng tạm bợ, vô thường, mà vô thường th́ khổ chớ không vui được. Ví dụ như ta nếm được vị ngon. Khi c̣n ở lưỡi th́ thơm ngon nhưng lúc sắp loại ra th́ hôi thối, v́ nó vô thường nên đâu phải lạc thật. Nếu lạc thật th́ trước ngon, sau ngon, trước tốt, sau tốt nhưng không phải thế. Tất cả những thứ khác cũng như vậy. Người ta mê lầm là v́ ái thân. Cứ trau dồi cho nó tốt, nó đẹp để gạt thiên hạ mà cũng gạt chính ḿnh luôn. V́ ḿnh cũng tưởng ḿnh thật đẹp, do đó ái ngă càng trầm trọng. Mà đă ái ngă trầm trọng th́ luân hồi không dứt. Nên Phật bảo thấy thân này nhớp nhúa, bất tịnh. Nhờ thế chúng ta chán không muốn mang thân lần thứ hai nữa, hết lần này th́ bỏ không tiếp tục. Những cảm giác ngon dở, vui buồn Phật kết luận là tướng vô thường đều khổ. Như vậy thọ là khổ.

Hai điều vừa nêu là phần thể xác. Đến tâm vô thường, để thấy bệnh của con người hết chấp thân lại chấp tâm. Thiên hạ hay chấp tâm là thật, tâm là ḿnh. Nhưng tâm đó có thật không? Chúng ta hăy kiểm lại xem. Chấp tôi nghĩ thế này là đúng, ai căi lại th́ giận. Nhưng không biết điều ḿnh nghĩ có bảo đảm đúng chân lư chưa. Bởi nghĩ qua kinh nghiệm hoặc đọc sách vở bên ngoài rồi cho là suy nghĩ của ḿnh th́ đâu hẳn đúng. Ví dụ tôi đang ngồi trên núi, xa xa thấy có đám mây ở hướng Nam, gió thổi tới một hồi th́ mưa. Hôm sau cũng thấy trời sắp chuyển mưa như vậy, nên tôi kêu mọi người dọn đồ đạc vô. Ai không nghe lời tôi giận. Sau đó gió Đông chuyển hướng, mây bay nơi khác, trời không mưa nữa. Như vậy chắc ǵ kinh nghiệm của ḿnh là đúng. Ngày hôm qua mây gió chuyển như vậy th́ mưa, nhưng hôm nay lại khác. Cho nên kinh nghiệm là ư niệm của quá khứ, không thể thấu suốt được vị lai th́ chắc ǵ suy nghĩ từ quá khứ là đúng.

Tôi rất thích lời đức Phật dạy trong kinh A-hàm: Người tôn trọng chân lư là khi nghĩ điều ǵ th́ nói "Đây là cái nghĩ của tôi". Nếu người khác nghĩ không giống ḿnh th́ đó là cái nghĩ của người. Như vậy đâu có căi nhau, nếu cho rằng cái nghĩ của tôi đúng, ai nói khác là sai, hai người đúng gặp nhau th́ đưa tới căi vă. Đó là không tôn trọng chân lư. Tôn trọng chân lư là tôn trọng lẽ thật. Biết suy nghĩ của ḿnh do kinh nghiệm từ quá khứ, có khi đúng, có khi sai th́ người khác cũng vậy. V́ thế chúng ta đừng cho cái nghĩ của tôi là đúng, của người khác là sai.

Chúng ta v́ không biết tôn trọng chân lư nên cứ xảy ra đấu tranh, căi vă nhau hoài. Nếu biết tôn trọng chân lư th́ không như thế. Chúng ta kiểm lại sẽ thấy cái nghĩ của ḿnh không chắc, không đúng. Ngày nay nghĩ thế này, ngày mai nghĩ thế khác, do hoàn cảnh mà có sai biệt, như vậy th́ đâu có cố định được. Nên Phật dạy quán tâm vô thường là một ḍng chảy, luôn đổi thay không thật, đừng cố chấp nó.

Đến quán pháp vô ngă. Pháp có hai: một là tâm pháp, hai là sắc pháp. Tâm pháp tức là tâm sở pháp. Trong Duy thức học kể rơ buồn, thương, giận, ghét, những thứ đó không phải là ta. Vậy mà có ai hỏi th́ nói tôi buồn quá hoặc tôi giận quá. Tôi buồn, tôi giận tức chấp tâm sở pháp là tôi. Nếu buồn giận là tôi th́ khi hết buồn giận là ai? Nếu buồn giận là tôi th́ lẽ ra khi hết buồn giận, cái tôi cũng hết, nhưng tôi vẫn sờ sờ đây. Như vậy có phải sai lầm không? Nên biết tâm pháp không phải là tôi.

C̣n sắc pháp vô ngă là sao? Ví dụ như b́nh hoa, nhân có b́nh có hoa nên gọi là b́nh hoa. Vậy cái ǵ là chủ? Nếu có b́nh mà không hoa th́ gọi b́nh hoa được không? Hay không b́nh, chỉ có cành hoa để ở ngoài th́ gọi là b́nh hoa được không? Như vậy quán sát b́nh hoa chỉ là giả danh, không có chủ thể nên không có ngă. Nhận sâu nơi chúng ta chấp tâm pháp làm ḿnh là sai, sự vật bên ngoài chấp là thật cũng không đúng. Đây gọi là quán pháp vô ngă.

Qua đó chúng ta thấy quán thân bất tịnh, thọ là khổ, tâm vô thường, pháp vô ngă là xoáy thẳng để phá ái ngă. Ái ngă hết là vô ngă, là Niết-bàn, là vô sanh, rơ ràng như vậy. Việc tu của chúng ta cốt để đi tới giải thoát sanh tử, nên đức Phật dạy từ cạn đến sâu để chúng ta thấy tường tận. Như vậy pháp quán Tứ niệm xứ chính là pháp tu thiền. Nên biết giáo lư trọng tâm của đạo Phật, Tứ đế là căn bản. Mà ngay từ Tứ đế, Phật đă dạy như thế nên Thiền định chính là cốt tủy, là nền tảng của đạo Phật.

Tóm lại, chúng ta tu Phật trước nhất phải bắt đầu từ Tam huệ học tức là Văn, Tư, Tu. Kế đó là Tam vô lậu học tức Giới, Định, Tuệ. Tu học như thế để giải thoát sanh tử, là mục đích cứu cánh của người xuất gia.

Như vậy, một tu sĩ biết bổn phận của ḿnh th́ không thể thiếu Tam huệ học và Tam vô lậu học. Có thế chúng ta tu mới đạt được kết quả tốt. Mong rằng tất cả chúng ta nghe hiểu, suy ngẫm và tu tập đúng như những ǵ đức Phật đă dạy, th́ quả giải thoát quyết sẽ đạt được, không nghi.


 

NGƯỜI BIẾT TU PHẬT TH̀ RẤT

NHẸ NHÀNG, THẢNH THƠI

Nhận lời mời của quư Ni trưởng, Ni sư và toàn thể Ni chúng, tôi về đây thăm trường hạ chư Ni và có đôi lời với tất cả quư vị.

Tôi nghĩ người tu xuất gia, ba tháng an cư rất hệ trọng. Mỗi ba tháng an cư qua rồi chúng ta được một tuổi hạ. Ngày măn an cư đức Phật rất hoan hỷ, nên cũng gọi là ngày Phật hoan hỷ. Như vậy Tăng, Ni chúng ta trong ba tháng an cư vận dụng hết khả năng của ḿnh trong việc tu hành. Nhờ cố gắng tinh tấn tu nên qua ba tháng Tăng, Ni đều được thấm nhuần đạo đức. V́ vậy tôi chúc mừng tất cả Tăng, Ni nhờ an cư mà có sức tinh tấn dũng mănh, tâm tư được nhẹ nhàng.

Đề tài tôi nói chuyện hôm nay thật đơn giản: Người biết tu Phật th́ rất nhẹ nhàng, thảnh thơi. Người xuất gia khi bước chân vào đạo, thường nhớ rơ câu "xả phú cầu bần, xả thân cầu đạo" của người xưa. Đi tu th́ phải xả phú cầu bần, xả thân cầu đạo, đó là điều căn bản của người tu hành. Nếu chúng ta không xả bỏ vật chất, của cải thế gian th́ chúng ta làm sao bước chân vào đạo được. Khi vào đạo rồi, nếu chúng ta không xả thân này, không biết hy sinh thân ḿnh, làm lợi ích cho đạo, lợi ích cho chúng sinh th́ không xứng đáng là người tu. Cho nên câu "xả phú cầu bần, xả thân cầu đạo" có ư nghĩa hết sức thiết thực đối với giới tu hành của chúng ta.

Người tu nếu không quên của cải sự nghiệp thế gian, chỉ quư trọng thân này, muốn nó được an vui sung sướng th́ chúng ta không thể tiến tu đạo nghiệp được. Như vậy chữ tu hiện giờ chúng ta đang ứng dụng có nghĩa là chúng ta phải biết xả bỏ. Xả bỏ của cải thế gian, rồi bước sang xả bỏ cả thân mạng, không quư tiếc. Xả bỏ thân mạng chưa đủ, chúng ta c̣n phải xả bỏ tam độc. Tam độc tức là tham sân si. Nếu không xả tam độc th́ chúng ta không phải là người tu. Đuổi được tham sân si mới nhẹ nhàng, thảnh thơi. Khi dẹp bỏ một thói xấu, một điều hại th́ chúng ta được nhẹ nhàng thảnh thơi một phần. Cho nên bước thứ nhất chúng ta tu phải xả bỏ phiền năo, mà phiền năo đầu là tham sân si.

Trong tâm chúng ta có tham, có sân, có si, bây giờ muốn chúng hết th́ ai đuổi nó ra? Mỗi đêm chúng ta thắp hương cầu Phật cho con hết tham sân si được không? Chắc rằng Phật cho không được v́ tham sân si trú ngụ sẵn trong nội tâm chúng ta. Muốn đuổi nó th́ phải loại ra, phải diệt trừ nó. Phật ở ngoài không làm cho nó hết được. Xin hỏi Ni chúng, chúng ta tu cũng được hai ba mươi năm, hoặc năm mười năm, quư vị đuổi ba con rắn độc này ra hết chưa? Chắc chưa. Bởi vậy, ba thứ độc là căn bản làm cho chúng ta khổ đau, đó là điều thứ nhất.

Thứ hai là xả luyến ái. Tại sao chúng ta phải xả luyến ái, luyến ái là ǵ? Luyến ái là yêu thương. Yêu thương người này, yêu thương người kia. Yêu thương trong ái nhiễm chớ không phải yêu thương bằng ḷng từ bi nên chúng ta phải xả bỏ nó. Phật thường dạy ái là gốc luân hồi sanh tử. Nếu chúng ta muốn thoát khỏi luân hồi sanh tử th́ chúng ta phải xả bỏ luyến ái. V́ luyến ái mà con người phải khổ đau, nên trong bát khổ có khổ ái biệt ly. Người nào c̣n ôm chặt tâm luyến ái th́ nhất định người ấy sẽ c̣n đau khổ.

Hàng tu sĩ xuất gia chúng ta phải khéo xả bỏ luyến ái đối với huynh đệ, bạn bè, đối với những người chung quanh, đừng bị trói buộc, đừng bị sợi dây ái lôi kéo th́ chúng ta mới tu đến nơi, đến chốn được. Nếu người xuất gia không xả bỏ được luyến ái th́ không thể nào thoát khỏi luân hồi sanh tử. Đây là điều tối quan trọng, nên Tăng Ni và Phật tử phải cố gắng xả bỏ tâm luyến ái của ḿnh. Tâm luyến ái sạch rồi chúng ta mới hết khổ, mới dứt được ḍng luân hồi. Đây là điều thứ hai.

Chúng ta tu hay bị trần cảnh lôi kéo, dẫn dắt nên gặp nhiều trở ngại. Mắt duyên với sắc, tai duyên với âm thanh, mũi duyên với mùi hương, lưỡi duyên với vị, thân duyên với xúc chạm. Tất cả các thứ duyên đó, nếu chúng ta kẹt th́ sẽ bị nó lôi dẫn, không an ổn được. Người tu luôn luôn phải gỡ, đừng để sáu căn dính mắc với sáu trần.

Trong nhà Thiền thường chú trọng điều này. Xưa kia có người hỏi Thiền sư thế nào là giải thoát. Ngài trả lời căn, trần không dính nhau là giải thoát. Người ta cứ nghĩ, tu giải thoát là đi đến một xứ nào xa lạ, kỳ đặc, chớ không ngờ giải thoát là ngay nơi sáu căn không dính với sáu trần. Nếu sáu căn c̣n dính kẹt với sáu trần th́ chúng ta không được giải thoát. Đó là lẽ thật. Tôi hay thí dụ, có người khi đi ra đường, thấy những ǵ đẹp liền thích, rồi mong mỏi cho được, v́ mơ ước thành ra bị trói buộc. Vật đó có dính dáng ǵ với ḿnh mà bị nó trói buộc, rồi đổ thừa: "Cái đó làm cho tôi phiền năo, làm cho tôi khổ sở". Cảnh bên ngoài có thật buộc ḿnh không? Hay tại ḿnh không khéo tu nên bị nó trói buộc.

Chúng ta ít khi can đảm nhận trách nhiệm về ḿnh, khi bị trần cảnh bên ngoài quyến rũ, thua nó th́ đổ thừa tại ai chớ không phải tại ḿnh! Thí dụ có người gặp một số tiền hay một lượng vàng đánh rơi xuống đất, người ấy mừng quá lượm lên. Nếu kẻ làm mất xin trả lại, người ấy có vui không? Lượm được trong tay rồi mà phải trả lại chắc không vui mấy. Nhưng nếu với tâm tốt, biết rơ không phải của ḿnh, chủ xin lại th́ ḿnh hoan hỷ liền. Đó là tôi nói thí dụ nhỏ, c̣n nhiều sự việc lớn hơn nữa. V́ vậy, chúng ta tu phải làm sao đừng để cho căn trần dính mắc nhau.

Hồi xưa, lúc đức Phật c̣n tại thế có vị tu Tiên chứng được ngũ thông. Ông giảng kinh mọi người rất thích, đến trời Đế Thích cũng tới nghe giảng. Một hôm nghe giảng xong, trời Đế Thích liền khóc. Vị Tiên thấy lạ hỏi:

- Tại sao ông nghe tôi giảng kinh mà lại khóc?

Trời Đế Thích thưa:

- Ngài giảng kinh rất hay, nhưng tôi biết tuổi thọ Ngài sắp hết rồi, nên tôi thương tôi khóc.

Nghe vậy vị Tiên giật ḿnh. Bởi v́ tuy ông chứng ngũ thông nhưng chưa chứng được lậu tận thông nên vẫn c̣n mắc kẹt trong sinh tử. Vị ấy liền hỏi trời Đế Thích:

- Bây giờ làm sao để thoát khỏi sinh tử?

Trời Đế Thích giới thiệu:

- Hiện giờ có đức Thế Tôn hiệu Thích Ca Mâu Ni đang trụ ở Tinh xá Trúc Lâm giảng pháp. Nếu Ngài đến đó cầu pháp, đức Phật sẽ giảng dạy cho phương pháp giải thoát sanh tử.

Nghe vậy vị Tiên liền t́m đến đức Phật. Trên đường đi, ông nghĩ không có lễ vật cúng dường th́ vô lễ quá. Thấy hai cây ngô đồng đang trổ bông thật đẹp, ông dùng thần thông nhổ hai cây ấy để trên hai bàn tay. Đến tinh xá Trúc Lâm, vào lễ Phật rồi, ông thưa hỏi làm sao được giải thoát sinh tử.

Phật bảo:

- Buông.

Ông liền buông một tay xuống, rớt một cây ngô đồng.

Phật bảo:

- Buông.

Ông buông một tay nữa rớt cây thứ hai.

Phật bảo:

- Buông.

Ông thưa:

- Tôi có hai cây ngô đồng, Ngài bảo buông lần thứ nhất, tôi buông bớt một cây; bảo buông lần thứ hai, tôi buông thêm cây nữa, bây giờ c̣n ǵ đâu mà buông.

Phật nói:

- Không phải ta bảo ông buông cây ngô đồng. Lần thứ nhất ta bảo ông buông là buông trần cảnh.

Lần thứ hai là buông sáu căn. Lần thứ ba là buông sáu thức. Căn cảnh thức hay là căn trần thức buông hết th́ giải thoát.

Vị Tiên liền hiểu, lănh hội trở về tu, được hết sanh tử.

Quư vị thấy, chúng ta tu nếu không khéo xả th́ không thể giải thoát sanh tử. Sanh tử là cái khổ đau muôn đời, muốn thoát khỏi nó không ǵ hơn phải xả bỏ, đừng để căn trần thức cột trói. Đây là gốc của trầm luân, của đau khổ. Đó là phần xả căn trần thức.

Kế đến, thứ tư là xả mọi cố chấp. Chúng ta có bệnh cố chấp rất nặng. Bên ngoài th́ chấp người, nơi ḿnh th́ chấp ta. Chấp ta, chấp người, chấp phải, chấp quấy, chấp hơn, chấp thua, tất cả các thứ chấp đều là nguyên nhân của đau khổ cả. V́ c̣n chấp là c̣n khổ, nên người biết tu phải xả cố chấp. Cố chấp nhiều th́ khổ nhiều, chấp ít th́ khổ ít. Người chấp hơn, chấp thua khi thấy ḿnh hơn th́ mừng, ḿnh thua th́ buồn. Hơn thua nối nhau nên mừng khổ cứ thay nhau hoài, nhưng ở đời có ai hơn tất cả được. Hơn người này cũng thua người khác.

Ngày xưa, một hôm đức Thế Tôn đi khất thực qua vùng của Bà La Môn. Có một ông Bà La Môn thấy Ngài đi trước, ông lẽo đẽo theo sau kêu tên Ngài chửi. Mặc ông chửi, Phật cứ chậm răi đi một cách tự nhiên, không trả lời. Hồi lâu bực quá, ông chạy tới trước hỏi:

- Ngài Cồ Đàm, Ngài có điếc không?

Phật nói:

- Không.

- Sao tôi chửi Ngài làm thinh không trả lời?

Phật liền trải tọa cụ ngồi xuống, nói bài kệ:

Người hơn th́ thêm oán

Kẻ thua ngủ chẳng yên

Hơn thua hai đều xả

Ấy được an ổn ngủ.

Như vậy người hơn kẻ thua đều khổ hết. Thua khổ v́ nhục nhă, hơn thắng th́ mừng nhưng gây ra oán thù. Nên hơn thua đều xả th́ được an ổn ngủ. Chẳng những hơn thua mà kể cả phải quấy, chấp ngă, chấp nhân đều xả hết th́ đó là người an ổn bậc nhất.

Trong nhà Thiền, tổ Hoàng Bá có nói: "Đệ tử của Mă Tổ hơn tám mươi vị thiện tri thức, nhưng nguời tiêu chảy đầy đất chỉ có một ḿnh Qui Tông". Câu này có nghĩa là sao? Hơn tám mươi đệ tử đều là bậc thiện tri thức, nhưng người tiêu chảy đầy đất chỉ có một ḿnh Qui Tông. Như vậy Ngài khen hay chê Qui Tông?

Tiêu chảy đầy đất là sao? Là uống thuốc xổ. Người nào xổ đầy đất th́ trong bụng sạch trống. Xổ tức là xả, xả hết, xả sạch. Người tu xả được như vậy mới là người thấy đạo lư, là người đến chỗ chân thật. Ngài Qui Tông là một trong số đệ tử của Mă Tổ mà thiền sư Hoàng Bá rất kính trọng. Như vậy chúng ta thấy, người tu phải xả bỏ, đừng cố chấp, th́ mới hết khổ.

Như trước tôi đă nói, chúng ta đi tu là xả phú cầu bần, xả thân cầu đạo. Hồi ở nhà th́ xả bỏ nhà, xả bỏ năm bảy người thân đi tu. Đến khi tu rồi, lại mắc kẹt cái chùa, rồi năm bảy chục đệ tử v. v… nghĩa là sao? Như vậy có phải xả cái này, mắc cái khác không? Nên nhiều người hay chỉ trích "tu là xả phú cầu bần, xả thân cầu đạo, mà bây giờ quư thầy quư cô cất chùa to, thâu đệ tử nhiều, vậy có xả hay không? " Quư vị trả lời thế nào? Nếu chúng ta cất chùa to để làm của riêng, thâu đệ tử nhiều để phục vụ cho bản ngă của ḿnh, th́ đó là tội lỗi. Ngược lại chúng ta cất chùa to để nuôi chúng có chỗ tu học. V́ muốn gầy dựng hàng hậu tấn nên chúng ta lo giúp, hướng dẫn họ tu th́ không có lỗi. Phải khéo hiểu như thế, nếu không chúng ta đâm ra hoang mang, sợ sệt.

Kế nói đến xả những đa mang thành tư hữu. Quư vị nhớ lại lúc ḿnh đi tu, có chở đồ đạc lỉnh kỉnh vào chùa không, hay là chỉ một túi xách thôi? Nhưng ở chùa chừng mười năm, hai chục năm, nếu phải dời đi chỗ khác th́ chở chừng mấy xe? Hồi vào chùa mang theo rất ít, khi ra đi th́ chở quá nhiều. Như vậy có xả không? Những thứ đa mang ḿnh không xả được, mà cứ ky cóp ngày càng nhiều thành ra khổ. Đó là điều tôi muốn nói chúng ta cần phải xả, xả được nhiều chừng nào th́ thảnh thơi chừng ấy. Làm sao lúc nhắm mắt ra đi, tất cả những ǵ ḿnh lo, những ǵ ḿnh sắm là của Tam bảo chớ không phải của cá nhân, được như vậy th́ mới tốt.

Tôi xin dẫn một câu chuyện như sau: Ngày xưa vua nước Ba La Nại có mấy bà phi tần, bà nào cũng thích đeo ṿng vàng đầy tay. Một hôm nhà vua bị bệnh, cần phải thoa trầm hương. Khi các phi tần đến thoa, nghe tiếng kêu lổn cổn điếc tai, vua chịu không nổi bảo phải cởi ṿng vàng ra, mỗi bà chỉ đeo một chiếc thôi, chừng ấy mới hết nghe khua rổn rảng. Khi đó vua nghĩ đa mang nhiều th́ phiền năo nhiều. Bây giờ nếu ḿnh bỏ hết th́ hết phiền năo. Vua lại nghĩ, ta làm vua có triều đ́nh, có đất nước, có quần chúng v. v… bề bộn quá, nếu xả hết đi tu chắc là hết khổ. Nghĩ vậy, vua liền trao ngôi cho người khác rồi vào núi tu. Về sau Ngài chứng được quả Độc giác.

Chúng ta thấy, xả nhiều th́ nhẹï nhàng nhiều, tu hành mau đắc đạo. C̣n cưu mang nhiều th́ không được an ổn, không thể đắc đạo.

Có một thiền khách quảy đăy đến hỏi Thiền sư:

- Thế nào là đạo?

Thiền sư bảo:

- Buông.

Thiền khách liền buông đăy xuống, rồi lại hỏi:

- Thế nào là đạo?

Thiền sư lại bảo:

- Buông.

Thiền khách nói:

- Con có cái đăy đă buông xuống rồi, không c̣n ǵ để buông nữa.

Thiền sư bảo:

- Nếu không c̣n ǵ để buông th́ ông quảy lên đi.

Ngay đó thiền khách ngộ đạo.

Chúng ta buông cho tới không c̣n ǵ để buông nữa, th́ ngay đó ngộ đạo không có ǵ khó. Như vậy tu là khó khăn, cực nhọc hay tu là nhẹ nhàng thảnh thơi? Tôi sẽ dẫn một ít thí dụ cho quư vị thấy rơ tu là nhẹ nhàng thảnh thơi.

