|
H.T THÍCH THANH TỪ
HOAVÔ ƯU Tập 10
NHÀ XUẤT BẢN PL. 254 – 200
LỜI ĐẦU SÁCH Quyển Hoa Vô Ưu này được kết tập từ các bài giảng của Ḥa thượng Viện chủ Thiền viện Thường Chiếu Thích Thanh Từ. Trong đó, gồm một số bài Ḥa thượng giảng cho Tăng Ni, Phật tử tại các Thiền viện và một số bài giảng phổ thông cho Phật tử trong cũng như ngoài nước. Để đáp ứng nhu cầu t́m hiểu pháp thiền và hâm mộ tu thiền của Tăng Ni, Phật tử, nhưng quí vị chưa đủ điều kiện tu học trực tiếp nơi Ḥa thượng, chúng tôi tŕnh xin ư kiến của Ngài và được Ngài hoan hỷ cho biên tập lại các bài giảng trên. Tuy nhiên, v́ là văn nói nên tập sách không sao tránh khỏi sự trùng lặp tất yếu của nó. Rất mong độc giả đạt ư quên lời. Được thế, hy vọng tập sách sẽ đến tay quư vị với những lợi ích thiết thực nhất. Như vậy, chúng ta có thể t́m hiểu thâm nhập và hành tŕ pháp thiền. Đồng thời trên bước đường tu học, chúng ta có thêm bạn đồng hành luôn cảm thông với chúng ta. Thường Chiếu, ngày 01.08.2002 THÍCH NHẬT QUANG ?
ĐẠO PHẬT THỰC TẾ KHÔNG HUYỀN HOẶC Paris - 1994 Phật giáo tồn tại trong ḷng nhân loại đến nay đă trên 2000 năm. Do đâu được như thế? Chính là nhờ Phật giáo nói đúng lẽ thật, đưa con người trở về với sự thật muôn đời, v́ vậy có thể nói Phật giáo rất thực tế, không phải huyền hoặc. Đó là đề tài chúng tôi muốn nói với quí vị hôm nay. Tại sao chúng tôi nói đề tài này? Bởi v́ đa số người theo đạo Phật, nhất là các vị lớn tuổi không t́m hiểu đúng chánh pháp. Trái lại cứ tin tưởng theo tập quán cổ truyền, do đó đạo Phật không c̣n thực tế lại trở thành huyền hoặc. Đó là một trong những điều khiến cho Phật pháp đi đến suy tàn. Nếu để cái đà này như thế măi, các thế hệ Phật tử về sau chắc sẽ tránh xa đạo Phật, v́ thấy đạo Phật không c̣n thích hợp với thời đại mới, với nền khoa học hiện đại. V́ vậy chúng tôi muốn nói rơ đạo Phật không phải huyền hoặc, mà rất thực tế. Nghe vậy, quí vị sẽ đặt câu hỏi: Lấy đâu làm bằng chứng? Tôi xin dẫn bài kinh đầu tiên, đức Phật dạy năm vị Tỳ-kheo trước kia đă từng theo Ngài tu khổ hạnh. Đó là bài Tứ Diệu Đế. Đây là bài kinh hết sức cụ thể, thực tế, không có ǵ khó hiểu hay huyền hoặc. Tứ Diệu Đế là bốn chân lư chắc thật. Trong đó đế đầu tiên là Khổ đế. Nghe từ Khổ đế, thiên hạ vội kết luận đạo Phật bi quan. Khổ đế, chữ “đế” nghĩa là chắc thực, không sai chạy. Như vậy cái khổ Phật đưa ra là một lẽ thực, không ai chối căi được. Khổ có mấy thứ? Đầu tiên là khổ về thân. Thân này có sanh, già, bệnh, chết, bốn thứ đó Phật nói là khổ. Có người chưa chịu sanh là khổ, v́ lúc mới lọt ḷng mẹ có biết ǵ đâu mà khổ. Nói không biết ǵ hơi quá đáng, không biết vậy chớ ai khóc? Biết khóc tức là có cảm giác khổ. Trăm đứa bé lọt ḷng mẹ đều khóc, chứng tỏ chúng có thọ khổ. Đó là khổ khi sanh. Ngoài ra c̣n có những nỗi khổ trong cuộc sống. Ở đời nếu được những việc như ư th́ người ta vui, không như ư th́ buồn, buồn tức là khổ. Mỗi vị nh́n lại cuộc đời ḿnh xem được nhiều điều như ư hay nhiều điều bất như ư? Ai cũng bảo ḿnh gặp những điều bất như ư. Người có diễm phúc th́ điều bất như ư ít hơn, nhưng tất cả đều có gặp việc bất như ư. Đă bất như ư th́ khổ hay vui? Khổ. Như vậy đời sống của chúng ta thường gặp khổ nhiều hơn vui. Khi lọt ḷng mẹ đă có cảm giác khổ, rồi trong cuộc sống kéo dài mấy mươi năm cũng khổ. V́ vậy Phật nói sanh khổ, chúng ta chối căi được không? Thế nhưng nhiều người lại cứ tưởng như vui, đó là vui trong tưởng tượng thôi chớ không có thật. Vậy mà thiên hạ cứ bảo cuộc đời hạnh phúc, cuộc đời có nhiều thú vui, nói lung tung nhưng rốt cuộc ai cũng vỡ mộng hết. Hạnh phúc đâu không thấy, chỉ nghe đau khổ ê chề. Đó là khổ thứ nhất, sanh khổ. Thứ hai là già khổ. Xưa nay có ai vỗ ngực nói già vui quá không? Hay ai cũng than già khổ đủ thứ. Khổ v́ thân yếu đuối, ăn uống không ngon, trí nhớ kém cỏi, đi đứng mất tự do v.v… Những đang già, đă già biết rất rơ điều này, không nghi ngờ ǵ nữa. Đó là khổ thứ hai, già khổ. Thứ ba là bệnh khổ. Từ bé cho tới lớn, ai cũng đều biết bệnh là khổ hết. Có người nào bệnh không rên không khóc đâu. Bệnh ít ít khả dĩ cắn răng chịu nổi, chớ bệnh nhiều rên la là điều không chối căi được rồi. Đó là khổ thứ ba, bệnh khổ. Thứ tư là chết khổ. Như chúng ta thấy người thân khi sắp lâm chung đau đớn quằn quại rất thống khổ. Đó là chưa kể thần thức hôn mê, người sắp chết thấy những cảnh giới ǵ đó hiện ra, ḷng họ hoảng sợ, kêu gào than khóc, thật là thảm thương. Đó là khổ thứ tư, chết khổ. Phật nói thân hiện tại của chúng ta đây, mang tính chất đau khổ từ lúc mới sanh, trưởng thành cho tới già, bệnh, chết đều khổ hết. Đó là một lẽ thực. Mới nghe người ta thấy đạo Phật như bi quan, nhưng không phải vậy. Nếu nói thẳng th́ đạo Phật rất lạc quan, chớ không bi quan. Tại v́ đạo Phật nói rơ lẽ thật của cuộc đời, để con người không lầm lẫn, sống b́nh thản trên những khổ vui đó. Như vậy không phải lạc quan là ǵ? Ví dụ như ta đang gánh một gánh nặng lâu quá mỏi mệt, nếu để được gánh nặng ấy xuống, lúc đó vui hay khổ? Vui. Gánh nặng trên vai th́ khổ, để xuống hết nặng là vui. Sau khi biết khổ rồi mới thấy vui, chớ vui không ngoài khổ. Như ở nhà buồn đi xem hát thấy vui, chớ nếu ở nhà vui cần ǵ đi xem hát? Như vậy chúng ta t́m cái vui sau khi bị khổ. Cũng thế, đạo Phật nói khổ để chúng ta phăng t́m nguồn gốc của nó mà dẹp trừ, khổ hết th́ vui đến. Đó là bốn cái khổ về thân. Kế đến c̣n bốn thứ khổ về tâm nữa, tổng cộng vừa thân tâm là tám thứ. Nếu kể tiếp theo th́ thứ năm là ái biệt ly khổ. Khổ do thương mến mà xa ĺa. Người ḿnh thương mến mà phải xa ĺa, có hai trường hợp: xa ĺa trong lúc đang sống và xa ĺa v́ kẻ âm người dương, tức kẻ chết người sống. Lúc đó vui hay khổ? Khổ. Nên nói ái biệt ly khổ. Ái nhiều th́ khổ nhiều, nếu không có ái th́ khổ không thành. Bởi v́ đâu phải ai đi xa ḿnh cũng khổ, chỉ người ḿnh thương đi xa ta mới khổ thôi. Khổ này gốc từ tham mà ra. Do khao khát, tham muốn sống gần người ḿnh thương mến mà phải xa, không được toại ư nên khổ. Thứ sáu là oán tắng hội khổ. Ngược lại với mến thương là oán ghét. Người ḿnh ghét mà cứ hiện diện trước mặt hoài, ta rất bực bội khó chịu, muốn họ đi đâu cho khuất mắt. Nhưng ngặt nỗi, trên đời này người ḿnh thương th́ cứ phải chịu xa ĺa, c̣n kẻ ḿnh ghét thường hay gặp gỡ. Khổ này gốc từ sân mà ra. Do sân hận nên người ḿnh oán ghét mà phải sống chung th́ khổ. Thứ bảy là cầu bất đắc khổ. Những ǵ ḿnh muốn mà không được th́ khổ. Ví dụ đi thi mong muốn được đậu, mà lỡ rớt th́ sao? Khổ. Ngoài việc thi cử ra, c̣n bao nhiêu thứ cầu mong khác nữa. Như trong công việc làm ăn, trong t́nh cảm… Nhiều người muốn tự vận v́ cầu mong mà không được như ư. Thứ tám là ngũ ấm xí thạnh khổ. Khổ do thân năm ấm này chung hợp lại. V́ sự chung hợp này được kết nối bởi các thứ duyên có khuynh hướng nghịch nhau, bên trong luôn mâu thuẫn, chống trái nhau. V́ vậy mà khổ. Nhiều người c̣n trẻ nghe nói thân này khổ không tin. V́ họ nghĩ đến tương lai hạnh phúc, làm sao khổ được? Có người nói rằng khi nào xúc chạm phải những điều trái ư mới khổ. Nếu xúc chạm những điều như ư th́ đâu có khổ. Ví dụ lỗ tai nghe những âm nhạc hay, lỗ mũi ngửi mùi thơm, lưỡi nếm vị ngon… những lúc ấy là vui chớ đâu có khổ? Do đó Phật nói khổ là Ngài hơi nghiêng về một bên, nghĩa là chỉ thấy toàn khổ mà không thấy vui. Sự thực không phải vậy. Phật nói thân này là gốc của khổ. Tại sao? V́ vô thường nên khổ. Ngày nay trẻ ngày mai lớn lên, rồi già, bệnh và cuối cùng là chết, không dừng ở một chỗ. Nói chung những ǵ luôn biến đổi, không dừng ở một chỗ th́ làm cho người ta khổ. Quí vị khi bốn mươi tuổi ít ai nhớ ḿnh sẽ già tới, mà cứ nhớ hồi c̣n hai mươi, mười tám. Tới chừng năm mươi tuổi cũng không nhớ ḿnh năm mươi tuổi nữa, cứ nhớ hồi ba mươi bốn mươi. Tại sao lại cứ nhớ lúc trẻ hoài? Mấy ông già bảy tám mươi tuổi ngồi lại kể chuyện, toàn chuyện thời đó trai trẻ oai hùng nhất làng. Ít khi nào kể bây giờ ba già lẩm cẩm, run rẩy, chậm lụt… Luôn luôn nhớ về thuở c̣n sung sức vui tươi, không chịu nhận lúc ḿnh đang đuối sức, gầy ṃn. Phật nói thân này vô thường nên khổ, chớ không vui. Giả sử có những cảm giác vui th́ cũng vui trong tạm bợ vô thường. Qua rồi khổ lại, chớ không có vui thật. Vui của vô thường, Phật nói vui trong đau khổ, không phải vui thật nên nói chung tất cả đều là khổ. Phật dạy cốt để chúng ta nhận định kỹ về cuộc đời này, luôn khổ không vui. Như vậy chúng ta phải có thái độ thế nào? Buồn, nhăn mặt nhíu mày cả ngày phải không? Nếu vui cười th́ e trái lời Phật dạy. Quí vị nghĩ sao cho đúng? Thật ra Phật dạy khổ không có nghĩa để chúng ta ôm ấp nỗi khổ đó suốt đời. Phật nói khổ để ḿnh diệt khổ, hết khổ. Cũng như bác sĩ xem mạch biết bệnh nhân bị bệnh nguy hiểm, nhưng bệnh trạng chưa xuất phát nên người bệnh không biết. Bác sĩ v́ muốn cho người đó sớm trị hết bệnh nên buộc ḷng phải nói cái nguy hiểm của căn bệnh kia. Nó bắt đầu khởi mầm như thế nào, phát triển như thế nào v.v… Nói cho họ hiểu để lo trị sớm, trị sớm th́ sẽ lành bệnh. Nếu bác sĩ thấy mầm bệnh rơ ràng nguy hiểm mà không chịu nói th́ chừng nào bệnh nhân mới trị hết bệnh được? Cũng vậy, Phật thấy được nỗi khổ của chúng sinh, đó là quả xuất phát từ nhân họ đang gây tạo hoặc đă gây tạo. Nên khi nói Khổ đế Phật liền nói qua Tập đế. Khổ không phải tự có mà do nhân duyên gom góp lại tạo thành. Nhân ấy nhà Phật gọi là Tập đế. Như vậy Phật đi từ quả phăng tới nhân. Bởi v́ không biết nhân làm sao trị tận gốc khổ được? Tập đế là những cội gốc của phiền năo, là tập nhân tạo thành quả khổ. Cội gốc phiền năo c̣n được gọi là căn bản phiền năo. Có sáu thứ: Tham, sân, si, mạn, nghi, ác kiến. Sáu thứ này là nhân tạo thành quả khổ. Nếu ai diệt hết sáu thứ đó sẽ hết quả khổ. Ví dụ người biết tu bỏ sạch ḷng tham, th́ có khổ v́ cầu bất đắc không? Không. Người diệt bỏ nóng giận th́ có khổ v́ oán tắng hội không? Không. Các thứ khác cũng thế. Đến ngă mạn tức thấy ta cao, ta quan trọng. Do thấy như thế nên khi sắp mất rất khổ. Bây giờ nếu thấy ta là hư giả, tạm bợ th́ có phách lối với ai không, thân này sắp hoại có khổ không? Sở dĩ chúng ta khinh người là v́ thấy ḿnh cao quí quá, quan trọng quá. Bây giờ thấy ḿnh là tạm bợ, giả dối th́ đâu có ǵ quan trọng. Không trọng ḿnh nên đâu có khinh người. Rơ ràng chỉ cần chúng ta có một chút trí tuệ thấy đúng như thật, th́ khổ về sanh già bệnh chết hết liền. Nếu lư giải bằng trí tuệ th́ thật thân này không có ǵ quan trọng hết. Chẳng qua chỉ là một nhóm nhân duyên tụ hội lại chớ có ǵ đâu. Nhiều người thường vỗ ngực xưng tôi, nhưng hỏi cái ǵ là tôi th́ trả lời không chạy. Nếu da thịt là tôi th́ khi nó bệnh bác sĩ mổ bỏ đi, cái tôi đó thành ǵ? Chỉ cần da thịt có vết thương hôi thối, lúc đó ḿnh quí hay muốn bỏ? Khi c̣n lành lặn ta thấy quí, khi nó hư hoại xem không ra ǵ, bỏ đi không chút thương tiếc. Rơ ràng cái ta không phải những ǵ ḿnh đang mang đây. Phật nói ví dụ thế này. Như người đi qua khu rừng vắng vào ban đêm, chỉ một ḿnh không có bạn bè. Lúc mệt mỏi quá anh thấy một túp lều người ta cất để làm rẫy, liền vào đó trú đỡ qua đêm. Ở trong đó chưa bao lâu, anh thấy một con quỉ to vác thây người đem vào quăng dưới đất. Sợ quá anh đứng núp sát kẹt vách. Kế đó một con quỉ khác xông tới, hai đứa giành nhau cái thây chết. Con quỉ thứ hai nói xác này của nó, con quỉ thứ nhất cũng nói của nó. Giành giật với nhau một hồi, chúng phát hiện ra anh đang núp trong kẹt vách. Thế là anh được lôi ra cử làm trọng tài. Do chứng kiến từ đầu tới cuối, nên khi bọn chúng hỏi xác này của ai, anh trả lời của con quỉ thứ nhất. Giận quá con quỉ thứ hai giựt cánh tay của anh quăng ra ngoài. Con quỉ thứ nhất liền xé cánh tay của xác chết ráp lại cho anh. Con thứ hai giựt tiếp cánh tay c̣n lại của anh quăng ra ngoài. Con thứ nhất lại ráp cánh tay của xác chết vào. Cứ thế, một con giựt một con ráp từng thân phần của xác chết vào người anh. Rốt cuộc tay chân của xác chết đă được ráp vào cho anh. Hai con quỉ bấy giờ mỏi mệt quá, thấy hai tay hai chân quăng ra ngoài đó, liền lấy chia nhau ăn. Ăn xong chúng bỏ đi. Bấy giờ anh chàng tội nghiệp kia nh́n lại thấy rơ ràng thân ḿnh bị quăng ra rồi, bây giờ tay chân này của ai? Nghĩ vậy, anh mới đi t́m một vị A-la-hán hỏi: “Thưa Thầy, tôi có phải là tôi không?” Vị A-la-hán nói rằng: “Nếu anh biết anh không phải là anh th́ gần với đạo rồi”. Ngay đó anh phát tâm tu, chẳng bao lâu sau chứng được A-la-hán. Phật kể câu chuyện này để làm ǵ? Bởi chúng ta thấy thân này quá thật nên tu hoài vẫn không tới đâu. Lúc nào ḿnh cũng thấy cái ngă là quí là thật nên khổ v́ nó. Nếu chúng ta biết cái ngă không thật, không quí th́ bỏ nó một cách dễ dàng, không đau khổ tí nào hết. C̣n ngă mạn v́ thân là c̣n đau khổ, hết ngă mạn mới hết đau khổ. Đó là ngũ ấm xí thạnh khổ. Tám cái khổ đó không phải tự có mà do các thứ bệnh sanh ra. Bệnh tham, bệnh sân, bệnh si, bệnh mạn, bệnh nghi, bệnh ác kiến. Riêng nghi có chia ra hai thứ: Một, nghi do phân vân không quyết đoán điều hay lẽ thật, cái nghi này làm chướng ngại việc tu. Hai, trong nhà thiền thường dùng câu “Đa nghi đa ngộ”, nghĩa là nghi nhiều ngộ nhiều. Tại sao? V́ cái nghi của nhà thiền là nghi để phăng t́m. Do phăng t́m mới sáng lên, c̣n cứ một bề nghe sao hay vậy, không thắc mắc ǵ cả th́ không bao giờ hiểu thấu đáo được. Cho nên nói đa nghi đa ngộ. Cái nghi này là nghi