LỜI ĐẦU SÁCH

Quyển Hoa Vô Ưu này được kết tập từ các bài giảng của Ḥa thượng Viện chủ Thiền viện Thường Chiếu Thích Thanh Từ.

Trong đó, gồm một số bài Ḥa thượng được thỉnh giảng cho sinh viên một số trường Đại học ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh. Ngoài ra, một số bài Ḥa thượng thường giảng cho Tăng Ni, Phật tử các nơi và tại các Thiền viện.

Để đáp ứng nhu cầu t́m hiểu pháp thiền và hâm mộ tu thiền của Tăng Ni, Phật tử nhưng chưa đủ điều kiện tu học trực tiếp nơi Ḥa thượng, chúng tôi tŕnh xin ư kiến của Ngài và được Ngài hoan hỷ cho biên tập lại các bài giảng trên.

Tuy nhiên, v́ là văn nói nên tập sách không sao tránh khỏi sự trùng lặp tất yếu của nó. Rất mong độc giả đạt ư quên lời. Được thế, hy vọng tập sách sẽ đến tay quư vị với những lợi ích thiết thực nhất.

Như vậy, chúng ta có thể t́m hiểu thâm nhập và hành tŕ pháp thiền. Đồng thời trên bước đường tu học, chúng ta có thêm bạn đồng hành luôn cảm thông với chúng ta.

Mùa Hạ năm Canh Th́n

Thường Chiếu, ngày 24-06-2000.

THÍCH NHẬT QUANG


 

ĐỨC TỪ BI VÀ NHẪN NHỤC

Hôm nay nhân quư thầy chùa Bửu Thọ mời chúng tôi về dự lễ an vị đức Bồ-tát Quán Thế Âm và khai đại hồng chung của chùa, nên tôi sẽ giảng về đề tài Đức từ bi và nhẫn nhục. Bởi v́ tôn tượng Bồ-tát Quán Thế Âm tượng trưng cho hạnh từ bi trong đạo Phật.

Từ bi và nhẫn nhục là hai pháp tu tối thiết yếu của người Phật tử cũng như người xuất gia. Từ bi là ban vui, cứu khổ. Người có ḷng từ bi là người thương tất cả chúng sanh b́nh đẳng như nhau. V́ thương mọi người nên đem hết cả tâm tư sức lực của ḿnh làm cho mọi người được vui, hết khổ, nên gọi là ban vui, cứu khổ.

Ở đời ai không có khổ, hoặc nhiều hoặc ít thôi. Chư Phật và Bồ-tát thương muốn cho chúng ta hết khổ nên các Ngài dạy chúng ta tu. V́ vậy từ bi là hạnh thiết yếu trong đạo Phật. Kế đến là nhẫn nhục. Bởi có từ bi mà thiếu nhẫn nhục th́ không bao giờ thực hiện được hạnh từ bi. Nhẫn nhục lúc nào cũng ở bên cạnh từ bi, không thể riêng rẽ được, nên tôi giảng chung từ bi và nhẫn nhục.

Trong kinh Pháp Hoa Phật có dạy, muốn vào nhà Như Lai tức phải có ḷng từ bi, muốn mặc áo Như Lai tức phải nhẫn nhục. Tóm lại, muốn vào nhà Phật, mặc áo Phật phải tu hạnh từ bi và nhẫn nhục. Nếu không có từ bi, không có nhẫn nhục th́ không thể vào nhà Phật, mặc áo Phật được. Nên người Phật tử thiếu từ bi th́ chưa phải Phật tử. Đây là vấn đề mà quư Phật tử cần phải hiểu.

Nói từ bi theo nghĩa cứu khổ ban vui, quư Phật tử cảm thấy khó hiểu. Để gần gũi và dễ hiểu hơn, tôi có thể nói từ bi là t́nh thương v́ mọi người chớ không phải v́ ḿnh. Chúng ta ai cũng có t́nh thương, nhưng t́nh thương v́ ḿnh nhiều hơn v́ mọi người. Ví dụ ta đi đâu trễ xe hoặc trễ đ̣, có một người tử tế mời vào nhà uống nước, ăn cơm để chờ tới chuyến đ̣, chuyến xe sau. Họ xử sự rất tốt nên ta nói người đó dễ thương quá. Tại v́ họ tốt với ḿnh nên ḿnh nói dễ thương. Nếu người ấy xấu với ḿnh th́ ḿnh không thương. Như vậy để thấy t́nh thương của chúng ta đi đôi với bản ngă. T́nh thương đó không gọi là từ bi. Đến bao giờ chúng ta thấy người lem luốc, xấu xí, không lễ độ, đói khổ mà ta vẫn thương. Chúng ta cho chén cơm, ổ bánh ḿ, dù họ không cám ơn nhưng chúng ta vẫn thấy vui. Đó là t́nh thương của ḷng từ bi, thấy người khổ ḿnh thương, ḿnh giúp mà không cần đền đáp.

Là người Phật tử biết học Phật, tu Phật th́ nên tập mở rộng t́nh thương. Ai khổ, ai đói th́ chúng ta thương, không v́ bản ngă, không đợi người giúp ḿnh, ḿnh mới thương lại. Đó là t́nh thương của ḷng từ bi. C̣n v́ ḿnh th́ chưa phải từ bi. Nên hiểu cho tường tận, chớ thương người này, thương người kia rồi cho đó là từ bi th́ không thể được. Bởi từ bi hệ trọng như vậy nên người Phật tử bước chân vào đạo phải tập mở rộng ḷng thương mọi người. Đó là tập tâm từ bi. Có tâm từ bi rồi th́ chúng ta tu mới có thể tiến được. C̣n chưa có từ bi th́ không thể nào chúng ta tiến được trên đường tu.

Tại sao từ bi phải đi đôi với nhẫn nhục? Như ở thế gian có người con hiếu thảo, thương cha mẹ nhưng gia cảnh nghèo làm không đủ ăn. Bấy giờ Giám đốc một xí nghiệp nhận vào làm, trong xí nghiệp anh ta bị rầy, bị quở nhiều thứ, xúc chạm tới tự ái. Nhưng v́ thương cha mẹ thiếu thốn nên vẫn chịu đựng, nhịn nhục làm có tiền để nuôi cha mẹ. Do đó phải ẩn nhẫn, cực khổ, nhục nhă chớ không dám bỏ việc.

Như vậy t́nh thương giúp cho chúng ta có sức chịu đựng, sức nhẫn nại. Đó gọi là nhẫn nhục. Nếu chúng ta không thương cha mẹ th́ khi gặp cảnh bị rầy la, khinh bạc liền bỏ quách, cần ǵ phải làm, chỗ này không được kiếm chỗ khác. Nhưng v́ thương cha mẹ cho nên nhẫn chịu mọi sự phiền hà, xúc phạm. Đó là v́ t́nh thương mà phải nhẫn nhục.

Một ví dụ nữa, như người phụ nữ gặp ông chồng bạo hành, nhưng đă có với nhau hai, ba mặt con. Người chồng bạo hành chịu hết nổi th́ lẽ ra phải ly dị nhưng v́ thương con, sợ con bơ vơ không c̣n đủ cha mẹ, việc học hành sa sút v. v… Thương con mà nhẫn nhịn sự bạo hành của chồng. Như vậy cũng v́ t́nh thương mà phải chịu đựng. Trường hợp trước là người con hiếu, v́ thương cha mẹ mà nhận chịu những khó khăn, khinh bỉ. Trường hợp sau v́ thương con mà không bỏ được người bạn từng hành hạ ḿnh, chịu đựng mọi điều v. v… Nên biết, nhờ t́nh thương mà người ta có thể nhẫn chịu những cái khó nhẫn. Nếu không có t́nh thương th́ chắc rằng con người sẽ không đủ sức để vượt qua những cảnh khó khổ.

Sống trong đời chúng ta muốn làm điều lành, điều tốt nhưng chắc ǵ được mọi người tán thán. Cho nên muốn làm điều lành điều tốt để giúp mọi người, th́ trước chúng ta phải tập có ḷng thương mạnh mẽ đối với mọi người. Đó là từ bi. Kế phải có sức nhẫn nại, chịu đựng những khó khăn.

Chúng ta không nên hiểu lầm nhẫn nhục là điều xấu, theo quan niệm của nhiều người, nhẫn là phải chịu nhục. Theo tôi th́ không phải vậy. Nhẫn nhục là một sức mạnh chớ không phải yếu đuối. Thế gian thường cho rằng người làm việc ǵ bị la rầy, quở mắng nhưng vẫn ráng chịu đựng là người yếu đuối, nhu nhược, v́ không dám chống cự lại, đôi khi c̣n bảo là ngu. Nhưng trong đạo Phật không phải vậy. Đạo Phật dạy nhẫn nhục là một sức mạnh. Nếu chúng ta để ư sẽ thấy ở những ngôi chùa xưa thường viết câu Đại Hùng Bửu Điện, tức là điện báu thờ đấng Đại Hùng. Đức Phật là đấng Đại Hùng, nhưng Ngài có đánh dẹp ai đâu mà tôn vinh là Đại Hùng?

Trong kinh Pháp Cú, Phật có dạy thế này:

Thắng một vạn quân không bằng thắng ḿnh

Thắng ḿnh mới là chiến công oanh liệt nhất

Nghĩa là người nào thắng được ḿnh mới gọi là người hùng. Thắng giặc bên ngoài chưa phải là hùng. Như vậy nhẫn nhục là việc dễ hay khó? Bị người sỉ nhục, mắng nhiếc ta, ta sỉ nhục, mắng nhiếc lại là dễ hay nhịn nhục là dễ? Mắng lại là dễ chớ bỏ qua khó lắm. Đừng nói chi người lớn, trẻ con khi bị ức hiếp nó tức giận la lối dễ hay làm thinh dễ? Như vậy khi trái ư, nổi giận la lối con nít làm cũng được, c̣n nhẫn nhịn, người lớn đôi khi làm chưa nổi nữa. Qua đó th́ biết cái nào khó! Khó mà làm được nên gọi là Đại Hùng. Đức Phật được gọi là Đại Hùng v́ Ngài nhẫn được những điều khó nhẫn.

Trong kinh kể lại, có lần đức Phật trên đường du hóa, một thầy Bà-la-môn lẽo đẽo theo sau chửi nhưng Phật cứ thong thả đi. Ông tức quá chận lại hỏi:

- Ngài Cồ Đàm! Ngài có điếc không?

Phật đáp:

- Không.

- Không điếc sao ông nghe tôi mắng chửi mà không có phản ứng?

- Ta không điếc. Việc mắng chửi của ông có liên hệ ǵ với ta đâu.

Phật liền nói ví dụ:

- Như nhà ông có giỗ mời bà con quyến thuộc tới dự. Khi họ sắp về, ông gói quà bánh tặng. Những người ấy không nhận th́ quà đó về ai?

Ông Bà-la-môn đáp:

- Nếu họ không nhận th́ quà đó về tôi chớ về ai.

Phật bảo:

- Cũng vậy, ông chửi ta mà ta chẳng nhận th́ những lời mắng chửi đó xin gửi lại cho ông.