Thí như có người leo núi cao năm bảy trăm thước. Đường xa mà lại tham nên mang theo nhiều đồ đạc, thành ra quảy một bị nặng leo núi. Đi một hồi mệt quá anh ta than. Có người bạn cùng đi nói: "Anh bỏ bớt những ǵ không cần đi". Anh ta lục trong túi ra, bỏ bớt năm ba món. Đi được chút nữa cũng thấy nặng. Anh than c̣n nặng quá, người bạn nói: "Anh bỏ bớt nữa đi". Anh ta soạn lại bỏ bớt nữa. Nhưng đường dốc càng lên cao càng thấy nặng, rồi lại phải bỏ. Cứ tiếp tục bỏ như vậy cho tới khi gần đến chót núi c̣n cái bị không, nhưng cũng bị vướng, khó đi. Cuối cùng anh bỏ luôn cái bị mới leo lên chót núi được.

Quư vị thấy, muốn leo lên ngọn núi cao mà mang theo nhiều đồ nặng quá, làm sao leo lên nổi. Muốn leo cao phải bỏ bớt từ từ, cho đến khi nào không c̣n ǵ để bỏ th́ quư vị sẽ leo tới chót núi.

Chúng ta xét kỹ xem, bỏ là nặng hay bỏ là nhẹ? Chúng ta tu, bỏ được tham nhẹ được một phần, bỏ được sân nhẹ thêm một phần, bỏ được si nhẹ thêm một phần nữa. Cho nên tu là thảnh thơi. Những người tu hay bực tức, giậïn hờn, rên rỉ là tại v́ ôm nhiều quá, không biết bỏ, thành ra đi không nổi. Nên ở trong chúng nh́n mặt là biết người nào tu khá, người nào tu không khá. Người biết buông bỏ tu hành có kết quả, người ấy nhẹ nhàng thảnh thơi. Người không biết buông bỏ, đụng việc ǵ cũng bực bội, đó là tu không tiến.

Thí dụ thứ hai, như chúng ta gánh một đôi nước nặng, có người nào đó bảo: "Đưa tôi gánh dùm cho". Trao gánh nước rồi, lúc đó ḿnh nặng hay nhẹ? Rất nhẹ. Cũng vậy, chúng ta đang ôm ấp việc ǵ trong ḷng, nếu có ai đến giải tỏa th́ chúng ta sẽ được nhẹ nhàng.

Lại nữa, người đang giận đang thù oán ai, trong ḷng có được an ổn không? Ngồi tu có yên không? Tụng kinh niệm Phật hay làm ǵ cũng nhớ người ḿnh thù, người ḿnh giận. Nếu chúng ta biết xả bỏ hận thù th́ chúng ta sẽ thảnh thơi an ổn. Tu niệm Phật th́ nhất tâm, tụng kinh th́ chuyên chú không xao lăng, tọa thiền th́ dễ định. Khi chúng ta giận ai, trong người mát mẻ hay bị lửa giận thiêu đốt? Thường người nào giận, quư vị nh́n cặp mắt họ đỏ, mắt đỏ là đẹp hay xấu? Người ta nói mắt xanh, mắt trắng mới đẹp, c̣n mắt đỏ ngầu rất ghê sợ, v́ bị lửa nóng giận đang thiêu đốt. Chúng ta xả được th́ nhẹ nhàng, mát mẻ, không bị khô cằn.

Thêm một điểm nữa, lúc nào chúng ta gặp cảnh không được vui, chúng ta ôm ấp ḷng buồn rầu. Buồn rầu có giúp được ǵ trên đường tu của chúng ta không? Thường người ta cứ nghĩ buồn đâu có tội lỗi ǵ. Nhưng buồn cũng là phiền năo nên nói buồn phiền. Có buồn có phiền tức là không được an ổn. V́ vậy khi nào trong tâm có việc buồn phiền chúng ta phải khéo xả bỏ. Muốn xả buồn phiền chúng ta phải nghĩ làm sao? Phải nghĩ rằng, ngày mai ngày mốt ḿnh sẽ chết, buồn phiền làm ǵ. Nghĩ như vậy tâm được b́nh an. Cho nên người tu chúng ta phải tập buông hết hận thù, buồn phiền th́ đời tu được an ổn vô cùng. Dù ở giữa một trăm, hai trăm chúng vẫn thấy nhẹ nhàng như thường.

Trong kinh nói: "Xả tất cả là được tất cả"û. Ai biết xả tất cả, người đó được tất cả. Ai muốn được tất cả, sẽ mất tất cả. Quư vị muốn được tất cả th́ phải xả, việc ǵ không đáng th́ buông. Những thứ tạp nhạp buồn, thương, giận, ghét lăng xăng xả hết. Xả hết những thứ đó rồi th́ chúng ta liền nhận được cái chân thật hiện tiền của chính ḿnh, không thiếu vắng lúc nào.

Tôi thường thí dụ, đêm rằm trên hư không trăng đang sáng, nhưng v́ mây mù mịt tiếp nối nên không thấy trăng sáng. Bao giờ mây tan đi chúng ta sẽ thấy được vầng trăng sáng. Nếu mây không tan mà ta muốn thấy trăng sáng cũng không thể thấy được. Mây dụ cho những phiền năo tạp nhạp rối ren chất chứa trong ḷng. Nếu xả bỏ được th́ tánh giác chân thật hiện bày. Tánh giác chân thật là vầng trăng. Người tu là người buông xả hết những rối ren tạp nhạp trong nội tâm ḿnh, chỉ c̣n một tâm trong sáng.

Chúng ta tu v́ sợ thế gian đau khổ, muốn thoát mọi sự đau khổ ấy. Vị nào hoan hỷ xả các thứ dục lạc ở thế gian là vị đó biết tu. Vị nào c̣n tiếc nuối không chịu xả là chưa biết tu. Chúng ta buông xả những thứ xấu xa vô dụng của ḿnh là việc làm rất dễ dàng trong tầm tay chớ không khó. Lâu nay nhiều người nói tu sao khó quá. Tôi xin hỏi khó tại chỗ nào? Nếu tham sân si từ đâu đem lại cho ḿnh th́ bỏ chắc khó, nhưng tham sân si phiền năo v. v… từ nơi ḿnh, nếu ḿnh không thích nó th́ ḿnh bỏ, chớ có ǵ khó. Như trong túi quư vị có những ḥn sỏi, những ḥn đá, quư vị không thích nó nữa, quư vị móc ra dễ dàng hay khó? Nó trong túi ḿnh th́ móc ra có ǵ là khó. Khó là tại ḿnh tiếc không nỡ bỏ.

Tôi thấy trong giới tu hành của chúng ta, nhiều vị cũng tiếc những cái lẽ ra không đáng tiếc. Thí dụ như ai đó làm ḿnh trái ư rất nặng, ḿnh cũng nổi sân. Chợt có huynh đệ nhắc: "Sao huynh tu mà c̣n sân". Ḿnh liền đáp: "Không sân nó không sợ". Như vậy tiếc cái sân hay muốn bỏ cái sân? Muốn để dành một chút làm oai với thiên hạ chơi. Người tu mà để dành như vậy th́ biết chừng nào cho hết sân.

Tất cả phiền năo tham sân si từ trong nội tâm phát ra. Chúng ta biết nó dở, biết nó xấu, biết nó là đau khổ, chúng ta can đảm dứt khoát bỏ nó th́ nó sẽ hết. Đây là việc trong tầm tay, trong quyền quyết định của ḿnh. Phật, Bồ tát, thiện tri thức có lấy được phiền năo của ḿnh quăng ra không? Nên người tu chúng ta phải biết rơ rằng chúng ta có quyền thành Phật, chúng ta có quyền dẹp phiền năo. Phiền năo cũng từ trong ḿnh ra, giác ngộ cũng từ trong ḿnh có. Chúng ta bỏ được phiền năo, bỏ được tham sân si, đó là chúng ta bước vào địa vị thánh.

Nhiều người cứ cầu ông này bà kia xem ḿnh có tu được hay không. Nếu ai đó nói quư vị tu được, nhưng quư vị không bỏ phiền năo th́ có tu được không? Ngay như chúng tôi, có nhiều người đến hỏi: "Thầy tu lâu, thầy coi con tu có được không? " Tôi chỉ trả lời gọn thế này: "Nếu Phật tử quyết chí th́ tu được, không quyết chí th́ tu không được".

Tu là bỏ những ǵ ḿnh đă đa mang, chớ đâu phải t́m kiếm điều mới lạ. Cho nên trong kinh Phật nói "Vô sở đắc", nghĩa là không có chỗ được. Tại sao? Những ǵ làm phiền lụy chúng ta bỏ sạch th́ được nhẹ nhàng thảnh thơi, chớ được cái ǵ? Được nghĩa là thêm, nhưng chúng ta xả bỏ hết phiền lụy, trói buộc, đau khổ th́ tự nhiên an vui giải thoát. Điều này ở đâu tới mà gọi là được. Hiểu vậy mới thấy những lời dạy trong kinh rất cụ thể rơ ràng, không có ǵ ngờ vực.

Nếu tất cả Ni chúng khéo ứng dụng tu th́ con đường đưa chúng ta tới an vui giải thoát là con đường chắc chắn, không nghi ngờ, ở trước mắt chúng ta chớ không đâu xa. Chỉ v́ chúng ta không khéo nên chúng ta cứ lẩn quẩn than thở, không thấy được con đường sáng suốt của Phật pháp, chỉ thấy con đường mù mịt tối tăm. Người tu khéo xả bỏ th́ việc tu có kết quả, việc tu được nhẹ nhàng, chắc chắn sẽ được giải thoát sanh tử.

Đó là ư nghĩa mà tôi muốn nhắc cho tất cả quư vị trong buổi nói chuyện hôm nay.


 

CHÁNH TÍN VÀ MÊ TÍN

Hôm nay chúng tôi sẽ nói đề tài Chánh tín và mê tín. Trước khi bàn về vấn đề này chúng ta phải hiểu thế nào là Phật, thế nào là đạo Phật. Nếu chúng ta biết Phật, biết đạo Phật th́ chúng ta mới có thể nói chánh tín, mê tín được, chớ không hiểu Phật mà nói chánh tín, mê tín e sẽ hiểu lầm. Cho nên trước hết tôi sẽ nói về Phật và đạo Phật.

Chúng ta lâu nay đọc sách nghiên cứu, nhất là sách cổ. Quư vị thấy trong các quyển sách xưa, không dùng từ Phật mà nói đến Phật th́ dùng từ Bụt. Ngày xưa gọi Bụt, ngày nay gọi Phật. Như vậy từ nào đúng hơn? Vấn đề này tuy đơn giản nhưng nếu không thấu suốt chúng ta sẽ lúng túng khi gặp người khác hỏi. Chính nhờ hai từ Bụt và Phật mà chúng ta có thể nghiên cứu được sự truyền bá của đạo Phật vào Việt Nam qua những con đường nào.

Theo tiếng Phạn, Phật nói đủ là Buddha. Chữ Dha là người, chữ Bud là giác. Buddha là người giác ngộ. Trung Hoa dịch là giác giả. Giả là người, giác là giác ngộ. Giác giả là người giác ngộ. Người giác ngộ nghe dễ hiểu quá, nhưng tại sao chúng ta không gọi người giác ngộ mà gọi là Phật. Tôi sẽ giải thích điểm này.

Phật giáo Việt Nam ban đầu do người Ấn Độ theo đường biển, ghé vào Việt Nam truyền đạo. Người Ấn th́ quen dùng Buddha, khi Phật giáo được truyền bá vào Việt Nam, dân ta đọc trại âm thành ra Bụt, chữ dha là người, chúng ta gọi là ông. Thế nhưng tại sao không gọi ông Giác ngộ mà gọi là ông Bụt?

V́ ư nghĩa giác ngộ có nhiều lối giải thích như giác ngộ của đạo Phật là giác ngộ thấu suốt được nhân sinh, thấu suốt được vấn đề con người một cách tường tận, gọi đó là giác ngộ. Song ở thế gian có người trước kia là kẻ trộm cắp, rượu chè say sưa. Sau đó được giáo dục họ thức tỉnh, bỏ trộm cắp rượu chè, người ta nói anh ấy đă giác ngộ. Như vậy giá trị giác ngộ của kẻ trộm đến mức nào? Chỉ là giác ngộ những tật xấu chớ chưa phải giác ngộ những ǵ cao siêu. Như vậy nếu gọi Phật là người giác ngộ th́ có thể bị hiểu lầm. Do đó trong nhà Phật dùng nguyên từ Phật để nói lên nghĩa giác đó không phải tầm thường.

Người Ấn Độ trực tiếp dạy chúng ta từ Bụt nhưng tại sao chúng ta lại gọi là Phật? Là v́ tới đời Trần, Việt Nam mới thỉnh tạng kinh chữ Hán từ Trung Hoa sang. Chữ Buddha Trung Hoa viết chữ Phất, chúng ta đọc trại thành Phật. Từ này có lẽ từ đời Trần trở về sau mới dùng, c̣n trước kia gọi là Bụt. Kể cả văn Nôm của ngài Trần Nhân Tông cũng viết Bụt (Phú Cư Trần Lạc Đạo). Vậy từ Bụt là do sự trực tiếp giáo hóa của người Ấn trước kia. Sau này dần dần có những Thiền sư ở Trung Hoa sang, hệ thống Phật giáo Trung Hoa được truyền vào nước ta làm phong phú thêm cho Phật giáo Việt Nam.

Nên biết nói tới Phật là nói tới sự giác ngộ bằng trí tuệ chớ không phải bằng ḷng tin. Song ngày nay Phật tử đi đến chùa v́ ḷng tin nhiều hơn v́ giác ngộ. Đó là cái đau của chúng ta. Nguyên đạo Phật là đạo giác ngộ mà Phật tử đến với đạo Phật bằng ḷng tin th́ đă làm mất hết giá trị của đạo Phật, thật đáng buồn.

Phật là một vị giác ngộ, mà giác ngộ nghĩa là thấu triệt được lư nhân sinh v. v... chớ không phải giác ngộ theo nghĩa thông thường của người thế gian. Phật là bậc giác ngộ th́ giáo pháp của Ngài dạy đều là những lời chỉ bảo cho chúng ta nương theo đó mà tự tu tập, để cùng được giác ngộ như Ngài.

Trong kinh Pháp Cú, Phật dạy rằng: "Các ngươi hăy tự thắp đuốc lên mà đi. Thắp lên với chánh pháp. " Ngài bảo chúng ta phải tự thắp đuốc sáng, tự soi đường mà đi. Thắp lên với chánh pháp, tức là chúng ta phải mồi trí tuệ của ḿnh với chánh pháp củaPhật. Vậy th́ càng đến với đạo Phật, càng thâm hiểu chánh pháp là càng mở sáng trí tuệ.

Nên trong nhà thiền thường hay dùng từ "truyền đăng tục diệm", nghĩa là trao đèn nối lửa. Tại sao gọi là trao đèn nối lửa? V́ trí tuệ giác ngộ của đức Phật sáng ngời như ngọn lửa như đèn, chúng ta muốn được mở sáng trí tuệ phải nhờ trí tuệ của Phật để mồi sáng trí tuệ của ḿnh. Mồi sáng trí tuệ của ḿnh gọi là trao đèn, gọi là nối lửa. Nếu không mồi sáng được th́ không phải theo đạo Phật, cũng không có nghĩa giác ngộ. Cho nên trao đèn nối lửa là trao sự giác ngộ, tức là đem pháp Phật trao dạy cho mọi người được biết. Việc làm này gọi là truyền bá Phật pháp hay truyền bá đạo Phật.

Bây giờ định nghĩa đạo Phật là ǵ? Đạo là phương pháp, là con đường. Phật là sáng suốt, giác ngộ. Đạo Phật là phương pháp dạy cho chúng ta được sáng suốt, giác ngộ. Nên giá trị của đạo Phật là đem lại cho mọi người trí tuệ sáng suốt, chớ không phải đem lại cho mọi người ḷng tin.

Đạo Phật đă lấy trí tuệ, lấy giác ngộ làm gốùc th́ tại sao trong đạo Phật chấp nhận mê tín được. Nhưng hiện nay Phật tử chúng ta đến với đạo Phật để mở sáng trí tuệ rất ít mà đến với đạo Phật bằng ḷng tin, bằng cầu xin th́ rất nhiều. Cho nên đă có một thời người trí thức nh́n đạo Phật như là một đạo mê tín. Phê b́nh như vậy là oan cho đạo Phật rồi. Đạo Phật dạy một đàng, mà Phật tử làm một nẻo nên bị người ta phê b́nh sai lầm.

Đến đây chúng ta bắt đầu đi vào đề tài mê tín và chánh tín. Lẽ ra tôi nói chánh tín trước nhưng muốn cho quư vị nhớ sâu, nhớ kỹ nên tôi nói mê tín trước. Chữ mê tín định nghĩa rất dễ. Mê là mờ mịt, sai lầm. Tín là tin. Tin một cách mờ mịt sai lầm, không có lẽ thật gọi là mê tín. Đạo Phật lẽ ra không phải là mê tín, tại sao trở thành mê tín? Tôi sẽ lần lượt giải thích.

Theo chiều dài lịch sử, đạo Phật đă có trên hai mươi lăm thế kỷ, c̣n chiều rộng th́ Phật giáo có hai hệ:

1) Nam truyền Phật giáo.

2) Bắc truyền Phật giáo.

Hai hệ này trước kia ở Trung Quốc gọi là hệ Đại thừa và hệ Tiểu thừa. Ngày nay người ta không dùng hai từ đó nữa, v́ nó mang tính cách so sánh dị biệt, Đại thừa là to và Tiểu thừa là nhỏ, nghe như khinh nhau. Hiện giờ Phật giáo Việt Nam có cả hai hệ Nam tông, Bắc tông cùng chung tồn tại. Trong đó hệ Đại thừa đổi tên lại là hệ Phát triển. Hệ Tiểu thừa gọi là hệ Nguyên thủy. Tôi xin nói sơ qua về hệ Phát triển và hệ Nguyên thủy.

Về hệ Nguyên thủy, chữ nguyên là trước, chữ thủy cũng là trước, hai chữ đó dùng chung lại để cho thấy hệ này y cứ từ buổi ban đầu của Phật giáo. Buổi ban đầu của Phật giáo, sự truyền giáo, sự tu hành như thế nào th́ hệ này sống đúng như vậy, nên gọi là Nguyên thủy.

C̣n hệ Phát triển, Phát triển tức là tùy cơ, tùy duyên, có sự linh động và luôn luôn tiến lên, chớ không dừng nghỉ ở một chặng nào. V́ vậy sinh hoạt của chư tăng trong hai hệ cũng khác nhau.

Ngày xưa ở Ấn Độ, Phật đi khất thực, bây giờ hệ Nguyên thủy cũng đi khất thực. Do khất thực nên thí chủ cho ǵ nhận nấy. Người ta cho thức ăn mặn chư tăng cũng phải ăn, quư vị nên hiểu như vậy để không khỏi ngạc nhiên khi thấy chư sư Nguyên thủy ăn mặn. Và các vị này chỉ ăn buổi sáng và buổi ngọ, gọi là ngọ trai tức bữa ăn trưa.

Chữ trai và chữ chay khác nhau. Chữ trai là ăn đúng ngọ, c̣n chữ chay là không ăn cá thịt, chỉ ăn những thức ăn thực vật. Chữ trai giới là giữ đúng ngọ, quá giờ ngọ không ăn. Như vậy hệ Nguyên thủy ăn trai mà không ăn chay. Buổi chiều có thể chỉ uống một ly nước trà đường, đó là điều mà chúng tôi được biết nhân dịp sang Xri Lanca và Ấn Độ trước đây.

Về mặc th́ chư sư quấn y màu vàng sậm. Ở trong Nam có hai hệ: một hệ quấn y màu vàng sậm là hệ Nguyên thủy; c̣n hệ quấn y màu vàng nhạt và ăn chay là hệ Khất sĩ, Sơ Tổ hệ này là ngài Minh Đăng Quang. Hệ này ở miền Nam phát triển cũng mạnh lắm.

Về giáo lư, hệ Nguyên thủy dùng giáo lư bằng chữ Pali, tức kinh điển Pali để giảng dạy, tu học, kể cả đọc tụng. C̣n hệ Khất sĩ dùng kinh chữ Việt. Thế là tôi đă nói đại cương về hệ Nguyên thủy rồi.

Về hệ Phát triển, đây là hệ từ Ấn Độ truyền sang miền Bắc, kinh điển dùng chữ Sanskrit. Thời đó đức Phật đi khất thực, c̣n Trung Hoa, Việt Nam, Nhật Bản, Triều Tiên không thích khất thực. Những vị Ḥa thượng lớn ở Trung Hoa được triều đ́nh hay các ông quan cất chùa rồi cúng cho một thửa ruộng, chư tăng trồng trọt lấy mà ăn. Nếu trồng trọt, nấu nướng chẳng lẽ chư tăng phải mua gà, mua vịt th́ không đúng, v́ phạm tội sát sanh. Nên các Ngài chỉ ăn các loại thực vật, thành ra các Ngài ăn chay chớ không phải hai hệ có sự chống đối nhau. Đó là lư do các chùa thuộc hệ Phát triển đều ăn chay. Đă ăn chay lại phải làm ruộng nữa, nếu giữ trai giới không ăn buổi chiều th́ làm không nổi, nên buộc ḷng chư tăng ăn cháo chiều. Đó là việc ăn uống của Bắc tông hay hệ Phát triển.

Đến phần mặc, hệ Phát triển không đặt nặng h́nh thức ăn mặc, tùy theo phong tục quốc gia mà chư sư có các y phục riêng. Phật giáo sang Trung Hoa có h́nh thức ăn mặc theo Trung Hoa, sang Việt Nam có h́nh thức ăn mặc theo Việt Nam, sang Nhật Bản có h́nh thức ăn mặc theo Nhật Bản. Bởi v́ hệ Phát triển không quan trọng chuyện ăn mặc mà chỉ quan trọng ở chỗ biết bệnh và biết thuốc mà thôi. Đâu v́ ăn mặc khác mà chúng ta nói không phải đạo Phật. Đó là tinh thần Phát triển.

Tinh thần Phát triển c̣n có ư nghĩa tùy duyên. Tùy duyên là đến đâu tùy theo tŕnh độ, tập quán của địa phương, làm sao ḥa nhập được để truyền bá Phật pháp th́ tốt chớ không cố chấp. Do đó giữa hệ Phát triển và hệ Nguyên thủy có những dị biệt về mặt truyền giáo.

Trong nhà Phật có từ "tùy duyên nhi bất biến, bất biến nhi tùy duyên". Tùy duyên là tùy căn cơ, tùy phong hóa tập tục; bất biến là chánh pháp của Phật không bao giờ thay đổi. Tùy theo tập tục, phong hóa của mỗi địa phương mà ứng dụng được Phật pháp. Làm thế nào cho người địa phương chấp nhận, đó là tùy duyên; c̣n chánh pháp của Phật phải giữ thủy chung như nhất, không đổi thay, đó là bất biến. Như vậy tinh thần của hệ Phát triển đi sâu vào phần này hơn.

Các nước tu theo Phật giáo Nguyên thủy thờ tượng Phật cũng giống người Ấn Độ. Nhưng sang Trung Hoa, Việt Nam, Nhật Bản th́ nước nào diện Phật theo nước đó, chớ không bắt buộc phải giống như người Ấn Độ. Đó là những đặc điểm của hai hệ phái chánh đang được truyền bá ở Việt Nam.

Riêng ở miền Bắc nước ta chỉ có hệ Phát triển đang phát triển mạnh, c̣n hệ phái Nguyên thủy th́ dường như không có bao nhiêu. Do sự truyền bá rộng răi ấy mà Phật giáo bị pha trộn ít nhiều màu sắc tín ngưỡng của địa phương. Chúng ta vào các chùa miền Bắc giải thích hết những pho tượng ở trong chùa, chắc không nổi. V́ ở đó có Phật, Bồ Tát, La Hán, Thượng Đế, Nam Tào, Bắc Đẩu v. v... đủ hết, nên biết đâu mà giải!

Miền Nam th́ việc thờ phụng đơn giản hơn. Nhất là các thiền viện chúng tôi chỉ có đức Phật Thích Ca ở giữa thôi, không có tượng thứ hai. Bởi do sự hội nhập của Phật giáo ban đầu ḥa vào tính người bản địa, nên sự tín ngưỡng không đúng như chân tinh thần của đạo Phật.