tốt, giúp cho chúng ta tiến trên con đường tu. Cuối cùng là bệnh ác kiến. Đây là bệnh rất trầm trọng. Chữ kiến là nhận định, chữ ác là sai lầm. Khi nhận định sai lầm, lại cố chấp nhận định của ḿnh là đúng th́ trở thành ác, gây ra tội lỗi. V́ nhận định sai lầm mà cố chấp vào đó sẽ dẫn đến dám làm những điều tai họa cho nhân loại. Do đó ác kiến là cái nguy hiểm nhất. Song ở thế gian lại có nhiều ác kiến. Ví dụ chúng ta nghĩ tu là được vui, được sanh về các cơi lành hoặc được giải thoát. V́ thế cứ tu cho ḿnh mà không nghĩ tới những người chung quanh như cha mẹ, anh em v.v... Không cần biết tới mọi chuyện trong sinh hoạt hằng ngày. Ai sao mặc, miễn ta yên ổn tu là được. Nếu có người khuyên bảo, nhắc nhở trách nhiệm, liền đổ quạo bảo ma vương phá không cho tu. Nghĩ v́ ḿnh nhiều quá nên càng tu mọi người chung quanh càng chán ḿnh. Bởi họ thấy ta ích kỷ. Tu mà để cho người ta phiền hà khó chịu cũng là cố chấp. Cho nên ác kiến cũng là một trở ngại trên đường tu của chúng ta. Phật gọi sáu thứ bệnh đó là sáu thứ phiền năo căn bản. Nếu dẹp sạch sáu thứ này mới được an vui thật sự. Như vậy Phật nói khổ không phải để chúng ta chịu khổ, mà nói khổ để chúng ta dẹp hết gốc khổ, được vui. Cho nên mới có đế thứ ba là Diệt đế, nghĩa là diệt sạch hết nhân khổ. Khi hết khổ, Phật nói hết khổ chớ không nói vui. Tại sao? Thường thường chúng ta cứ mắc kẹt trên đối đăi khổ vui, muốn hết khổ để được vui. Nhưng sự thực hết khổ là vui rồi. Hết khóc tức hết buồn, c̣n buồn th́ c̣n khóc. Không nói vui mà vẫn tự vui. Phật nói cứu kính Niết-bàn tức là Diệt đế. Sao nói diệt mà không nói được cái ǵ hết? Không nói được ta cảm thấy buồn. Phật biết chúng sanh nặng về bệnh tham cầu nên trong kinh Bát-nhă, Ngài dạy “dĩ vô sở đắc cố Bồ-đề-tát-đỏa y Bát-nhă ba-la-mật-đa cố, tâm vô quái ngại, vô quái ngại cố, vô hữu khủng bố, viễn ly điên đảo mộng tưởng, cứu kính Niết-bàn. Tam thế chư Phật y Bát-nhă-ba-la-mật-đa...” nghĩa là v́ không có sở đắc nên Bồ-tát mới xa ĺa điên đảo mộng tưởng, cứu kính Niết-bàn. Ba đời chư Phật cũng y Bát-nhă mà thành Phật. Rơ ràng Phật nói cứu kính của công phu tu hành không có sở đắc. Nhưng tu mà không được ǵ, thiên hạ không chịu, đ̣i phải được. Hết khổ phải được vui. Sự thực hết khổ là vui rồi. Vui mà nói “được” th́ không phải thật vui. Tại sao? V́ khi nói “được” là cái đó không phải tự ḿnh có. Như khi ta đi đường lượm được một tấm giấy bạc th́ nói tôi lượm được giấy bạc này. Nếu giấy bạc ấy sẵn trong túi, ra chợ ta lấy ra xài th́ không nói “được”, v́ nó là của ḿnh mà. Nói được th́ cái đó không phải của ḿnh. Lâu nay chúng ta có bệnh đ̣i “được” mà không biết cái được đó không phải của ḿnh. Biết rơ chỗ này mới tu hạnh Bồ-tát và đi tới quả Phật được, c̣n đ̣i được sẽ không bao giờ được. Đa số người tu lầm lẫn điều này nên dễ bị người ta đánh lừa. Nghe nói tu theo tôi ba tháng, bảy tháng được cái này cái kia, thích quá theo liền. Tu phải được cái này cái kia mới vui chứ. Tu như quí thầy dạy không được ǵ hết, buồn quá. Khổ vốn không tự có mà do nhân tham, sân, si, mạn, nghi, ác kiến mới có. Nếu những nhân này diệt hết th́ vui tự đến. Sạch hết nhân khổ th́ quả vui hiện ra, chớ đâu có ai đem cho chúng ta cái vui mà nói được. Nên biết vui này không phải từ ngoài mà được. Nói như thế nghe hơi khó hiểu, nhưng nếu quí vị chịu khó nghiền ngẫm kỹ sẽ thấy. Đức Phật không muốn nói tu để được cái này được cái kia ǵ hết. Tại sao? V́ trong chúng ta có hai thứ: Một là tánh sáng suốt thanh tịnh, hai là tâm ô nhiễm loạn động. Bây giờ muốn tánh sáng suốt thanh tịnh hiển bày th́ phải dẹp bỏ tâm ô nhiễm. Phật không thể cho chúng ta sự giác ngộ, mà chính ḿnh dẹp sạch các nhân phiền năo th́ tự sáng lên, đó là giác ngộ. Như khi đọc kinh sách chúng ta hiểu, cái hiểu đó nhờ đức Phật hướng dẫn, nương nơi Phật mà hiểu. C̣n nếu chúng ta ngồi thiền, tâm yên trí sáng hiểu biết thấu đáo, đúng đắn mọi việc. Đó là do đâu? Do chính ông Phật của ḿnh hiện ra nên trí tuệ sáng suốt viên măn, thấy biết tất cả. Khi đức Phật Thích-ca giác ngộ dưới cội Bồ-đề là do Ngài thiền định, chớ đâu phải suy gẫm hay nghiên cứu vấn đề ǵ, chỉ là tâm định. Tâm định th́ trí sáng mới thấy tất cả, gọi là giác ngộ. Phật thường tuyên bố “ta học đạo không có thầy”, tức không có ai dạy mà tự giác ngộ. Như vậy giác ngộ này là trí tuệ sẵn của ḿnh, chớ không phải ai đem đến. Cho nên người nào tu Phật mà phóng tâm ước mơ gặp những hiện tượng lạ bên ngoài đều gọi là ngoại đạo. T́m đạo ở ngoài ḿnh là ngoại đạo. Hiểu thế mới thấy sự thâm trầm của đạo Phật. Đức Phật chỉ dạy chúng ta dẹp sạch hết những nhân đau khổ ḿnh hằng chứa chấp th́ hết đau khổ. Khi hết khổ chúng ta tự an vui. Đó là lẽ thực. Như vậy công phu tu hành là công phu của ai? Chính ḿnh phải tự gạn lọc những nhân xấu nhân khổ loại ra. Loại hết nhân xấu khổ th́ tự nhiên được vui. Diệt hết các nhân khổ gọi là Diệt đế tức hết khổ. Nhưng diệt bằng cách nào? V́ vậy Phật đưa ra Đạo đế, tức con đường diệt khổ. Đây là đế thứ tư trong Tứ đế. Đạo đế là những phương tiện, những cách thức để chúng ta ứng dụng tiêu diệt các nhân khổ. Đạo đế theo giáo lư Nguyên thủy có ba mươi bảy phẩm trợ đạo. Ở đây không có th́ giờ nói hết, chỉ nêu tên cho tất cả có khái niệm thôi. Đủ duyên quí vị nên nghiên cứu thêm. Như vậy bài thuyết pháp đầu tiên của đức Phật rất cụ thể, rất thực tế, không có ǵ huyền hoặc. Nhưng bây giờ chúng ta tu có giống lời Phật dạy chưa? Đó là vấn đề cần được nêu lên để chúng ta thấy rơ cái ǵ thực, cái ǵ hư. Các ngôi chùa cổ ở Việt Nam cũng như nước ngoài đến nay vẫn c̣n ứng dụng theo nếp cũ, đa số chú trọng về nghi thức. Mà nghi thức nhị thời khóa tụng phát xuất từ đời nhà Thanh của Trung Quốc. Đời này Phật giáo suy vi, nguyên quán vua chúa nhà Thanh ở gần Hy Mă Lạp Sơn nên đa số nặng về Mật giáo. Do đó họ yêu cầu các Thiền sư soạn nghi Nhị thời khóa tụng, phần nhiều đều của Mật giáo. Đầu hôm tụng kinh Di-đà, sau đó tụng chú. Trọn một buổi khuya tụng Lăng Nghiêm, Thập chú đều thuộc về Mật tông hết. Thế là phần giáo lư uyên thâm của đức Phật không thấy nhắc đến, không được đem ra ứng dụng. Phật giáo Việt Nam chúng ta lại ảnh hưởng Trung Hoa, nên cũng tu theo nghi thức của người Trung Hoa soạn vào thời kỳ Phật giáo tại nước họ suy đồi. Nghi của người Trung Hoa soạn th́ không phải là của Phật thời xưa, mà chúng ta lấy đó làm nếp tu hành suốt đời th́ thật là đáng buồn! Thí dụ như bây giờ Phật sự của Tăng Ni là ǵ? Phật tử có cha mẹ mất th́ đi hộ niệm. Như vậy cũng tốt, nhưng hộ niệm xong rồi tới ǵ nữa? Cầu siêu trong mấy tuần thất. Mấy tuần thất xong rồi ǵ nữa? Tới ba tháng, bốn mươi chín ngày, rồi giáp năm, sau đó lâu lâu là