Người ta cứ nghĩ rằng nhịn là thua, nhưng trường hợp vừa kể, đức Phật có thua không? Chửi Ngài mà Ngài không chống cự lại th́ hậu quả tự trở về người chửi. Chúng ta thử tập khi bị mắng chửi mà chúng ta cứ lặng lẽ làm thinh không nói ǵ hết th́ rốt cuộc người nào tức hơn. Người bị chửi tức hay người chửi tức? Cho nên tưởng rằng tranh hơn thua là hay, không ngờ càng tranh là càng lún sâu vào phiền năo. Chẳng khác nào như lửa cháy mà cứ chế thêm dầu hoài. C̣n một bên nóng giận, một bên im lặng, không có lời thách đố nhau th́ làm ǵ có chuyện đấu tranh để dẫn đến những việc tai hại lớn lao. Rơ ràng nhẫn nhịn là điều hết sức quan trọng, không phải việc thường. Người biết nhẫn nhịn là người làm được việc lớn, c̣n người không nhẫơn nhịn được th́ không làm được việc ǵ hết. Cho nên chúng ta muốn làm được điều hay điều tốt th́ phải có đức nhẫn nhịn mạnh mẽ, như vậy việc làm mới thành công.

Chúng ta ai cũng biết câu chuyện Quan Âm Thị Kính. Tôi lược kể điểm hay đặc biệt của bà Quan Âm Thị Kính. Theo sử sách Trung Quốc th́ bà thuộc gia đ́nh khá giả, có danh giá, chồng bà là một nho sinh hiếu học. Gia đ́nh hai bên cũng môn đăng hộ đối. Một hôm nhân chồng học hành mệt mỏi nên nằm ngủ trưa. Bà nh́n thấy có sợi râu mọc ngược lên trên khó coi, nên lấy kéo định hớt giùm sợi râu. Nhưng vừa đưa kéo đụng vào th́ ông giật ḿnh chụp tay la: "Ám sát tôi". Ông la lên như vậy th́ cả nhà đều tin theo, nói bà định dùng kéo ám sát ông chồng.

Việc đó có oan không? V́ ông ngủ mơ màng không tỉnh táo nên bị đụng vào da liền giật ḿnh hoảng hốt, thấy bà đang cầm kéo th́ la lên nói vợ ám sát ḿnh. Dù bà có nói ǵ cũng không ai tin hết. Cuối cùng gia đ́nh bên chồng giao trả bà về cha mẹ của bà, v́ là nàng dâu hư. Cha mẹ bà cũng không biết nói sao hơn nên đành đem con về. Về nhà ḿnh rồi, bà nghĩ sự tủi nhục v́ là con nhà thế phiệt mà bây giờ mang tiếng giết chồng, nhưng không biết làm sao minh oan được. V́ vậy bà định đi tu để khỏi mang tai tiếng cho cha mẹ.

Hồi xưa ở Trung Hoa chưa có phái nữ đi tu, chỉ có phái nam thôi. Nên muốn đi tu bà phải giả trai. Khi vào chùa được Ḥa thượng nhận cho ở, nhưng v́ có nhan sắc nên giả trai bà cũng đẹp. Do đó động ḷng Thị Mầu, con một nhà giàu thường lui tới viếng chùa. Thị Mầu có tâm không tốt nên sau này gần gũi với người nô bộc của gia đ́nh, cô mang thai rồi đổ oan cho ông đạo Kỉnh Tâm, tức pháp danh của bà. Sự việc Thị Mầu khai trước làng xă đ̣i bà đến công đường tra hỏi. Bà trả lời không có ǵ hết nhưng chẳng ai tin. Dù bị tra khảo đánh đập đi không nổi nhưng bà vẫn chịu đựng, không tiết lộ ḿnh là người nữ để minh oan. Cuối cùng làng mời Ḥa thượng đến trả bà về chùa nuôi dạy lại. Như vậy mới thấy sức chịu đựng phi thường của bà.

Khi về chùa, Ḥa thượng không biết sự việc thế nào nên xử sự với bà khác lúc trước. Bà không được ở trong chùa mà phải ở hành lang. Thời gian sau Thị Mầu sanh đứa con trai, cô bồng đứa bé đến chùa giao cho bà nói rằng: "Con của ông nay tôi giao trả cho ông".

Chúng ta thấy rơ ràng sự việc không có ǵ dính dáng mà bây giờ xảy ra đến mức độ như vậy. Bà can đảm nhận nuôi đứa bé, bởi bà nghĩ người tu dù cho công phu nhiều mà không có ḷng từ bi th́ cũng không xứng đáng. V́ chúng sanh, v́ cứu một mạng người nên bà chấp nhận hết mọi nhục nhă, mọi h́nh phạt. Cho nên trong một đoạn thơ truyện Quan Âm Thị Kính có câu này:

Dù xây chín bậc phù đồ,

Không bằng làm phước cứu cho một người.

Phù đồ tức là cái tháp, ư câu này nói dù xây tháp chín tầng, không bằng cứu một sinh mạng con người. Nghĩ vậy nên bà đành ôm đứa nhỏ nuôi. Sự việc này càng làm cho Ḥa thượng nghi ngờ, nếu không phải con của bà th́ sao nhận lănh nuôi. Sống trong hoàn cảnh ấy bà vẫn âm thầm chịu đựng. Mỗi ngày ẵm đứa bé đi khắp xóm làng xin sữa bú, chịu đựng mọi khinh bỉ, chê bai của thiên hạ. Bà kiên nhẫn nuôi cho đứa bé lớn lên. Thời gian chịu nhục nhă không biết là bao nhiêu. Một đứa trẻ không có liên hệ máu mủ ǵ hết mà v́ ḷng từ bi muốn cứu một mạng sống, không để cho nó chết nên bà phải chịu nhục nhă, đủ thứ xấu xa. Tới khi đứa bé lớn rồi, từ đó bà mới được tu hành yên ổn, và đến lúc lâm chung mọi người phát hiện bà là người nữ th́ bà đă đắc quả vị Bồ-tát. Người đời sau thường gọi là Quan Âm Thị Kính.

Đó là tôi kể tổng quát, bây giờ tôi nhấn mạnh thêm tinh thần nhẫn nhục của bà để chúng ta noi theo tu tập.

Thứ nhất, bà nhẫn khi bị chồng vu oan. Việc ngẫu nhiên thôi mà bị hàm oan như thế. Nếu người không có can đảm, bị oan ức đó có thể tự tử. Thường người ta cho rằng tự tử là gan, nhưng tôi th́ nói ngược lại, tự tử là không can đảm. Bởi v́ xấu hổ chịu đựng không nổi, không đủ sức nhẫn nên mới tự tử, nếu đủ sức nhẫn th́ đâu có tự tử. Bà không tự tử mà sống và tu. Đó là một đức nhẫn nhục lớn.

Thứ hai, khi đi tu bị người ta vu oan là quan hệ với Thị Mầu có thai. Điều đó hết sức vô lư v́ bà là người nữ. Nếu muốn minh oan rất dễ, chỉ cần nói tôi là người nữ th́ mọi việc đều êm xuôi hết. Nhưng v́ muốn được tiếp tục tu hành, bà không muốn lộ tông tích ḿnh là người nữ, nên phải nhận lănh sự hành hạ, đánh đập, khảo tra.

Trường hợp trước nhẫn để được sống và tu. Trường hợp thứ hai, v́ sự tu nên cam chịu khổ nhọc. Và đến giai đoạn cuối cùng là ḷng từ bi thương đứa bé ra đời không có cha mẹ nuôi dưỡng. Sợ nó chết tội nên nhận nuôi, chịu nhục nhă, không phải một ngày mà cả mấy chục năm trời. Chính v́ ḷng từ bi nên bà đă có sức kiên nhẫn phi thường như vậy. Khi đă vượt qua sức chịu đựng đó bà liền thành tựu Bồ-tát. Chúng ta thấy ḷng từ bi, sức nhẫn nhục vượt hơn tất cả người thường t́nh. Do đó thành tựu được Bồ-tát hạnh. Bây giờ chúng ta tôn vinh bà là Phật Bà Quan Âm.

Như vậy, người chịu đựng được là người mạnh mẽ, có một sức nhẫn phi thường. Cho nên tu muốn đến nơi đến chốn đ̣i hỏi chúng ta phải có đủ hai mặt, vừa có ḷng từ bi vừa có đức nhẫn nhục. Từ bi nhẫn nhục đủ th́ chúng ta mới tu tiến, mới thành công. C̣n chỉ có từ bi mà thiếu nhẫn nhục th́ khó thành công. Ví dụ như chúng ta thấy người nghèo khổ muốn giúp đỡ nhưng họ không biết mang ơn. Vậy là chúng ta không muốn giúp nữa. Đó là chúng ta làm việc lành, việc tốt mà chưa có đức nhẫn nhục nên dễ lùi lắm.

Đó là tôi nói Bồ-tát Quán Thế Âm ở trong truyện thơ Quan Âm Thị Kính. Bây giờ tôi nói Bồ-tát Quán Thế Âm trên h́nh tượng mà quư vị đang thờ. Chúng ta đến chùa lễ Bồ-tát Quán Thế Âm thường thấy Ngài dưới h́nh thức người nữ, nhưng thật ra Bồ-tát không có nam nữ. Trong kinh Phổ Môn có nói rơ, Bồ-tát Quán Thế Âm khi cần độ đồng nam th́ hiện thân đồng nam. Khi cần độ đồng nữ th́ hiện thân đồng nữ, cần độ Tể Quan th́ hiện thân Tể Quan. Như vậy Ngài không có thân nhất định là nam hay nữ, mà tùy theo căn cơ chúng sanh thích thân ǵ th́ hiện ra thân ấy. Song v́ người nữ giàu t́nh thương, Ngài thường hiện thân nữ.

V́ vậy khi nói về t́nh thương, người ta hay nói như mẹ hiền thương con. Cha cũng thương nhưng có khi phải răn, phải đánh. C̣n mẹ thương thường vuốt ve mà ít đánh. Do đó mà nói mẹ hiền, ít nói cha hiền. Cha nghiêm nên hay gọi nghiêm phụ, mẹ hiền nên hay gọi từ mẫu. Do đó ḷng từ thường được tượng trưng qua người nữ. Ngài Quán Thế Âm tu hạnh từ bi nên Ngài hiện thân người nữ để thể hiện hạnh nguyện của ḿnh.

Kế đó chúng ta thấy trên tay trái Ngài cầm tịnh b́nh, tay phải cầm cành dương. Như vậy ư nghĩa như thế nào? B́nh là để chứa nước cam lồ. Tôi xin đọc lại một đoạn nguyên văn chữ Hán trong Từ bi Thủy sám: "Thùy dương liễu nhi biến sái cam lồ. Trừ nhiệt năo ĩ giai đắc thanh lương. Tầm thinh cứu khổ ư tứ sanh. Thuyết pháp độ thoát ư lục đạo".

Như vậy là Ngài cầm cành dương rưới nước cam lồ từ trong tịnh b́nh. Nước cam lồ và cành dương tượng trưng cho cái ǵ? Chữ cam là ngọt, lộ là sương. Mù sương đọng trên lá cây, nước đó trong sạch và ngọt gọi là cam lồ. Nước cam lồ là tượng trưng cho tâm từ bi. Tâm ấy trong sạch, dịu ngọt như cam lồ. V́ vậy từ bi tới đâu th́ lửa nhiệt năo tắt ngụm tới đó. Ngọn lửa phiền năo của chúng ta cháy hừng hực nên chỉ có nước từ bi mới dập tắt được. Phiền năo nóng giận là sân. Muốn cho hết sân, qua được cơn nóng giận phải có ḷng từ bi. Nên nước cam lồ tượng trưng cho ḷng từ bi. Khi ta gặp khổ đau, người có ḷng từ bi khuyên dạy ta sẽ giảm. Những chúng sanh đang trong cảnh đói thiếu, đủ thứ tai nạn, gặp được những người có ḷng từ bi th́ họ sẽ được cứu giúp. Cho nên khổ đau chỉ có ḷng từ bi mới đưa đến sự b́nh an.