Như ở trên tôi đă định nghĩa mê tín là ḷng tin mù quáng, sai lầm, không có lẽ thật. Việc mê tín này không chỉ có người quê dốt mới mê tín, mà cả giới trí thức cũng mê tín như thường. Động cơ nào đưa đến mê tín chúng tôi sẽ nói sau. Như đă nói mê tín là tin mù quáng, sai lầm không có lẽ thật, nhưng tin thế nào? Tin có đấng thiêng liêng làm mẫu mực để răn điều ác, thưởng điều thiện. Tin những vị thần thánh có quyền ban phước giáng họa, khi chúng ta cầu đến các Ngài. Các thứ tin đó đều thuộc về mê tín. Tại sao? Tôi sẽ giải thích từng phần.

Thuở xưa Tổ tiên chúng ta tin rằng dưới là đất, giữa là người, trên là Trời. Trời, đất, người, đó là cái gốc. Theo tổ chức thời quân chủ, người th́ có vua có quan, trên vua dưới quan để cai trị dân. Người đă như vậy th́ trên trời cũng có Ngọc Hoàng Thượng Đế là vua, Nam Tào, Bắc Đẩu là quan để coi bộ sổ trị phụ cơi này. Và dưới đất có Diêm Vương, rồi cũng Nam Tào, Bắc Đẩu phụ cai trị nữa. Như vậy, lấy cái thực trạng của nhân gian mà tưởng tượng ra hệ thống cai trị cơi trời cũng như hệ thống cai trị ở địa ngục.

Nhưng thực tế, quư vị có thấây Ngọc Hoàng Thượng Đế hay Nam Tào, Bắc Đẩu nào đến răn người ác, thưởng người thiện không? Không thấy mà cứ tưởng tượng. Hồi xưa để răn người ác nên dân gian dùng h́nh tượng Thiên lôi trừng trị như sét đánh. Nhưng thuyết đó bây giờ không c̣n v́ khoa học đánh đổ mất rồi. Người thưởng người phạt không c̣n, tức là bộ máy quan lại không c̣n th́ ông vua cũng không c̣n. Ngày nay hệ thống cai trị trên trời đă bị khoa học phá vỡ, hệ thống trừng trị dưới địa ngục cũng bị phá vỡ luôn. Tôi nói thế quư vị sẽ nghĩ tôi không tin có cơi trời, cơi địa ngục. Không phải vậy.

Trong kinh Phật có dạy người tu Thập thiện sẽ được sanh về cơi trời. Cơi trời chứ không phải nước trời. Cơi là một hành tinh, một thế giới, thế giới đó tốt đẹp hơn thế giới chúng ta. Chúng ta có phước sanh chỗ tốt hơn, chúng ta vô phước sanh chỗ khổ hơn, chớ không phải có một cơi trời đang ngự trị chúng ta.

Cơi địa ngục cũng bị hiểu lầm là cái ngục ở dưới đất. Như vậy đào đến đâu mới tới địa ngục? Chúng ta thường dùng từ "địa phương", chẳng hạn địa phương Hà Nội, địa phương Sài G̣n v. v... Địa phương là chỉ nơi chốn, vậy địa ngục là ǵ? Là nơi hành phạt con người. Ai có tội lỗi th́ bị đến đó chịu h́nh phạt, nên gọi là địa ngục. Theo nghĩa này th́ trên dân gian có địa ngục không? Đâu phải đợi xuống âm phủ mới có địa ngục, nếu hiểu như vậy chúng ta mới sợ địa ngục. Bởi v́ ḿnh gây tội th́ đâu phải đợi chết mới xuống địa ngục, mà hiện đời cũng phải đọa địa ngục.

Nếu chúng ta tin có một đấng thiêng liêng cầm cân nẩy mực, ban phước giáng họa th́ cái tin đó có đúng sự thật không? Nếu tin không đúng sự thật th́ gọi là ǵ? Gọi là mê tín. Vậy mà người ta cứ tin có ông thần này, ông thánh nọ hoặc thánh mẫu độ mạng. Tin vào một người mà ḿnh hoàn toàn không biết ǵ hết th́ thật là dại dột làm sao!

Quư vị đến chùa nhưng không phải tin Phật, theo Phật mà lại tin những ǵ không phải Phật dạy mới kỳ chứ. Phật dạy quy y Phật là không quy y với thiên thần quỷ vật. Quy y pháp là không quy y với ngoại đạo tà giáo. Quy y tăng là không quy y với kẻ ác người dữ. Bây giờ quư vị quy y với Phật mà tin quỷ, tin thần, tin đủ thứ hết.

Thứ hai là bói toán, bùa chú, đồng bóng, xem ngày tốt xấu, mấy thứ đó có phải mê tín không? Thầy bói dù bói có trúng trăm phần trăm cũng là mê tín, huống là bói sai. Tại sao? Tôi cũng có quen với những người thầy bói, coi tay xem tướng, có khi họ bói rất trúng. Nhưng quư vị nhớ, có thầy bói nào nói "anh hay chị sẽ gặp việc đúng y như bản tường tŕnh tôi nói đây măi măi" không? Hay là họ bảo ba tháng, sáu tháng đến coi lại. Tại sao ba tháng, sáu tháng coi lại? Chúng ta cứ nghĩ chắc ông thầy bói này làm tiền, bắt ba tháng sáu tháng trở lại để kiếm tiền quẻ. Nhưng sự thật không phải vậy, bởi v́ tướng tay của chúng ta thay đổi luôn luôn, tùy theo hành động của ḿnh. Chúng ta có hành động tốt th́ sẽ chuyển những việc xấu, chúng ta có những hành động xấu th́ sẽ hư những việc tốt, không nhất định. Như vậy hành động tốt, hành động xấu có ảnh hưởng đến thân tướng, tới chỉ tay của chúng ta. Thế th́ chúng ta nên đi coi bói hay nên hành động?

Trong sách tướng thường có câu: "Hữu tâm vô tướng, tướng tự tâm sanh" nghĩa là có tâm tốt mà không có tướng tốt, tướng tốt từ tâm tốt mà hiện. "Hữu tướng vô tâm, tướng tùng tâm diệt" nghĩa là có tướng tốt mà không có tâm tốt th́ tướng tốt cũng theo tâm xấu mà mất. Sách tướng nào ở trang đầu hoặc trang cuối cũng đều ghi bốn câu đó cả. Tôi xin nhắc lại "Hữu tâm vô tướng, tướng tự tâm sanh. Hữu tướng vô tâm, tướng tùng tâm diệt". Như vậy tướng tốt mà tâm ác th́ tướng tốt cũng bị mất.

Thí dụ như có người được thầy bói xem tướng nói: "Anh có phước tướng sẽ được sung sướng v. v... " nhưng người đó có tánh nóng nảy, một hôm ai nói trái ư, anh nổi giận đập người ta chết. Khi đập người ta chết th́ quư vị nghĩ tướng tốt và phước của anh c̣n hay mất? Mất liền, v́ anh sẽ ở tù, sẽ tiều tụy, đâu c̣n tốt nữa. Vậy dù nói trúng trăm phần trăm, tướng tốt đó cũng không bảo đảm. Bảo đảm nhất là tâm tốt hay xấu, nếu khéo giữ tâm ḿnh tốt th́ mọi việc xung quanh đều tốt. Không giữ tâm tốt mà cứ đi coi bói th́ kết quả chỉ tốn tiền vô ích mà thôi.

Nên tổ tiên chúng ta có những câu như thế này: "Tay cầm tiền quư bo bo, đem cho thầy bói thêm lo vào ḿnh". Như gia đ́nh đang yên vui không có việc ǵ, bỗng dưng đi coi thầy bói, nói ba tháng nữa ḿnh bị nạn, như vậy có c̣n vui không? Nên tin vào thầy bói chỉ khổ thân không có ích lợi ǵ cả, chúng ta nên tin vào chính ḿnh mới là điều quan trọng.

Con người ḿnh tốt th́ mọi việc xấu sẽ qua. Con người ḿnh xấu th́ mọi việc tốt sẽ mất. Tin như vậy là chánh tín. Tin theo thầy bói là mê tín. Sự nguy hại của mê tín là làm cho chúng ta khổ sở, hao tốn tiền của v. v...

Tôi không biết sinh viên ở đây (Hà Nội) ra sao, chớ các cô cậu ở TP. Hồ Chí Minh khi sắp thi tú tài, thường đi coi bói. Đă học tới tú tài th́ cũng được xem là trí thức rồi nhưng vẫn mê tín như thường. Tôi nói để quư vị thấy không phải người b́nh dân, dốt nát mới mê tín mà có khi giới trí thức cũng mê tín. Đó là v́ chúng ta không tự tin ḿnh.

Nếu thầy bói nói cô hay cậu nhất định sẽ thi đậu, nhưng cô cậu ấy không thuộc bài th́ có thi đậu được không? Ngược lại nếu thầy bói nói thi rớt nhưng cô cậu ấy học thuộc bài th́ chắc ǵ rớt. Cho nên đậu rớt là gốc ở chúng ta. V́ vậy chúng ta phải dè dặt đừng để rơi vào mê tín. Có nhiều người nói ông bà ḿnhthuở xưa coi địa lư, xem tướng số, đổ tử vi th́ ḿnh cũng làm theo chớ đâu phải mê tín. Hoặc nói đổ tử vi rất đúng, đă đúng th́ đâu phải mê tín.

Tôi xin nhắc cho quư vị nhớ, quyển sách tử vi nào cũng viết tuổi này lớn lên có gia đ́nh, có đôi bạn, có con nhiều hay ít v. v... chưa có quyển tử vi nào nói tuổi này lớn lên sẽ đi tu. Vậy mà vẫn có người đi tu. Thế th́ tử vi có phải là chân lư chưa? Lại nữa, các nhà bói toán, xem tử vi, coi địa lư luôn nhắc câu này: "Tuổi anh, tuổi chị tốt nhưng phải khéo làm lành, khéo ăn ở th́ mới hưởng được phước, c̣n nếu không làm lành, không khéo ăn ở th́ vận số có thể đổi". Như vậy th́ làm lành ăn ở tốt cho rồi, đi coi bói chi cho tốn tiền. Đó là nói về tướng số tử vi.

Đến địa lư, ngày xưa tổ tiên chúng ta cũng tin địa lư, riêng tôi có đọc sách địa lư, tôi thuộc câu này:

Phong thủy nhân gian bất khả vô,

Toàn bằng âm chất lưỡng tương pḥ,

Phú quư nhược tùng phong thủy đắc,

Tái sanh Quách Phát giả nan đồ.

Nghĩa là phong thủy ở nhân gian chẳng phải không. Cũng có tốt có xấu nhưng mà phải nương vào phước đức (âm chất). Phước đức nhiều cộng thêm phong thủy tốt, cả hai góp sức nhau th́ mới thành tựu được điều tốt. Nếu chỗ đất tốt mà người làm việc xấu ác th́ cũng vô nghĩa. Câu kế nói phú quư nhược tùng phong thủy đắc nghĩa là giàu sang nếu từ phong thủy mà được, th́ ông Tổ địa lư là Quách Phát dù có tái sanh trở lại, chỉ cho chúng ta chỗ đất tốt cũng không giàu sang phú quư được.

Như vậy địa lư có thể có, nhưng phải cộng với đức hạnh tốt của ḿnh. Đạo đức sâu dày th́ mới thực hiện được địa lư tốt. Đạo đức không có th́ dù địa lư tốt cũng không làm ǵ được cả. Đức hạnh mới là chánh, người có đức hạnh th́ chỗ nào vừa ư là chỗ đó tốt. Người không có đức hạnh th́ thấy chỗ đất tốt nhưng rồi cũng không tốt. Chúng ta thấy mọi sự việc, kể cả địa lư cũng tùy thuộc vào con người.

Hiện nay chúng ta mắc phải mê tín rất nhiều. Lư do, một là v́ ḷng tham, hai là do sợ hăi, ba là tại si mê. Ba thứ đó là ba cái nhân của mê tín.

Về tham, tôi thí dụ như có người vay số tiền lớn để làm ăn nên phải chạy hỏi ông đồng bà cốt. Do muốn kết quả lớn, có lợi nhiều như ḿnh mong cầu mà v́ ḿnh chưa biết nên nôn nao chạy hỏi người này, người kia. Đó là gốc từ tham lam mà ra.

Thứ hai là do sợ hăi, như có người gặp hoạn nạn một hai lần c̣n chịu nổi, nhưng bị dồn dập quá chịu hết nổi đâm ra hoảng hốt chạy nơi này nơi kia t́m hỏi, trường hợp này cũng dẫn đến mê tín.

Thứ ba là do si mê không nhận được lẽ thật nên t́m thầy hỏi han. Đó là ba điều đưa con người đến mê tín. Nhiều ông đồng, bà cốt, thầy bói đâu có học thức ǵ, nhưng nghe nói linh thiêng người ta cũng đến bái xá, cầu cạnh, xin bùa, xin phép, thưa hỏi đủ chuyện. Đó là chúng ta tự hạ thấp ḿnh để cầu xin một người lẽ ra không đáng quư, đáng trọng. Như vậy có đáng chê trách không?

Kế đây tôi nói qua phần chánh tín tức là Phật pháp. Phật pháp th́ rất nhiều và rất rộng, ở đây chúng tôi chỉ nói nền tảng của đạo Phật là "Lư nhân quả". Nhân quả có hai phần: Chánh nhân, Trợ nhân và hai phần phụ là thuận nhân, nghịch nhân.

Chánh nhân là nhân, trợ nhân là duyên. Thuận nhân, nghịch nhân cũng gọi là thuận duyên, nghịch duyên. Thí dụ như người nông dân gieo lúa th́ hạt giống lúa là chánh nhân. Nhưng nếu có hạt giống mà không có đất, không có nước, không chăm bón th́ có nẩy mầm tăng trưởng thành cây lúa và trổ bông lúa không? Chắc chắn là không thể được. V́ thế có chánh nhân rồi cần phải có trợ duyên nữa.

Như vậy nhân và quả sẽ đến với điều kiện đủ duyên thuận. Nếu gặp duyên nghịch như bị sâu đục thân th́ dù chúng ta có chánh nhân là hạt giống lúa, có phân có nước trợ duyên, nhưng gặp duyên nghịch là sâu phá hoại th́ cây lúa cũng không thể đơm bông kết trái được. Nên phải cẩn thận chăm sóc chi tiết lắm, mới có kết quả như ư muốn.

Nhân quả là một lẽ thật, có thể gọi là chân lư phổ biến. Quư vị nh́n từ các loại thực vật cho tới động vật, các loài khoáng sản v. v... Có loại nào không nhân mà có quả đâu. Con người cho tới loài vật như trâu, ḅ, heo, dê v. v... cũng phải từ nhân đến quả, từ bào thai sanh ra rồi lớn lên, không có loài nào bỗng dưng mà có. Cho tới ngôn ngữ chúng ta sử dụng cũng theo chiều nhân quả. Như khi viết một câu văn đến chỗ cần thiết, chúng ta dùng từ v́ hay do để nói về nguyên nhân của vấn đề ḿnh đang tŕnh bày. Như vậy, lư luận của chúng ta cũng không tách rời nhân quả được. Từ cuộc sống cho tới ngôn ngữ đều nằm trong nhân quả.

Vậy th́ việc lành dữ, khổ vui có nằm trong nhân quả không? Như người tánh hay nóng nảy, thấy ai làm trái ư liền la mắng. La mắng là nhân xấu th́ dĩ nhiên quả sẽ bị người ta la mắng lại. Nhân đă gieo th́ quả phải chịu. C̣n thấy người khổ, chúng ta giúp họ theo khả năng của ḿnh th́ dù người ấy dốt tới đâu đi nữa, họ cũng biết cám ơn chúng ta. Nếu họ không nói tiếng cám ơn, họ cũng tỏ thái độ quư ḿnh. Như vậy làm điều tốt th́ quả tốt sẽ đến với chúng ta.

Có nhiều vị than thế này: "Tôi tốt với người đó quá mà sao họ trả những điều xấu cho tôi". Ngày xưa tôi có viết bài "Nhân hoa quả cỏ" để nói lên việc này. Lúc đó tôi ở Phương Bối Am tại Bảo Lộc - Lâm Đồng, có xin được một số hạt hoa. Mỗi ngày tôi đều tưới nước, chăm sóc tương đối cũng kỹ. Nửa tháng sau chúng mọc lên xanh mướt. Tôi mừng quá v́ thấy hạt hoa ḿnh gieo lên thật đều. Nhưng qua một tháng nh́n lại toàn là cỏ, không có cây hoa nào cả. Nhân đó tôi thức tỉnh và viết bài "Nhân hoa quả cỏ".

Tại sao gieo hạt hoa mà lên cỏ? Tôi phát hiện v́ ḿnh không rải thuốc trừ kiến, nên hạt hoa đă bị kiến tha đi hết. Tôi lo tưới nước mỗi ngày mà không ngờ ḿnh nuôi toàn là cỏ. Cũng như trường hợp có người bác nuôi mấy đứa cháu mồ côi, con của em trai ḿnh. Người bác cũng thương cho ăn học đàng hoàng nhưng mỗi lần con ḿnh và các cháu xem chiếu bóng th́ ông cho con ḿnh hai ngàn, c̣n cho cháu một ngàn thôi, chớ không bằng con ruột. Khi lớn lên, mấy đứa cháu không thương, không trọng bác nữa. Ông đâm ra bực bội: Tại sao ḿnh nuôi nấng cho nó ăn học, đối xử với nó tốt mà bây giờ nó xấu với ḿnh?

Do đó mặc dù có chánh nhân nhưng thiếu trợ duyên hay trợ duyên không tốt th́ kết quả có thể bị thay đổi. Như vậy quư vị thấy nhân quả trong cuộc sống không đơn giản như ta nghĩ. Không phải làm điều tốt th́ mọi việc tốt sẽ đến với ḿnh. Khi làm điều tốt chúng ta phải tiếp tục nuôi dưỡng, bảo vệ nó th́ mới có kết quả như ư ḿnh. V́ vậy phải trợ duyên từ thủy tới chung.

Nhiều người không hiểu cứ hỏi sao nhân tốt mà quả không tốt. Đó là nh́n không tường tận. Nhân quả trùm khắp ở thế gian, chân thật chớ không phải tưởng tượng ảo huyền. Chúng ta gieo nhân tốt và luôn luôn trợ duyên tốt th́ kết quả sẽ tốt. Vậy quả tốt, quả xấu đến với chúng ta rơ ràng đâu phải do các đấng thiêng liêng ban cho. Chúng ta là chủ tạo những điều tốt, điều xấu, chúng ta cũng là chủ nhận những quả tốt, quả xấu. Như vậy quyền tạo và hưởng là quyền của ḿnh.

Hiểu được nhân quả, quư vị thấy cuộc sống thật dân chủ. V́ chính ḿnh có quyền tạo nhân tốt và chính ḿnh có quyền hưởng quả từ nhân đă tạo. Ḿnh làm ḿnh chịu, chớ không phải ai làm cho ḿnh chịu. Giả sử nếu có ai làm cho ḿnh chịu th́ đó cũng do nhân gián tiếp nào của ḿnh gây không tốt mới đưa đến quả như vậy. Hiểu biết đúng đắn th́ chúng ta mới nhận trách nhiệm lớn lao trong cuộc sống này.

Về mặt thời gian, nhân quả chịu ảnh hưởng ba thời: quá khứ, hiện tại và vị lai. Thí dụ chúng ta gieo hạt lúa giống xuống ruộng th́ ít ra ba, bốn tháng sau mới có quả. Như vậy ḿnh đối xử với người hôm nay mà muốn được kết quả liền cũng không được. Tới khi nào chúng ta bị khổ hay hoạn nạn th́ người ta mới thổ lộ sự biết ơn với ḿnh, chớ đâu thể nói ḿnh làm tốt th́ người ta trả ơn liền. Hiểu lư nhân quả rồi, nếu đời này chúng ta nghèo quá, chúng ta trách ai? Dân gian ta có câu:

Bởi chưng kiếp trước khéo tu,

Ngày nay con cháu vơng dù nghênh ngang.

Chúng ta không được vơng dù nghênh ngang là tại kiếp trước thiếu làm lành nên ngày nay phải khổ. Vậy trách xă hội, trách những người xung quanh có đúng không? Phải tự trách ḿnh, chính v́ thiếu phước nên bây giờ phải cố gắng chuyển cho tốt.

Hiểu được lư nhân quả, khi chúng ta gặp hoàn cảnh khổ mới không đố kỵ người khác sung sướng hơn ḿnh, cũng không oán trách xă hội, chỉ nhận trách nhiệm về phần ḿnh, rồi cố vươn lên. Trong xă hội, ai ai cũng hiểu như vậy th́ xă hội đẹp biết mấy.

Ngày nay chúng ta có bệnh hay đổ thừa cho xă hội bất công, hoàn cảnh này kia v. v... Tự chúng ta làm điều xấu nhưng không dám nhận lỗi, lại đổ thừa người này người kia v. v... Đó là chúng ta không gan dạ. Hiểu và tin nhân quả th́ chúng ta phải gan, phải biết điều hay, điều dở chính là do ḿnh, tự nhận lấy trách nhiệm chớ không trốn trách nhiệm với mọi người. Tin nhân quả như vậy gọi là chánh tín. V́ sao? V́ tin đúng lẽ thực.

Trong kinh A Hàm Phật kể, một hôm có các thầy Bà-la-môn đến hỏi Phật:

- Thưa ngài Cồ Đàm, đệ tử Ngài sau khi chết Ngài có thể cầu nguyện cho họ sanh về cơi lành được không?

Phật không trả lời mà hỏi lại:

- Đệ tử của các ông chết, các ông có thể cầu nguyện sanh về cơi lành được không?

Các vị ấy đáp:

- Được.

Đức Phật liền dùng thí dụ:

- Như có cái giếng sâu, một người lăn cục đá lớn để trên miệng giếng, rồi mời vài chục thầy Bà la môn đến hỏi: "Tôi xô ḥn đá này xuống giếng, quư thầy cầu cho nó đừng ch́m được không? "

Các thầy Bà la môn lắc đầu. Phật hỏi:

- Tại sao?

Các vị ấy trả lời:

- V́ đá nặng ch́m tận đáy giếng, dù cho có ngàn người cầu cũng không được.

Phật lại dùng thí dụ thứ hai:

- Như có người đem dầu rưới xuống miệng giếng và yêu cầu hai ba chục thầy Bà la môn tới cầu nguyện cho dầu ch́m xuống tận đáy giếng, các thầy có cầu được không?

Các thầy Bà la môn cũng lắc đầu. Phật hỏi:

- Tại sao?

Quư vị ấy trả lời:

- V́ dầu nhẹ nên phải nổi, dù có bao nhiêu người cầu cũng không thể ch́m.

Phật nói:

- Cũng vậy, nếu người làm lành, làm thiện dù cho các ông cố cầu cho họ bị đọa địa ngục, họ cũng không đọa. C̣n người làm ác, nhiều tội lỗi, dù các ông có cầu nguyện mấy họ cũng không thể sanh chỗ lành được.

Qua bài kinh đó chúng ta thấy Phật có chấp nhận cầu nguyện không? Rơ ràng không. Thay v́ cầu nguyện th́ chúng ta phát tâm làm lành, chớ đừng nghĩ có tiền đem vô chùa nhờ quư thầy cầu nguyện cho ḿnh. Đạo Phật rất tinh tế, chỉ tại người sau hiểu sai rồi đi lệch từ từ.

Như vậy nguồn gốc chánh tín từ đâu ra? Một là do trí tuệ nên chúng ta nhận định đúng, từ sự nhận định đúng đó nên không bị mê tín. Hai là chúng ta can đảm, dù gặp cảnh khổ cảnh khó, cũng không sợ nên không rơi vào mê tín. Thế nên biết, người chánh tín là người có trí tuệ, người can đảm, dám chịu trách nhiệm và ít tham lam. Người như vậy có tu chưa? Tu rồi! Tu là nhận định đúng, sống đúng, chớ không phải tu là ăn chay cho nhiều, cầu nguyện cho nhiều. Cho nên người chánh tín là người sáng suốt, tự lực, can đảm, tự chủ.

Ngược lại, nếu mê tín th́ sẽ chuốc lấy những điều tai hại như sau:

- Một là mù tối không có trí tuệ.

- Hai là ỷ lại quỷ thần

- Ba là yếu đuối, không tự chủ, không gan dạ.

- Bốn là bị tha hóa, bị lệ thuộc vào đấng này, đấng kia v. v...