giỗ. Như vậy cứ liên miên Phật tử này đến Phật tử khác, ai đ̣i cũng phải đi. Thành ra Tăng Ni đi tối ngày, không rảnh chút nào hết lấy chi mà công phu. Song tôi đặt câu hỏi lại, thầy cô tụng kinh cầu siêu cho Phật tử, nhưng có bảo đảm rằng họ siêu hay không? Có ai dám kư giấy giao kèo “tôi cầu nhất định người đó siêu” không? Không dám kư. Ta làm một việc không bảo đảm, không chắc chắn mà cứ làm như vậy có hợp lư, có thực tế không? Trong kinh A-hàm có kể lại thế này. Một hôm sau khi đức Phật thọ trai xong, có năm bảy vị Bà-la-môn tới hỏi: - Thưa ngài Cồ-đàm, đệ tử Ngài khi chết, Ngài cầu cho họ sanh về cơi trời được không? Phật không trả lời mà hỏi lại: - Nếu đệ tử các ông chết, các ông có cầu cho họ sanh về cơi trời được không? Các vị Bà-la-môn đáp: - Được. Phật liền dùng ví dụ thế này để hỏi các thầy Bà-la-môn: - Như có người lăn một cục đá to xuống giếng, sau đó họ yêu cầu các thầy chấp tay cầu nguyện cho cục đá đừng ch́m, các thầy làm được không? Các thầy Bà-la-môn đáp: - Không được. - Tại sao? - V́ đá nặng quá, rớt xuống giếng nhất định ch́m, cầu cách chi cũng không thể nào nổi được. Phật lại nói: - Giả sử có người đem dầu đổ lên mặt nước, sau đó yêu cầu các thầy chấp tay cầu nguyện cho dầu ch́m tận đáy giếng được không? - Không được. - Tại sao? - V́ dầu nhẹ nhất định phải nổi lên trên mặt nước, có cầu mấy cũng không ch́m được. Phật nói: - Cũng vậy, người làm nghiệp ác phải đọa, các ông cầu sao cho khỏi đọa. C̣n người làm nghiệp thiện dù các ông có ác ư muốn cầu họ đọa, họ cũng sanh lên cơi trời như thường. Qua ví dụ này chúng ta nghĩ sao? Nghiệp thiện nghiệp ác là nhân chủ yếu để sanh lên hay đọa xuống, chớ không phải do cầu mà được. Sở dĩ Phật giáo Việt Nam gần đây theo nếp cúng kính nhiều, chẳng qua là ảnh hưởng Phật giáo Trung Quốc. Ở Trung Quốc, Nho giáo là gốc. Bởi thế nên họ nặng về h́nh thức nghi lễ. Cha mẹ chết phải để tang, phải ra nằm giữ mộ ba tháng, phải để râu tóc… đủ thứ nghi lễ rườm rà. Khi Phật giáo sang Trung Hoa so với Nho giáo nghi lễ rất nghiêm trang, nếu người theo đạo Phật không lễ mễ như vậy, họ buồn không chịu theo, buộc ḷng các thầy cũng chế ra nghi lễ. Thế là Phật tử có cha mẹ chết cũng rước quí thầy lại để hiến tửu, hiến trà, hiến phạn đàng hoàng. Đó là phương tiện độ người Trung Hoa thời đó, cho họ thấy đạo Phật cũng có nghi lễ nghiêm chỉnh, không thua sút nhà Nho. Người sau không hiểu phương tiện tùy thời của các bậc tiền bối, lại đem phương tiện biến thành chỗ cứu kính, làm cho giáo lư nhà Phật bị sai lạc. Thật là đáng tiếc! Chúng ta phải hiểu đạo Phật từ gốc, không nên theo ngọn. Do đó tôi phải nhắc để quí vị nhớ, thật ra đạo Phật rất cụ thể, rất thực tế, chớ không huyền hoặc như nhiều người lầm tưởng. Trong những bài thuyết pháp đầu tiên của Phật cũng như những bài pháp sau này, Phật đều không chấp nhận cúng kính cầu nguyện là việc chính của các Tỳ-kheo. Thế mà bây giờ ḿnh lại lấy cúng kính cầu nguyện làm Phật sự chính, rồi cả đời tu cứ dồn vào đó, có phải đáng tiếc không? Người tu là người t́m ra con đường sáng suốt giác ngộ cho ḿnh và mọi người. Tăng bảo là những vị tăng thanh tịnh cao cả, truyền tŕ mạng mạch của Phật pháp, chớ không phải thầy cúng đi đám cho Phật tử vui. Chúng ta thăm viếng khi hữu sự cho có đạo t́nh một chút với Phật tử, tạo niềm an ủi để hướng dẫn họ đi theo con đường chánh th́ được. C̣n cứ mải miết theo cái thường t́nh thế gian, rồi mắc kẹt ra không được gọi là sa lầy trong phương tiện. Người học Phật phải thấy rơ chủ yếu của đạo Phật là cứu khổ. Đă là cứu khổ th́ phải chỉ cái khổ cho người ta thấy. Biết khổ rồi không nghi ngờ nữa, kế đó ta chỉ nhân gây ra đau khổ để tiêu diệt nó. Nhân đau khổ hết th́ quả đau khổ cũng hết. Muốn thế phải có phương pháp cụ thể, ứng dụng một cách thiết thực, chớ không phải cầu nguyện suông. Đó là việc làm chính của người tu sĩ Phật giáo. Phật không tu thế cho chúng ta được, mà tự ḿnh tu tập để được giải thoát. Lâu nay tôi hơi khổ một chút là v́ bị Phật tử bắt tôi vuốt đầu. Cứ nói “thầy vuốt đầu cho con tu tinh tấn”. Tôi khổ ghê mà không có cơ hội để giải thích. Thật ra quí vị phải tự tinh tấn lấy, chớ không phải do tôi vuốt đầu mà siêng được. Phật tử cứ mơ ước người khác làm thế ḿnh, không chịu tự làm. Đó là một lối ỷ lại không tốt. Hiểu như vậy rồi th́ khỏi hỏi ai tôi tu được không, học hành đỗ đạt không, cúng kính cầu nguyện được không? Tự chúng ta quyết định lấy, không cần phải hỏi ai, v́ không ai có thể trả lời được ngoài ḿnh. Tôi nghĩ rằng muốn cho người sau thấy được cái hay của đạo Phật, bây giờ Tăng Ni phải khai sáng, giảng trạch những ǵ đúng những ǵ sai cho Phật tử hiểu. Không nên che lấp những khiếm khuyết, sai trái c̣n tồn đọng trong ḷng Phật giáo. Bởi v́ nếu che lấp như vậy măi th́ thế hệ con cháu của chúng ta sau này sẽ bỏ đạo. V́ chúng thấy đạo Phật chẳng có ǵ hay, chỉ mang màu sắc mê tín thần bí đâu đâu, không giải quyết được những vấn đề hiện thực trong đời sống con người. Như thế vô t́nh chúng ta đă phá đạo rồi. Đức Phật thường tuyên bố Ngài là một vị đạo sư, tức vị thầy dẫn đường, chớ không phải người đưa chúng sanh lên cơi Cực Lạc. Nếu Phật đưa được th́ bây giờ chúng ta không c̣n ngồi đây nữa. Hiện giờ ta c̣n lang thang đây th́ biết rằng Phật không dùng phép thần thông đưa ta được. Ngài hướng dẫn chỉ đường cho ḿnh đi, ta không chịu đi Phật cũng bó tay. Hiểu như vậy chúng ta mới thấy đạo Phật rất cụ thể, rất thực tế. Trong kinh Tiễn Dụ, có một vị Tỳ-kheo tới hỏi Phật: Thế giới là hữu biên hay vô biên, chúng sanh là hữu biên hay vô biên? v.v... Phật im lặng không trả lời. Vị Tỳ-kheo kia nói Phật không trả lời tức là Ngài không biết nên không hỏi nữa, cũng không thèm tu. Bấy giờ Phật nói ví dụ, như có người bị trúng tên độc. Khi ấy thân nhân anh ta rước thầy thuốc đến mổ khử độc. Ông thầy định nhổ mũi tên ra, anh ta ngăn lại: Khoan đă, đừng nhổ gấp, để tôi hỏi xem mũi tên này từ đâu bắn lại, người bắn là ai ở đâu, cao hay thấp, trắng hay đen. Trả lời xong những thắc mắc này rồi sẽ nhổ. Thầy nghĩ sao? Chưa trả lời hết những câu hỏi kia th́ anh đă thấm thuốc độc chết mất rồi. Cũng vậy, đợi ta nói chuyện thế giới hữu biên hay vô biên, chúng sanh hữu biên hay vô biên th́ kiếp sống thầy đă qua mất rồi. Mạng người có mấy chục năm quá ngắn ngủi, không lo tu hành cứ t́m hiểu thế giới hữu biên vô biên v.v... Thực tế hỏi ḿnh có đau khổ hay không, tại sao đau khổ, làm cách nào để hết khổ, đó mới là chuyện cần làm ngay. Thế mà chúng ta không chịu làm việc ấy trước, hỏi chi chuyện xa xôi? Đức Phật rất thực tế, cụ thể, không viển vông mơ hồ. Chúng ta tu theo Ngài cũng phải như vậy, không chấp nhận việc ǵ không biết kết quả ra sao mà vẫn cứ làm. Khi nào xét thấy rơ ràng, nhân quả tương ưng như thế ta mới làm. Ví dụ Phật dạy tám cái khổ trên là do sáu nhân phiền năo căn bản mà có. Bây giờ bớt tham th́ không có khổ cầu bất đắc, bớt ái th́ không có khổ ái biệt ly, bớt chấp ngă th́ không có khổ về thân ngũ ấm. Làm được cái nào kết quả ngay cái đó, không nghi ngờ. Thời đại của chúng ta hiện nay khoa học ngày càng phát triển. Nếu đạo Phật mang màu sắc huyền bí th́ dần dần sẽ không đủ sức thuyết phục những thế hệ sau. Truyền giáo như thế th́ đạo Phật sớm đi đến ngày cáo chung. Do đó chúng ta, hàng xuất gia cũng như cư sĩ tại gia phải ư thức được bổn phận, trọng trách của ḿnh ở ngày mai. Đừng nuôi lớn những tư tưởng sai lầm cho người để cuộc sống của ḿnh được an nhàn. Đó là chúng ta có tội với Phật pháp, có tội với chúng sanh. Để kết thúc, chúng tôi xin nhắc tất cả Tăng Ni cũng như Phật tử nỗ lực tu tập để chuyển nghiệp của ḿnh. V́ chỉ khi nào dứt nghiệp, sạch nghiệp chúng ta mới thấy được chân giá trị của đạo Phật, là đưa con người thoát khỏi đau khổ một cách triệt để. Lợi ích ấy vô cùng lớn lao và thiết thực. ] ÔNG THIỆN ÔNG ÁC Làng Hồng - Pháp - 1994 Hôm nay chúng tôi xin giới thiệu sơ lược với quí vị một vài lối nh́n của Phật giáo Việt Nam qua kinh điển Phật dạy. Nếu nhận định chín chắn chúng ta sẽ thấy Phật giáo Việt Nam có những ưu điểm đáng cho ḿnh học tập và ứng dụng theo. Những ngôi chùa cổ ở Việt Nam, từ ngoài cổng đi vào chúng ta nh́n bên phải thấy tượng một vị rất hiền ḥa, dân gian gọi đó là ông thiện, bên trái tượng một vị rất dữ dằn, dân gian gọi đó là ông ác. Nhiều người thắc mắc chùa là nơi hướng dẫn Phật tử trở về con đường lành, thờ ông thiện đủ rồi, tại sao lại thờ ông ác? Nhưng với cái nh́n của chúng tôi, bản ư của chư Tổ qua hai h́nh tượng ông thiện ông ác, mang một ư nghĩa thâm trầm, cao siêu hơn. Bởi v́ ḷng từ bi trong nhà Phật lúc nào cũng muốn đem lại sự an vui lợi lạc cho tất cả chúng sanh. Nhưng v́ tŕnh độ chúng sanh không giống nhau, nên các phương tiện hóa độ của chư Phật, Bồ-tát cũng khác nhau. Có người dùng lời hiền ḥa, cử chỉ thương yêu chỉ dạy họ liền cảm mến nghe theo. Có người ngang bướng dùng lời hiền ḥa nói họ không chịu nghe, buộc ḷng phải có thái độ dường như ác dữ mới chuyển họ được. Người dùng lời hiền ḥa chỉ bảo dạy dỗ chúng ta, nhà Phật gọi là thiện hữu tri thức. Ngược lại những người rầy rà mắng chửi chúng ta, nhà Phật gọi là ác tri thức. Nghe nói ác là ḿnh không ưa, điều này hầu hết Phật tử đều nh́n nhận như vậy. Nhưng nhà Phật không nghĩ thế. Bởi v́ với người tu nhất là tu Phật, chúng ta không nên nh́n một mặt, mà phải nh́n thấu suốt toàn diện. Khi gặp khó khăn, những lúc thối chí, chúng ta phải nhờ thiện hữu tri thức hiền lành an ủi nhắc nhở, mới cố gắng vươn lên được. Nhưng khi tu hành an ổn, tự thấy như ḿnh đạt đạo tới nơi th́ tâm sanh kiêu mạn, tự hào. Trong trường hợp này nếu không có cơ hội cảnh tỉnh th́ chúng ta rất khó thức tỉnh, cho nên phải có ác tri thức thử thách để hỗ trợ. Ví dụ như chúng ta nguyện tu hạnh nhẫn nhục. Nếu ai cũng quí kính, tán thưởng th́ ḿnh thấy như thành công tới nơi rồi. Nhưng thật t́nh không có ǵ để làm bằng chứng rằng ta đă thực hành hạnh nhẫn nhục. Hôm nào bất thần có người đến chửi mắng, lúc đó ḿnh ra sao? Chắc ta nghĩ người chửi mắng kia là kẻ ác muốn phá hoại sự tu hành của ḿnh. Nghĩ như vậy là nh́n có một mặt. Chính cơ hội bị chửi mắng chúng ta mới thấy ḿnh c̣n nóng giận, bực tức không? Bị chửi mắng mà c̣n nóng giận, bực tức th́ hạnh nhẫn nhục chưa thực hành được. Nếu người yếu hèn nhút nhát bị chửi mắng dễ thối lui. C̣n người thấy rơ kẻ chửi mắng là ác tri thức, là người cảnh tỉnh để ta đừng mắc bệnh tự măn. Nhờ chửi mắng nên ḿnh thấy được ḿnh. Nếu c̣n dở th́ cố gắng tu thêm, nếu an nhẫn được trước sự chửi mắng, ḷng vẫn thản nhiên tự tại th́ mừng hạnh nhẫn nhục đă thành công. Như vậy người chửi mắng là ông giám khảo của chúng ta. Nhờ ông mà ta biết ḿnh đậu hay rớt. Thế th́ đó là người ân hay là kẻ oán? Người chửi mắng cho ḿnh tiến lên, đạt được sở nguyện tu hành là người ân, chớ đâu phải kẻ oán. Một bên an ủi vỗ về khích lệ chúng ta tiến tu. Một bên chửi mắng làm nhục ḿnh mà ta vẫn tự tại. Hai người đó khác nhau không? Tuy hai hành động khác nhau nhưng kết quả đều đưa chúng ta đi lên chớ không phải d́m xuống. Trừ người chưa biết tu hoặc tu dối dối th́ gặp cơ hội đó nổi sân lên oán hờn người ta. Chớ thật ra cả hai đều là ân nhân thành tựu đạo nghiệp cho ḿnh cả. Chúng ta tu phải có đủ hai mặt. Có khi được người khuyên lơn vỗ về để khích lệ ḿnh tiến lên trong lúc yếu đuối, nhưng cũng có khi nhờ người mạnh bạo dám chửi mắng, dám dùng những thủ đoạn ác để khử trừ bệnh ngă mạn, giúp chúng ta tiến lên. Cho nên cả hai người đều là bạn thân của chúng ta. Nh́n như thế mới hợp với đạo lư Phật dạy. Chúng ta thường có bệnh phân biệt đây là người thân, kia là kẻ thù. Đă có thân có thù tức có thương có ghét, phiền năo từ đó mà phát sanh. Bây giờ phải sửa lại, người giúp ḿnh thân đành rồi, người phá hoại cũng thấy là người thân luôn. Được vậy đâu có thù ghét ai, đâu có phiền năo dấy khởi. Thế nên ông thiện là biểu trưng cho hạnh từ bi thuận, phù hợp với việc lành; c̣n ông ác là biểu trưng cho hạnh từ bi nghịch, phù hợp với hạnh dữ. Nếu hiểu được vậy, quí Phật tử tu hành sẽ tiến nhanh, không thấy ǵ trở ngại hết. C̣n không hiểu thế, tu một lúc dễ thối tâm. Bởi v́ trên đường tu không phải lúc nào cũng gặp việc như ư. Nhiều người không hiểu cứ than với chúng tôi, tại sao tu mà vẫn bị phá phách. V́ cho rằng phá phách là làm trở ngại sự tu hành của ḿnh. Phật tử cứ nghĩ một bề, tu là ai cũng thương cũng quí kính ḿnh hết, đó là sai lầm. Chúng ta tu trong nhà Phật dùng từ chuyên môn là khai chiến với ma quân. Do khai chiến nên bao nhiêu hiểm nguy dồn tới ḿnh, để làm ǵ? Để thấy ta là chiến sĩ thắng trận hay bại trận. Nếu không có những thử thách đó, chắc rằng trên đường tu không ai là người xứng đáng hết. Vô chùa gặp việc ǵ cũng hay cũng tốt, lâu ngày ḿnh mắc bệnh tự cao ngă mạn không hay. Cho nên những cái khó, những trở ngại là cơ hội tốt để chúng ta tiến tu Như ở ngoài xă hội có cơ quan từ thiện, cũng có cơ quan cảnh sát. Thường thường nghe cơ quan từ thiện chúng ta có cảm t́nh, nhưng nghe cơ quan cảnh sát chúng ta hơi khó chịu. Song thử hỏi lại từ thiện và cảnh sát, cứu kính thế nào? Một bên giúp người khổ nạn để họ được an vui, một bên ǵn giữ trật tự an ninh cho dân chúng sống b́nh yên. Cả hai đều có chung một mục đích là giúp cho mọi người sống an ổn. Thế th́ ta đều phải quí phải thương hết hai bên mới phải, tại sao một bên thương, một