Nước cam lồ đem rưới cho mọi người được mát mẻ th́ phải nhờ cành dương. Có người lấy cành trúc hay cành tre thay thế cành dương để rưới nước cam lồ. Nhưng sự thật ư nghĩa nước cam lồ chỉ rưới được qua cành dương. Tại sao vậy? V́ cành dương nhỏ, mảnh, khi gặp gió th́ nó uyển chuyển nhưng mà không găy. Như vậy để nói lên ư nghĩa người có đức nhẫn nhục, gặp cảnh khó khăn luôn tùy thuận, nhẫn nại, không chống đối. Mới nh́n như yếu, lại dẻo dai chịu đựng, không bị găy, bị thua. Như vậy h́nh ảnh cành dương nói lên đức nhẫn nhục. V́ nhẫn nhục mới có thể đem nước cam lồ hay ḷng từ bi chan rải cho mọi người được. Nếu không có nhẫn nhục th́ không bao giờ chan rải được ḷng từ bi.

Rơ ràng từ bi và nhẫn nhục nương nhau th́ làm việc ǵ cũng thành tựu. Có từ bi mà thiếu nhẫn nhục hay ngược lại, có nhẫn nhục mà thiếu từ bi cũng không được. Cho nên trong kinh nói cầm cành dương Ngài rưới nước cam lồ lên khắp cả. Trừ nhiệt năo, Ngài làm cho mọi người đều được tắm trong ḍng suối thanh lương. Nghe tiếng kêu mà cứu khổ cho tứ sanh. Ngài thuyết pháp độ khắp cả lục đạo.

Qua đó chúng ta thấy h́nh tượng Ngài cầm cành dương rải nước cam lồ lên tất cả mọi người, đó là đem ḷng từ bi chan rải khắp muôn loài. Do sức mạnh của ḷng từ bi mà tiêu diệt được ḷng sân hận của con người. Chúng ta sống nếu không có ḷng từ bi th́ không thể nào thực hiện được những điều đức Phật đă dạy.

Tôi nhắc lại khi đức Phật c̣n tại thế, có lần trên đường giáo hóa, gặp một nhóm côn đồ mắng chửi thậm tệ, nhưng Ngài vẫn thản nhiên, không có thái độ nào tỏ vẻ khó chịu hay bất măn. Nhưng tôn giả A Nan chịu không nổi, liền thưa với Phật:

- Bạch Thế Tôn, chúng ta nên đi nơi khác.

Phật bảo:

- Bây giờ đi chỗ nào A Nan?

Ngài A Nan thưa rằng:

- Đi chỗ nào không có người chửi mắng ḿnh th́ mới có thể truyền đạo.

Phật bảo:

- Giả sử chúng ta đi đến chỗ khác cũng có người mắng chửi nữa th́ làm sao A Nan?

Ngài A Nan thưa:

- Như vậy th́ chúng ta t́m lại những nơi đă từng giáo hóa như thành Xá Vệ hoặc những nơi có đệ tử của Ngài.

Phật bảo:

- Này A Nan! Nếu là thầy thuốc giỏi th́ có nên treo tấm bảng trước nhà rằng: "Ở đây chỉ nhận chữa những bệnh thông thường, c̣n bệnh nặng th́ mời đi nơi khác"?

Ngài A Nan thưa:

- Không

Phật hỏi:

- Tại sao vậy?

Ngài A Nan thưa:

- Thầy thuốc giỏi th́ trị bệnh nặng, c̣n bệnh thường có ǵ quan trọng.

Phật bảo:

- Cũng vậy, người ta đang bệnh ta phải trị cho họ, chừng nào họ không cần th́ ta mới đi.

Ngài A Nan nói:

- Họ đang chửi ḿnh th́ họ đâu cần ḿnh.

Những người côn đồ nghe nói vậy liền thức tỉnh lên tiếng:

- Bạch Ngài, chúng con cần Ngài.

Do đó đức Phật đă ở lại giáo hóa độ những người đó.

Câu chuyện đă cho chúng ta thấy, Phật dù hóa độ chúng ta nhưng không phải tới đâu người ta cũng kính ngưỡng như nhau. Ngay cả đức Phật đi giáo hóa cũng gặp nhiều cay đắng, bị trở ngại đủ thứ hết, nhưng Ngài cũng thản nhiên chịu đựng. Nhờ vậy Ngài mới thành đạo và truyền bá Phật pháp cho tới ngày nay.

Chúng ta là hàng đệ tử của Phật th́ phải học gương sáng của Ngài. V́ thương những người khổ hay người ngang ngạnh nên dù họ có gây khó khăn, làm điều hung dữ, chúng ta vẫn phải độ họ, không nên giận họ. Trong đạo Phật lúc nào cũng nhắc nhở người Phật tử luôn cố gắng thực hiện cho được tinh thần từ bi nhẫn nhục. Chưa hành được hạnh đó th́ chúng ta chưa phải là đệ tử của Phật.

Thật ra chúng ta ai cũng có ḷng từ bi, nhưng ḷng từ bi đó bị hạn chế. Ví dụ có người đi xem hát thấy các diễn viên bi lụy rơi nước mắt họ cũng khóc theo, như vậy th́ có t́nh thương, thấy cảnh khổ mới khóc. Nhưng có điều lạ là thấy cảnh khổ trên sân khấu th́ khóc, mà thấy người khổ thật ở ngoài th́ thản nhiên. Nên cái khóc đó là do các diễn viên khéo gợi cảm xúc của ḿnh, c̣n những cảnh khổ không gợi được cảm xúc th́ không khóc, chỉ thương v́ tội nghiệp thôi.

Đó là do ḷng từ bi c̣n bị ảnh hưởng trong t́nh cảm riêng tư. Cho nên chúng ta hiểu đạo Phật rồi tập theo đức từ bi, chúng ta sẽ được những điều lợi ích lớn. Tất cả những ǵ chúng ta làm lợi cho người khác, mới thấy như thiệt tḥi nhưng thực t́nh chúng ta giúp cho mọi người, rồi sau này ḿnh sẽ được mọi người giúp lại. Ḿnh xử sự tốt với mọi người th́ người sẽ xử sự tốt với ḿnh. Cũng có người thắc mắc sao tôi xử sự tốt với người mà người lại xử sự xấu với tôi? Chúng ta không nên vội nghĩ "làm ơn lại mắc oán". Sự thật không phải như vậy.

Tôi thường ví dụ như trước kia chúng ta làm khổ ai đó, bây giờ ḿnh phát tâm hiền lành tốt, nhưng sự cải tiến của ḿnh chưa xứng với việc ḿnh làm khổ người khi trước. Do đó dù chúng ta giúp người nhưng họ vẫn không mang ơn chúng ta mà lại c̣n hầm hầm nữa chứ. Cho nên hiểu được nhân quả rồi th́ không giận họ mà phải biết v́ việc làm của ḿnh chưa xứng đáng, chưa thật quư, chưa cao thượng nên người chưa vừa ḷng.

Có người nói từ trước tới giờ tôi chưa từng làm khổ ai chút nào, nhưng chúng ta nên nhớ trong nhà Phật nói những sự việc xảy ra với chúng ta không chỉ xảy ra trong đời này mà có sự liên hệ tới nhiều đời trước nữa. Ngày nay chúng ta tử tế với người nhưng biết đâu trước kia chúng ta làm khổ người quá nhiều. Sự oán hờn của quá khứ c̣n núp trong tàng thức của người, bây giờ gặp lại, dù chúng ta có làm điều lành điều tốt, nhưng chưa xứng với việc cũ nên họ không hài ḷng, không thông cảm với ta.

Hiểu như vậy chúng ta chỉ trách ḿnh chớ không trách người. Nhờ thế việc tu hành mới không trở ngại. Hiểu được như vậy, tất cả chúng ta ai cũng ư thức được rằng cuộc đời của ḿnh nếu được tốt đẹp xứng đáng, đó là chúng ta biết từ bi, biết thương người, biết cứu giúp người. Không phải chúng ta chỉ biết bằng lời nói suông thôi mà c̣n phải có sức chịu đựng, nhẫn nhục.

Tôi kể thêm câu chuyện nữa, có lần đức Phật đi khất thực, một thầy Bà-la-môn theo sau chửi bới thậm tệ mà Phật vẫn thản nhiên đi. Thầy Bà-la-môn bực tức chạy lên trước chận đường hỏi:

Cồ Đàm! Ngài thua tôi chưa?

Phật liền trải tọa cụ ngồi xuống, nói bài kệ:

Người hơn th́ thêm oán

Kẻ thua ngủ chẳng yên

Hơn thua hai đều xả

Ấy được an ổn ngủ.

Ngài nói ai c̣n thấy hơn, thấy thua là c̣n khổ. Hơn người th́ oán hờn, c̣n thua người th́ đêm đến trằn trọc ngủ không được. Chỉ người bỏ được hơn thua th́ được an ổn, hạnh phúc.

Như tôi đă nói, chúng ta tôn đức Phật là đấng Đại Hùng, v́ trong trường hợp nào Ngài cũng nhịn hết, không hề chống cự hoặc hành hạ ai. Ngài chỉ nhẹ nhàng nhắc nhở giáo hóa thôi. V́ vậy Ngài không hờn, không giận, không oán thù. Sức chịu đựng đó gọi là Đại Hùng.

Đức Phật là đấng Đại Hùng, chúng ta ít ra cũng làm được tiểu hùng v́ chúng ta là con Phật. Vậy trong gia đ́nh cho tới ngoài xă hội chúng ta phải sống và tu như thế nào? Nếu ở gia đ́nh, người chồng lớn tiếng th́ vợ phải nhẫn nhịn. Nhẫn nhịn không có nghĩa là xấu hổ, là thua sút. Nhẫn nhịn người ngoài c̣n không thua, huống nữa là nhẫn nhịn người trong nhà. Chúng ta nhẫn nhịn được tức là chúng ta tự chế ngự được sự nóng giận của ḿnh. Nhịn người lớn hơn hoặc bằng ḿnh th́ dễ, c̣n nhịn những người nhỏ hơn mới thật là khó. Có những người nhỏ kém đức hạnh, ăn nói thô lỗ, chẳng lẽ chúng ta lại đi căi vă với họ sao? Cho nên nhịn tất cả, lớn nhỏ ǵ cần nhẫn nhịn th́ chúng ta cứ nhẫn nhịn. Nên nhớ từ bi nhẫn nhục không chỉ đối với người ngoài mà c̣n đối với trong gia đ́nh nữa. Được vậy chúng ta mới biết tu, mới gọi là đệ tử của đấng Đại Hùng được.

Nếu muốn trở thành một Phật tử chân chính th́ phải có tâm từ bi, có đức nhẫn nhục. Đă là Phật tử mà người động tới mỗi việc đều nổi giận hoặc thấy kẻ đó khổ không thương không giúp, th́ có xứng đáng gọi là Phật tử chưa? Trong kinh Phật thường hay nhắc nhở chúng ta phải có ḷng từ bi thương chúng sanh, phải chịu đựng những khó khổ để tâm trong sáng, thanh tịnh. Đó là điều không thể thiếu được.

Chúng ta c̣n phải biết rằng trên đường tu luôn gặp chướng duyên. Nếu không hiểu chúng ta sẽ nghĩ, chẳng lẽ ḿnh không có phước? Người tu hạnh nhẫn nhục mà đến đâu cũng được quư kính th́ chưa thể hành hạnh nhẫn nhục. Ví như đức Phật nếu không có người mạ lị th́ làm sao chúng ta thấy được đức tánh cao cả của Ngài. Nhờ có kẻ càn bướng dám mắng chửi Ngài, chúng ta mới thấy được nhẫn lực phi thường của Ngài. Chúng ta tu mà có người kính, có người chửi, có người khinh, chúng ta cũng tự nhiên như vậy, mới gọi là người thật tu.

Đa số Phật tử ngày nay cứ ngỡ tu là cúng kính, là làm phước mà không biết tu là xây dựng cho bản thân ḿnh một cái tâm từ bi nhẫn nhục. V́ vậy những trở ngại trên đường tu, tôi không gọi trở ngại mà gọi thắng duyên. Nhờ có người chửi ḿnh mà tṛn được hạnh nhẫn nhục. Nếu không th́ chúng ta đâu có biết ḿnh nhẫn được hay không.

Quư Phật tử tu đừng sợ khó, đừng sợ bị thử thách. Bởi v́ thử thách chính là cơ hội tốt để chúng ta thể hiện tinh thần tu hành của ḿnh. Tu là có sức an nhẫn, có sức chịu đựng mọi thử thách, chớ không phải tu là để đón nhận mọi thứ an lành hết. Bởi người tu cũng như chèo thuyền ngược nước, ngược gió. Nếu chúng ta thả lơi th́ thuyền sẽ trôi ra tới biển. C̣n nếu ra sức chèo chống th́ chúng ta mới đến được tận nguồn, tận nơi chúng ta muốn. Người tu hành muốn chi được nấy th́ c̣n ǵ tu nữa.

Phật tử đến chùa lạy xin Phật cho con làm ăn phát đạt, mọi việc đều tốt đẹp, con cái học hành giỏi v. v… Xin mọi thứ chớ không chịu tu. Như vậy là xin hay tu? Nếu xin Phật không được th́ đâm chán. Nghe nói có Bà Chúa xứ linh lắm, chạy qua xin Bà. Xin Phật không được th́ xin Bà. Người như vậy là chưa biết tu. Tu là gây dựng cho ḿnh một đức tính tốt đẹp, một hạnh nguyện cao siêu, chớ đâu phải tu là đi xin xỏ. Phật tử chúng ta hay xin quá! Đi chùa th́ đi nhưng nghe chỗ nào linh liền chạy đi cầu xin. Đó là thói thường của những người chưa hiểu được ư nghĩa của sự tu hành.

Khi hiểu được ư nghĩa của sự nhẫn nhục rồi th́ chúng ta không c̣n than tu hành sao gặp nhiều khó khăn quá. Vị nào tu gặp trở ngại nên vui mừng nói với huynh đệ rằng: Tôi thật là đại phước, tu gặp cả mười cái trở ngại và đều vượt qua hết. Vậy đó, nhờ có trở ngại chúng ta mới thành công. Nếu không có trở ngại th́ đâu có thành công. Như người tập nhảy cao, lúc đầu để cây thấp, lần lần đưa lên cao, như vậy người cầm cây gây trở ngại hay giúp cho người tập nhảy cao? Chúng ta tu cũng vậy. Tu là để mỗi ngày được thanh tịnh, mỗi ngày được sáng suốt. Muốn được như vậy th́ tất cả trở ngại chúng ta đều vượt qua, xem như tṛ chơi, không có ǵ đáng để tâm. Như vậy mới thành công, c̣n sợ khổ, sợ khó, bị trở ngại th́ tu mong cho sung sướng, chớ không phải tu để được giải thoát.

Hiểu như vậy quư Phật tử nên suy xét lại cho chín chắn, đừng buồn, đừng sợ khi chúng ta gặp trở ngại hay bị bạc đăi. Chúng ta phải có sức mạnh, lập chí cho vững, quyết tâm đi đến nơi đến nơi đến chốn. Được vậy mới là người quyết chí tu chân chánh. Tu c̣n cầu xin là tu tà đạo. Tu chân chánh th́ phải biết chuyển sửa những điểm dở, điểm xấu của ḿnh thành hay, thành tốt.

Đức Phật thường dạy rằng: Ta không có quyền ban phước giáng họa cho ai. Nếu Phật có quyền ban phước giáng họa cho người, th́ chắc rằng Phật không dạy chúng ta phải nhẫn nhục, phải từ bi, tu nhân quả. Gây nhân tốt th́ được quả tốt, gây nhân xấu th́ chịu quả xấu. Nếu Phật cho được th́ chúng ta đâu cần gây nhân, cứ lạy Phật rồi Phật cho. Vậy Phật có cứu chúng ta không? Phật chỉ cho chúng ta một con đường, ai đi đúng đường th́ an vui, ai đi sai đường th́ đau khổ.

Như quư Phật tử khi quy y tam bảo, Phật dạy phải giữ năm giới. Nếu giữ năm giới trọn vẹn th́ được làm người tốt. C̣n không giữ năm giới th́ sẽ đọa vào đường ác như địa ngục v. v… Giữ năm giới là tu, không giữ năm giới là không tu. Phật chỉ dạy chúng ta tu, chớ không phải đưa chúng ta vào loài người hay xuống địa ngục, ngạ quỷ. Con đường Phật vạch ra là để cho chúng ta đi, chớ không phải Phật dùng thần thông ban phước giáng họa cho chúng ta. Hiểu như vậy mới là hiểu đạo. Hiểu rồi quư Phật tử ứng dụng tu th́ có lợi ích vô cùng. Bằng ngược lại, tuy đi chùa nhưng không được lợi ích bao nhiêu.

Tóm lại, chúng ta tu Phật là phải mở rộng ḷng từ bi và đức nhẫn nhục. Nhẫn nhục từ bi đó phải từ sự tu sửa của chúng ta, chớ không phải ở đâu đem đến. Công phu có được chính là do sự huân tập hàng ngày mà thành tựu. V́ vậy chúng ta nên tập đức từ bi nhẫn nhục trong cuộc sống, trong từng giây phút để chúng ta có đủ đạo lực khi gặp các chướng duyên. Ngày này, giờ này chúng ta thấy thua thiệt nhưng phước đức sẽ sâu dày ở nhiều đời nhiều kiếp sau, không bao giờ mất.

Không có một vị Phật nào ngẫu nhiên mà thành Phật. Các Ngài đều do tu mà thành Phật, không có vị Bồ-tát nào bỗng dưng thành Bồ-tát. Tất cả đều qua biết bao năm tháng tu hành mới được. V́ vậy, là đệ tử Phật, chúng ta cố gắng tu tập cho xứng với ư nghĩa Phật đă dạy.

Mong tất cả ghi nhớ và thực hành cho, để đạt được kết quả như sở nguyện.


 

CƯƠNG YẾU ĐỂ TU

Giảng tại chùa Thiên Phước - Long An

21-7-2000 - Canh Th́n

Hôm nay thể theo lời mời của Sư Bà tại chùa Thiên Phước cũng như trong Giáo Hội, chúng tôi về đây giảng một thời pháp cho Tăng Ni và toàn thể Phật tử nghe. Trên đường tu, chúng ta muốn tu đúng với chánh pháp của Phật để được an lạc giải thoát, th́ điều kiện tiên quyết là phải hiểu, phải nhập được chánh pháp.

Hồi xưa có Thiền sư Đạo Lâm ở Trung Quốc, Ngài rất quyết tâm tu hành. Để đạt được kết quả như sở nguyện, Ngài dùng cây cột thành chỗ ngồi như một ổ quạ, trên cháng ba của một cổ đại thụ. Ngài ngồi trên đó tu. Đương thời người ta không biết tên Ngài là ǵ nên họ gọi là Ô Sào Thiền sư. Ô là quạ, sào là ổ, Thiền sư ngồi tu trên ổ quạ. Do quyết tâm tu nên chẳng bao lâu Ngài ngộ đạo. Từ đó, tiếng đồn vang khắp.

Khi ấy Bạch Cư Dị là một thi sĩ nổi tiếng và rất mến mộ đạo Phật. Nghe Ngài là người được đắc đạo nên ông t́m tới. Dưới gốc cây, ông nh́n lên chắp tay thưa: "Bạch Ḥa thượng, cúi xin Ngài v́ con nói pháp cương yếu, để con theo đó mà tu". Ngài liền đọc bài kệ, nguyên văn chữ Hán là:

Chư ác mạc tác

Chúng thiện phụng hành

Tự tịnh kỳ ư

Thị chư Phật giáo.

Dịch:

Chớ làm các điều ác

Vâng làm các điều lành

Giữ tâm ư trong sạch

Đây lời chư Phật dạy.

Nghe bài kệ ấy xong ông cười, nói:

- Bạch Ḥa thượng, bài kệ này con nít tám tuổi cũng thuộc, Ngài dạy cho con làm ǵ!

Thiền sư nói:

- Phải, bài kệ này con nít tám tuổi cũng thuộc, nhưng ông già tám mươi làm cũng chưa xong!

Bài kệ này thường được in trong lá phái quy y của quư Phật tử đó. Chư Phật đă dạy như thế, chứ không phải chỉ một đức Phật thôi. Chúng ta nên lưu tâm cho rơ. Tôi sẽ thứ tự giải thích bốn câu kệ này cho quư vị thấy tầm vóc quan trọng của nó.

Chư ác mạc tác là không làm các điều ác. Điều ác là những điều ǵ? Phật dạy tất cả người tu khi bước chân vào đạo, đều phải giữ giới. Nếu cư sĩ th́ giữ năm giới; người xuất gia thọ Sa-di giữ mười giới, Tỳ-kheo giữ hai trăm năm mươi giới; Tỳ-kheo Ni ba trăm bốn mươi tám giới… Như vậy bước đầu vào đạo là phải giữ giới. Giữ giới là để ngăn ngừa không làm những điều tội lỗi. Cho nên trong giới luật thường có câu pḥng phi chỉ ác, tức là ngừa đón, ngăn dứt tội ác.

Người bước vào đạo, Phật bắt phải giữ giới để ngừa đón, chặn đứng không cho làm những điều tội ác. Giới không cho chúng ta rơi vào hầm sâu, hố thẳm, nên giới là hàng rào để ngừa đón sự nguy hiểm cho chúng ta. Người tu xuất gia hay tại gia, đều phải có hàng rào để ngừa đón tội lỗi. Nếu không có hàng rào đó, chúng ta dễ rơi vào những chỗ nguy hiểm, hậu quả không an vui mà c̣n dẫn đến nhiều khổ đau khác nữa.

Tôi nói gần nhất là giới của cư sĩ tại gia. Phật không cho sát sanh, trộm cắp, tà dâm, nói dối, uống rượu, x́ ke, ma túy… Phật cấm không được làm những điều này. Nếu Phật tử làm th́ sẽ dẫn đến đau khổ, tội lỗi. Bước đầu v́ sợ tội, sợ phạm nên quư vị không làm những điều đó, tức là không làm điều ác.