Như vậy chánh tín, mê tín có những lợi hại hết sức rơ ràng. Qua đó, chúng ta thấy chánh tín là một sức mạnh của cuộc sống. Nếu người Phật tử hiểu đạo Phật đúng như vậy mới thấy giá trị của đạo Phật rất cao. Phật tử ngày nay v́ chưa hiểu đúng nên đạo Phật bị đánh giá là mê tín. Đó là lỗi của những vị thiếu nghiên tầm, thiếu hiểu biết.

Tôi đă tŕnh bày đại lược về chánh tín và mê tín xong, mong quư vị nghe nhận và suy ngẫm kỹ để thấy được chân giá trị của đạo Phật trong đời sống của người Phật tử chúng ta.


 

LỤC TẶC VÀ LỤC THÔNG

Đề tài chúng tôi sẽ tŕnh bày cho quư Tăng Ni và Phật tử hôm nay là lục tặc và lục thông. Thường người thế gian có điều ǵ giận dỗi hay nói "nổi tam bành lục tặc". Vậy lục tặc là ǵ? Chữ tặc là kẻ cướp, kẻ giặc. Trong kinh Phật luôn luôn dạy, mỗi chúng ta có đủ sáu căn là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ư. Sáu căn đó nếu mê lầm bị sáu trần lôi cuốn th́ sáu căn biến thành lục tặc. C̣n nếu chúng ta khéo tu, khéo gỡ, không cho dính nhiễm sáu trần th́ sáu căn liền thành lục thông.

Như vậy th́ mắt, tai, mũi, lưỡi… của chúng ta là lục tặc mà cũng là lục thông. Chỉ khác một bên không biết tu để cho dính nhiễm, c̣n một bên biết tu gỡ bỏ không cho dính nhiễm. Như mắt chúng ta thấy vật ǵ đẹp liền trầm trồ khen ngợi rồi sanh tâm ưa thích. Đó gọi là dính, là nhiễm. Như vậy con mắt là một đứa giặc. V́ dính nhiễm với sắc trần cho nên nó phá hoại công đức lành của ḿnh, do đó gọi nó là giặc, là kẻ cướp. Các vị nào tu mà thấy người đẹp, đồ vật đẹp, hoa đẹp liền chú ư, khen ngợi, chính là bị một đứa giặc dẫn đi rồi.

Kế đến lỗ tai nghe lời khen, tiếng chê. Nghe lời khen trong ḷng chúng ta vui mừng, bị chê chúng ta phiền năo, đó là đứa giặc thứ hai. Bởi v́ vui mừng là hiếu danh, phiền năo là bệnh hoạn nên nó cướp mất công đức lành của chúng ta.

Lỗ mũi cũng vậy. Khi ta đi qua những chỗ có hoa thơm, có mùi ngọt ngào th́ ưa thích, c̣n qua những chỗ có mùi hôi thối th́ không ưa. Như vậy lỗ mũi đă phá hoại công đức của chúng ta. Đó là đứa giặc thứ ba.

Đến lưỡi của chúng ta. Khi món ngon chúng ta thấy thích, ăn món dở chúng ta bực bội. Thích món ngon mà không được ăn, ghét món dở mà bị ăn hoài đâm ra bực bội. Vậy cái lưỡi thích ngon, chán dở đó là đứa giặc thứ tư.

Thứ năm là xúc chạm. Xúc chạm những ǵ êm ái ta có cảm giác thích thú, xúc chạm những ǵ thô nhám khó chịu th́ chúng ta ghét. Những xúc chạm đó làm chúng ta đắm mến, say mê hoặc làm chúng ta khó chịu chán ghét, nên nó là đứa giặc thứ năm.

Đứa thứ sáu là ư. Ư chúng ta tiếp xúc với pháp trần, trần này hơi thầm kín một chút. Khi chúng ta nhớ h́nh ảnh người phá hoại ḿnh th́ bực bội, nhớ h́nh ảnh người thương mến ḿnh liền dễ chịu. Đó là đứa giặc thứ sáu.

Chúng ta hăy thật thà xem xét có phải sáu căn là sáu đứa giặc không? Nếu phải th́ chúng ta c̣n công đức hay mất công đức? Nuôi sáu đứa giặc phá phách này th́ công đức chúng ta tiêu tan hết. Như vậy chúng ta tu là phải làm sao đừng để sáu căn dính nhiễm với sáu trần. Đó là đuổi được sáu đứa giặc hay c̣n gọi là lục tặc, nếu không bọn chúng sẽ làm hư hoại các công đức của chúng ta. Mỗi vị hăy tự kiểm lại ḿnh để cố gắng khéo tu.

Tôi dẫn một h́nh ảnh mà mọi người đều dễ thấy, dễ nhớ. Khi vào chùa chúng ta thường thấy thờ một vị Bồ-tát h́nh tướng mập mạp, miệng cười toe toét. Đó là Bồ-tát Di Lặc. Có tượng Bồ-tát ngồi với sáu đứa trẻ, đứa móc con mắt, đứa chọc lỗ tai, đứa khều lỗ mũi, đứa thọt vào miệng v. v… Sáu đứa chọc phá như vậy nhưng Bồ-tát vẫn cười, không bực bội, không rầy rà ǵ hết. Sáu đứa trẻ đó tượng trưng cho lục tặc. Mặc dù chúng nó chọc phá nhưng Ngài vẫn thanh thản tự tại. Sáu đứa giặc tức là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ư, dù bị quấy nhiễu nhưng Bồ-tát vẫn tươi cười, chứng tỏ Ngài đă thắng được lục tặc. Chiêm ngưỡng h́nh tượng Ngài chúng ta phải học theo gương của Ngài. Một vị Bồ-tát lúc nào cũng thong dong tự tại, không buồn phiền, bực bội. Như vậy lục tặc đối với Ngài đă thành lục thông rồi.

Chúng ta tu phải làm sao chuyển lục tặc thành lục thông mới là người thắng trận. C̣n nếu bị lục tặc nhiễu loạn th́ thành người thua trận. Trong kinh A Hàm chư Phật có kể câu chuyện một đàn khỉ đi ăn. Khỉ chúa ra lệnh tất cả khỉ con phải đi chung đàn, theo sau khỉ chúa không được đi tản mát. Trong đó có một khỉ con thấy khỉ chúa đi trước, gặp thức ăn ngon khỉ chúa lượm ăn hết, nên nó tách đàn đi riêng lẽ để kiếm ăn. Khi thấy miếng mồi thơm ngon nó liền dùng chân trước chụp lấy, không ngờ đây là bẫy của thợ săn đă gài chất nhựa xung quanh nên nó bị dính tay. Dính tay này nó lấy tay kia gỡ nên cũng dính luôn. Kế lấy chân sau gỡ cũng bị dính, c̣n lại một chân cố bươi cũng dính. Như vậy dính hết bốn chân nó dùng cái đuôi ngoe ngoe móc cũng bị dính. Sau cùng nó lấy cái miệng quặp gỡ nên bị dính luôn. Bốn chân, đuôi, miệng, cả sáu thứ bị dính, hết cục cựa. Chú thợ săn đến lượm bỏ vô giỏ quảy về.

Phật mượn ví dụ này để nói chư Tăng, chư Ni tu hành nương các bậc đạo đức. Nhưng khi thấy Phật tử cúng dường các Ḥa thượng, không cúng cho ḿnh th́ cảm thấy buồn v́ nghèo thiếu, nên muốn ra riêng để được người ta quư trọng hơn. Cũng như chú khỉ con c̣n trong đàn, thấy khỉ chúa hưởng hết những thức ăn ngon nên bất b́nh mới bỏ đàn. V́ thiếu kinh nghiệm không biết đâu là mồi người ta bẫy, đâu là thật nên gặp ǵ lượm nấy mới dính tay chân cho đến sáu căn, không c̣n dẫy dụa được nữa. V́ vậy bị thợ săn lượm bỏ vô giỏ.

Đức Phật dụ miếng mồi là sáu trần. Một tay bị dính rồi th́ cả sáu bộ phận bị dính hết. Bẫy nhựa của thợ săn dụ cho sáu căn dính với sáu trần. Khi sáu căn dính với sáu trần rồi th́ thợ săn (dụ cho Ma vương) xách đi đâu cũng phải chịu. Chúng ta tu nếu khôn ngoan th́ như con khỉ đi theo đàn, có người bảo hộ. Khỉ con không dính bẫy nên được tự do dù ăn ít một chút cũng không sao. C̣n muốn ăn ngon, đi riêng lạc đàn th́ bị mắc bẫy rất là tai hại.

Như vậy sáu căn dính với sáu trần tức chúng ta bị Ma vương dẫn đi. Nó biểu chúng ta làm ǵ chúng ta đều phải nghe theo, không chạy đâu được hết. Chư Tăng Ni tu bao nhiêu năm gỡ được mấy trần, c̣n lại mấy trần? Nếu dính hết th́ thôi coi như đầu hàng Ma vương, c̣n nếu dính một hai căn th́ c̣n dẫy dụa được, Ma vương chưa dám nắm cổ lôi đi. Hiểu như vậy chúng ta mới thấy sự tu quan trọng. Hằng ngày mắt đối sắc, tai đối thanh, mũi đối hương, miệng đối vị, thân đối xúc, ư đối pháp trần không bị dính kẹt, đó là chúng ta giải thoát. Nếu c̣n dính kẹt th́ chúng ta bị Ma vương dẫn đi trầm luân trong lục đạo luân hồi. Như vậy giải thoát là không dính mắc, c̣n dính mắc là không giải thoát.

Như chúng tôi vừa kể, h́nh ảnh con khỉ bị dính nhựa nên mất tự do. Nếu không dính th́ được tự do, đó là lục thông. Ngược lại c̣n dính mắc là lục tặc. Tăng Ni tu đừng để cho căn dính với sáu trần th́ chúng ta được tự tại giải thoát. C̣n bị dính nhiễm th́ mất hết tự do, đó là gốc của sự tu.

Tôi xin dẫn thêm chuyện của Lục tổ Huệ Năng với Ngũ tổ Hoằng Nhẫn, Ngũ tổ đem kinh Kim Cang ra giảng cho Ngài nghe. Kinh Kim Cang có hai câu hỏi của tôn giả Tu Bồ Đề. Câu thứ nhất: "Người phát tâm cầu Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, làm thế nào để hàng phục được tâm ấy? ". Câu hỏi thứ hai: "Người phát tâm cầu Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, làm thế nào để an trụ được tâm ấy? ". Phần an trụ tâm, Lục tổ nghe giảng tới câu "Bất ưng trụ sắc sanh tâm, bất ưng trụ thanh, hương, vị, xúc, pháp sanh tâm. Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm", Ngài liền đại ngộ và thốt to lên: "Đâu ngờ tánh ḿnh xưa nay thanh tịnh, đâu ngờ tánh ḿnh vốn không sanh diệt v. v…". Ngũ tổ biết Ngài đă ngộ nên truyền y bát và Ngài trở thành vị Tổ thứ sáu.

Như vậy Phật dạy muốn tâm yên ổn, an trụ th́ không nên sanh tâm dính kẹt nơi sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp. Sáu căn không bị dính kẹt sáu trần là an trụ tâm. Có nhiều vị tu hoặc ngồi niệm Phật hoặc tọa thiền nhưng tâm cứ chạy hoài. Chạy theo sáu trần, nhớ người này, nhớ việc kia v. v… nên tâm bị rối loạn. Nếu biết giữ tâm không cho dính với sáu trần th́ tâm an trụ. Mà tâm an trụ th́ tiến đến quả vị Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác không khó. Do đó chúng ta mới thấy ư nghĩa của kinh Kim Cang đă khai ngộ cho Lục tổ là vậy.

Kế đây, tôi dẫn kinh Lăng Nghiêm. Tôn giả A Nan hỏi Phật:

- Bạch Thế Tôn, cái ǵ là căn bản của luân hồi sanh tử, cái ǵ là căn bản của Bồ-đề Niết-bàn?

Khi Ngài hỏi câu này đức Phật Thích Ca chưa trả lời th́ mười phương chư Phật ứng thinh đồng nói rằng:

- Này A Nan, cội gốc của căn bản phiền năo, luân hồi sanh tử là sáu căn của ông. Cội gốc của Bồ-đề Niết-bàn cũng là sáu căn của ông.

Rơ ràng không riêng ǵ đức Phật Thích Ca nói sáu căn là gốc sanh tử, sáu căn là gốc Bồ-đề Niết-bàn, mà mười phương chư Phật đều "Dị khẩu đồng âm" (khác miệng đồng lời) phát ra lời như thế.

Do đó chúng ta tu phải làm sao để chính ḿnh dứt hết luân hồi sanh tử, để đạt được Bồ-đề Niết-bàn. Đó là gốc của sự tu. C̣n nếu chúng ta vẫn bị phiền năo kéo lôi, vẫn đi trong luân hồi sinh tử th́ sự tu đó không có công hiệu. Như vậy là uổng cơm của đàn na thí chủ. Muốn cho có công hiệu, không uổng cơm của đàn na tín thí th́ phải biết rơ sáu căn là cội gốc của sanh tử, đừng để cho nó dính, đừng để cho nó nhiễm. Có thế chúng ta mới đúng là người tu cầu giải thoát sanh tử.

Sáu căn từ đâu mà ra? Nó sẵn nơi chúng ta, mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ư ở ngay thân ḿnh chớ có xa đâu. Chỉ cần đừng để dính nhiễm là đă khéo tu. Chớ nếu chúng ta ăn chay khắc khổ, tụng kinh rất nhiều mà ai động tới liền nổi sân, cái ǵ đẹp th́ ưa thích, tu như vậy có kết quả không? Mắt thấy sắc đẹp ḷng mê thích, tai nghe tiếng chê trong bụng bực bội, như vậy là chưa gỡ được các căn dính với các trần. Chưa gỡ được th́ làm sao chúng ta giải thoát sanh tử, cho nên trên đường tu chúng ta phải cố gắng nỗ lực, làm sao gặp cảnh vui, cảnh buồn v. v… chúng ta vẫn tự tại. Đó là giải thoát thật sự. Nếu chỉ có h́nh thức, không giữ được sáu căn của ḿnh th́ khó giải thoát. Ư nghĩa Phật dạy hết sức rơ ràng.

Trong nhà Thiền có câu chuyện này. Ngài Ngưỡng Sơn Huệ Tịch thuộc hệ Quy Ngưỡng. Lúc c̣n đi tham vấn, Ngài đến hỏi Thiền sư Trung Ấp - Hồng Ân:

- Bạch Ḥa thượng, thế nào là Phật tánh?

Ngài Trung Ấp nói:

- Như có một con khỉ bị nhốt trong chuồng có sáu cửa. Bên ngoài có con khỉ tới cửa số một kêu chéo chéo. Rồi đến cửa thứ hai kêu chéo chéo, con khỉ bên trong cũng đứng dậy kêu chéo chéo, cứ như vậy tiếp tục hết sáu cửa.

Khi ấy ngài Ngưỡng Sơn thưa rằng:

- Nếu con khỉ bên trong nó ngủ th́ sao?

Ngài Trung Ấp từ trên ṭa bước xuống nắm đứng nói:

- Chúng ta thấy nhau rồi.

Qua câu chuyện, chúng ta thấy cái ǵ? Thường người ta cứ tưởng rằng Phật tánh ở đâu xa, khó t́m, khó biết. Nhưng Thiền sư nói con khỉ nhốt trong lồng nghe con khỉ bên ngoài kêu liền đáp lại. Như vậy Ngài ví con khỉ bên ngoài là trần, con khỉ bên trong là căn. Bên ngoài có sắc trần th́ nhăn căn dính, bên ngoài có thanh trần th́ nhĩ căn dính, nghĩa là sáu căn, đụng tới căn nào th́ căn đó dính liền. Nhưng khi ở trong đă yên lặng th́ bên ngoài tới kêu chọc nó vẫn im ĺm, lúc đó Phật tánh hiện tiền chớ không có ǵ khác. V́ vậy nên nói khi con khỉ bên trong ngủ yên th́ bên ngoài dù có kêu mấy nó cũng không cựa quậy, v́ nó không có tiếp xúc nữa. Cũng vậy khi nội tâm của chúng ta yên lặng sáng suốt th́ Phật tánh hiện tiền, không t́m kiếm ở đâu xa. Chúng ta tu v́ muốn thành Phật, tức là giác ngộ. Mà giác ngộ ngay nội tâm ḿnh, nếu chúng ta hằng tri hằng giác không chạy theo sáu trần th́ đó là Phật tánh hiển lộ rồi.

Tu như vậy khó hay dễ? Có xa xôi ǵ đâu. Hiểu được ư nghĩa này chúng ta mới thấy chuyện tu hành không phải chuyện xa vời mà rất gần, ở ngay trước mắt chúng ta, ngay bản thân chúng ta. Tuy nhiên lời Phật, Tổ dạy, nghe rất gần nhưng đụng sự thật th́ chúng ta quên mất tiêu. Chỉ như lỗ tai, khi chúng ta đang b́nh tĩnh đang an ổn, nếu có người đến chỉ mặt nói rằng anh hay chị ngu như con ḅ. Lúc đó chúng ta thế nào? Cười hay muốn tát tai người ta? Nghe nói ngu như con ḅ liền nổi tức lên, mà nổi tức th́ muốn cự lộn. Như vậy lỗ tai chúng ta có dính nhựa phiền năo chưa? Nếu dính rồi th́ Ma vương chuẩn bị dẫn chúng ta đi thôi. Lỗ tai dính rồi th́ các căn khác cũng dính theo, như mắt đỏ, tay muốn cựa quậy, các cơ quan đều muốn hoạt động theo cả. V́ vậy chúng ta phải dè dặt khéo tu.

Giả sử có người nói chị là con ḅ, điều đó có nhục không? Tôi thấy đâu có ǵ nhục. Nếu ai nói tôi là con ḅ, tôi cười thưa phải, v́ tôi có uống sữa ḅ. Quư vị có uống sữa ḅ không? Thưa có! Có th́ người ta nói ḿnh là con ḅ cũng phải quá, có ǵ đâu lỗi lầm. Có ǵ đâu để giận. Chuyện đó rất b́nh thường. Thân của chúng ta được kết hợp bởi rất nhiều thành phần. Mỗi một thứ vật chất đều giúp cho ḿnh sống c̣n. Nhờ thế, tế bào chúng ta tăng trưởng. Như vậy chúng ta sống được là có phần con ḅ trong đó nữa chớ. Người ta nói ḿnh con ḅ là phải quá rồi. Cớ sao lại giận? Nhưng ở đời có ai lại chịu như vậy đâu. Nghe nói con ḅ th́ nổi giận, la hét rồi đưa tới đánh đập nhau. Chúng ta bị đau khổ là v́ chúng ta không nhận ra lẽ thật ở con người. Như vậy không biết chừng nào hết bị dính mắc, mới giải thoát sanh tử.

Thêm một điều nữa, lâu nay Phật tử chúng ta cứ nghĩ rằng ḿnh có cái ǵ buồn, cái ǵ giận, khi giận nói tôi giận người đó quá, khi buồn nói tôi buồn người đó quá. Như vậy quư vị cho rằng cái giận, cái buồn là tôi, là ḿnh. Nếu giận là ḿnh th́ khi hết giận ḿnh mất luôn phải không? Nếu hết giận chúng ta vẫn c̣n nguyên th́ làm sao nói giận là ḿnh được. Như vậy, giận không phải thật ḿnh, buồn không phải thực ḿnh. Đó chỉ là một phần nhỏ trong tâm ta thôi. Nó sinh rồi nó diệt mà chúng ta lại đồng hóa nó với ḿnh. Từ cái mê lầm này nên chịu khổ, cứ nghĩ ḿnh thế này, ḿnh thế kia. Sự thật giận không phải là ḿnh, đó chỉ là phản ứng của tâm sân mà thôi. C̣n cái ta chân thật th́ lúc nào cũng trùm khắp, không phải cái sân đó đâu. Nếu nói sân là ḿnh th́ phải bảo vệ cái sân, nên khi giận ai dù có người khuyên: "Huynh tu hành rồi mà giận làm chi" th́ cũng bảo vệ cái giận của ḿnh: "Tại v́ người đó làm dễ giận quá nên tôi mới giận". Bởi nghĩ thế nên cho cái giận của ḿnh có lư, chấp và giữ cái giận của ḿnh là đúng. Buồn, thương, hờn, ghét cũng như thế.

Chúng ta suy nghĩ xem, nếu giận là ḿnh th́ buồn không phải ḿnh, thương không phải ḿnh, ghét không phải ḿnh. Nhưng buồn, thương, giận, ghét, cái nào chúng ta cũng cho là ḿnh cả. Như vậy có mấy chục cái ḿnh, đó là điều sai lầm. Nên biết buồn, thương, giận, ghét là những tâm sở tạm thời dấy động rồi mất. Biết rơ như vậy mới có thể hàng phục nó, thắng nó. C̣n cho nó là ḿnh th́ thôi hết hàng phục, bởi v́ nó chính là ḿnh th́ hàng phục cái ǵ. Đó là nói về nội tâm.

Đến phần thân, khi chúng ta bị đau chỗ nào th́ nói tôi đau quá. Nói như vậy là cho đau đó là tôi, nhưng khi hết đau th́ tôi làm sao? Nên biết cái đau chỉ là đau ở một bộ phận trong cơ thể, hoặc chân hoặc bụng đau chớ tôi không có đau. V́ vậy khi thân đau chúng ta vẫn thấy thảnh thơi, không khổ. Nếu đau chân nói tôi đau quá, đau bụng nói tôi đau, đau chỗ nào cũng tôi hết thành ra quằn quại rên la. Thấy chân đau c̣n tôi không đau mới là thấy chân thật.

Cái thấy chân thật ấy biết được cái đau, biết được chân đau, biết được bụng đau. Hiểu như vậy th́ trong cuộc sống này chúng ta đă làm chủ được phần nào. Ngược lại, chúng ta cứ đồng hóa giận th́ tôi giận, đau th́ tôi đau…, cứ đồng hóa như thế th́ chúng ta không làm sao điều khiển được chúng, không làm sao đuổi chúng được. Thế nên người tu phải sáng suốt, nhận cho thật kỹ, khi gặp bệnh hoạn mới có thể làm chủ.

Ngày xưa khi các vị Thiền sư bị bệnh, có người hỏi: Ḥa thượng bệnh, có cái chẳng bệnh chăng?

Các Ngài đáp: Có.

Hỏi: Cái ǵ không bệnh?

Các Ngài nói: Ui da! Ui da!

Cái biết rên đó, cái ấy không bệnh. Như vậy để thấy rằng các Ngài không đồng hóa như chúng ta. Do chúng ta lầm lẫn nên từ đó sanh ra những chướng ngại khác. Tôi dẫn bài kệ của một Thiền sư đời Trần, tức vua Trần Nhân Tông. Lúc Ngài giao ngôi lại cho con lên làm Thái Thượng Hoàng, cố vấn cho nhà vua cai trị đất nước. Thời gian này Ngài làm bài phú "Cư trần lạc đạo", tức bài phú nói ở trong cơi đời mà vui với đạo. Kết thúc bài phú đó có bốn câu thơ chữ Hán như thế này:

Cư trần lạc đạo thả tùy duyên

Cơ tắc xan hề khốn tắc miên

Gia trung hữu bảo hưu tầm mích

Đối cảnh vô tâm mạc vấn Thiền.

Tạm dịch:

Ở đời vui đạo hăy tùy duyên

Đói đến th́ ăn mệt ngủ liền

Trong nhà có báu thôi t́m kiếm

Đối cảnh không tâm chớ hỏi Thiền.

Tôi giải thích từng câu ở đời vui đạo hăy tùy duyên, người ở trong cuộc đời thế tục mà luôn luôn vui với đạo th́ phải khéo tùy duyên. Khéo là sao? Đói đến th́ ăn mệt ngủ liền, khéo tùy duyên là như thế. Nhưng câu đó nhiều người hiểu lầm lắm. Giới tu sĩ trẻ nghe nói thế thích lắm. Tu khỏe quá, có ǵ nhọc nhằn đâu. Đói ăn, mệt ngủ thật sướng. Có một Thiền sư tu ở trên núi, khi gặp người hỏi Ḥa thượng tu hành thế nào, Ngài đáp "đói ăn, mệt ngủ". Vị cư sĩ ấy nói đói ăn, mệt ngủ th́ dễ quá, tôi cũng đói ăn, mệt ngủ, vậy Ḥa thượng có ǵ hơn tôi đâu? Ngài đáp: Nói đói ăn, mệt ngủ nhưng người đời đói không chịu ăn, mệt không chịu ngủ.