bên không thích. Rơ ràng đó là quan niệm sai lầm. Trong kinh Phật thường dạy, người tu phải bỏ hai bên, đừng oán đừng thân. Tức kẻ oán đừng chứa chấp trong ḷng, người thân đừng trói buộc thêm. Muốn bỏ hai bên phải có lối nh́n như chúng tôi đă nói, người thân là ông thiện, người oán là ông ác. Ông thiện ông ác đều là người giúp cho ḿnh tiến lên, nên cả hai đều b́nh đẳng đối với sự tu tiến của chúng ta. Bên nào cũng đưa ḿnh lên chớ không bên nào muốn hạ ḿnh xuống. Nếu có xuống là tại v́ chúng ta c̣n yếu đuối thôi. Nói người ta làm khó tôi tu không được, điều đó sai lầm. Chỉ nên nói v́ tôi yếu đuối nên gặp cảnh khó tôi thối lui. Lỗi ở ḿnh chớ không phải lỗi ở cảnh. Đa số chúng ta hay đổ thừa ngoại cảnh mà ít nhận lỗi nơi ḿnh. Bây giờ nên tập nh́n khó và dễ, thiện và ác đối với chúng ta đều là cơ hội tốt. Nh́n tường tận như vậy th́ trên đường tu không có ǵ cản trở ḿnh được, chắc chắn chúng ta sẽ tiến và tiến măi. Tinh thần này trong kinh Pháp Hoa, Phật đă nói rơ qua phẩm Đề-bà-đạt-đa. Đức Phật tuyên bố Đề-bà-đạt-đa đă từng hại Ngài nhiều đời nhiều kiếp, nhờ thế nên Ngài mới chóng thành Phật quả. Cho nên Đề-bà-đạt-đa chính là người ân, là nghịch hạnh tri thức bậc nhất tác thành đạo nghiệp cho Thế Tôn. Do hiểu đạo lư chúng ta nh́n người ngăn trở gây khó khăn cho ḿnh là ân nhân cở lớn, chớ không phải ân nhân thường. V́ người hiền lành không dám chửi ai, sợ mang tội. Chỉ có người dám chịu tội chửi ta để thử xem ḿnh vươn lên được không, đó mới là tri thức cở lớn, là bậc Bồ-tát hy sinh v́ chúng sanh. Người an ủi khuyến khích chúng ta tiến lên th́ dễ quá, có phước chớ đâu sợ tội. C̣n v́ lợi cho người mà dám gánh tội về ḿnh mới có công đức lớn, chúng ta phải bái phục họ chớ không nên giận hờn. Đó là Phật tử nh́n đủ cả hai mặt, không nh́n phiến diện. Đây là điểm thứ nhất. Điểm thứ hai, Phật giáo luôn luôn dạy chúng ta phải biết tất cả chúng sanh đều có tánh Phật. Ai cũng có tánh Phật nên ai cũng có khả năng thành Phật. Kinh Pháp Hoa đă nói rất rơ về điều này. Trong phẩm Bồ-tát Thường Bất Khinh, Phật bảo Bồ-tát Thường Bất Khinh đi đâu, gặp ai cũng chấp tay lễ bái nói: “Tôi không dám khinh các ngài, v́ các ngài đều sẽ thành Phật”. Như vậy Ngài có tu, có làm lợi ích ǵ cho ai chưa? Chúng ta có bệnh khi nói đến Phật th́ nghĩ Ngài là bậc cao cả tuyệt vời, ḿnh không bao giờ với tới. Do tự ti mặc cảm như thế nên chỉ mơ ước ḿnh tu mai kia được làm tôi tớ của Phật là phước lắm rồi, chớ mong chi làm Phật. Bồ-tát Thường Bất Khinh muốn phá tâm tự ti mặc cảm đó, nên Ngài luôn chấp tay bái chúng ta “tôi không dám khinh các ngài, v́ các ngài đều sẽ thành Phật”. Đó là Ngài trao cho chúng ta một niềm tin rằng ḿnh có khả năng làm Phật. Tại sao chúng ta tin như vậy? Bởi v́ đức Phật Thích-ca cũng là một con người, Ngài sống trong hoàng cung cũng có vợ có con, chớ đâu phải là ông thánh từ trên trời rơi xuống. Nhờ nỗ lực tu Ngài thành Phật. Chúng ta cũng là con người, nếu nỗ lực tu chúng ta cũng sẽ thành Phật, không nghi. Tất cả chúng ta đều có khả năng như Ngài, nhưng tại ta mặc cảm nên cứ thấy Ngài ở trên mây xanh, c̣n ḿnh ở dưới đất. Giờ đây chúng ta thấy rơ ḿnh có khả năng thành Phật nên cố gắng tu để đạt kết quả như nhau. Chỉ khi không cố gắng, không chịu tu chúng ta mới xa Phật thôi. Một khi nh́n ra ai cũng có khả năng thành Phật, th́ không chỉ giới xuất gia mới có khả năng thành Phật, mà kể cả hàng cư sĩ tại gia cũng có khả năng thành Phật. Không chỉ trong phạm vi người tu theo Phật mới có khả năng thành Phật mà người không tu theo Phật cũng có khả năng thành Phật. Nên nói cái nh́n của đạo Phật không phân biệt tôn giáo, không phân biệt màu da, chủng tộc, tất cả mọi người ai cũng có thể thành Phật, nếu biết tu. Nh́n thấy ai cũng có khả năng thành Phật là Phật nhân. Tu hành tới cứu kính viên măn là thành Phật quả. Ví dụ chúng ta đă sẵn có trong túi hạt bắp tốt. Giờ đây muốn có cây bắp, quả bắp th́ chịu khó gieo hột trồng. Nếu có trồng có chăm sóc th́ cây bắp sẽ vươn lên cho hoa cho trái. Chỉ người lười biếng không chịu trồng, có hạt giống mà để đó th́ không bao giờ đạt được kết quả. Cũng thế, Phật tánh sẵn có trong mọi người, nhưng nếu ai chịu khó vén những lớp vô minh phiền năo, phá hết các bệnh tự cao ngă mạn, mới có thể thành tựu Phật quả. C̣n người biết ḿnh có khả năng thành Phật, nhưng không phá trừ phiền năo, tự cao tự đại th́ có Phật nhân mà không được Phật quả nên vẫn khổ như bao nhiêu chúng sanh khác. Lẽ thật như thế, chớ không ai cao hơn ai cả. Tôi thường ví dụ như cha mẹ giàu, có nhiều ḥn ngọc quí như nhau. Trong gia đ́nh năm ba anh em, khi cha mẹ gần mất mới đem ngọc quí đó chia mỗi đứa một viên. Người anh cả biết đem bán ra xài th́ sẽ giàu có sang trọng. Nhưng mấy người em mải lo việc học hành hay việc này việc nọ, họ cất kỹ viên ngọc và quên luôn. Người anh cả nhà cửa sang trọng thấy mấy đứa em nhà cửa xấu xí nhưng có dám khinh không? Tuy h́nh thức hiện tại thấy ḿnh hơn các em, nhưng thật ra của báu bên trong chúng nó cũng như ḿnh. Do đó đâu dám khinh. Hiểu như vậy tất cả chúng ta dù tu trước hay tu sau đều biết ai cũng có thể thành Phật. Cho nên không bao giờ nghĩ ta tu cao người kia tu thấp. Hoặc ta biết tu, người kia không biết tu… Người có của quí mà biết dùng th́ được sang trọng. Người có của quí nhưng quên lăng, không biết dùng th́ tạm thời nghèo khổ, chớ thật sự không phải nghèo. Trách nhiệm của chúng ta là nhắc nhở, đánh thức nhau lấy của báu ra dùng. T́nh thương cứu giúp như vậy nhà Phật gọi là ḷng từ bi. Cho nên từ bi trong đạo Phật là làm sao mọi người có của quí đều biết dùng, để cùng được sung sướng như nhau. V́ có t́nh thương đó nên đạo Phật không cho phép chúng ta ngồi ngó lơ, ai khổ mặc họ, không thèm biết tới, sống như vậy th́ ích kỷ quá. Các chùa Việt Nam đa số đều khuyên Phật tử nên tụng kinh Pháp Hoa, có khi tụng cả tuần lễ. Đó là v́ kinh Pháp Hoa rất quan trọng, rất cần thiết, quí thầy cô muốn tất cả Phật tử ai cũng đều hiểu, đều sống đúng với tinh thần ấy. Song rất tiếc có những người tụng mà không ứng dụng. Nếu biết học theo gương của Bồ-tát Thường Bất Khinh, chúng ta sẽ tiến được nhiều ít? Bệnh lớn của con người là tự cao ngă mạn, thấy ai hơn ḿnh th́ đâm ra bực tức đố kỵ, thấy ai thua ḿnh th́ khinh rẻ. Ai ở cho vừa ḷng ḿnh? Cứ nghĩ ai hơn là lấn lướt ḿnh, ai thua là hèn hạ hơn ḿnh, mà không ngờ ḿnh và mọi người đều có khả năng thành Phật như nhau. Hơn thua chẳng qua là nghiệp tập thôi. Ví dụ người có phương tiện đi học có cấp bằng này cấp bằng nọ, c̣n người không có phương tiện không được đi học nên quê dốt. Người quê dốt và người học cao có khác ở sự huân tập. Huân tập hay th́ trở