Các hành động như giết người, trộm cắp, tà dâm, nói dối, uống rượu say… có ác không? Năm điều đó là tội ác cho nên chúng ta ngừa đón, không làm, không làm tức là giữ giới. Nhờ giữ giới nên tránh được tội ác. Tránh được tội ác rồi, kế đó chúng ta mới làm các việc lành. Làm các việc lành như tu Thập Thiện, tức là mười điều lành của người tu Thiên thừa Phật giáo. Người tu Thập Thiện sau khi chết sẽ sanh về cơi trời. Trong mười điều lành đó thân có ba, miệng có bốn, ư có ba điều.

Thân có ba là: "Không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm". Miệng có bốn là: "Không nói dối, không nói lời hung dữ, không nói lưỡi đôi chiều, không nói lời thêu dệt". Ư có ba là: "Bớt tham, bớt sân, bớt si". Người tu không làm mười điều ác đó sẽ được sanh về cơi lành. Như vậy bước đầu của người tu Phật là phải ngăn chận ḍng tội lỗi. Không gây tạo tội lỗi là bước thứ nhất trên đường tu. Người theo đạo Phật mà không chịu giữ giới là người không biết tu.

Trong mười điều đó: thân ba, miệng bốn, ư ba. Chúng ta có thể giữ được thân, miệng nhưng ba điều của ư, quư Phật tử có giữ được không? Thí dụ về tham, cái tham hết sức nhỏ như tham ăn. B́nh thường thấy gà vịt nuôi sẵn ở nhà cũng thương, nhưng khi đă thèm ăn rồi th́ cứ đè xuống cắt cổ. Nó giăy giụa mấy cũng mặc, đâu có xót xa chút nào, miễn được ăn ngon thôi. V́ miếng ăn mà chúng ta tàn sát chúng sanh không thương tiếc!

Nên tôi nói người tu ăn chay có lợi rất lớn, dễ tăng trưởng ḷng từ bi. Thí dụ chư Tăng Ni ăn chay trường, khi ra đường có những hồ ao gần bên, cá dưới ao nhảy lên bờ giăy giụa, quư vị thấy thế th́ sao? Thấy thương, lượm bỏ xuống hồ. C̣n người không ăn chay trường, thấy th́ sao? Th́ mừng, lượm bỏ vô giỏ. Như vậy có một việc thôi, mà người ăn chay trường thấy thương, c̣n người ăn mặn th́ thấy là món ăn ngon nên lượm bỏ vô giỏ.

Cái khổ sợ kinh hoàng của nó, ḿnh không một chút xót thương. Rơ ràng người tu ăn chay th́ có ḷng từ đối với chúng sanh hơn. Người tu mà c̣n tham ăn ngon là c̣n sát phạt sinh vật khác, không biết thương tiếc mạng sống của nó. Từ tham ăn rồi tới tham tiền, tham của.

Tham tiền, tham của th́ sao? Th́ ra đường thấy ai làm rơi bóp lượm lên. Lượm được mừng quá giấu luôn. Như vậy do tham, dù không trực tiếp ăn cắp, nhưng đă gián tiếp làm việc đó rồi. Người mất của họ buồn rầu, ḿnh lượm được th́ mừng vui. Tức là vui trong sự đau khổ của người khác. Như vậy có tội không? Chúng ta thấy từ tham làm ra bao nhiêu tội ác. Sân cũng vậy. Khi nào nổi nóng ít ai b́nh tĩnh, sáng suốt nói lời tốt lành. Người ta nói trái ư, ḿnh nổi giận liền kêu tên chửi mắng. Do giận dấy lên, chúng ta mất hết trí khôn nên nói bậy, gây ra tội lỗi. Người tu phải bớt nóng giận. Chẳng riêng ǵ giới Phật tử cư sĩ mà kể cả người xuất gia có hết được nóng giận chưa? B́nh thường quư vị sợ nhưng tới nổi cơn lên th́ hết sợ! Để thấy khi nổi giận lên th́ trí tuệ sáng suốt bị khuất lấp đi, không c̣n nữa nên nói bậy, làm bậy.

Trong gia đ́nh Phật tử cư sĩ, vợ chồng có t́nh ràng buộc từ buổi đầu cho tới ngày nhắm mắt. Nhưng khi nổi giận th́ bất kể, nói những lời hết t́nh hết nghĩa, làm cho tan nát cả gia đ́nh. Thế th́ nóng giận có phải là tội ác không? Nếu chúng ta bớt nóng giận th́ bớt tội ác. Đó là một cái lẽ thật. Người tu phải làm sao tự ḿnh kềm chế. Ở đây tôi nói bớt thôi, chứ chưa dám nói hết. Thí dụ trước kia quư vị nóng một trăm phần trăm, kể từ nay về sau, mỗi tháng bớt xuống chừng mười phần trăm. Như vậy tới cuối năm sẽ hết hoàn toàn. Dứt được sân th́ ḿnh bớt khổ và những người chung quanh cũng bớt khổ. Nóng giận làm cho người ta mất hết lương tri, mất hết trí tuệ. Những việc không nên làm mà cứ làm là điều hết sức nguy hiểm.

Thứ ba là si mê. Sao gọi là si mê? Nhiều vị khi bị người ta nói "Chị khờ quá! ", nổi giận liền. Nói "khờ" c̣n nhẹ, nói "ngu quá! " th́ sao? Nổi giận đùng đùng lên. Bởi cho rằng người ta nói ngu là xúc phạm đến giá trị của ḿnh, làm cho ḿnh mất hết uy tín, danh dự… Nếu nghe nói ngu mà cứ cười: "Họ nói ḿnh ngu mà ḿnh không ngu th́ thôi", như vậy khỏe biết mấy. Phải chi họ nói ngu mà ḿnh ngu liền th́ nổi giận là đúng. Người ta nói ngu mà ḿnh không ngu th́ thôi, có hệ trọng ǵ. Vậy mà không bao giờ chịu. Người xưa c̣n nói: "Càng học thấy càng dốt", đây là câu nói của hàng Thánh nhân chứ không phải thường.

Học nhiều lẽ ra phải thông minh, sao "càng học càng thấy dốt"? Bởi trên thế gian cả trăm cả triệu ngành nghề khác nhau. Thí dụ như chúng ta học nghề bác sĩ y khoa, giỏi về bệnh trạng, biết thuốc trị cho bệnh nhân hết bệnh, đó là bác sĩ hay. Nhưng nếu đưa ông bác sĩ qua ngành điện hoặc ngành hóa chất hay các ngành tầm thường hơn như thợ hồ, thợ mộc th́ ông có biết ǵ không? Như vậy trăm ngàn nghề, ḿnh biết có một nghề, c̣n bao nhiêu nghề không biết, th́ đâu gọi là khôn hoàn toàn. Ḿnh biết có một phần trong muôn phần th́ vẫn c̣n ngu, chưa thể gọi là thấu suốt được hết.

Ngu mà biết ngu là chưa thậät ngu. Ngu mà không biết ngu đó mới thật là ngu! Khi nghe người ta nói ḿnh ngu, ḿnh cười thôi: "Trong trăm ngh́n muôn ức việc, tôi biết có một hai việc thôi bảo ngu là phải" Nói như vậy có thiệt tḥi giá trị của ḿnh không? Người bàng quan nghe thế, họ chê cười hay là khen ngợi? Chúng ta có những thứ si mê hết sức là vô lư, không đáng si mê mà cứ si mê. Từ si mê không chấp nhận ḿnh ngu nên sanh ra sân. Từ sân gây tai họa nguy hiểm thêm.

Trong kinh A Hàm, Phật có kể câu chuyện:

Có một thầy Tỳ-kheo tu hành rất chân chính, Ngài tránh xa quần chúng, tu trong một khu rừng. Những tiều phu hái củi thấy thế, họ về nói lại trong xóm nghe. Trong xóm, có một thiếu nữ rất tâm đạo, nghe vị Tỳ-kheo tu chân chính như thế, nên cô xin phép ba mẹ mỗi ngày bưng một bát cơm vào rừng cúng dường cho thầy. Thấy thế, xóm làng nghi ngờ cô gái có t́nh ư với thầy. Họ đồn bậy, cô buồn nên không dâng cơm nữa. Trước khi không dâng cơm, cô thưa với thầy:

- Thưa thầy, con đă phát tâm cúng dường cho thầy, nhưng bây giờ xóm làng đàm tiếu, nói con có ư riêng thầy, nên con không dám dâng cơm cho thầy nữa.

Nghe xong thầy Tỳ-kheo ấy buồn, v́ nghĩ ḿnh tu chân chính thế này, mà người ta đàm tiếu những chuyện không hay, thôi th́ chết đi cho rồi. Thầy mới làm một dây tḥng lọng treo trên cây cổ thụ. Lúc Thầy vừa đưa cổ vào dây, có vị thần hiện ra hỏi:

- Tại sao thầy lại tự tử?

Thầy trả lời:

- Tôi tu hành chân chính mà bị người ta đồn có t́nh ư với cô gái cúng dường cơm cho tôi. V́ vậy tôi xấu hổ, muốn tự tử chết cho rồi.

Vị thần đó hỏi:

- Thưa thầy, nếu người ta đồn thầy chứng quả A-la-hán, lúc đó thầy có thành A-la-hán không?

- Nếu tôi chưa chứng A-la-hán, mà bảo tôi chứng A-la-hán, tôi cũng đâu thành A-la-hán được.

Vị thần hỏi:

- Vậy nếu người ta nói thầy có t́nh ư xấu mà thầy không có, tại sao thầy lại tự tử?

Nghe thế, thầy Tỳ-kheo mở tḥng lọng xuống bỏ. Sau một thời gian tinh cần, thầy chứng quả A- la-hán.

Câu chuyện đó nói với chúng ta điều ǵ? Dư luận khen chê có thật hay không? Thí dụ quư vị tu chưa tới đâu, mà nghe nói "Thầy đă chứng A-la-hán, thầy đă là Bồ-tát rồi, " quư vị có mừng không? Lời khen mà không có lẽ thật th́ cũng vô giá trị. Ngược lại, nếu người ta nguyền rủa: "Thầy tu lôi thôi quá coi chừng đọa địa ngục", quư vị nổi giận không? Nếu ḿnh tu thanh tịnh, người ta nói đọa địa ngục, ḿnh có đọa đâu mà sợ. Nên cứ cười thôi, đâu có ǵ phải nổi nóng.

Trên thế gian người ta nói xấu, nói tốt đâu có giá trị thật. Vậy mà ai hơi xúc phạm là ḿnh nổi nóng lên, la hét om ṣm. Đó là si mê rồi. Nếu chúng ta không si mê th́ cuộc sống có phải an lành không? Nên đạo Phật thường dạy chúng ta phải tránh si mê. Bởi v́ si mê là nhân đưa chúng ta đến đau khổ. Nên bớt si mê là bớt khổ đau. Nếu c̣n si mê là c̣n đau khổ.

Muốn hết si mê chúng ta phải thường quán chiếu đúng với lẽ thật. V́ vậy người tu Phật đi vào đạo bằng trí tuệ, chứ không phải bằng cầu xin. Nhưng hiện nay quư chẳng những Phật tử, mà kể cả người tu cầu xin nhiều hơn vận dụng trí tuệ.