Chúng ta có như vậy không? Như hôm nào đi làm về có cơm nóng, canh nóng đàng hoàng th́ ngồi ăn vui. Hôm nào về mệt mà gặp cơm nguội, thức ăn nguội nữa th́ dằn mâm, xán chén một hồi rồi mới ăn. Đó là nói trường hợp nguội lạnh, chưa kể những vị quen ăn ớt, ăn cay. Tới bữa ăn nếu gặp món hơi tanh lại không có ớt th́ sao? Phải chờ kiếm ớt rồi mới ăn. Như vậy đói có chịu ăn đâu?

Rồi đến ngủ. Ngài nói người đời mệt mà không chịu ngủ lại suy nghĩ cả trăm việc. Cứ nằm lăn qua lộn lại, nhớ chuyện năm trên, năm dưới hoài không chịu ngủ. Như vậy mệt có chịu ngủ đâu. Đó là người đời đói không chịu ăn, mệt không chịu ngủ. Mà đói không chịu ăn, mệt không chịu ngủ là chưa biết tùy duyên. Tùy duyên là đói đến th́ ăn, mệt đến th́ ngủ, không có suy gẫm ǵ cả. Nếu được tùy duyên th́ ở trong đời mà vui với đạo. Người không khéo tùy duyên sẽ thấy trong đời khó tu quá, chuyện này chuyện kia phiền hà. Người khéo tu thấy không khó, việc ǵ đến th́ tùy duyên, giải quyết liền, không phải bận tâm lo lắng suy gẫm hay sợ sệt ǵ cả.

Hai câu ấy mới nghe dễ như trở bàn tay nhưng xét kỹ không phải dễ đâu. Đến câu thứ ba trong nhà có báu thôi t́m kiếm, mỗi người chúng ta đều có sẵn ḥn ngọc quư bên trong, đừng t́m kiếm đâu xa. Thường Phật tử chúng ta có bệnh đi t́m Phật bên ngoài. Giả sử trên núi có ḥn đá nào na ná tượng Phật th́ t́m đến lạy lê mê, hoặc có g̣ mối nào na ná giống h́nh người cũng hô toáng lên là Phật, rồi áp nhau lạy. T́m Phật như thế biết bao giờ mới gặp Phật. Chúng ta tu, đừng bao giờ lệ thuộc những h́nh ảnh hư ảo đó, v́ nó chỉ là sự tưởng tượng. Tôi đă từng đi núi, cũng từng vô những hang động. Trong hang có những cục đá na ná đức Quan Âm th́ người ta cho rằng đức Quan Âm hiện về rồi ráp nhau lạy. Thật ra đó là chỉ do sự tưởng tượng vậy thôi, có thật đâu. Chính ông Phật ngay nơi ḿnh lại không nhớ, không biết. Khi sáu căn không dính sáu trần là Phật tánh hiển lộ rồi. Phật ngay nơi ta lại không chịu t́m, cứ lo t́m trên núi trên non, trong hang trong động nên suốt đời cứ chạy ngược chạy xuôi, rốt lại khổ vẫn hoàn khổ. Bởi v́ chúng ta đă quên mất của báu trong nhà th́ t́m kiếm bên ngoài cách mấy cũng không có được. Đó là một lầm lẫn lớn của hàng Phật tử chúng ta.

Câu chót đối cảnh không tâm chớ hỏi Thiền, sáu căn đối với sáu trần không có dính mắc. Không tâm tức là không có các niệm, không suy nghĩ dính mắc. Đó là Thiền rồi. Chúng ta ngồi thiền một giờ, hai giờ thấy đau chân, chớ c̣n tất cả giờ, những ǵ ở ngoài đến đều không dính, không mắc th́ dễ quá. Thấy h́nh sắc không dính h́nh sắc, nghe âm thanh không dính âm thanh v. v… Đó là chúng ta đang tu Thiền, như vậy thảnh thơi biết mấy. Nhưng v́ chúng ta cứ thấy th́ dính, nghe th́ nhiễm nên bắt buộc phải ngồi Thiền, xếp chân ngó xuống cho bớt nghe, bớt thấy, gỡ lần lần như vậy. Nếu được đối cảnh vô tâm th́ khỏi ngồi, ở đâu cũng Thiền hết. Người biết tu th́ mọi việc rất dễ dàng, rất thuận lợi, c̣n không biết tu th́ thấy khổ, thấy khó.

Có nhiều vị tu rất đáng thương. Như nghe nói ăn chay là tu nên bắt đầu ăn chay nhưng không đủ phương tiện thành ra xanh xao, khổ sở. Lại nghe người ta quở ăn chay ốm quá, từ đó sanh buồn nhưng không dám bỏ ăn chay, sợ mất công đức. Do ức chế như vậy nên ai nói động tới liền giận, ai chọc tới liền phiền. Cứ giận phiền hoài th́ ăn chay có lợi ích ǵ? Đó chỉ là giỏi ăn chay thôi chớ không giỏi tu. Tu là đừng dính nhiễm, nghe khen chẳng vội mừng, nghe chê không vội giận, thấy đẹp đừng ưa thích, thấy xấu đừng ghét bỏ v. v… Tất cả sáu căn không dính nhiễm sáu trần, đó là tu kỹ, tu đúng. Nếu c̣n dễ dính nhiễm th́ chúng ta tu chưa đúng, chưa kỹ. Nhiều người v́ việc ăn chay của ḿnh nên khi đến nhà ai cầm đôi đũa ngửi hơi tanh liền buông đũa lắc đầu. Đó là c̣n chấp hơn thiên hạ nữa.

Đạo Phật không đặt ăn chay là trên hết, như các sư Nguyên thủy đi khất thực, Phật tử cho ǵ nhận nấy chớ đâu có chê khen. C̣n người tu kỹ quá, đũa hơi hôi cũng chê. Đó là những điểm không khéo, chỉ chuộng về h́nh thức, không phải tu ngay trong tâm tánh của ḿnh. Tăng Ni chúng ta được phúc duyên lớn, nên ngày nay biết thức tỉnh vào chùa tu, bỏ hết triền phược của thế gian để cầu giải thoát. V́ vậy cần phải nắm cho vững, hiểu cho thấu đáo lời dạy của Phật, Tổ để ứng dụng vào đời tu của ḿnh, như vậy mới không uổng phí cuộc đời. Ngược lại chúng ta tu để mà tu chớ không biết ǵ hết th́ chỉ uổng một đời, không đi tới đâu cả.

Người xuất gia cần phải tu tiến mới có thể dạy cho hàng cư sĩ tu được. Nếu người xuất gia tu không ra ǵ th́ dạy Phật tử tu cũng không ra ǵ. Đó là mối họa lớn. Mong rằng tất cả Tăng Ni hăy ư thức được điều đó, nỗ lực tu hành, đủ tài đức mai kia dẫn dắt Phật tử đi đúng đường. Đó là biết lợi ḿnh, lợi người hay tự giác giác tha, giác hạnh viên măn. Có thế mới xứng đáng dự vào hàng Thích tử của Như Lai.


 

NGHIỆP TỪ ĐÂU MÀ RA

Vừa qua Ban Đại Diện Phật giáo Quận 8 có mời chúng tôi về đây nói chuyện đạo lư với Tăng, Ni và Phật tử. V́ thế, nhân dịp về thăm chúng tôi nói lại những điều cần yếu trên đường tu cho tất cả quư vị lănh hội và ứng dụng tu trong mùa an cư này cũng như măi về sau.

Tất cả chúng ta tu, nhất là hàng Tăng, Ni xuất gia ai ai cũng nói rơ rằng tu để cầu giải thoát sanh tử. Bây giờ tôi đặt câu hỏi lại, chúng ta giải thoát sanh tử nhưng cái ǵ dẫn chúng ta đi vào con đường sanh tử, đây là một vấn đề rất then chốt. Nếu chúng ta cầu giải thoát sanh tử mà không biết cái ǵ lôi dẫn ḿnh đi trong sanh tử th́ làm sao giải thoát được. Cho nên trước hết chúng ta phải nghiền ngẫm xem cái ǵ dẫn chúng ta, cái ǵ trói buộc chúng ta phải trôi lăn trong ḍng sanh tử.

Sở dĩ chúng ta bị sanh tử là do nghiệp dẫn. Trong kinh Phật dạy: "Do nghiệp lôi dẫn chúng sinh đi trong sanh tử luân hồi". Nhưng nghiệp từ đâu mà có? Trong kinh đức Phật dạy: Nghiệp xuất phát từ thân, khẩu và ư, tức là thân nghiệp, khẩu nghiệp và ư nghiệp. Như vậy sức mạnh lôi cuốn chúng ta đi trong sanh tử là nghiệp mà nghiệp lại xuất phát từ thân, khẩu, ư của ḿnh, đó là cái căn bản, cho nên chúng ta tu là phải chuyển nghiệp hay dứt nghiệp th́ mới có thể dừng sanh tử được.

Chúng tôi thường nói, người tu nếu chưa giải thoát th́ phải chuyển nghiệp. Từ nghiệp ác lẽ ra phải đọa trong ba đường dữ địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, chúng ta chuyển thành nghiệp thiện để sanh trong ba cơi lành là cơi người, a tu la và cơi trời. Như vậy biết chuyển nghiệp xấu thành nghiệp tốt sanh cơi lành, đó gọi là tu chuyển nghiệp. Và nếu muốn dứt luân hồi sanh tử th́ chúng ta phải dứt nghiệp, v́ c̣n nghiệp dù nghiệp lành cũng là sanh trong cơi lành, không phải dứt sanh tử. Vậy chúng ta phải làm sao để chuyển hóa nghiệp của ḿnh, làm sao để tiêu diệt nghiệp của ḿnh. Điều này thật quan trọng.

Nói ba nghiệp thân, khẩu, ư nhưng thực t́nh trọng tâm nằm ở ư. Ư nghĩ lành, thân làm lành, miệng nói lành. Ư nghĩ dữ, miệng nói dữ, thân làm dữ. Tuy nói ba nghiệp nhưng gốc từ ư. Ư nghiệp là căn bản, là nhân cho hai nghiệp kia hoặc tốt, hoặc xấu. Nên chúng ta tu muốn dứt sanh tử th́ phải dừng ư nghiệp. Ư nghiệp dừng th́ sanh tử mới dứt.

V́ vậy người tu Tịnh độ phải niệm Phật nhất tâm, nhất tâm th́ ư nghiệp lặng lẽ mới được sanh về Tây phương, mới thoát ly sanh tử. Nếu tu chưa nhất tâm th́ chưa thể thoát ly được. Quư vị nhớ trong kinh Di Đà đức Phật dạy rất rơ: Người niệm Phật hoặc một ngày, hoặc hai ngày cho đến bảy ngày nhất tâm bất loạn th́ khi lâm chung người đó được Phật và Thánh chúng hiện ở trước. Rơ ràng khi chúng ta được nhất tâm tức ư nghiệp đă thanh tịnh, không c̣n nghiệp nữa th́ được văng sanh về cơi Phật.

Người tu theo thiền Nguyên thủy th́ quán Tứ niệm xứ. Trong kinh A-hàm dạy: "Người nào từ một ngày cho tới bảy ngày trụ tâm nơi Tứ niệm xứ không có di chuyển (tức là không có dời đổi) th́ được nhập Niết-bàn, chứng A-la-hán. Chẳng những bảy ngày mà sáu ngày, năm ngày, bốn ngày, ba ngày, một ngày nếu trụ tâm nơi Tứ niệm xứ không di chuyển, người đó cũng chứng từ A NA-hàm trở xuống".

Như vậy chúng ta thấy tu Tịnh độ hay tu Thiền đều phải dừng lặng ư nghiệp. Ư nghiệp dừng lặng rồi th́ chúng ta được sanh về Tịnh độ, được chứng quả A-la-hán, nhập Niết-bàn v. v… Do đó trọng tâm là phải dừng ư nghiệp, ư nghiệp dừng rồi th́ chúng ta mới giải thoát sinh tử được. Đó là chúng tôi dẫn tổng quát để quư vị nhận rơ đường lối tu của ḿnh.

Song, hôm nay được quư Thầy yêu cầu giảng về Thiền nên chúng tôi nói về Thiền, đặc biệt là Thiền tông của Việt Nam. Nếu xét về Thiền tông Việt Nam từ khi Việt Nam bắt đầu có Phật giáo, kể từ ngài Khương Tăng Hội trở về sau, tất cả chư Sư đều là Thiền sư, đều tu Thiền.

Ngài Khương Tăng Hội giải thích Thiền theo Lục Diệu Pháp Môn là sổ tức, tùy tức, chỉ, quán, hoàn, tịnh. Ngài lại giảng Lục ba la mật, trong đó có Thiền ba la mật cho chúng ta thấy Thiền của Phật giáo và ứng dụng tu. Từ ngài Khương Tăng Hội về sau, các Thiền sư từ Trung Hoa, Ấn Độ sang Việt Nam truyền bá thiền.

Ngài Khương Tăng Hội có mặt ở Việt Nam vào thế kỷ thứ III, măi đến thế kỷ thứ XIX, ngài Liễu Quán ở Huế là một Thiền sư đắc đạo. Như vậy chúng ta thấy rơ từ thế kỷ thứ III đến thế kỷ thứ XIX Phật giáo chúng ta là Phật giáo tu Thiền. Bắt đầu thế kỷ thứ XIX cho đến thế kỷ XX th́ chư Tăng, chư Ni đa số tu Tịnh độ.

Thế nên, nói về Thiền tức là nói tới cái gốc của Phật giáo Việt Nam, đó là trên phương diện lịch sử. Nếu nói cụ thể hơn, tất cả quư Ḥa thượng cũng như chư Thượng tọa chúng ta ngày nay đang tu Tịnh độ, nhưng xét kỹ nguồn gốc th́ các Ngài đều có hệ phái Thiền hết. Hoặc là hệ phái Liễu Quán hay hệ phái của các vị khác như hệ lấy chữ Minh Như Hồng Nhật Lệ Trung Thiên… Đó là theo bài kệ của các Thiền sư.

C̣n các vị đă quá cố khi tịch đều ghi hoặc là đời thứ 40,42,43,ai cũng đều Từ Lâm Tế chánh tông hết. Từ Lâm Tế có nghĩa là kế thừa ḍng Lâm Tế, nhưng giả sử có ai hỏi: Thưa Thầy, Lâm Tế là ai, Ngài tu hành ra sao th́ chắc có vị không biết. Đó là điều tôi cho rằng rất đáng buồn. Tại sao đă thừa nhận ḿnh kế thừa tổ Lâm Tế hoặc tổ Tào Động v. v… mà lại không biết các Ngài tu pháp ǵ, th́ làm sao kế thừa? Như vậy nghĩa là không nắm vững nguồn gốc, cội rễ đường lối ḿnh đang tu.

Khi xưa tôi xuất gia, có phước nên sớm vào Phật học đường. Khi học chúng tôi băn khoăn, tại sao tất cả kinh Phật, chỉ có một ít bộ như kinh Di Đà, kinh Quán Vô Lượng Thọ v. v… là nói về Tịnh độ, c̣n hầu hết như bốn bộ A-hàm đều nói về Thiền. Kế nữa, các vị Tổ ở Ấn Độ, Trung Hoa, Việt Nam cũng đều tu Thiền mà ngày nay chúng ta không biết ǵ về Thiền.

Thậm chí có chùa các Thầy nghe nói tu Thiền, liền bảo: "Coi chừng tu Thiền điên". Tôi ngạc nhiên ghê lắm, bởi v́ nếu tu Thiền điên th́ đức Phật đă điên mất rồi và chư Tổ cũng điên hết. Nhưng các Ngài không điên, tại sao bây giờ ḿnh tu Thiền điên? Phải trả lời được câu đó.

Cho nên tôi ôm ấp, tôi t́m kiếm xem tại sao chúng ta lại như vậy. Khi t́m kiếm được rồi, tôi chỉ trả lời một câu gọn rằng: "Không phải tu Thiền điên, chỉ không biết tu Thiền nên tu Thiền mới điên". Người không học Thiền mà tu đại, nghe ai chỉ đâu đâu cũng bắt chước tu thành điên rồi đổ thừa tu Thiền điên. Nếu thật tu Thiền điên th́ chắc tôi cũng điên mất rồi. Nhưng tới bây giờ tôi vẫn chưa điên th́ không phải tu Thiền điên. Đó là một điều hết sức nguy hiểm.

Đức Phật tu Thiền ngộ đạo dưới cội Bồ đề không ai không biết, các ngài Mục Kiền Liên, ngài Xá Lợi Phất v. v… các vị đại đệ tử Phật khi xưa, một ngàn hai trăm năm mươi vị thường theo Phật cũng tu Thiền mà chứng quả A-la-hán. Cho đến chư Ni, như hệ của bà Di mẫu năm trăm vị, khi nghe Phật sắp Niết-bàn, liền rủ tới xin Phật nhập Niết-bàn trước. Được Phật cho phép, năm trăm bà liền tụ hội lại một chỗ mà nhập Niết-bàn. Các vị ấy cũng đă tu Thiền, chứng đạo quả, sanh tử tự tại. Bao nhiêu đó đủ cho chúng ta thấy thời Phật, đệ tử Phật đều tu Thiền.

Và sau đó từ tổ Ca Diếp truyền thừa tới Tổ thứ hai mươi tám là Bồ Đề Đạt Ma, sang Trung Hoa đến Tổ thứ sáu là Lục tổ Huệ Năng cũng đều tu Thiền luôn. Như vậy Phật tu Thiền, Tổ tu Thiền nhưng chúng ta lại không biết tu Thiền. Chẳng những không biết mà c̣n chống đối lại nữa chứ. Như vậy vô t́nh ḿnh đă mất gốc rồi.

Từ khi đọc các bộ kinh hệ A-hàm, các bộ kinh Pali do Ḥa thượng Minh Châu dịch, tôi đối chiếu, khảo sát, so sánh lại theo đường lối tu Nguyên thủy. Qua các bộ kinh Đại thừa như kinh Viên Giác, kinh Lăng Nghiêm v. v… tôi đọc rất kỹ cũng thấy nói về tu Thiền, cho đến bộ kinh Pháp Hoa mọi người hay tŕ tụng cũng dạy tu Thiền. Vậy mà chúng ta không biết tu Thiền. Nếu không biết tu Thiền th́ làm sao lănh hội được ư chỉ các kinh đó.

Như trong kinh Pháp Hoa phẩm Tùng Địa Dũng Xuất kể rằng: Các vị Bồ-tát từ xa đến thưa Phật: "Bạch Thế Tôn, xin chứng minh cho chúng con sẽ truyền bá, hộ tŕ kinh Pháp Hoa ở cơi này". Phật lắc đầu nói không được. V́ các Ngài là những vị Bồ-tát ở tha phương nên Phật không hứa thuận. Bỗng dưng sau đó quả đất rung động nứt nẻ ra, các Bồ-tát từ dưới đất vọt lên vô số, đi nhiễu quanh Phật xin Phật hộ tŕ kinh Pháp Hoa cơi này, bấy giờ Phật mới chấp nhận.

Khi xưa đọc tới chỗ này tôi ngơ ngẩn, sao lạ vậy? Một, v́ sao quá nhiều Bồ-tát từ đất vọt lên. Lâu nay chúng ta hay nghe nói dưới ḷng đất là địa ngục, chẳng lẽ Bồ-tát dưới địa ngục lên sao? Hai, chẳng lẽ đức Phật có cái nh́n địa phương? Bồ-tát ở đây xin th́ cho, Bồ-tát nơi khác xin không cho. Nên đọc kinh Pháp Hoa tôi thấy rất khó hiểu.

Đến khi nghiên cứu tu Thiền, lănh hội được yếu chỉ rồi, đọc lại đến đây tôi cười, thật là chúng ta bị lừa. V́ kinh Pháp Hoa hầu hết là ẩn dụ mà ḿnh tưởng thật. Bồ-tát từ phương khác đến là hữu t́nh giác, mà cái giác từ bên ngoài đến là hữu sư trí. Trí ở ngoài, trí nhờ người khác mà có, không phải thật của ḿnh. Kinh Pháp Hoa dụ cho Tri kiến Phật là cái thấy biết của chính ḿnh, nên ở ngoài đến làm sao bảo vệ được. V́ vậy Phật từ chối.

Chư Bồ-tát dưới ḷng đất vọt lên đông vô số, xin hộ tŕ được Phật chấp nhận. Bồ-tát dưới ḷng đất tức là chỉ cho trong thân tứ đại này có tánh giác lưu xuất, đó mới chính thật của ḿnh, gọi là vô sư trí. Hữu sư trí là trí c̣n nhờ bên ngoài, nó thuộc về sanh diệt. Vô sư trí từ ở trong phát ra đó là trí bất sanh, bất diệt mới bảo hộ được Tri kiến Phật của chính ḿnh.

Trong nhà Phật nói rất nhiều về vô sư trí, hữu sư trí nhưng chúng ta không hiểu. Khi mới vào đạo phải học ba huệ học: văn huệ, tư huệ, tu huệ, gọi tắt là văn, tư, tu. Văn là học với người khác, với bậc Thầy, nghe Thầy giảng dạy chúng ta hiểu rồi mở mang trí tuệ. Trí tuệ đó là văn huệ. Tư là suy gẫm lời Phật Tổ dạy cho chín chắn, xét nét kỹ càng thấy đúng liền ứng dụng tu, gọi đó là tu.

Như vậy tam huệ học thuộc về hữu sư trí. C̣n ba môn giải thoát là giới, định, tuệ, thuộc về vô sư trí. Nhân giới tu Thiền định. Thiền định th́ đâu có học với ai, chỉ lóng lặng tâm tư cho thanh tịnh rồi trí tuệ phát ra nên gọi là vô sư trí. Tam huệ học chưa phải là giải thoát, giải thoát là tam vô lậu học nên c̣n gọi là tam giải thoát môn, tức là giới định tuệ. Tuệ đó là tuệ giải thoát, nó thuộc về vô sư trí, từ định mà có.

Trí tuệ Phật nói trong kinh Pháp Hoa là trí tuệ của chính ḿnh mới bảo vệ được tri kiến của ḿnh, trí tuệ đó do định phát ra. Vậy có phải Phật dạy chúng ta tu Thiền định không? Muốn được trí tuệ vô sanh th́ phải tu Thiền định. Nếu chúng ta xét thật kỹ, thấy cho tường tận th́ chúng ta mới không nghi ngờ, không thấy khó hiểu.

Chính tôi ngày xưa học kinh Đại thừa, có lần tôi than rằng kinh Đại thừa chỉ để trên trang thờ chớ không có ứng dụng ǵ được hết. Nhưng khi tu, hiểu được kinh Đại thừa mới thấy hay đáo để, một bộ kinh có thể thấu suốt hết.

Như kinh A-hàm hỏi vô minh là ǵ, chúng ta định nghĩa thế nào? Vô minh có nghĩa là thấy biết không đúng như thật. Ngược lại, minh là ǵ? Là thấy biết đúng như thật. Thấy sự vật, thấy con người, thấy vũ trụ đúng như thật. Chúng ta ngày nay có thấy đúng như thật không? Thấy toàn là sai lầm, không đúng như thật.

Như nói về thân th́ chúng ta luôn thấy thân này là quư, là sạch sẽ, tốt đẹp hay là ô uế, bất tịnh? Kinh dạy th́ ô uế bất tịnh nhưng nếu có ai chê: "Thầy ăn mặc hôi hám quá", chúng ta giận không? Ḿnh hôi hám là sự thật, mà nói hôi hám là giận. Người tu c̣n thế huống nữa người đời, thấy c̣n sai lầm nhiều hơn. Chẳng những thấy sai lầm mà c̣n muốn đánh lừa người khác sai lầm thêm nữa. Người ta không bao giờ dám nh́n nhận lẽ thật, mà không thấy lẽ thật là gốc vô minh. Do thấy sai lầm thành ra mê chấp, chấp ngă. Nếu thấy đúng đắn th́ đâu có chấp, không chấp tức là tỉnh giác.