thành hay, huân tập dở th́ trở thành dở. Huân tập là cái mới chớ không phải cái sẵn, cái sẵn th́ ai cũng như nhau cho nên không có cao thấp. Chúng ta nh́n trên mặt huân tập sai biệt, mà không nh́n ngay cội nguồn căn bản, để thấy ai cũng có khả năng giác ngộ. Nh́n như thế mới không dám khinh miệt ai hết. Người có tâm đố kỵ là do nh́n trên nghiệp tướng sai biệt, mà không nhận ra bản tánh b́nh đẳng của muôn loài. Hiểu thế rồi chúng ta phải làm sao có cái nh́n thấu suốt rơ ràng rằng ai cũng có tánh Phật. Đă có tánh Phật th́ mọi người đều có khả năng thành Phật, quả vị Phật không chỉ dành riêng cho ḿnh, c̣n người khác không có. Ai cũng có quyền làm Phật hết. Người hiểu đạo đi trước nhắc người đi sau, để cùng nhau nhận ra tánh Phật b́nh đẳng ấy, không ai khinh khi ai. Được vậy đức khiêm tốn sẽ đến với ḿnh, chấp ngă dần dần tiêu mất. Chỉ cần hai cái nh́n, thứ nhất là không có thân và thù. Kẻ thân người thù chẳng qua là phương tiện giúp chúng ta tiến tu thôi. Ai cũng được xem như ân nhân của ḿnh hết. Đă là ân nhân th́ không có chuyện thương người này ghét người kia, ta đều thương mến mọi người như nhau. T́nh thương đó mới b́nh đẳng, mới gọi là từ bi chứ. Cái nh́n thứ hai là ai cũng có khả năng thành Phật, do đó ta không dám khi người này, đố kỵ người kia. Chúng ta sống trong tinh thần bao dung ḥa hợp, khiêm tốn, cung kính mọi người. Cho nên Bồ-tát Thường Bất Khinh suốt đời chỉ làm một việc, gặp ai Ngài cũng bái nói “Tôi không dám khinh các ngài, v́ các ngài đều sẽ thành Phật”. Mới nghe qua chúng ta thấy như Ngài không đem lợi lạc ǵ cho ai, nhưng đức Phật Thích-ca đă nói: Bồ-tát Thường Bất Khinh ngày xưa là tiền thân của Ngài. Do tu hạnh ban rải niềm tin đến cho mọi người, giúp họ nhận ra ḿnh có khả năng thành Phật, mà Ngài được thành Phật hiệu Thích-ca. Chúng ta thấy nhân dường như quá đơn giản mà quả to lớn vô cùng. Đó là hai cái nh́n tốt đẹp trong tinh thần Phật giáo Việt Nam nói riêng cũng như tinh thần Phật giáo nói chung. Đến cái nh́n thứ ba là cái nh́n của Thiền sư. Ở Việt Nam có phái thiền Trúc Lâm Yên Tử, Sơ tổ là một ông vua đi tu tức vua Trần Nhân Tông. Ngài xuất gia tu hành ngộ đạo, sau đó lập ra hệ phái thiền Trúc Lâm Yên Tử. Sau này Ngài được tôn là Sơ tổ Trúc Lâm. Chúng tôi thành lập Thiền viện cũng để tên Thiền viện Trúc Lâm là muốn nói lên tinh thần của Thiền tông Việt Nam. Thế th́ Thiền tông Việt Nam có những điểm ǵ đáng cho chúng ta phải lưu tâm? Ở đây tôi nói qua một nét nhỏ thôi, v́ không đủ thời gian nói nhiều. Quí vị nào có đọc bài phú Cư Trần Lạc Đạo bằng văn Nôm của vua Trần Nhân Tông, sẽ nhớ phần kết thúc Ngài viết bốn câu kệ bằng chữ Hán thế này: Cư trần lạc đạo thả tùy duyên, Cơ tắc xan hề khốn tắc miên. Gia trung hữu bảo hưu tầm mích, Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền. Dịch: Ở đời vui đạo hăy tùy duyên, Đói đến th́ ăn mệt ngủ liền. Trong nhà có báu thôi t́m kiếm, Đối cảnh không tâm chớ hỏi thiền. Chỉ bốn câu thôi mà ư nghĩa thật tuyệt diệu. Ở đời vui đạo hăy tùy duyên là sống giữa cơi trần tục, tức ngay giữa ḷng đời, chúng ta vẫn vui với đạo. Làm sao để được vui? Ngài dạy phải khéo tùy duyên. Tùy duyên thế nào? Đói đến th́ ăn mệt ngủ liền, dễ quá phải không? Ai cũng bằng ḷng như thế. Nhưng thưa đừng hiểu lầm chỗ này. Ai không đói ăn mệt ngủ. Nhưng bốn chữ đói ăn mệt ngủ này mang tính chất cụ thể của ư nghĩa tùy duyên. Cụ thể thế nào? Bởi v́ tùy duyên là khi nhu cầu đến chúng ta giải quyết ngay nhu cầu đó, đừng băn khoăn, đừng lo liệu, đừng sợ hăi. Đói ăn, mệt ngủ tức là những nhu cầu trong sinh hoạt b́nh thường của chúng ta. Tùy theo hoàn cảnh mà ḿnh giải quyết, đừng tính toán băn khoăn hay trông đợi ǵ cả, đó là tùy duyên. Nếu chúng ta băn khoăn, tính toan, lo sợ v.v… trước hoàn cảnh hiện tại, cứ do dự măi nên không giải quyết được ǵ cả, đó là chưa biết tùy duyên. Nghĩa là khi nào có sự việc xảy đến, chúng ta cứ ngay đó giải quyết, không nghĩ đây là việc to rồi hồi hộp sợ hăi; không nói đây là lợi tâm sanh vui mừng, hoặc đây là hại nên bực bội tức tối. Tùy duyên giải quyết, việc ǵ đến th́ làm một cách an nhàn tự tại, đó là sống tùy duyên. C̣n giải quyết bằng cách cau có bực bội là chưa biết tùy duyên. Muốn sống giữa cơi đời mà vẫn vui với đạo th́ phải biết ư nghĩa tùy duyên ấy. Nếu gặp việc thuận th́ mừng, việc nghịch th́ giận là chưa tùy duyên. Người như thế không thể t́m nguồn vui của đạo ở trong ḷng cuộc đời. Hai câu này đă nói lên một pháp tu rồi. Tu cả đời cũng chưa xong nữa. Làm sao trong cuộc sống này mọi việc xảy ra đều được như ư chúng ta hết. Phần nhiều sự việc như ư ít mà việc bất như ư th́ nhiều. Nếu ḿnh không biết tùy duyên, gặp việc bất như ư buồn khổ năm bảy ngày, như vậy một đời người chúng ta lăn lộn trong cơi trần chịu khổ đến bao nhiêu? Làm sao vui với đạo được! Nhờ biết tùy duyên, sự việc đến chúng ta b́nh thản giải quyết, không lo lắng sợ sệt. Cũng như khi đói gặp cơm th́ ăn. Có ǵ ăn nấy không đ̣i hỏi món này món nọ, không chê khen ngon dở. Khi mệt nằm xuống liền ngủ, không nghĩ xa nghĩ gần, không toan tính việc ǵ cả. Người sống như vậy là tùy duyên. Chớ đừng nghĩ tùy duyên đói ăn mệt ngủ, rồi đói lúc nào lôi cơm ăn lúc ấy, mệt lúc nào nằm ́ ra ngủ lúc đó, không biết giờ khắc tu hành ǵ hết, th́ không được. Hiểu như thế chúng ta mới thấy tinh thần tu của Sơ tổ Trúc Lâm. Trong nhà có báu thôi t́m kiếm, Ngài thấy rơ nơi con người chúng ta có ḥn ngọc quí sẵn bên trong, nên bảo ḿnh đừng chạy t́m kiếm ở đâu cho nhọc. Chúng ta đă có ngọc, ngọc đó là tánh giác, là Phật. Như vậy muốn t́m Phật đâu cần phải leo lên non hay lặn xuống biển, chỉ ngay nơi ḿnh xoay đầu nh́n lại là có Phật thôi. Chúng ta khéo đừng để những phiền năo ô nhiễm che lấp tánh giác sẵn có. Lặng hết phiền năo ô nhiễm th́ ông Phật của ḿnh hiện tiền. Cho nên nhiều người tới chùa thấy thờ các vị A-la-hán, có vị phạch ngực ra, bên trong có h́nh Phật ngồi. Đó là để chỉ ông Phật sẵn đây rồi, chỉ cần vạch hết phiền năo nhớp nhúa sang một bên, th́ Phật hiện ra ngay, không khó khăn ǵ hết. Đến câu chót là câu rất chí thiết trong nhà thiền. Đối cảnh không tâm chớ hỏi thiền. Đối cảnh tức là mắt thấy sắc, tai nghe tiếng, mũi ngửi mùi v.v… Khi sắc đẹp đến, mắt vẫn thấy mà không có tâm muốn được, không dính mắc ở sắc đẹp. Tai nghe tiếng, biết rơ mà không có tâm khen chê. Mũi ngửi mùi phân biệt rơ ràng thơm hôi, nhưng không v́ hôi mà bực, không v́ thơm mà nhiễm. Lưỡi nếm vị có ngon dở, nhưng không v́ ngon mà đ̣i thêm, không v́ dở mà chán bực. Tóm lại, đối với sáu trần chúng ta không có niệm đuổi theo, không có niệm dính mắc. Ngay đó là thiền rồi, khỏi cần hỏi ai hết. Rất đơn giản. Thiền rất