Phật tử tới chùa dâng một dĩa quả rồi lạy, thầy hay cô đánh chuông, bảo: "Phật tử nguyện ǵ th́ cứ nguyện đi. " Thế là một đàng nhận, một đàng xin, Phật tử cứ thế mà cầu: "Nguyện cho gia đ́nh con được b́nh an, cho con cái học giỏi, cho làm ăn phát tài…" Rơ ràng cúng Phật ít mà xin th́ quá nhiều. Như vậy có phải tham không? Phật dạy bớt tham, bớt sân, bớt si mà chúng sanh tham như vậy, Phật biết làm sao? Chỉ c̣n lắc đầu.

Chúng ta tu mà không hiểu được lời Phật dạy, làm sao tu theo Phật được. Đến chùa, nếu có cầu nguyện, người Phật tử hiểu đạo nên nguyện thế này: "Nguyện Tam Bảo chứng minh hộ độ cho tất cả chúng sanh đều hết mê lầm, hết đau khổ. " Như vậy là quá đủ. Bởi v́ trong chúng sanh đă có ḿnh rồi. C̣n xin cho một ḿnh ḿnh th́ tham lam, ích kỷ quá, Phật đâu có vui. Nhiều khi tôi cũng hơi buồn khi thấy Phật tử có ư trao đổi nhiều quá.

Thí dụ Phật tử cúng cho thầy hoặc cô, mỗi tháng năm ba trăm ǵ đó. Một hôm có người nhà ấm đầu, bèn đến nhờ thầy cầu an giùm. Thầy bận việc không đi tới nhà được th́ buồn liền, thầy không thương ḿnh. Như vậy cúng để mong thầy bảo bọc cho gia đ́nh. Bệnh, chết hay trong gia đ́nh có chuyện ǵ, nhất nhất thầy đều phải có mặt để cầu cúng. Như vậy cúng chùa giống như đóng tiền bảo hiểm vậy. Cho nên từ sự hiểu lầm của Phật tử mà Tăng Ni trở thành khó xử. Bởi khi nhận của cúng dường tức là thiếu nợ Phật tử. Phật tử yêu cầu mà không làm theo th́ Phật tử buồn, không đi chùa nữa. Cho nên chiều Phật tử, Tăng Ni đi cầu cúng hoài, thành ra đánh mất ư nghĩa và giá trị thực của một tu sĩ.

Phật tử sáng suốt, hiểu và hành đúng đạo lư, th́ Tăng Ni dễ tu, dễ hóa duyên. Nói vậy không có nghĩa tôi qui lỗi về hết cho quí Phật tử. Đôi lúc thầy cô cũng nhiệt t́nh quá, Phật tử chưa kịp mời mà quư vị đă hưởng ứng trước rồi! "Nghe nói ông thân của cô bệnh nhiều, thôi để chiều nay thầy tới cầu an cho. " Sốt sắng quá nên thành thói quen. Bây giờ chúng ta phải sửa lại. Làm việc ǵ phải xét xem việc đó có hợp với chánh pháp, với đạo lư không. Không nên làm những việc sai lầm, trái với những lời Phật dạy.

Chúng ta tu theo Phật là mở sáng trí tuệ. Trong kinh Phật thường dạy si mê là tăm tối, trí tuệ là sáng suốt. Tuy si mê là nhân của tham sân, nó khó trị, nhưng nếu biết trị th́ dễ lắm. Như trong ngôi nhà tối lâu năm không có người ở, bây giờ muốn cho hết tối, chỉ cần đốt lên một ngọn đèn, hay đem một cây đuốc đến là ngôi nhà sáng liền.

Như vậy muốn hết tối, chỉ dùng ánh sáng. Ánh sáng mới phá tan si mê, tăm tối. Trí tuệ cũng vậy, nó giúp chúng ta diệt được vô minh. Như chúng ta hiểu sai lầm về việc cầu cúng, khi được nghe quí thầy giảng giải liền nhận ra, sửa đổi ngay là chúng ta đă sáng rồi. Đâu phải đợi mười năm, hai mươi năm mới sáng. Nghe, biết trước kia ḿnh mê lầm, bây giờ bỏ mê lầm, bỏ chấp trước là hết mê lầm. Hết mê lầm là trí tuệ, rất nhanh.

Nên Phật dạy chúng ta tu phải thắp sáng ngọn đuốc trí tuệ. Có đuốc trí tuệ rồi, chúng ta mới giải hết được những nỗi khổ đau. Bởi mê lầm cho nên chúng ta đau khổ, nếu hết mê lầm th́ hết đau khổ. Ví như người đi lạc trong rừng, không biết lối ra. Lúc đó lao đao lận đận, t́m chỗ này chỗ kia nhọc nhằn khổ sở mà vẫn không ra khỏi rừng. Đến khi gặp được người chỉ đường, nắm vững lối đi rồi, cứ theo đó mà ra th́ hết lạc lầm. Hết lạc lầm th́ hết đau khổ. Nên chỉ có trí tuệ, thấy rơ được lối đi mới hết đau khổ. Không có trí tuệ th́ chúng ta măi khổ đau.

Tăng Ni cũng như Phật tử, không nên nghĩ dùng thật nhiều công phu mới gọi là chuyên tu. Chúng ta mở sáng trí tuệ mới đúng là chuyên tu. Phật dạy chúng ta bước từng bước, ngăn ngừa không cho rơi vào tội lỗi, đó là giữ giới. Từ giữ giới, tiến lên loại trừ tham, sân, si để tâm được trong sạch, đó là bắt đầu có trí tuệ. Như thế dần dần đi tới chỗ b́nh an.

Đó là câu thứ nhất "Chớ làm các điều ác".

Đến câu thứ hai "Chúng thiện phụng hành", tức là vâng làm các điều lành. Nhiều người nghĩ rằng làm lành, làm phước th́ tốn của tốn công. Như vậy là thiệt tḥi cho ḿnh. Hiểu thế là sai lầm. Tôi dẫn câu chuyện của người xưa kể lại: Có anh chàng nghèo nọ ở trong một xóm toàn là người khá giả. Khi ấy có người hỏi:

- Trong xóm toàn là người khá giả, một ḿnh chú nghèo, chú có buồn không?

Anh trả lời:

- Tôi tuy nghèo nhưng được ở trong một xóm khá giả, chẳng những tôi không buồn mà c̣n vui nữa.

- Tại sao?

- Bởi v́ tất cả mọi người đều khá, chỉ có ḿnh tôi nghèo. Khi thiếu thốn, tôi qua nhà này nhà kia mượn tiền, ai cũng giúp đỡ được cả. Như vậy tuy nghèo mà không đến nỗi khổ, v́ có người giúp tôi.

Như vậy người nghèo thấy người giàu khá trong ḷng mừng vui, không đố kỵ th́ mọi người đều thương mến, nên họ sẵn sàng giúp đỡ những lúc khó khăn. C̣n nếu nghèo mà sanh tâm đố kỵ nói xiên nói xéo người ta, th́ dĩ nhiên họ oán ghét ḿnh. Đă thế th́ đâu ai thương và giúp đỡ nữa. Vậy mang tâm đố kỵ là khôn hay dại? Nhưng con người mang cái bản ngă trầm trọng, thấy thua người ta là đố kỵ, ganh ghét liền.

Chúng ta cứ nghĩ tài sản trong tay mới thực là của ḿnh, c̣n của người khác th́ không dính dáng ǵ tới ḿnh. Nhưng không phải như vậy. Anh chàng nghèo mà cả làng đều thương, ai cũng sẵn sàng giúp đỡ th́ anh cũng cảm thấy hạnh phúc an vui. C̣n người giàu mà tâm keo xẻn, ích kỷ, bo bo canh giữ sự sản của ḿnh, không ai thương hết th́ khi gặp khổ vẫn cứ khổ như thường.

Ta cứ mong cho mọi người được sung sướng, c̣n phần ḿnh không quan trọng. Lo cho mọi người, mới nh́n thấy như thiệt tḥi nhưng sự thật lo cho người tức là lo cho ḿnh. Tại sao? Bởi v́ trong xă hội, cuộc sống luôn liên đới nhau giữa ḿnh và mọi người, không thể tách rời được. Nếu mọi người được vui, được no ấm th́ ḿnh mới yên vui. C̣n mọi người khổ, chỉ một ḿnh ḿnh sung sướng th́ sao? Họ đâu có để yêân cho ḿnh, hết ŕnh ngơ trước lại ḍm ngơ sau. Chừng đó ḿnh vui hay lo sợ? Cho nên chỉ khi nào tất cả mọi người đều được ấm no hạnh phúc th́ ḿnh mới an vui.

Trong kinh nói Bồ-tát thấy chúng sanh khổ như ḿnh khổ, thấy chúng sanh vui như ḿnh vui. Cái vui khổ của mọi người là cái vui khổ của chính ḿnh, không tách rời nhau. V́ sao? V́ sự liên đới giữa ḿnh với mọi người là mối tương duyên tương sinh không thể tách rời được. Thế nhưng ở thế gian nhiều người ích kỷ, muốn tách riêng một ḿnh, không dính dáng với ai. Đó là quan niệm rất sai lầm, không hiểu biết ǵ về lư duyên sinh cả.

Phật dạy chúng ta làm cho tất cả người đều được an vui, tức là làm lành. Người đói cho họ cơm; người rách cho họ áo; người bệnh tật cho họ thuốc men v. v… Khi giúp đỡ người chính là lo cho ḿnh. Bởi v́ lo cho ḿnh là ḿnh gieo nhân tốt với mọi người nên mọi người quư mến. Gieo nhân tốt th́ mai kia mất thân này ḿnh được hưởng quả tốt. Như vậy có thiệt tḥi ǵ đâu. C̣n nếu ích kỷ, chỉ lo cho ḿnh, không biết tới người, đó mới là thiệt tḥi. V́ người ta không thương th́ ḿnh gặp khó khăn người ta không giúp đỡ. Chừng đó ḿnh sẽ khổ. Ḿnh có của, mọi người cùng có của; ḿnh khỏe vui, mọi người cùng khỏe vui. Đó là chúng ta biết làm lành. Biết làm lành tức là biết thương người. Thương người tức là thương ḿnh. Cho nên chúng ta phải cố gắng làm tất cả điều thiện.

Nhiều vị hay than thở: "Người có tiền của th́ kêu gọi ḷng từ thiện được, c̣n tôi nghèo cháy da làm sao làm từ thiện? " Đó là v́ họ không hiểu. Trong nhà Phật dạy bố thí có ba: tài thí, pháp thí và vô úy thí. Tài thí cũng chia làm hai: nội tài và ngoại tài.

Nếu ḿnh có tiền của, ai đói thiếu ḿnh giúp, đó là bố thí ngoại tài. Nếu ḿnh không có tiền của, thấy người hàng xóm bệnh, đi đứng không vững, ḿnh đến đỡ đần, dẫn họ đi, đó là bố thí nội tài. Có t́nh thương, có ḷng tốt th́ trong trường hợp nào, hoàn cảnh nào, chúng ta cũng làm việc thiện được. Thiếu t́nh thương th́ không làm việc lành, việc tốt được. Câu này Phật dạy chúng ta phải tận dụng khả năng của ḿnh làm tất cả những điều lành.