Đến cái nh́n của kinh Viên Giác, trong kinh Phật giải thích tất cả chúng sanh bị luân hồi sanh tử gốc từ vô minh. Trong kinh Viên Giác, Phật định nghĩa: Vô minh nghĩa là chấp thân tứ đại giả hợp là thân ḿnh thật, chấp tâm suy tính lăng xăng (tức là tâm duyên theo bóng dáng sáu trần) là tâm ḿnh thật, đó là vô minh. Nếu chúng ta hiểu được kinh, chúng ta thấy việc tu không khó. V́ chúng ta không ứng dụng được kinh nên chúng ta tu cứ tuột lên, tuột xuống hoài.

Với tinh thần Đại thừa, Phật giáo nói thân này là hư dối. Như kinh Kim Cang nói tất cả các pháp đều là hư ảo, không có thật, như câu "phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng, nhược kiến chư tướng phi tướng, tức kiến Như Lai", hết sức đơn giản. Tất cả những ǵ có tướng đều là hư dối. Tại sao? V́ nó do duyên hợp, mà hợp th́ phải tan, chỉ tan muộn hay sớm thôi. Pháp ǵ sớm muộn cũng tan th́ pháp đó có thật không? Phật bảo không thật.

Nếu thấy các tướng không phải là tướng, nghĩa là thấy các tướng nhưng không chấp nó là thật th́ đó là thấy Phật. Dễ làm sao! Như vậy Phật đâu có xa. Thấy các tướng biết nó không thật là đă giác, đă minh rồi. Minh th́ tự nhiên dễ thấy Phật, dễ gần với Phật. Tuy nhiên thấy được như vậy chưa hẳn là sống được như vậy.

Giả sử bây giờ có ai hỏi chư Tăng chúng ta: "Thưa Thầy, thân này thật hay giả? " Quư Thầy trả lời sao? Nhất định là giả, nói nghe hay lắm, nhưng nếu có ai chạm đến thân ḿnh một chút, lúc đó mới biết thật hay giả? Chúng ta nói theo lời Phật dạy nhưng chúng ta chưa sống được đúng như lời Phật dạy, nghĩa là nói được mà làm chưa được.

Nói thân này giả, quư vị xét kỹ giả như thế nào? Đa số đều cho rằng v́ do nhân duyên, đủ duyên th́ hợp, thiếu duyên th́ tan nên nói là giả. Tôi xin nói một cách cụ thể hơn nữa để quư vị nhận được thân này giả trăm phần.

Tất cả chư Tăng, Ni đang ngồi đây, lỗ mũi ḿnh đang làm ǵ? Ai cũng bảo lỗ mũi ḿnh đang thở. Tôi đặt câu hỏi lại, thở nghĩa là ǵ? Là mượn không khí ở ngoài đem vào. Mượn vô, trả ra, mượn vô, trả ra. Nói ngồi chơi nhưng thật không phải ngồi chơi, lúc nào cũng mượn, trả.

Trong kinh Phật dạy, thân chúng ta có nội tứ đại là đất, nước, gió, lửa ở trong nhưng phải nhờ ngoại tứ đại hỗ trợ th́ nội tứ đại mới c̣n. Nếu ngoại tứ đại không phụ trợ th́ nội tứ đại tan nát. Như vậy hiện giờ lỗ mũi của chúng ta mượn không khí, hít vô là mượn, thở ra là trả. Cứ mượn trả liên tục. Lúc nào đó chúng ta trả mà không mượn nữa th́ sao? Th́ đi rồi phải không? Như vậy mượn trả đều đặn là sống, trả mà không mượn là chết.

Chúng ta mượn ít tách nước uống, mượn rồi cũng trả, mượn cơm cũng thế. Như vậy mượn nước, mượn đất, mượn gió, mượn lửa đem vào rồi trả ra. Thế th́ giá trị cuộc sống của chúng ta ở chỗ nào? Nếu nó thật th́ không cần mượn trả. Đă vay mượn th́ không thật.

Người đời đi t́m hạnh phúc nơi này nơi kia, nhưng tôi nói hạnh phúc đơn giản lắm, chỉ mượn trả êm xuôi th́ hạnh phúc, mượn trả trục trặc là mất hạnh phúc. Như vậy chúng ta có thể kết thúc lại, thân này là hư giả, sống bằng vay mượn, có thật đâu. Đó là nói về thân.

Về tâm, chúng ta luôn luôn suy gẫm, tính toán một việc ǵ th́ nói tôi tính, tâm tôi nghĩ như vậy. Cho cái suy tính đó là ḿnh, là tôi. Tôi suy tính, tôi nghĩ ngợi, tôi phân biệt. Quư vị thử xét, nếu suy tính đó là tôi, khi một hai phút nào ngồi chơi, không suy tính, lúc đó cái tôi không c̣n sao? Cái tôi vẫn c̣n, làm sao nói suy nghĩ là tôi được. Nếu cái suy nghĩ là tôi thật th́ lúc nào cũng có. Nhưng quư vị tự soi lại t́m xem cái suy nghĩ đó ở đâu, có thấy nó không hay càng nh́n th́ càng mất. B́nh thường nó dấy lên nhưng soi lại t́m th́ nó mất, vậy có phải thật không? Đâu phải thật.

Quư vị thử nghĩ xem, từ thuở bé cho tới lớn, ḿnh là một hay ḿnh là nhiều? Nếu suy nghĩ là ḿnh th́ suy nghĩ trăm thứ xấu tốt v. v… chẳng lẽ ḿnh có một trăm cái tôi hay sao? Đó là những sai lầm mà chúng ta không biết, cứ tưởng thậât. Nếu chúng ta biết rơ thân này là vay mượn, tạm bợ, chúng ta sẽ sống nhẹ nhàng, thảnh thơi, tự tại.

Biết tâm lăng xăng, tưởng tượng là hư ảo giả dối th́ chúng ta không c̣n cố chấp để tranh hơn, tranh thua với người. Cho nên chấp thân tứ đại giả hợp cho là thân ḿnh thật, đó là si mê, là vô minh. Chấp thân đuổi theo bóng dáng sáu trần là ḿnh thật, đó là vô minh. Như vậy nếu chúng ta biết rơ, chúng ta không chấp nữa th́ vô minh thành minh. Minh tức là giác, vô minh là mê. Cái mê cái giác đó thay đổi như trở bàn tay. Mê giác giống như sáng và tối vậy, đổi qua đổi lại hết sức dễ dàng.

Vậy muốn giác ngộ dễ hay khó? Chúng ta thường có quan niệm, giác ngộ là phóng hào quang sáng cả bầu trời, chớ không ngờ giác ngộ là thấy được lẽ thật. Thật nơi người, thật nơi ḿnh, thấy đúng như vậy là giác ngộ.

Thiền tông cốt chỉ cho chúng ta thân này là giả dối tạm bợ, tâm vọng tưởng phân biệt suy gẫm là bóng dáng không thật. Không chấp hai thứ đó mà t́m cho ra cái thật của chính ḿnh, đó là người tu Thiền. Nên tu Thiền là phản quan tự kỷ, là soi sáng lại chính ḿnh t́m cho ra cái chân thật.

V́ lâu nay chúng ta cứ chấp giả là thật nên quên mất cái thật. Chúng ta biết rơ cái giả không chấp nữa th́ sẽ đào xới được cái thật ngay trong đó, chớ không đâu xa hết, nên nói phải quay lại. Tôi dẫn câu chuyện tổ Huệ Khả, Ngài là Tổ thứ hai nhưng là vị Tổ Trung Hoa đầu tiên ngộ lư Thiền.

Khi được tổ Đạt Ma nhận làm đồ đệ, Ngài thưa:

- Bạch Ḥa thượng, tâm con không an, xin Ḥa thượng dạy con pháp an tâm.

Tổ Đạt Ma bảo:

- Ông đem tâm ra đây ta an cho.

Nghe nói vậy Ngài sững người, xoay lại t́m một đỗi nhưng không thấy, Ngài mới thưa:

- Bạch Ḥa thượng, con t́m tâm không được.

Tổ bảo:

- Ta đă an tâm cho ngươi rồi.

Câu nói này ngày xưa tôi đọc chừng một trăm lần nhưng vẫn không hiểu ǵ hết. Sao mà kỳ lạ, an lúc nào? Tâm đâu có h́nh tướng mà đem ra, nên lúc đó tổ Huệ Khả mới nh́n lại tâm lăng xăng của ḿnh. Đây gọi là phản quan. Nhưng khi nh́n lại th́ nó mất, mất tức là không thật. Nên Tổ nói "Ta đă an tâm cho ngươi rồi". Đó là pháp an tâm mà không có pháp. Chỉ phản quan t́m lại nó th́ nó mất, mất là an chớ có ǵ đâu.

Thí dụ chúng ta tu Tịnh độ, dùng câu niệm Phật để an tâm. Niệm từng câu, từng câu cho quên các niệm khác gọi là an. Quên tất cả các thứ tạp nhạp nhưng c̣n câu niệm Phật, kế phải bỏ luôn câu niệm Phật nữa mới được. C̣n tu theo Tổ, cứ nh́n thẳng vô trong xem tâm bất an ở đâu, t́m lại không ra th́ tự nó an rồi.

Nên đường lối tu Thiền của Thiền tông là phản quan tự kỷ, soi sáng lại chính ḿnh chớ không có t́m kiếm ở đâu xa, đó là lẽ thật. An rồi, tuy không c̣n nghĩ suy mà vẫn biết. Quư vị nhớ lại những phút giây ngồi không nghĩ suy, chúng ta có biết hay không? Chúng ta quen cho rằng có suy nghĩ mới biết, nhưng thật t́nh không phải vậy.

Trong kinh Lăng Nghiêm Phật chia ra hai thứ tâm: vọng tâm và chơn tâm. Vọng tâm là tâm suy nghĩ lăng xăng, hư dối nên gọi là vọng. Chân tâm là cái biết hằng hữu, không vắng mặt lúc nào hết, sẵn có nơi ḿnh. Khi quư vị nh́n một sự vật không suy nghĩ ǵ hết, quư vị có biết sự vật đó không? Khi nghe tiếng không suy nghĩ ǵ hết, chúng ta có biết tiếng đó không? Tiếng người biết tiếng người, tiếng chuông trống biết tiếng chuông trống. Như vậy là biết. Cái biết đó có vắng lúc nào đâu.

Nơi chúng ta cái thấy, cái nghe thường hằng hữu, không thiếu vắng lúc nào cả. Nhưng v́ chúng ta quên, chạy theo cái lăng xăng sanh diệt cho đó là ḿnh. Bây giờ lặng được những thứ lăng xăng suy nghĩ th́ cái chân thật hiện tiền, khỏi phải t́m kiếm đâu xa. Do đó Thiền hết sức là gần.

Khi Lục tổ ngộ đạo rồi, Ngũ tổ tiễn Ngài đi về phía Nam. Qua sông, Ngài lên bộ, có một đoàn người đuổi theo giành lại y bát. Trong số đó có ngài Huệ Minh đi trước, ngày xưa ông là tướng đi tu nên cỡi ngựa giỏi, v́ vậy rượt theo kịp. Lục Tổ để y bát trên tảng đá rồi trốn vào lùm cỏ nói: "Y bát là biểu tín, há có thể dùng sức mạnh mà tranh giành được sao? " (Biểu tín là để người thấy và tin vị ấy đă được Tổ ấn chứng ngộ đạo).

Huệ Minh thấy y bát mừng quá, nhấc lên nhưng nhấc không nổi liền biết vật này có ǵ siêu việt, phi thường nên không giành giựt nữa. Khi tâm giành giựt hết, Ngài liền gọi: Hành giả! Hành giả!

Ngài Huệ Năng ở trong bụi cây bước ra. Huệ Minh nói:

- Tôi đến đây v́ pháp chớ không v́ y bát.

Tổ bảo:

- Nếu ông v́ pháp chớ không v́ y bát th́ tôi sẽ nói pháp cho nghe, nhưng trước hết ông phải lặng tâm, đừng nghĩ tưởng ǵ, tôi sẽ nói.

Huệ Minh lặng lẽ. Tổ nói:

- Không nghĩ thiện, không nghĩ ác th́ cái ǵ là bản lai diện mục của Thượng tọa Minh?

Nghe câu đó Huệ Minh liền ngộ.

Chúng ta nghĩ thiện, nghĩ ác, nghĩ phải, nghĩ quấy, những cái nghĩ đó làm mất bản lai diện mục của ḿnh. Nếu dừng nó lại th́ bản lai diện mục hiện tiền. Hết sức là đơn giản. Đó là ư nghĩa thâm trầm trong nhà Thiền. Như vậy tu Thiền là quay lại, phăng t́m cái chân thật của chính ḿnh, chớ không phải cái ǵ xa lạ ở bên ngoài.

Cho nên gần đây chúng ta thấy người Tây phương có khuynh hướng t́m hiểu đạo Phật, nhất là t́m hiểu về Thiền. Năm 1964 tôi được qua Nhật Bản, cùng một chuyến tàu với tôi có vài người Tây phương qua Nhật Bản học Thiền. Chẳng những Nhật Bản mà Tích Lan, Miến Điện, Thái Lan, người ta cũng t́m học khá nhiều. Bấy giờ tôi mặc cảm, buồn, tại sao Thiền ở Việt Nam, nói riêng là Thiền tông, đă có trước Nhật Bản năm trăm năm và kéo dài măi đến thế kỷ thứ XIX nhưng người ta lại không t́m học, mà họ qua Nhật Bản, Đài Loan, Mianma, Xri Lanca, Thái Lan t́m học. Đó là điều chúng ta đáng buồn.

Chỗ người ta hướng về là tu Thiền, v́ đó là đường lối tu rất thực tế. Có thể nói Thiền là một môn khoa học tâm linh chớ không phải chuyện xa xôi, chúng ta tu Thiền là xoay lại bên trong. Kinh A-hàm dạy, khi tọa thiền nếu c̣n tham sân si, biết c̣n tham sân si. Nếu hết tham sân si biết hết tham sân si. Như vậy biết rơ nơi ḿnh c̣n điều ǵ xấu, điều ǵ tốt. Biết rơ đó là Thiền. Tu Thiền theo Thiền tông là quay lại ḿnh để nhận chân rằng nơi ḿnh có cái chân thật, gọi là bản lai diện mục, là Phật tánh v. v… nó sẵn nơi ḿnh nhưng ḿnh bỏ quên. Bây giờ xoay lại t́m cho ra nó. Đó là việc thực tế nơi ḿnh chớ không phải ở đâu hết.

Nhưng muốn biết cái thật th́ trước phải hiểu cái giả, nếu chấp giả làm thật th́ muôn đời không biết cái thật. Nên nói đến tu Thiền phải thấy thân như điện ảnh. Nếu chấp thân này thật, tâm suy nghĩ thật th́ không bao giờ chúng ta thấy được cái thật. V́ nhận giả làm thật th́ làm sao biết được cái thật ngay con người giả của chúng ta.

Như kinh Lăng Nghiêm nói chân tâm và vọng tâm. Chúng ta đang đuổi theo sống với vọng tâm th́ chúng ta không thấy được chân tâm. Chúng ta quay lại tự nhận, tự thấy nơi ḿnh, cái ǵ thật, cái ǵ giả, đừng theo cái giả th́ sống với cái thật. Cho nên tôi nói đừng theo vọng tưởng, đó là ḿnh đừng để cái giả lừa, biết giả rồi th́ cái thật mới hiển lộ, đó là tinh thần tu Thiền.

Thiền thích hợp với khoa học hiện đại, v́ nó rất cụ thể, không ai cho là mê tín hay tưởng tượng được. Trong Phật giáo chúng ta có rất nhiều pháp môn, song pháp môn nào thích hợp với hoàn cảnh hiện tại th́ chúng ta chú tâm khai thác, t́m hiểu và truyền bá.

Mai sau con cháu của chúng ta sẽ học hành giỏi hơn chúng ta nhiều, hiểu biết khoa học hơn. Mà đă có kiến thức khoa học rồi nếu cha mẹ bảo cúng đi con, lạy đi con có phước, chúng sẽ không tin. Nếu thế hệ sau không tin, Phật giáo lúc đó sẽ ra sao? V́ vậy chúng ta là người lo xa, nh́n đến tương lai, chúng ta phải cố gắng gầy dựng đạo đức thích hợp với hoàn cảnh hiện tại và tương lai. Có thế Phật giáo mới trường tồn.

Giới Tăng Ni muốn mai kia làm Phật sự được vuông tṛn, được tốt đẹp cần phải có cái nh́n sáng suốt ấy. Nếu chúng ta cứ hài ḷng với hiện tại, thấy Phật tử đi chùa nhiều, cúng lạy nhiều, chúng ta thỏa măn. Như thế th́ mai kia con cháu chúng ta mất ḷng tin, chừng đó Phật giáo sẽ suy đồi. Chúng ta phải làm sao cho Phật giáo phát triển với thời đại khoa học, chớ không phải phát triển với thời xa xưa.

V́ vậy lúc nào tôi cũng cố gắng nỗ lực hướng dẫn Tăng Ni, Phật tử cũng như những ai mộ đạo, đều thấy đạo Phật đúng như thật, đạo Phật là chân lư, chớ không phải đạo Phật là tưởng tượng. Như vậy mới hy vọng đạo Phật tồn tại lâu dài hơn và người ở các nước Tây phương sẽ tới Việt Nam nghiên cứu những ǵ hay đẹp của Tổ tiên ḿnh, nhất là Phật giáo đời Lư Trần, cả thế giới đều quư kính. Chúng ta có của quư mà không khai thác, để người Tây phương coi thường, khinh khi ḿnh. Bây giờ chúng ta chịu khó khai thác, người ngoài sẽ quư sẽ kính.

Tôi mong rằng tất cả quư vị Tăng Ni trẻ c̣n học được, c̣n làm nhiều Phật sự, cố gắng t́m hiểu cho thấu đáo, để mai kia việc Phật sự tốt đẹp hơn. Đời chúng tôi cũng sắp tàn rồi, việc làm không được bao nhiêu, chúng tôi trông cậy nơi tất cả quư vị. Buổi nói chuyện hôm nay mong quư vị suy nghĩ cho kỹ, gẫm lại xem cái ǵ thật, cái ǵ đúng, ứng dụng tu làm sao cho Phật pháp được lâu bền.

Đó là chỗ mong mỏi của chúng tôi.


 

BA ĐIỀU CĂN BẢN
CỦA NGƯỜI TU PHẬT

Hôm nay chúng tôi xin nói đề tài Ba điều căn bản của người tu Phật. V́ chúng ta tu Phật phải biết thế nào là cội gốc, thế nào là ngọn ngành. Ba điều này tôi căn cứ theo kinh Pháp Hoa, nhắc lại cho quư vị nhớ và thực hành.

Trong kinh Pháp Hoa Phật dạy: "Người tu Phật phải vào nhà Như Lai, mặc áo Như Lai, ngồi ṭa Như Lai". Chúng ta tu theo Phật th́ phải vào nhà Phật, mặc y Phật và ngồi ṭa của Phật. Như vậy mới trung thành với đức Phật, mới có thể thành công được sở nguyện tu hành của ḿnh.

Vào nhà Như Lai là ǵ? Đức Phật dạy vào nhà Như Lai là thực hành ḷng từ bi. Chúng ta muốn vào nhà Phật phải mở rộng ḷng thương đối với tất cả mọi người. Nếu người tu hành mà không có tâm từ bi th́ không phải là đệ tử của Phật. Cho nên tâm từ bi là bước đầu để đem lợi ích cho chúng sanh. Đó là tâm nguyện của người Phật tử tu theo Phật. Thế th́ thương chúng sanh bằng cách nào và thương những ai? Tôi sẽ lần lượt dẫn cho quư vị thấy.

Thứ nhất, chúng ta thương mến những người thân cùng sống chung quanh với ḿnh. Giới xuất gia th́ những người cùng tu trong một viện, một chùa, huynh đệ phải thương nhau, bảo bọc nhau. V́ sao? V́ tất cả chúng ta cùng một lư tưởng tu hành cầu giải thoát, cầu giác ngộ. Đă đồng một lư tưởng, vô lư chúng ta lại không thương nhau? Thương nhau để mà đùm bọc, thương nhau để mà tha thứ cho nhau, đừng làm phiền lụy, đừng làm khổ đau cho những người chung sống với ḿnh.

Giới cư sĩ tại gia, quư Phật tử phải thương những người trong gia đ́nh, những người thân tộc của ḿnh, những ai chung quanh có công, có nghĩa với ḿnh, chúng ta đều thương, đều mến, đừng bỏ sót người nào, xử sự với tất cả trong t́nh thương yêu kính trọng.

Thứ hai, nếu là giới xuất gia, các vị phải thương mến các vị thí chủ đă bỏ công, bỏ của giúp đỡ chúng ta có phương tiện tu hành. Chúng ta phải nỗ lực tu sao cho đủ phước, đủ đức để độ những vị đó, không thể thọ nhận của thí chủ rồi ăn chơi vui vẻ qua ngày. Như thế là phụ ân của đàn na thí chủ.

Trong kinh Phật thường dạy: Phật tử cúng dường Tam Bảo giống như người nông phu làm ruộng vậy.

Trước hết chúng ta phải lựa những thửa ruộng ph́ nhiêu đất tốt để gieo giống. Cũng vậy, Phật tử cúng dường Tăng Ni cũng phải nghĩ chỗ nào tu hành chân chánh, những vị tiến lên theo con đường Phật chỉ dạy… đó là những vị gánh vác Phật sự đáng quư, đáng kính. Gieo giống những thửa ruộng tốt hết rồi mới tiếp theo những thửa ruộng vừa phải, không tốt lắm và cuối cùng là những thửa ruộng khô cằn.

Như vậy người tu là người tạo phước đức cho chúng sanh, nhận của đàn na thí chủ có nghĩa là chúng ta nhận phần giúp đỡ bằøng vật chất để rồi chúng ta tu, chúng ta sẽ giúp đỡ lại, cứu độ lại phần tinh thần cho Phật tử. Nên chúng ta thương những vị thí chủ. Nếu là Phật tử tại gia th́ phải thương mến những người có công giúp đỡ cho ḿnh sống, có công đem lại sự tốt đẹp, an lành cho ḿnh. Luôn nhớ ơn và đền ơn cho xứng đáng.

Thứ ba, thương tất cả những người c̣n mê lầm. Chúng ta được phúc duyên lớn nên mới xuất gia, bởi v́ xuất gia là đă thức tỉnh, nếu không tỉnh th́ ḿnh cứ đi trên đường đời chớ không trở gót vào chùa đi trên đường giải thoát. C̣n người đời v́ bận bịu thế gian, chuyện gia đ́nh thân quyến nên cứ say mê làm ăn cho có tiền của, không nghĩ tới đạo lư thức tỉnh, nên chúng ta thương xót những người si mê ấy, làm sao đánh thức để họ tỉnh, như vậy mới tṛn bổn phận một người tu. Đức Phật thường dạy người tu phải có đủ tự giác và giác tha. Nếu chỉ tự giác đó là xong phần ḿnh nhưng c̣n phải giác tha nữa, làm sao cho những người chung quanh ḿnh cùng giác ngộ. Như thế mới tṛn bổn phận của một tu sĩ tu Phật.

Với người cư sĩ, quư Phật tử cũng phải có trách nhiệm v́ ḿnh đă biết đạo, đă nếm được mùi vị thâm trầm của Phật pháp, chúng ta cũng phải đem chia xẻ cho huynh đệ ḿnh cùng hưởng, cùng nếm. Đó là tinh thần tự giác, giác tha. Tinh thần thương yêu này không riêng ǵ người xuất gia mà kể cả người tại gia cũng mở ḷng từ bi thương những người mê lầm hơn chúng ta và cố gắng đánh thức họ cùng tỉnh, cùng tiến tu, cùng hết khổ như ḿnh.

Thứ tư, từ bi là thương tất cả chúng sanh từ loài người cho đến loài vật. V́ vậy mùa Vu Lan Phật tử thường mua chim thả để thể hiện ḷng từ bi của ḿnh, nhưng việc làm này nếu không khéo sẽ trở thành ích kỷ. V́ quư vị nhốt chim trong lồng chờ quư thầy tụng kinh cầu nguyện cho ḿnh được an vui hạnh phúc rồi mới thả, trong khi mấy chú chim muốn chết ngộp hết cả. Đó là trái với ḷng từ bi, vô t́nh chúng ta trở thành ích kỷ là vậy.