đơn giản nhưng tại chúng ta không chịu giản đơn thành ra cứ nắm, cứ dính hoài. Đừng thèm dính th́ đơn giản vô cùng. Nên biết thiền không phải cái ǵ huyền bí xa xôi, chỉ cần đừng đuổi theo, đừng dính mắc với năm trần bên ngoài. Người không dính mắc với năm trần có tự tại, có an lạc không? Tự nhiên là tự tại, là an lạc. C̣n người đuổi theo, dính mắc với năm trần th́ dĩ nhiên là bị nó trói buộc lôi đi. Điều đó quá rơ ràng, chúng ta đă biết hết rồi, chỉ không ứng dụng tu nên chưa được an lạc, chưa được tự tại thôi. Như vậy thiền của đạo Phật dạy cho chúng ta đừng dính mắc với năm trần bên ngoài và pháp trần bên trong, nói chung là sáu trần. Đừng dính với sáu thứ đó th́ tự tại an nhàn. Quí vị kiểm nghiệm lại xem, những sai lầm của ḿnh từ trước đến giờ có phải do ta không sống đúng với tinh thần Phật dạy không? Nếu chúng ta ứng dụng hai câu trên, tùy duyên sống trong cơi đời mà vui với đạo, th́ cuộc sống rất thong dong, tự tại. Thấy rơ nơi ḿnh có của báu rồi, khỏi đi hỏi ai, khỏi t́m cầu nơi nào khác. Ta tự an ổn bằng cách làm cho ḥn ngọc quí của ḿnh hiện ra. Người đời khổ v́ mắt thấy sắc cho là đẹp, muốn được về ḿnh, không được th́ buồn. Tai nghe tiếng hay muốn tiếng đó tiếp tục măi, không được cũng buồn. Lưỡi thích vị ngon nên đưa vị dở vô cũng buồn. Chúng ta cứ đuổi theo, đ̣i hỏi năm trần thành ra khổ. Nếu ḿnh không dính mắc ǵ hết, không có niệm đuổi theo nó th́ cứ đói ăn, mệt ngủ, không ngại chi cả. Tu tức là t́m nguồn an lạc trong tâm, chớ không phải có nhiều tiền nhiều của. Chỉ không dính mắc bên ngoài là tâm an lạc. Cho nên đối với cái nh́n của Phật giáo Việt Nam, việc tu rất đơn giản. Nếu chúng ta khéo ứng dụng, chỉ bốn câu kệ của Sơ tổ Trúc Lâm đời ḿnh cũng đă thảnh thơi rồi. Tôi xin nhấn mạnh phải khéo ứng dụng, chớ không phải học thuộc ḷng bốn câu kệ đó mà thong dong tự tại. Việc ngừng đuổi theo năm trần là việc làm của chúng ta, không phải của Phật, Tổ hay thầy ḿnh. Dính cũng ḿnh, không dính cũng ḿnh. Ai cũng có quyền làm việc đó hết. Chỉ chịu làm hay không chịu làm thôi. Hiểu vậy mới thấy đạo Phật rất gần với chúng ta, nhưng v́ ḿnh không thức tỉnh nên thấy như cách xa. Ai cũng có khả năng thành Phật, dù ngày nay người đó chưa tu c̣n nhiều nghiệp ác, nhưng ngày mai thức tỉnh họ tu th́ cũng tốt. C̣n chúng ta đang tu, nhưng nếu ngày mai thối tâm th́ cũng thành người xấu như thường. Bởi vậy trong nhà thiền có kể câu chuyện: Ngày xưa anh chàng làm hàng thịt nọ buôn bán mấy chục năm ngoài chợ, bất thần hôm đó anh thức tỉnh bỏ nghề hàng thịt, xuất gia tu hành. Khi xuất gia rồi, sáng sờ đầu bỗng có tỉnh, anh làm bài kệ: Tạc nhật dạ-xoa tâm, Kim triêu Bồ-tát diện. Dạ-xoa dữ Bồ-tát, Bất cách nhất điều tuyến. Dịch: Hôm qua tâm dạ-xoa, Ngày nay mặt Bồ-tát. Dạ-xoa cùng Bồ-tát, Không cách nhau đường tơ. Mới hôm qua làm người hàng thịt là tâm quỉ dạ-xoa, nhưng khi thức tỉnh, cạo đầu tu th́ bữa nay nh́n ra mặt Bồ-tát. Như vậy Bồ-tát và quỉ dạ-xoa cách nhau bao xa? Không cách một đường tơ, gần bên nhau chớ không xa chút nào hết. Hiểu như vậy chúng ta thấy trên đường tu ai cũng có phần, dù người đó đang lao đao lận đận trong cảnh tội lỗi. Nhưng khi họ thức tỉnh rồi cũng sẽ thành Bồ-tát. Do đó ta không dám khinh khi ai, phải học theo hạnh Bồ-tát Thường Bất Khinh, gặp mọi người đều lễ bái nói “tôi không dám khinh các ngài, v́ các ngài đều sẽ thành Phật”. Nếu chúng ta biết tu và ứng dụng đúng theo lối của Phật Tổ dạy, chắc rằng con đường giải thoát không xa. Chỉ không khéo ứng dụng tu mới thấy con đường giải thoát cách xa trời vực. Hôm nay tôi chỉ giới thiệu đơn giản một vài nét của Phật giáo Việt Nam cho quí vị nhớ ứng dụng tu, để Phật tử đừng hiểu lầm Phật giáo Việt Nam chuyên đi cúng đi lễ bái hoài. Phật giáo Việt Nam có những ưu điểm hay lắm nhưng tại chúng ta ứng dụng, thực hành chưa đúng. Mong tất cả hiểu và ứng dụng tu theo những ǵ Tổ tiên ḿnh đă chỉ dạy. Được vậy lợi ích thiết thực nhất định sẽ đến với chúng ta. ] MÊ VÀ GIÁC Tây Uùc - 2002 Buổi giảng này tôi sẽ nói cho quí Phật tử biết rơ những điều cần thiết để quí vị ứng dụng tu cho xứng đáng với danh nghĩa người Phật tử. Đề tài hôm nay là Mê và giác. Đạo Phật là đạo giác ngộ. Tiếng Phạn Buddha, Trung Hoa dịch âm là Phật đà, dịch nghĩa là “người giác ngộ”. Cho nên đạo Phật là con đường đưa chúng ta tới giác ngộ, lấy giác ngộ làm nền tảng, không giống những tôn giáo khác lấy ḷng tin làm căn bản. V́ vậy đệ tử tu theo Phật được gọi là Phật tử, chớ không gọi “Tín đồ đạo Phật”. Tại sao? V́ tín đồ là đồ đệ lấy ḷng tin đối với đạo làm chỗ tuyệt đối. Đạo Phật không như thế, phải có giác ngộ hoặc ít hoặc nhiều, chớ không lấy ḷng tin làm trên hết. Phật là giác, tử là con, Phật tử là con bậc giác ngộ. Không thể cha giác ngộ mà con mê muội được. V́ vậy Phật tử khi tu phải thấy lẽ thật, thấy chân lư đức Phật đă dạy để được giác ngộ. Cho nên giác là tinh thần của Phật tử, c̣n mê là tinh thần của chúng sanh. Trước tiên tôi nói về phần mê. V́ chúng sanh đang mê nên chư Phật mới thương xót chỉ dạy để được giác ngộ. Mê cái ǵ? Người thế gian nói mê là tối tăm mù mịt, giác là sáng suốt. Thấy biết sai sự thật, không đúng lẽ thật mà tưởng thật, gọi là mê. Như hoa trắng mà thấy đen là mê, v́ thấy trái lẽ thật. Thí dụ hiện giờ ai lỡ xúc phạm tới danh dự ḿnh một chút, quí vị có giận không? Có. Giận nhiều hay ít? Giận nhiều. Nhưng chúng ta thử hỏi lại “danh dự là ǵ, nó ra sao?” Không ai biết hết. Nói chạm tới danh dự của tôi, khiến tôi nổi giận nhưng lại không biết danh dự là ǵ. Đừng nói tới danh dự, chính tôi cũng không biết “tôi là ǵ” nữa! Những điều ǵ trái với ư nghĩ, trái với ư muốn của ḿnh, ta nói nó sai quấy. Nhưng sự thật không biết ai sai? Như Phật tử không phải là người xấu, mà có kẻ nói anh xấu hay chị xấu, quí vị có biến thành xấu liền không? Không. Họ nói qua rồi mất tiêu, không có ǵ hết, nổi giận làm chi. Nếu họ nói mà ta biến thành xấu th́ nên giận. Đằng này họ nói xấu ḿnh vẫn không thay đổi sắc diện, có ǵ sợ. Chỉ khi nổi giận ta sẽ trở thành xấu thật, cho nên không phải người ta nói xấu ḿnh thành xấu, mà tại nổi giận nên thành xấu. Phật tử phải xử sự thế nào cho đúng trong trường hợp đó? Người ta nói nhưng ḿnh không chuyển đổi thân tâm th́ có quan hệ chi đâu, như gió lùa qua tai rồi mất, có ǵ phải giận. Nhưng tại sao chúng ta giận? V́ muốn ai ai cũng phải khen ngợi, cũng phải tôn trọng ḿnh. Cho nên nghe một lời khinh chê, thấy một hành động bất kính là tức giận liền. Con người sống trong ảo tưởng nhiều hơn thực tế. V́ vậy Phật nói chúng sanh si mê. Người đời v́ mê mà tiêu tan hết sự nghiệp, v́ mê mà bệnh hoạn, khổ đau. Như mê rượu chè, mê cờ bạc, mê đàn |