Nói cụ thể hơn, làm các điều lành là chẳng những không sát sanh, không trộm cướp, không tà dâm, không nói dối, không uống rượu; mà c̣n cứu người cứu vật, bố thí giúp đỡ người nghèo thiếu, dạy người biết sống trinh bạch, nói lời chơn thật, ḥa nhă khuyên răn nhắc nhở mọi người, khuyên con cháu xóm làng tránh uống ruợu, hút x́ ke ma túy… Đó là làm lành.

Trên đường tu mỗi ngày chúng ta mỗi ḅn mót công đức. Ḅn mót công đức là sao? Không phải tới chùa cúng dường mới có công đức. Giúp một người hàng xóm qua cơn hoạn nạn, là đă có công đức. Giúp một con vật bị hành hạ khổ sở, là đă có công đức. Công đức ở tất cả chỗ, tất cả mọi người. Hiểu như vậy chúng ta mới phát tâm làm lành một cách dễ dàng được.

Kế đến là bố thí pháp. Sao là bố thí pháp? Thí dụ như có người cờ bạc rượu chè làm cho gia đ́nh nghèo túng, trước tiên chúng ta giúp tài vật cho họ qua cơn nghèo túng. Sau đó giải thích cho họ biết những tai hại của uống rượu và cờ bạc. Dạy thật rành rơ cho họ hiểu và bỏ, như vậy gọi là pháp thí.

Trong lúc đói khát người ta không thể nghe đạo lư được. Muốn họ nghe th́ phải làm cho họ đỡ đói. Cho nên tài thí đi đầu rồi tới pháp thí theo sau. Có như vậy việc lành của chúng ta mới trọn. Nếu mỗi người trong xóm, thấy ai gặp khó khăn, khổ năo sẵn sàng giúp đỡ, th́ xóm làng đó tốt không? Nơi đó sẽ trở thành một nơi an vui, tự tại. Tất cả đều sống trong t́nh thương bảo bọc cho nhau th́ tốt đẹp biết bao nhiêu. V́ vậy Phật dạy chúng ta phải cố gắng làm tất cả điều thiện.

Câu thứ ba "tự tịnh kỳ ư" nghĩa là giữ ǵn tâm ư cho thanh tịnh. Câu này là câu then chốt. Quư vị mỗi người tự nh́n lại xem tâm ư ḿnh có thanh tịnh chưa? Hay là như những con trốt bay quanh đám rơm, cuốn bụi tứ tung. Tâm chúng ta xáo động lăng xăng, không yên ổn nên gọi là ngầu đục. V́ tâm ngầu đục nên chúng ta không sáng suốt. Không sáng suốt th́ làm sao tạo được điều tốt, điều lành. V́ vậy tất cả điều tốt lành đều do ư trong sạch phát ra. Ư nghĩ tốt, miệng nói tốt, thân làm tốt. Như vậy ư là gốc, là nền tảng của sự tu. Cho nên Phật nhắm thẳng vào gốc đó là phải ǵn giữ tâm ư cho thanh tịnh.

Muốn tâm ư thanh tịnh phải làm sao? Như người tu Tịnh độ, muốn cho tâm ư thanh tịnh phải dùng câu niệm Phật. Đi, đứng, nằm, ngồi luôn luôn niệm Phật. Niệm Phật không quên, để ư không chạy nhảy lung tung. Niệm Phật lâu ngày đă thuần thục rồi th́ tâm không c̣n lăng xăng nữa. Tâm không c̣n lăng xăng nữa là ư được thanh tịnh. Cho nên muốn tâm ư thanh tịnh th́ phải chuyên cần dùng một phương tiện nào đó để trừ dẹp những lăng xăng, lộn xộn trong tâm. Phương tiện đó gọi là pháp tu, hoặc pháp tu Tịnh độ, hoặc pháp tu Thiền.

Người tu Thiền làm sao để tâm ư thanh tịnh? Có nhiều cách, tùy theo tŕnh độ sai biệt. Nếu tu Thiền Nguyên thủy th́ dùng pháp quán Tứ Niệm Xứ. Nếu tu Thiền Đại thừa th́ quán Giả, quán Không, quán Trung đạo v. v… Nhưng có một pháp tu tôi cho rằng đó là phương thuốc trị bá bệnh. Khi dấy niệm, chúng ta biết niệm đó là vọng tưởng hư dối, liền bỏ. Niệm khác dấy lên biết là hư dối vọng tưởng, bỏ. Phương pháp này như chuyện chăn trâu vậy. Con trâu vừa nghẽo đầu qua bên tây, mục đồng sợ ăn lúa mạ của người liền giựt lại. Nó nghẽo qua bên đông cũng giựt lại. Giữ cho con trâu đừng có ngă qua, ngă lại làm hư lúa của người. Cũng vậy, tâm vừa dấy niệm chạy theo cái này, chạy theo cái nọ, ḿnh đều bỏ. Đó là vọng tưởng, không theo! Bỏ măi cho đến khi nào vọng tưởng yên lặng, gọi là thanh tịnh. Đó là tu Thiền.

Tất cả mầm gốc của bất tịnh đều do tâm chạy theo cảnh, duyên dính với cảnh. Chúng ta buông, không chạy theo cảnh nữa th́ tâm lặng. Tâm lặng tức là thanh tịnh. Phật dạy tu đến chỗ cuối cùng là phải trở về với tâm thanh tịnh ban đầu, không c̣n những ư niệm lăng xăng nữa. Bởi ư niệm lăng xăng đó không phải là tâm thật của ḿnh, nó chỉ là bóng dáng của sáu trần mà thôi.

Tôi ví dụ như mặt biển thênh thang, khi nổi sóng th́ mỗi lượn sóng khác nhau. Có lượn cao, có lượn thấp nhưng mặt biển vẫn không hai. Tâm chúng ta cũng vậy, những thứ lăng xăng đó chỉ là những lượn sóng, do tâm duyên theo bóng dáng sáu trần. C̣n tâm thể chơn thật lúc nào cũng tṛn đầy, thanh tịnh. Cho nên tu, dừng được tâm lăng xăng đó th́ thể thanh tịnh hiện tiền. Cũng như sóng nổi ầm ầm nhưng khi lặng rồi th́ mặt biển thênh thang bằng phẳng.

Chúng ta nói những lượn sóng là mặt biển được không? Không, v́ nó có giới hạn. Mặt biển th́ phải thênh thang, nên sóng không là mặt biển. Tuy nhiên sóng không rời mặt biển mà có được. Nên biết sóng không phải là mặt biển, nhưng cũng không rời mặt biển. Tâm chúng ta cũng vậy, những nghĩ suy lăng xăng không rời tâm chân thật, nhưng tâm chân thật th́ lặng yên, không giới hạn, c̣n suy nghĩ th́ có chừng mực, có giới hạn. Cái suy nghĩ không phải là tâm thật thênh thang, nhưng cũng không rời tâm thênh thang đó. Hiểu như vậy mới thấy được cội nguồn của tâm thể chân thật.

Phật dạy tu là cứu kính thoát ly sanh tử. C̣n suy nghĩ th́ c̣n rơi theo hai đường: hoặc thiện hoặc ác tức là nghiệp lành, nghiệp dữ. Nghiệp lành, nghiệp dữ sẽ dẫn chúng ta sanh cơi lành, cơi dữ. Đó là đi trong sanh tử. Nếu cả hai lành dữ, thiện ác đều lặng hết, chỉ c̣n một tâm thanh tịnh th́ chúng ta đi theo nghiệp nào? Đó là giải thoát sanh tử.

Như vậy th́ muốn giải thoát sanh tử, chúng ta phải lặng hết tất cả tâm lành dữ. Tâm lành dữ là tâm tương đối, sinh diệt, không thật. Nó lặng xuống rồi th́ tâm chân thật mới hiện bày. Tâm chân thật là tâm không sinh diệt. Sống được với tâm này mới gọi là giải thoát sanh tử. Cho nên Phật dạy phải lặng tâm ư cho trong sạch là v́ thế. Cho nên tu theo Tịnh độ th́ phải nhất tâm niệm Phật. Nhất tâm th́ không c̣n hai, không c̣n phải quấy. Như vậy là tâm lặng. C̣n nhà Thiền dạy dứt hết niệm tưởng lăng xăng, th́ chơn tâm hiển lộ. Chơn tâm hiển lộ đó là nhân giải thoát sanh tử.

Câu cuối "Thị chư Phật giáo", đây là lời dạy của tất cả chư Phật chứ không riêng ǵ đức Phật Thích Ca thôi. Chỉ một bài kệ này chúng ta khéo ứng dụng, tu đúng như vậy th́ sẽ được giải thoát sanh tử. Nếu chưa giải thoát sanh tử, th́ ít ra cũng tránh được các đường dữ, sanh trong các cơi lành. Cho nên bài kệ này thường được in trong lá phái quy y của Phật tử. Bài kệ nhắc cho quư Phật tử thấy đó là chân lư, là lẽ thật mà mười phương chư Phật đều đồng thừa nhận như vậy, chứ không riêng ǵ đức Phật Thích Ca.

Người tu Phật hiểu rơ và ứng dụng tu theo bài kệ đó, th́ từ một con người lỗi lầm sẽ trở thành con người lương thiện. Rồi từ con người lương thiện tiến lên con người thanh tịnh, giải thoát sanh tử. Như vậy trên đường tu, thăng tiến dần từ thấp tới cao, cho đến giải thoát hẳn mọi khổ đau.

Tóm lại, chúng ta tu giai đoạn đầu là bỏ ác, làm thiện. Cuối cùng thiện ác đều dẹp luôn, chỉ c̣n một tâm thanh tịnh. Đó là chỗ cứu kính. Nếu quư vị nghe nhớ ứng dụng tu th́ sẽ thấy giá trị của việc tu hành ngày càng thâm sâu, ngày càng an lạc. Mong rằng tất cả hăy nỗ lực tinh tấn tu hành, đến khi nào đạt được kết quả viên măn mới thôi.


 

NGƯỜI KHÉO TU PHẬT SẼ ĐƯỢC

B̀NH AN HẠNH PHÚC

Đề tài chúng tôi nói chuyện hôm nay là Người khéo tu Phật sẽ được b́nh an hạnh phúc. Với đề tài này chúng tôi chia ra làm hai phần: Một, người Phật tử khéo tu hay Tăng Ni khéo tu Phật sẽ được b́nh an và hạnh phúc qua sự ǵn giữ giới luật của Phật dạy. Hai, chúng ta tu Phật được b́nh an và hạnh phúc qua trí tuệ Phật chỉ dạy.

Trước hết tôi nói về phần giới luật. Các Phật tử khi quy y Tam bảo rồi đều nguyện giữ năm giới, tức là năm điều răn cấm của đức Phật. V́ đức Phật thấy tường tận những nguyên nhân gây ra đau khổ cho con người, nên Ngài chỉ bảo các hàng đệ tử phát tâm tu theo, để tránh quả đau khổ do mỗi người vô t́nh hay cố ư tạo nên. V́ vậy Ngài có năm điều răn cấm.

Người ta hay đặt vấn đề: Tại sao đạo Phật là đạo giác ngộ, đạo tự do mà phải giữ giới luật. Đă giữ giới luật tức là có sự ràng buộc. Như vậy là mất tự do rồi.

Thật sự không phải thế, mà chính nhờ giữ giới luật nên chúng ta mới được tự do.