Khi đă tu hoặc xuất gia, hoặc tại gia chúng ta đều mở ḷng thương v́ người, v́ chúng sanh. Đó mới thật là ḷng từ bi. C̣n t́nh thương ích kỷ gọi là ḷng thương vị ngă.

Đến phần mặc áo Như Lai. Áo Như Lai là ǵ? Phật dạy áo Như Lai là ḷng nhu ḥa nhẫn nhục. Chữ nhẫn nhục này có nhiều người hiểu theo nghĩa tiêu cực, cho rằng nhẫn là nhục. V́ nhẫn nên chịu thua, v́ thua nên nhục. Nghĩ như vậy là sai lầm.

Chữ nhẫn trong đạo Phật nghĩa là có sức chịu đựng, có sức an nhẫn. An nhẫn những điều trái tai, gai mắt, chúng ta không tức giận, không bực bội. An nhẫn được những sự đ̣i hỏi, những nhu cầu thèm khát của thân, chúng ta đều an nhẫn được. An nhẫn được hoàn cảnh khó khăn, thời tiết nóng lạnh bất thường. Nên chữ nhẫn nhục trong nhà Phật nói lên một sức chịu đựng mạnh mẽ phi thường. Như có người chọc giận ḿnh, làm trái ư ḿnh th́ chúng ta mạnh mẽ làm chủ, đừng để cơn sân dấy lên, hiện ra ở miệng, ở tay. Do đó phải có sức chịu đựng cứng cỏi, gan dạ, không thể yếu đuối được.

Kinh Pháp Cú có câu: "Thắng một vạn quân không bằng thắng ḿnh. Thắng ḿnh mới là chiến công oanh liệt". Cơn tức giận dấy lên mà chúng ta thắng được tức là công phu tu hành mạnh mẽ, sức chịu đựng cứng cỏi chớ không phải tầm thường. Như vậy sao gọi là nhục nhă được! Thắng được ḿnh c̣n hơn một ông tướng thắng cả một vạn quân. Người nhẫn nhục thắng được ḿnh th́ đâu phải yếu đuối.

Trong cuộc sống hằng ngày chúng ta gặp rất nhiều điều bất như ư. Nếu chúng ta không có sức chịu đựng, không có sức kham nhẫn th́ chúng ta sẽ đau khổ liên miên. Ngược lại chúng ta đủ sức kham nhẫn chịu đựng th́ chúng ta sẽ được an vui tự tại. V́ vậy Phật dạy người tu phải tập đức nhẫn nhục. Đức nhẫn nhục đă được đầy đủ gọi là mặc áo Như Lai.

Cho nên người tu không nên có thái độ nóng giận, lúc nào cũng e dè sợ sệt một cơn giận nổi lên. Nó là cái họa lớn, thiêu đốt công đức bao nhiêu năm tu hành khổ cực của ḿnh. Đức Phật dạy "chỉ một đốm lửa sân làm cháy cả rừng công đức". Nếu chúng ta luôn nghĩ tới đạo đức, nghĩ tới công phu của ḿnh th́ phải khéo dè dặt, đừng cho những cơn nóng giận khởi lên.

Nhẫn nhục có chia làm ba.

Một là nhẫn với người. Đối với lời nói trái tai, hành động gai mắt hoặc người mắng chưởi đánh đập mà chúng ta nhẫn được, bỏ qua hết, không buồn giận. Đó là chúng ta nhẫn nhục với người khác. Trong kinh A-hàm có câu chuyện ngài Phú Lâu Na. Khi Ngài xin đức Phật về phương Bắc giáo hóa.

Đức Phật liền hỏi: Này Phú Lâu Na, người phương Bắc hung hăng lắm, nếu ông về đó giáo hóa họ sẽ chưởi mắng ông, ông nghĩ thế nào?

Ngài trả lời: Bạch Thế Tôn, nếu họ chưởi mắng con, con nghĩ họ cũng c̣n lương thiện v́ chưa đánh đập con.

Phật nói: Giả dụ họ đánh đập ông th́ ông nghĩ thế nào?

Ngài thưa: Bạch Thế Tôn, nếu họ đánh đập con, con nghĩ họ cũng c̣n lương thiện v́ chưa giết con chết.

Phật bảo: Nếu họ giết ông chết th́ ông nghĩ thế nào?

Ngài trả lời: Bạch Thế Tôn, nếu họ giết con chết th́ họ là người ơn của con v́ nhờ họ mà con bỏ được cái thân tứ đại hôi thối này.

Phật nói: Được. Như vậy th́ ông nên đến đó giáo hóa.

Quư vị thấy đức nhẫn nhục của Ngài cỡ nào? Trong đại chúng, chúng ta chỉ nhẫn nhục các việc nói nặng, nói nhẹ vớùi nhau thôi, vậy mà có khi chịu không nổi. C̣n Ngài bị chưởi bới, đánh đập cũng nhẫn được cho đến giết chết cũng nhẫn luôn, không thù hằn mà c̣n mang ơn nữa.

Đây là tấm gương cho chúng ta học. Tu là phải như vậy. Đừng nghĩ ḿnh căi giỏi, nói hay là tốt. Càng căi giỏi nói hay, lấn lướt người th́ tội lỗi càng tăng chớ không phải giảm. Đó là phần thứ nhất, nhẫn với người.

Hai là nhẫn với ḿnh. Ḿnh có ǵ đâu mà nhẫn. Thật ra là nhẫn với ḿnh rất khó. Nhẫn với ḿnh là nhẫn sự đau đớn, bệnh hoạn. Có người nào đau bệnh mà không rên không? Đó là cái bệnh. Nên chúng ta tu phải ẩn nhẫn khi cơ thể bệnh hoạn, đau yếu, phải b́nh tĩnh cố gắng hạn chế, đau trăm phần chúng ta chỉ nói đau hai mươi phần thôi. Chớ mỗi lần đau khóc lên, khóc xuống rên rĩ om ṣm cho mọi người chú ư đến ḿnh. Trong đạo như vậy là kẻ yếu đuối chớ không phải hay.

Kế là nhẫn với sự đ̣i hỏi của thân, thèm cái này, muốn cái nọ… những sự thụ hưởng. Như người mới tu chừng một hai năm, đi ngang qua chỗ nướng thịt cá th́ phát thèm. Đó là nhẫn không được nên khởi niệm bậy. Ẩn nhẫn những thứ thèm muốn, những đ̣i hỏi của ḿnh gọi đó là nhẫn với ḿnh.

Như vậy nhẫn nhục là có sức chịu đựng rất mạnh mẽ cứng cỏi chớ không phải chuyện thường. Đối với những ǵ ḿnh ưa thích cũng phải bỏ. Như người xuất gia xem thân này là đăy da hôi thối, vậy mà lâu lâu cũng có người nh́n ḿnh xem đẹp hay không? Rồi sửa sang chút chút cho dễ coi. Thậm chí ngày nay tôi nghe nói cũng có kẻ thoa kem cho da mịn. Việc đó có trái với đạo lư không?

Người tu khi xuất gia, cạo tóc đă tự nguyện hủy h́nh thủ khí tiết. Hủy h́nh là làm cho thân xấu đi. Phụ nữ ngoài đời, người ta sửa sang mái tóc cho đẹp, cho duyên dáng. C̣n người tu đă cạo bỏ phức rồi, bây giờ c̣n muốn thoa môi son hay đánh kem th́ coi hết được! Đó là trái với lẽ thật của ḿnh. Những ǵ ḿnh ưa thích trái với tư cách của người tu, trái với bản nguyện của người xuất gia th́ chúng ta phải ẩn nhẫn, dẹp nó qua một bên, đừng để nó lôi kéo ḿnh. Được như vậy mới là người khéo tu. Nếu không chúng ta sẽ quên đi bản nguyện xuất gia cầu giải thoát ban đầu.

Chẳng những người xuất gia mà hàng cư sĩ tại gia cũng vậy, thấy điều ǵ ḿnh thích mà trái với đạo lư th́ phải giảm, phải hạn chế chớ đừng theo nó. Như vậy là biết nhẫn với ḿnh.

Ba là nhẫn với hoàn cảnh, thời tiết. Sống trong đạo cũng có khi gặp nhiều hoàn cảnh khó khăn. Trong kinh Phật dạy nơi nào có Phật pháp, dù cho đói rét cũng phải theo thầy tu học. C̣n nơi có gạo dư thừa mà thiếu đạo đức, cũng nên bỏ mà đi. Như vậy những nơi nào có Phật pháp chúng ta ở đó gặp hoàn cảnh khó khăn, thiếu thốn, nhiều phiền hà, bực bội cũng phải ráng ẩn nhẫn, v́ Phật pháp, v́ sự tu chớ không v́ sự ăn uống. Người được như vậy là người chiến thắng bản thân ḿnh, chiến thắng được hoàn cảnh. Rồi c̣n phải nhẫn với thời tiết bức bách, chúng ta chịu đựng không than van, vẫn thản nhiên tự tại. Đó là chúng ta biết nhẫn.

Như vậy người tu muốn mặc áo Như Lai phải nhẫn nhục, tức là nhẫn người, nhẫn ḿnh, nhẫn hoàn cảnh thời tiết v. v… Lúc nào cũng chấp nhận khó khăn, không bao giờ chán nản. Người mạnh như thế mới sống đúng với câu Phật dạy: "Thắng một vạn quân không bằng tự thắng ḿnh". Đó gọi là mặc áo Như Lai.

Đến phần ngồi ṭa Như Lai là quán tất cả pháp Không. Chúng ta dùng trí tuệ quán chiếu tất cả các pháp trên thế gian này do nhân duyên hợp thành, không có chủ tể cố định. Luôn dùng trí tuệ quán sát thấu triệt như vậy.

Ví như nh́n một ngôi chùa, chúng ta quán xét xem cái ǵ là chủ ngôi chùa. Trong đó nào là xi măng, cát, đá, ngói, gạch v. v… tụ hội lại. Chúng ta hiện thấy ngôi chùa như vậy nhưng thật ra đó là một hợp thể do nhiều thứ hợp lại, th́ cái ǵ là chủ? Không có chủ, cũng không cố định. Hiểu như vậy th́ từ cái nhà, cái bàn cho tới con người của ḿnh cũng thế, do tứ đại hợp thành nên thân này không thật, cũng không có chủ. Hiểu như vậy là hiểu được lư Không.

Chúng ta quán sát bằng trí tuệ, thấu suốt được sự vật bên ngoài đều do nhân duyên hội hợp, không có thực thể cố định. Do không có thực thể, không cố định nên nói nó không thật. Thấy như vậy là quán pháp Không. Nói quán pháp Không là nói lư nhân duyên. Nhà Phật nói tất cả pháp đều từ nhân duyên sanh, nên trong kinh A-hàm có đoạn đức Phật dạy: "Thấy được lư nhân duyên, tức là thấy được pháp, thấy được pháp tức là thấy được chân lư".

V́ trên thế gian này không có vật ǵ tự nó thành mà phải do nhiều thứ hợp lại. Tôi thường thí dụ, bàn tay của tôi, nếu co năm ngón lại th́ gọi là nắm tay. Nắm tay này thấy dường như có thật mà không phải thật. V́ năm ngón co lại, nếu năm ngón buông ra th́ c̣n ǵ là nắm tay? Do duyên hợp tạm có, duyên tan trở về không.

Tất cả pháp trên thế gian đều do nhân duyên sanh, không có chủ thể nên không thật, không cố định. V́ vậy nói là hư ảo. Trong Trung Quán Luận ngài Long Thọ nói về lư nhân duyên như sau:

Nhân duyên sở sanh pháp

Ngă thuyết tức thị không

Diệc danh vi giả danh

Diệc danh trung đạo nghĩa.

Nghĩa là các pháp do nhân duyên sanh nên Phật nói tức là không. Tại sao? V́ nó không có chủ thể, đâu có ǵ là cố định, duyên hợp th́ có, duyên tan th́ mất, không thật, nên nói là không. Không đây là không có chủ thể, không cố định chớ không phải không ngơ, không có ǵ hết cả.

Khi duyên hợp th́ tạm có giả tướng, nên nói "Diệc danh vi giả danh". Như nắm tay chưa có bao giờ, chỉ khi co năm ngón lại mới có nắm tay, như vậy nắm tay là cái giả danh thôi. Nắm tay giả danh th́ bàn tay có giả danh không? Nắm tay chúng ta dễ thấy c̣n bàn tay hơi khó thấy hơn. Vậy chúng ta hăy phân tích xem, bên ngoài bàn tay th́ có da, trong năm đốt xương ngón tay có thịt, gân, máu. Phân ra từng món có c̣n bàn tay không, có c̣n từng ngón tay nữa không? Như vậy nắm tay không thật, bàn tay hay ngón tay cũng không thật, chỉ là giả danh thôi. Nếu chúng ta chấp giả là thật th́ đó là si mê.

Người tu không cho phép ḿnh si mê mà phải luôn luôn có trí tuệ. Vậy mà lâu lâu, quư cô muốn đeo cái ǵ đó trên tay cho đẹp, th́ sao? Hiện tướng ǵ? Phật tử ngoài thế gian si mê đă đành đi, c̣n người tu mà si mê như vậy th́ không tha thứ được rồi. Đă biết nó không thật, là giả danh th́ c̣n ǵ phải trang sức cho đẹp. Thấy được tướng bên ngoài là giả danh, không phải thật, nên nói " Diệc danh trung đạo nghĩa". Ai thấy được như vậy, biết được như vậy là hiểu nghĩa trung đạo. Nên chữ Không trong nhà Phật không phải không ngơ mà đó là không có thực thể, chỉ là giả danh. Biết rơ như vậy chúng ta không chấp thật không, cũng không chấp thật có. Đó là thấy được lư trung đạo. Lư trung đạo là lư thật.

Qua bài kệ này quư vị thấy rơ, chúng ta tu phải có trí tuệ, phải thấy rơ tất cả các pháp do nhân duyên sanh. Hiểu như vậy th́ hết chấp, mà hết chấp là sáng suốt. V́ vậy người tu Phật phải có trí tuệ. Nhờ trí tuệ nên thấy đúng như thật, không c̣n mê, không c̣n lầm lẫn say mê vật chất thế gian, không chạy theo những ảo tưởng giả dối, có thế mới thật là người học đạo.

V́ người học đạo là người đi t́m chân lư, t́m lẽ thật. Nếu hiểu sâu xa cùng tột đạo lư của Phật th́ đối với thân này được cũng không mừng, mất cũng không buồn, v́ nó tạm bợ giả dối do duyên hợp. Kinh Bát Nhă, Phật dạy: "Chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách". Nghĩa là thấy năm uẩn không thật, duyên hợp hư ảo liền qua hết khổ nạn. Đó là trí tuệ.

Quư vị xét chỉ cần ba điều Phật dạy trong kinh Pháp Hoa, nếu chúng ta biết ứng dụng tu hành th́ đă giải thoát sanh tử chưa? Cho nên chúng ta khéo ứng dụng theo lời Phật dạy th́ chúng ta sớm được an lành, sớm được giải thoát.

Hiện nay Phật tử chúng ta thích tụng kinh Pháp Hoa lắm, nhưng tụng để hiểu như tôi nói hay tụng để tính quyển? Nếu tụng để tính quyển chớ không ứng dụng theo lời Phật dạy th́ đúng là tu Pháp Hoa chưa? Lời Phật dạy như vàng ngọc, nếu chúng ta biết ứng dụng tu hành, ứng dụng vào cuộc đời th́ quư vô kể.

Nhưng đáng tiếc Phật tử không biết đúng, chỉ nghĩ tụïng kinh cho có phước. Nên lúc nào làm ăn sơ thất liền phát nguyện đi chùa tụng kinh Pháp Hoa để cầu phát tài. Như vậy tụng Pháp Hoa để t́m chân lư hay v́ lợi dưỡng. Quư Phật tử tự kiểm lại xem ḿnh ở dạng nào? Thế nên Tăng Ni cũng như tất cả Phật tử chỉ cần chân thành ứng dụng lời Phật dạy vào cuộc sống hằng ngày của ḿnh th́ chắc chắn sớm được hết khổ đau trong đời này và giải thoát sanh tử ở những đời sau.

Tóm lại tất cả người tu chúng ta dù xuất gia hay cư sĩ đều phải đủ ba đức tính này, mới gọi là người chân chánh tu Phật. Đó là vào nhà Như Lai, mặc áo Như Lai, ngồi ṭa Như Lai. Phật tử là con cháu của Phật nên mới dám vào nhà Phật, dám mặc áo Phật, dám ngồi ṭa Phật. Nếu không dám vào nhà Phật, mặc áo Phật, ngồi ṭa Phật th́ chừng nào thành Phật tử. Con Phật mà không dám vào nhà Phật th́ c̣n gọi là con Phật không? V́ vậy ai là con Phật, ai là người đệ tử trung thành của Phật phải đủ ba điều kiện trên. Được vậy chúng ta mới kế thừa địa vị của Như Lai, không nghi ngờ.

Đó là điều tôi nhắc nhở tất cả Ni chúng cũng như tất cả Phật tử hôm nay ráng học, ráng tu, làm sao chúng ta tu học đúng với ư nghĩa là người con chân chánh của Phật, người xuất gia chân chánh, đừng để lệch lạc sai lầm uổng một đời, sau này hối hận không kịp.


 

ĐỨC TỰ TÍN CỦA NGƯỜI PHẬT TỬ

Đề tài chúng tôi giảng hôm nay là Đức tự tín của người Phật tử. Nếu xét tận gốc của đạo Phật, chúng ta phải hiểu đạo là phương pháp, là con đường, Phật là giác ngộ. Chúng ta tu theo đạo Phật là tiến trên con đường giác ngộ, mà tiến trên con đường giác ngộ th́ phải có trí tuệ.

Trí tuệ không đi đôi với ḷng tin, nhưng tại sao ở đây tôi nói đức tin của đạo Phật? Bởi v́ qua bao nhiêu năm làm Phật sự ở miền Nam, đi giảng dạy và liên hệ các nơi tôi thấy Phật tử chúng ta gần đây dường như là mất ḷng tự tín. Tự tín tức là tin ḿnh, mà đức tin trong đạo Phật là đức tự tín, chứ không phải đức tin để cầu xin ở bên ngoài.

Người tu theo đạo Phật là phải dẹp bỏ những thứ phiền năo căn bản như: tham, sân, si, mạn, nghi, ác kiến. Dẹp được phiền năo mới có công phu tu hành. Nhưng muốn dẹp phiền năo chúng ta phải dẹp hay cầu xin Phật dẹp giùm chúng ta.

Tôi thấy nhiều Phật tử đến trước bàn Phật thắp hương khấn nguyện, nguyện Phật gia hộ cho con được tiêu trừ phiền năo, nhưng Phật có thể làm cho ta sạch phiền năo được không? Hay là chúng ta phải tự phủi, tự dẹp, phải đập phá cho nó tiêu tan. Chúng ta nguyện đem hết sức mạnh của ḿnh tiêu diệt các thứ phiền năo? Chứ Phật làm sao giúp được.

Nếu chúng ta ra đường thấy cái bóp rơi, ḷng tham dấy lên, đưa tay ra lượm th́ làm sao Phật can thiệp kịp phải không? Ngay lúc ấy chỉ có lương tri, trí tuệ của ḿnh mới chặn đứng, mới ngăn cản được ḷng tham. Như vậy phiền năo ở nơi ḿnh, th́ cũng chính ḿnh là chủ nhân ông tiêu diệt nó, chớ không phải cầu xin nơi đức Phật hoặc vị thần linh nào khác.

Như vậy Phật tử tu cứ cầu Phật cho ḿnh hết phiền năo là đúng hay sai, là tự tin hay không tự tin? Tin Phật chứ không phải tin ḿnh. Mà chỉ tin Phật th́ chúng ta đă mất tự tín rồi. Phật dạy chúng ta dẹp phiền năo để chứng Bồ-đề, nhưng chúng ta không dẹp phiền năo th́ Bồ-đề làm sao chứng được.

Quư đạo hữu, quư Phật tử nữ đi chùa thắp hương thường cầu xin điều ǵ? Xin Phật cho làm ăn phát tài, cho con thi đậu, cho gia đ́nh hạnh phúc, cho con được mọi người thương mến v. v... mà những điều đó Phật cho được không? Làm sao cho được, bởi chúng ta không tự tín, không tin ở ḿnh, mà chỉ tin ở Phật. Nhưng Phật đă nói, đă tuyên bố hẳn hoi rằng: "Ta không có quyền ban phước giáng họa cho ai". Phật không có quyền ban phước giáng họa mà chúng ta xin th́ làm sao đây? Đó là điều hết sức rắc rối.

Phật dạy dẹp phiền năo th́ tâm an tịnh, dẹp phiền năo th́ hết khổ đau mà ḿnh không chịu dẹp, cứ cầu cho ḿnh hết khổ, cho ḿnh được nhẹ nhàng thảnh thơi, làm sao mà được. Đó là điều mà người Phật tử không thâm nhập được đạo lư chân chánh nên mới có những thứ mong cầu không hợp đạo lư như vậy.

Đó là tôi nói mất tự tín nơi bản thân ḿnh. Và điều đáng buồn hơn nữa, chúng ta lại không tin ḿnh mà lại tin ở những sức mạnh bên ngoài.

Tôi thí dụ như một số cư sĩ tại gia, khi muốn cất nhà trước hết quư vị kiếm thầy xem tuổi, đoán tốt xấu. Nếu ông thầy nói năm nay sát chủ, quư vị có dám cất không? Đang lúc trong túi có tiền nhưng nghe nói năm tuổi hay năm sát chủ không dám cất, chờ tới năm tốt. Nhưng tới năm tốt th́ lỡ xài hết tiền, phải làm sao đây? Như vậy chúng ta tin vào số, tin vào tuổi, tin tất cả những thứ bên ngoài mà không tin ở ḿnh.

Đó là các Phật tử, nhưng thậm chí ở trong nhà chùa có nhiều thầy sửa soạn cất chùa cũng phải coi năm tốt không, cất được không? Nếu được năm th́ mới dám cất, bằng không th́ thôi. Đó là quan niệm sai lầm rất lớn.

Ngày nay chúng ta đă khá giả, nhiều Phật tử cất nhà đúc bê tông, mà nếu đúc bê tông th́ ở ít ra cũng năm ba chục năm, người đó bây giờ nếu đă năm sáu mươi tuổi th́ có chết trong nhà đó không? Nếu chết trong nhà đó th́ lựa ngày nào cũng sát chủ cả. Tôi nói ví dụ này cho quư vị thấy cụ thể rằng, sợ ngày sát chủ không dám cất nhà, vậy cất ngày nào khỏi sát chủ đây! Chỉ có cất cḥi mới khỏi sát chủ, c̣n cất nhà đàng hoàng chắc chắn phải sát chủ thôi.

Như vậy giá trị của ngày giờ có đúng hay không? Nếu ngày giờ đúng th́ trên thế gian này mọi người đều giàu, đều b́nh yên hết. V́ có người cất nhà, họ coi ngày rất kỹ nhưng sau năm bảy năm hay năm sáu tháng họ cũng vẫn bỏ nhà chạy như thường. Như vậy coi ngày đúng hay không?

Sự việc cụ thể trước mắt như vậy mà đa số Phật tử cứ nơm nớp sợ. Như có việc phải đi xa th́ sợ ngày mùng 5,14,23 nên lựa ngày lành đi. Nếu ngày lành đi được b́nh yên th́ mấy chú ăn trộm, ăn cướp cứ lựa ngày lành làm ăn chắc phát đạt lắm phải không? Nhưng đă ăn trộm, ăn cướp th́ ngày nào cũng là ngày nguy hiểm hết. C̣n chúng ta làm lành, làm phước th́ ngày nào cũng là ngày tốt, v́ nhân tốt th́ quả phải tốt; nhân ác th́ quả phải ác.

Như vậy chúng ta tin ngày giờ hay tin nhân quả! Ngày giờ không phải do Phật dạy mà đó là sách Nho thời xưa. Nhân quả mới là giáo lư của Phật dạy. Chúng ta là đệ tử Phật th́ phải lấy nhân quả làm căn bản tu hành, không nên lệ thuộc vào sách vở thời xưa, những tập tục cũ để lại. Nếu chúng ta theo những thứ đó là chúng ta mê tín. Mê tín tức là ḷng tin u tối không sáng suốt, không phải là đệ tử Phật.

Chúng ta tu theo Phật th́ phải tin nhân quả. Tại sao? V́ nhân quả xây dựng cho chúng ta một nền tảng tự tín rất vững chắc. Trong nhà Phật thường nói, tất cả các khổ không phải bỗng dưng nó đến mà đều có nguyên nhân. Từ cái nhân trước hoặc gần hoặc xa, chúng ta đă tạo nên ngày nay quả báo đến chúng ta phải chịu.

Thí dụ quư vị làm nghề nông, gieo giống lúa th́ thu hoạch lúa, gieo giống nếp th́ thu hoạch được nếp. Gieo giống nào sẽ có quả giống ấy theo ư muốn của ḿnh. Như vậy tùy theo nhân chúng ta đă gieo mà kết quả sẽ đến. Tuy nhiên, không phải nhân quả chỉ có một chiều mà rất tế nhị. Kết quả không phải từ ai cho hay từ đâu đến mà chính là công phu tạo nhân của chính ḿnh, ḿnh tạo nhân nên ḿnh hưởng quả, đó là lẽ thật.

Tất cả mọi việc đều do công của chúng ta, chúng ta săn sóc th́ sẽ có kết quả như sự mong cầu của chúng ta, chứ không phải bỗng dưng ai đem lại cho, v́ điều đó ḿnh muốn, ḿnh tạo th́ ḿnh được. Như vậy, nhân quả dạy cho chúng ta tạo lấy nhân tốt để hưởng quả tốt, c̣n gieo nhân xấu th́ bị khổ. Vui hay khổ đều do nơi ḿnh tự tạo.

Như vậy mọi sự khổ vui trên đời mà chúng ta gặp phải, không nên đổ thừa người này, trách móc kẻ kia mà chúng ta phải nhận lấy trách nhiệm, v́ nhân chúng ta đă gây th́ quả chúng ta phải chịu. Hiểu được lư nhân quả, chúng ta có sức tự tín phi thường, bởi v́ chúng ta có đủ điều kiện làm cho ḿnh tốt, hay đủ điều kiện làm cho ḿnh xấu. Vậy tốt xấu gốc từ ḿnh, không phải do lực nào bên ngoài.

Thí dụ, quư Phật tử đi ra đường thấy một người bị tai nạn té xe khổ, không ai đỡ, không ai cứu. Chúng ta cứu đưa họ đến bệnh viện, săn sóc cho họ được yên ổn. Chúng ta thấy người bị tai nạn, tự ḷng ḿnh khởi niệm thương xót nên cứu giúp họ, đưa tới bệnh viện. Lúc đó đức Phật có nói nho nhỏ bên tai ta "ngươi phải đỡ, phải chở người đó đến bệnh viện"? Chắc không có. Do tự tâm chúng ta khởi ḷng thương, cứu người. Chúng ta giúp người đó mà không cầu người biết ơn, đền ơn. Bất ngờ khi chúng ta gặp lại họ, tự nhiên họ rất mừng v́ biết rằng đây là ân nhân đă cứu ḿnh nên người ấy vui mừng, chúng ta vui theo. Vậy niềm vui đó từ đâu ra? Từ ḿnh chớ đâu phải Trời, Phật nào ban cho.

Ngược lại nếu quư vị ra chợ mua hàng, gặp người bán hàng quạu quọ, cự với ḿnh. Ḿnh nổi tức lên cự lại với họ. Khi nổi tức lên gây gổ với nhau, quư vị nghĩ lúc đó có Phật xúi ḿnh không? Hay là cái sân xúi ḿnh? Từ sự chưởi bới đánh nhau đưa tới các thứ khó khăn khác như bị bắt bớ v. v... Khổ đó ai làm cho quư vị, ai xúi quư vị, ai mang đến cho quư vị? Tất cả đều do sân giận của ḿnh làm ra, nó đẩy ḿnh tạo tội, thọ khổ.

Như vậy, tạo nhân lành đưa đến quả vui, tạo nhân dữ đưa đến quả khổ đều do chính ḿnh, không ai chen vào đó cả. Khi gặp khổ, vui chúng ta nên đổ thừa tại Trời khiến, Phật định hay phải biết đây chính là do chúng ta thiếu tu nên gặp quả khổ, hoặc chúng ta khéo tu nên gặp quả vui? Chúng ta đổ thừa cho người hay phải nhận lấy trách nhiệm về ḿnh? Hiểu như vậy, tin như vậy là chúng ta tin ai? Ḿnh là chủ nhân đem cái vui, cái khổ đến cho ḿnh. Đó là lư nhân quả hết sức cụ thể.

Chúng ta tu theo đạo Phật phải hiểu sâu, tin chắc lư nhân quả như vậy, chúng ta ứng dụng cho cuộc đời, không phiền hà ai, không oán hận ai, chỉ quay lại ḿnh để chuyển hướng. Nếu từ nhỏ tới lớn chúng ta chưa gây điều ǵ ác mà gặp khổ nhiều th́ biết cái nhân đời trước đă tạo, nên ngày nay tuy chưa làm khổ người khác mà khổ vẫn đến với chúng ta. Nên chúng ta hoan hỷ chấp nhận, không oán trời trách đất, đó là biết ứng dụng lư nhân quả.

Ngược lại đời này chúng ta không làm lành, làm phước mà được ở trong cảnh sung sướng, giàu sang, chúng ta cũng không tự hào ngă mạn v́ biết rằng đây là phước đời trước, chúng ta cũng đă có tu. Tuy được phước lành nhưng nếu không khéo tu, không biết làm lành nữa th́ phước sẽ hết, sau sẽ khổ. Nên không có tâm ngạo mạn khinh người.

Người Phật tử biết ứng dụng nhân quả tu là người rất tự do, v́ biết rơ khổ vui đều do ḿnh nên không oán trách, cũng không phí phạm, luôn có tâm khiêm nhường, không ngạo nghễ kiêu mạn. Đó là một đức tánh tốt, v́ chúng ta hiểu được lư nhân quả và biết ứng dụng trong cuộc sống.

Kế đến tôi nói về nghiệp báo. Phật dạy chúng ta bị nghiệp dẫn đi trong đường khổ hoặc trong đường vui, đó là gốc do xưa kia chúng ta đă gây tạo. Thí dụ như những người uống rượu. Ngày nào họ cũng vào quán uống rượu, uống như vậy chừng năm bảy tháng th́ họ thành người ghiền rượu. Thành người ghiền rượu rồi th́ hôm nào không có tiền vào quán họ sẽ khổ sở, chạy mượn người này, người kia để có tiền uống rượu. Đi quán uống rượu đó là nghiệp rượu, đă thành nghiệp rượu là thành nghiệp xấu. V́ nó dẫn ḿnh đi vay mượn có khi sanh trộm cắp. Khi đă thành nghiệp ghiền rồi rất khó bỏ, thiếu nó không chịu nổi, nên dễ sanh những thói xấu, những điều bậy.

Ngược lại một người mỗi tháng vào ngày rằm, ngày ba mươi đi chùa, tụng kinh, sám hối. Tháng nào cũng vậy, giả sử có tháng nào bận việc không đi được, người ấy thấy buồn. Như vậy đi chùa, tụng kinh, sám hối cũng là nghiệp mà là nghiệp lành. V́ vậy thiếu cũng thấy buồn nhưng buồn nhè nhẹ thôi. C̣n nghiệp rượu là nghiệp dữ nên nó hành ghê gớm lắm. Biết bao trường hợp v́ rượu mà trong nhà gây gổ, căi lộn v. v...

Do đó chúng ta thấy nghiệp lành dẫn chúng ta tới chỗ lành, nghiệp dữ dẫn chúng ta tới chỗ dữ. Người thích uống rượu th́ đi tới quán rượu, người thích đi chùa th́ tới chùa. Nghiệp là một thói quen do chúng ta gây ra, chớ không phải Trời, Phật xui khiến.

Xét trên lư nhân quả của đạo Phật, rơ ràng chúng ta tự do hoàn toàn, tự do tạo khổ, tự do tạo vui, chứ không phải Phật, không phải ai hết. Như vậy chúng ta phải có đức tự tín mănh liệt v́ chúng ta có đủ thẩm quyền làm cho ḿnh khổ hay làm cho ḿnh vui.

Một xă hội mọi người dân đều có đức tự tín như vậy th́ xă hội đó mạnh hay yếu? Xă hội đó là xă hội tiến bộ, v́ mọi người đều biết cái ǵ cũng gốc từ ḿnh th́ ḿnh phải nỗ lực, phải cố gắng xây dựng điều tốt, dẹp bỏ thói xấu, nhờ vậy xă hội trở thành đẹp đẽ, văn minh. Hiểu được ư nghĩa nhân quả, nghiệp báo của đạo Phật, chúng ta đủ điều kiện xây dựng cho xă hội ḿnh ngày càng đẹp đẽ, càng phú cường hơn. Đây là điều hết sức quan trọng.

Đó là tôi mới nói tin vào nhân quả nghiệp báo, c̣n một niềm tin đặc biệt nữa mà tất cả người Phật tử ai cũng phải cố gắng, phải nhớ. Đó là chúng ta tu theo Phật, chúng ta có tin ḿnh sẽ thành Phật không? Gần đây có nhiều Phật tử nói: "Con tu không mong ǵ hết, chỉ mong niệm Phật đến khi chết, Phật cho con về bển làm tôi tớ của Phật là được rồi". Nghe thật là dễ thương nhưng đó là người thiếu đức tự tín lớn lao. Tại sao?

Bởi v́ đức Phật dạy chúng ta tu là để thành Phật, chớ không phải dạy cho chúng ta tu để làm tôi tớ cho Phật, mà chúng ta đ̣i làm tôi tớ chớ không thích làm Phật. Vậy th́ nguyện ước của chúng ta quá nhẹ, quá yếu phải không? Tại sao chúng ta không can đảm, không phát tâm quyết liệt cầu quả Phật.

Quư vị nhớ, Phật là bậc Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Vô thượng là không có ǵ trên, Chánh đẳng là chân chánh liên tục, Chánh giác là giác ngộ đúng đắn. Giác ngộ đúng đắn liên tục không ngừng, không cách khoảng là Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.

Ở đây tôi muốn nói chữ Vô thượng, lẽ ra phải tôn xưng Phật là Tối thượng mới phải, v́ có ai trên Phật, có ai bằng Phật? Nhưng Phật chỉ gọi Vô thượng nghĩa là không trên, không trên nhưng có người bằng. V́ vậy nên Phật nói: "Ta là Phật đă thành, các ngươi là Phật sẽ thành". Sẽ thành, nghĩa là bằng Phật nhưng không trên Phật, v́ giác ngộ tới đó tức là viên măn, không c̣n ǵ trên nữa.

Phật dạy chúng ta tu theo Phật cốt là để thành Phật. Cho nên trong Phát Bồ-đề Tâm Văn dạy: Người tu Phật chỉ làm lành, tu Thập thiện mà không phát tâm Bồ-đề th́ sau này có thể lạc vào đường tà hoặc làm Ma vương. Nghe vậy chắc quư vị thấy lạ. Bởi v́ Phật là một vị giác ngộ viên măn, chúng ta tu theo Phật th́ cũng cốt giác ngộ viên măn. Không phải giác ngộ viên măn chỉ dành riêng cho Phật, c̣n chúng ta vô phần. Tu theo Phật là để giác ngộ viên măn, nên phát nguyện như vậy th́ khỏi rơi vào đường tà. Tại sao?

V́ chúng ta đâu phải tu một đời mà được giác ngộ viên măn, đời này chúng ta giác được phần nào hay phần đó, đời sau tiếp tục cho đến ngày viên măn. Nếu chúng ta không phát nguyện đời đời, kiếp kiếp tiến tu th́ có khi nửa chừng do phước đức tu Thập thiện và làm những điều lành khác, được sanh các cơi lành, gặp hoàn cảnh sung sướng chúng ta quên. Đă quên th́ có thể lạc vào đường tà hay lạc vào Ma vương.

Cho nên ḿnh tu theo Phật, lúc nào cũng phải phát nguyện đạt đến quả vị Phật, chớ không mong quả vị nào khác. Bao lâu cũng được, không hạn cuộc thời gian, đời này chưa rồi th́ đời sau; đời sau chưa rồi th́ đời sau nữa. Bởi v́ chết không phải là mất, không phải là hết. Chúng ta không sợ chết, chỉ sợ bản nguyện, chỉ sợ hành động của chúng ta không đúng thôi.

Nếu chúng ta có bản nguyện chân chính, quyết liệt và hành động luôn luôn liên tục không ngừng, th́ con đường thành Phật nhất định sẽ đến. Cho nên chúng ta phải tin khẳng định là chúng ta tu theo Phật, chúng ta sẽ thành Phật.

Ngày xưa đức Phật sanh trong gia đ́nh vua chúa, lớn lên có vợ con sau thức tỉnh đi tu. Như vậy Phật có khác chúng ta không? Có cha, có mẹ, có cả gia đ́nh nữa. Ngài cũng là người thế tục như chúng ta, nhưng Ngài thức tỉnh đi tu và giác ngộ thành Phật. Chúng ta bây giờ có phải là người thế tục như Ngài không? Ngài là con người thức tỉnh đi tu thành Phật, th́ chúng ta là con người thức tỉnh đi tu cũng sẽ thành Phật. Việc ấy tôi khẳng định quả quyết như vậy, không nghi ngờ.

Nếu nói Ngài từ trên trời rơi xuống hay từ dưới đất vọt lên nên Ngài tu được, c̣n chúng ta là con người b́nh thường nên tu không được th́ hợp lư. Đằng này Phật cũng là con người, chỉ khác là Ngài thức tỉnh sớm nên Ngài đi tu và được giác ngộ thành Phật. Chúng ta là một con người, nếu thức tỉnh, chúng ta tu cũng sẽ thành Phật. Đó là lư do thứ nhất để chúng ta tin rằng chúng ta tu sẽ được thành Phật.

Lư do thứ hai, Ngài dạy rằng tất cả chúng sanh ai ai cũng có Phật tánh. Phật có và Ngài khai thác được nên Ngài giác ngộ. Chúng ta có nhưng chưa khai thác được nên chúng ta c̣n mê, c̣n làm chúng sanh. Tôi thí dụ, cha mẹ giàu khi mất để của quư chia cho các con. Trong đó có những người con lớn khôn, biết đem số của được chia, đi bán tạo vốn làm ăn nên thành giàu sang. C̣n người nhỏ chưa biết đem của quư ra bán nên nghèo thiếu. Tuy nghèo mà có thật nghèo đâu, chỉ v́ họ chưa đem ra dùng thôi.

Chúng ta cũng vậy, Phật biết khai thác tánh giác nên Ngài thành Phật, Ngài giác ngộ trước. C̣n chúng ta cũng có tánh giác nhưng chưa biết khai thác, nên chưa giác ngộ. Tuy chưa giác ngộ nhưng chúng ta không bị mất, tánh giác vẫn c̣n. V́ vậy nếu chúng ta cố gắng khai thác, tức là tu hành th́ chúng ta cũng giác ngộ không nghi ngờ.

Trong kinh Pháp Hoa, có thí dụ hệ châu v. v..., gă thanh niên được cột hạt châu trong chéo áo, nhưng v́ uống rượu say quá nên quên, đến khi có người chỉ nhắc lại mới nhớ. Như vậy th́ biết rằng, nơi chúng ta ai cũng có khả năng thành Phật hết. Đây là ḷng tin thứ hai. Ḷng tin này rất quan trọng.

Lư do thứ ba, Phật dạy tất cả chúng sanh đều có sẵn trí vô sư. Trí vô sư trí không thầy, đức Phật khi ngồi tu dưới cội Bồ-đề, Ngài không học, không truy t́m, không nghiên cứu, Ngài chỉ định tâm. Khi tâm an định th́ bỗng nhiên giác ngộ. Từ sự giác ngộ đó mới thấu suốt được tất cả các pháp, từ con người đến ngoại vật, không trở ngại.

Đức Phật có trí vô sư, chúng ta có trí vô sư không? Chúng ta cũng có, chỉ v́ hiện giờ nội tâm chúng ta có bao nhiêu thứ vọng tưởng, phiền năo tràn đầy, nó che lấp trí vô sư. Khi nào chúng ta định tâm được, hoặc tọa thiền hoặc niệm Phật tới chỗ nhất tâm th́ trí vô sư phát ra. Kinh Di Đà gọi đó là thấy Phật và Thánh chúng ở trước mặt. C̣n đối với người tu Thiền gọi đó là giác ngộ hay là đại ngộ. Như vậy, trí vô sư là cái sẵn có của tất cả chúng ta, ai ai cũng có chớ không phải riêng người nào.

Bằng chứng cụ thể như quư vị thấy ở thế gian hiện nay nhiều nhà bác học nghiên cứu một đề tài ǵ, họ dồn tâm lực trong đó, những đề tài ấy trước kia chưa ai phát minh. Đến khi họ nghiên cứu tới chỗ quên hết cả vợ con, quên ăn, quên ngủ bỗng nhiên họ sáng lên. Sáng lên đó gọi là phát minh. Nhiều nhà phát minh đă đem lại cho khoa học những thành quả mới, giúp nhân loại được nhiều phương tiện. Đó cũng là do trí vô sư.

T́m ṭi nghiên cứu cái nhỏ th́ được kết quả nhỏ, nghiên cứu cái lớn th́ được kết quả lớn. Người tu của chúng ta nghiên cứu về vấn đề sinh tử của con người, là vấn đề trọng đại. V́ vậy phải ngồi thiền từ năm này qua năm nọ cho tâm tư lóng lặng. Do lóng lặng nên trí vô sư phát ra. Như đức Phật ngày xưa ngồi yên định bốn mươi chín ngày dưới cội Bồ-đề mà chứng được tam minh, lục thông v. v...

Chủ yếu người tu Phật ngày nay phải làm sao đem lại cuộc sống chân thật, đem lại con đường đi sáng sủa, đem lại giá trị tu hành cao siêu vượt bậc, chớ không phải là chuyện tầm thường. Bởi v́ chúng ta t́m ṭi để phát minh một việc trọng đại của kiếp sống con người. V́ vậy tất cả chúng ta phải tin rằng ai cũng có trí vô sư. Chúng ta phải cố gắng dẹp vọng tưởng, dẹp phiền năo. Vọng tưởng, phiền năo sạch th́ trí vô sư hiện ra.

Các Thiền sư thường ví dụ tâm ta như một hồ nước. Đêm rằm trên hư không có trăng, nếu hồ nước đục th́ trăng không hiện. Chỉ khi nào hồ nước trong th́ bóng trăng hiện dưới đáy hồ. Cũng vậy chúng ta tu đến tâm thanh tịnh trong sáng, sẽ tự thấy Phật ở nơi chúng ta chớ không t́m đầu non góc bể nào cả.

Bây giờ tâm quư vị có lóng, có trong không hay là đang như những đám mây dày mịt? Hết vọng này đến vọng kia che hoài, bởi che hoài nên nó ngầu đục dơ bẩn. Chỉ khi chúng ta lóng được những thứ đó xuống th́ trí sáng suốt của chúng ta bừng lên chớ không có ǵ lạ, trí ấy chúng ta có sẵn chớ không phải từ đâu ra. Cho nên sự tu trong đạo Phật hết sức thực tiễn, không phải mơ hồ. Giờ đây chúng ta hiểu được đạo Phật, thấy rơ được đạo Phật nên chúng ta phải nỗ lực tinh tấn, ứng dụng theo lời Phật cho tâm thanh tịnh.

Ví dụ vị nào chuyên tu niệm Phật th́ ráng niệm Phật được nhất tâm bất loạn. Kinh Di Đà Phật nói rất rơ: "... nhược nhất nhật, nhược nhị nhật, nhược tam nhật... nhược thất nhật, nhất tâm bất loạn. Kỳ nhân lâm mạng chung thời, A Di Đà Phật dữ chư Thánh chúng, hiện tại kỳ tiền, thị nhân chung thời tâm bất điên đảo, tức đắc văng sanh A Di Đà Phật Cực lạc quốc độ". Nghĩa là: Hoặc một ngày, hoặc hai ngày, hoặc ba ngày... cho đến bảy ngày nhất tâm bất loạn. Người ấy khi sắp mạng chung, Phật A Di Đà và Thánh chúng hiện ra ở trước, tâm người ấy không điên đảo, liền được văng sanh cơi nước Cực Lạc của Phật A Di Đà. Hiện giờ Phật tử được nhất tâm chưa hay là thiên tâm, vạn tâm? Bởi vậy mà nói niệm Phật không thấy linh, v́ đâu có nhất tâm. Phải nhất tâm, chừng đó mới thấy Phật.

Tu Thiền cũng vậy, Thiền mà không định cũng không bao giờ ngộ, không bao giờ giác. V́ vậy phải định, có định mới được giác ngộ. Như vậy đạo Phật dạy không riêng khác, chỗ mục đích cứu kính đều gặp nhau. Chỉ tại chúng ta tu lơ mơ nên thành có khác.

Tôi nêu lên những điều này cho quư vị nhận ra cội gốc của đạo Phật, giúp quư vị thấy được con đường tu đúng đắn không bị lầm lẫn mà trở thành mất gốc, trở thành mê tín. Mê tín th́ không xứng đáng là Phật tử.

Phật tử ở chùa Hoằng Pháp mà mê tín th́ người ta nói thầy Hoằng Pháp không khéo dạy đệ tử. C̣n nếu đệ tử của tôi mà cứ tin như vậy th́ người ta nói tôi không biết dạy đệ tử. Không có đủ ḷng tin chánh pháp, chẳng những quư vị có lỗi mà c̣n gây tiếng không tốt cho những bậc thầy của ḿnh. Cho nên quư vị phải can đảm, biết sai phải sửa bỏ, chớ đừng nắm níu, đừng sợ. Điều sai, chúng ta biết rơ nó sai th́ chúng ta sửa liền. Điều đúng, chúng ta biết đúng th́ phải thực hành ngay. Đó là người Phật tử chân chánh.

Để kết thúc buổi nói chuyện hôm nay, tôi xin nhắc lại cho quư vị Phật tử nhớ:

- Đạo Phật là đạo dạy cho chúng ta đầy đủ ḷng tự tín. Chúng ta tu theo Phật là tin chắc nơi ḿnh. Ḿnh có quyền tạo cái vui, ḿnh có quyền gây cái khổ. Khổ vui do chính ḿnh, chớ không ai đem đến cho ḿnh. Hiểu như vậy là có đức tự tín.

- Chúng ta có đủ khả năng thành Phật. Phật là con người, chúng ta là con người. Phật có tánh giác, chúng ta cũng có tánh giác. Nếu chúng ta quyết tâm tu rồi cũng sẽ thành Phật, không nghi ngờ. Như vậy, tất cả chúng ta ai có đủ ư chí quyết liệt tu hành th́ trên đường tu nhất định chúng ta sẽ thành công.

- Có đủ ư chí quyết liệt rồi th́ đối với xă hội, đối với hoàn cảnh đất nước của ḿnh đang nghèo, chúng ta cố gắng tạo cho được những nhân tốt th́ quả tốt sẽ đến, chúng ta xây dựng một xă hội cố gắng vươn lên. Đó là đem lại sức mạnh cho đất nước, cho xứ sở của ḿnh. Không nên ỷ lại hay trông chờ, không nên sợ sệt những quyền lực vô nghĩa.

Chúng ta phải can đảm, phải nh́n thẳng, phải thấy đúng. Như vậy mới thật là người Phật tử chân chánh, mới thật là người biết đạo; bằng ngược lại chúng ta tu theo Phật chỉ có danh tự, chớ thực chất không có ǵ cả.

Vậy mong rằng tất cả quư Phật tử nghe tôi giảng, xét cho thật kỹ, nếu đúng th́ quư vị phải phát tâm quyết liệt thực hành và ứng dụng tu cho có kết quả. Đó là chỗ mong đợi của chúng tôi.  

 

Last updated 11/29/2004 By Đồng Lực