Tôi thí dụ, Phật tử khi ra đường, nhất là các cháu thanh niên cỡi xe Honda, nếu không giữ luật lệ th́ sẽ tông vào nhau rồi chết chùm phải không? Như vậy, muốn tránh tai nạn giao thông người đi đường phải biết giữ luật đi đường. Nhờ thế mọi người mới không tông vào nhau, không làm khổ cho nhau. Ngược lại, nếu không có luật lệ th́ chúng ta sẽ gây ra tai họa làm khổ cho ḿnh, cho người. Như vậy giữ luật đi đường là bó buộc hay tôn trọng tự do? Nếu cho đó là bó buộc không muốn giữ th́ người đi đường xảy ra tai nạn nhiều, nên điều này chúng ta cần phải chiêm nghiệm lại.

Cũng vậy, người tu Phật nếu không có giới luật th́ sẽ buông lung phóng túng và dẫn đến những việc làm trái đạo lư, tu hành không tới đâu. Phật v́ ḷng từ bi muốn cho hàng đệ tử từ tại gia cho đến xuất gia, ai ai cũng có một khuôn khổ, một lối đi đúng đắn, không bị dẫm đạp lên nhau, không bị đụng chạm lẫn nhau, v́ vậy Ngài chế ra giới luật.

Giới luật là nền tảng của đạo đức, giới luật cũng là con đường đưa tới sự an lạc giải thoát, nếu không có giới luật th́ khó mong được giải thoát. Chúng ta đều biết năm giới là giới luật đầu tiên của hàng Phật tử tại gia:

1. Không được sát sanh

2. Không được trộm cướp

3. Không được tà dâm

4. Không được nói dối

5. Không được uống rượu mạnh, không hút á phiện, x́ ke, ma túy, các chất say nghiện v. v…

Nếu người Phật tử phạm giới sát sanh, sát sanh đây là giết người th́ kẻ ấy có được b́nh an không? Nhất định là không. Mà không b́nh an th́ cuộc đời cũng không có hạnh phúc. Do đó muốn đời tu của chúng ta được b́nh an th́ phải giữ giới không sát sanh. Giữ giới như thế không những bản thân chúng ta được b́nh an mà mọi người chung quanh cũng được b́nh an. Ngược lại cứ sát phạt nhau th́ cuộc sống sẽ hỗn độn, tang tóc. Do đó v́ sự b́nh an và hạnh phúc của gia đ́nh ḿnh và mọi người nên chúng ta giữ giới không sát sanh. Đó là giới thứ nhất.

Giới thứ hai, không được trộm cướp. Một người khi đă ăn trộm, ăn cướp của kẻ khác th́ người đó có b́nh an không? Dĩ nhiên là không. Họ phải nghĩ, phải lo, phải sợ v́ ngày nào đó họ sẽ bị phát giác, rồi phải bị tù v. v… Trong ḷng người đó lúc nào cũng bất an. Mà đă bất an th́ không có hạnh phúc. Người ta cứ ngỡ rằng làm có nhiều tiền, nhiều của là hạnh phúc, nhưng mấy tên ăn trộm, ăn cướp được nhiều tiền nhiều của có hạnh phúc không? Hay cứ trốn chui trốn nhủi, rày đây mai đó, lẩn tránh công an, cảnh sát. Như vậy làm sao b́nh an, làm sao hạnh phúc được. Cho nên nếu người Phật tử phạm giới trộm cướp rồi th́ sẽ bất an, không có hạnh phúc. Như vậy giữ giới không trộm cướp là bảo vệ đời ḿnh được b́nh an và hạnh phúc. Đó là giới thứ hai.

Giới thứ ba, không được tà dâm. Nghĩa là người Phật tử sau khi có gia đ́nh, có chồng vợ rồi, không được ngoại t́nh với kẻ khác. Nếu ngoại t́nh với kẻ khác là phạm tội tà dâm. Quư Phật tử hoặc là chồng hoặc là vợ đă quy y giữ năm giới mà c̣n ngoại t́nh với kẻ khác th́ gia đ́nh có an ổn không? Hay đó là nguyên nhân dẫn đến gia đ́nh tan nát. Đă làm cho gia đ́nh tan nát th́ bản thân người phạm giới bất an và cả gia đ́nh cũng bất an theo. Đó là một nỗi khổ lớn.

Như vậy người Phật tử giữ ǵn giới không tà dâm th́ gia đ́nh b́nh an, hạnh phúc. Do đó chúng ta thấy giữ giới không tà dâm là bảo vệ hạnh phúc cho gia đ́nh chớ không phải chuyện thường. Nếu xét kỹ, ngày nay giữ giới không tà dâm c̣n tránh được tai họa của căn bệnh Sida nữa. Sở dĩ con người bệnh tật khổ đau là cũng tại lôi thôi mới sanh chuyện như vậy. Rơ ràng nhờ giữ giới mà chúng ta có được sự b́nh an chân thật và gia đ́nh cũng được hạnh phúc an vui.

Giới thứ tư là giới không nói dối. Nói dối ở đây tôi chỉ hạn cuộc trong ba nguyên nhân:

1 - V́ tham nên nói dối để lừa đảo, gạt gẫm người mưu lợi cho ḿnh, gây hại cho người.

2 - V́ ḷng nóng giận, nói để người bực tức.

3 - V́ hiểm độc nên nói dối để vu oan, cho người phạm luật này, tội kia v. v…

Kẻ dối gạt như vậy trong ḷng có b́nh an không? Chúng ta dối gạt th́ sớm chầy ǵ người cũng biết sự gian dối của ḿnh. Tuy là dối gạt được, lấy của người đem về cho ḿnh nhưng trong ḷng chúng ta luôn bất an. Đă bất an th́ làm sao có hạnh phúc.

V́ thế người tu phải giữ không nói dối để khỏi phải ray rứt trong ḷng, tâm được b́nh an. Tâm được b́nh an th́ mới vui tươi hạnh phúc. Nên những người điêu ngoa, xảo trá lừa bịp thiên hạ, tuy thấy như giàu sang, tiền của nhiều nhưng không yên ổn, bởi v́ chưa biết ngày nào họ sẽ vô khám. Đó là tai họa đối với người lường gạt của cải.

Người hay nói dối c̣n có thêm một tai họa này nữa. Khi kẻ gian dối nói không thật, lần đầu người ta tin nhưng sau đó người ta biết ḿnh nói dối th́ những lần sau không ai tin nữa cả. Đến khi chúng ta có nói thật người ta vẫn không tin. Như vậy chúng ta đă đánh mất ḷng tin của người. Đă mất ḷng tin của mọi người th́ cuộc sống của chúng ta bị lạc lơng như người đi trong sa mạc. Bởi v́ ta nói không ai tin hết, thành ra không ai thông cảm với ta. Cho nên nói dối là tạo sự bất an ở ḷng ḿnh và mọi người. Từ đó người xa lánh ḿnh và ḿnh trở thành cô độc. Đó là tai họa từ lời nói dối mà ra. Thế nên, Phật tử chúng ta giữ giới không nói dối là để bảo vệ tâm hồn của ḿnh được b́nh an, cuộc sống được yên ổn, vui tươi hạnh phúc, chớ đâu phải ràng buộc.

Giới thứ năm, không được uống rượu. Bởi v́ người uống rượu say th́ không c̣n thông minh, trí tuệ mờ tối, giống như người điên. Chúng ta thấy những kẻ uống rượu say đi ra đường bị mấy đứa trẻ trêu cười. V́ họ không c̣n tư cách của một người lớn sáng suốt, nói bậy nói bạ, đi không vững, làm tṛ hề cho trẻ con th́ c̣n giá trị ǵ của một con người nữa.

Hơn nữa, khi đă say sưa rồi th́ điều không nên nói lại nói, điều không nên làm lại làm, mất hết tư cách một con người. Kẻ ấy khi hết say được bạn bè nhắc lại hành động, ngôn ngữ sái quấy trước th́ trong ḷng bất an, hối hận. Đó là nói trường hợp nhỏ, chưa xảy ra chuyện ǵ lớn mà đă bị lương tâm cắn rứt rồi.

Thời nay lại có những người thích làm ông tiên con, hút á phiện để được dạo chơi trong cảnh phiêu diêu hư ảo. Khi có tiền hút th́ thảnh thơi, lúc hết tiền th́ khổ sở, vất vưởng. Việc làm đó vừa tạo khổ cho ḿnh, tạo khổ cho gia đ́nh và tạo khổ cho xă hội nữa. Ai đă rơi vào con đường x́ ke, ma túy rồi th́ họ sống trong nỗi bất an lớn. Chẳng những bất an mà c̣n tiều tụy, chết lần chết ṃn nữa.

Như vậy người Phật tử phát nguyện giữ giới không uống rượu mạnh, không uống say, không hút á phiện, x́ ke, ma túy, chính là tự bảo vệ cho ḿnh được b́nh an, cho gia đ́nh được hạnh phúc.

Năm giới tôi vừa kể qua là giới của Phật tử tại gia. Phật v́ thương xót chúng ta, muốn đệ tử của Ngài được b́nh an, hạnh phúc nên chế giới, chớ không chế giới để chúng ta bị hạn cuộc trong khuôn khổ và mất tự do. Thế nên Phật tử phải hiểu rơ giữ giới là để được an lành thảnh thơi. Đó là mục đích chính của Phật.

Do đó giữ năm giới là bước đầu để Phật tử tiến lên. Thêm một bước nữa, người Phật tử khi đă giữ năm giới trong sạch rồi, muốn tiến lên th́ phải giữ thêm mười giới, tức là thập thiện. Thập thiện là mười điều lành, giúp người Phật tử được an vui hơn, tự tại hơn trong đời này và đời sau. Mười điều lành đó gồm:

Thân có ba điều:

1. Không sát sanh

2. Không trộm cướp

3. Không tà dâm

Miệng có bốn điều:

1. Không nói dối

2. Không nói hai lưỡi (có thể dùng từ bây giờ là không nói ly gián)

3. Không nói lời hung ác

4. Không nói lời thêu dệt

Ư có ba điều:

1. Bớt tham

2. Bớt sân

3. Bớt si (có chỗ nói bớt tà kiến)

Tôi nói bớt thôi chớ chưa sạch nổi.

Đó là mười giới của hàng cư sĩ. Sau khi tu năm giới thấy được b́nh an, hạnh phúc th́ phải tu tiến lên thập thiện, giữ mười giới. Các giới về thân, miệng, quư Phật tử đă tạm hiểu rồi. Ở đây tôi nói về ư: Bớt tham, bớt sân, bớt si.

Chúng ta thử kiểm lại xem, một ngựi tham lam làm cái ǵ cũng muốn được lợi nhiều hơn thiên hạ. Như vậy ḷng người đó có b́nh an không? Bởi muốn hơn, muốn nhiều nên phải tính toán nhiều. Mà tính toán nhiều th́ lao lực bất an. Đó là cảnh thuận, nếu gặp nghịch duyên v́ tham lợi nhiều nhưng bị thất bại th́ càng bất an hơn. Đó là những người lương thiện, ham mê chuyện làm ăn. C̣n kẻ tham lam gian lận th́ đă hiện rơ cho chúng ta thấy qua mấy vụ án gần đây của các nhà giám đốc ở thành phố đó. Làm giám đốc, nhà lầu xe hơi bóng lộn nhưng rồi kết thúc bị ngồi tù, không biết vợ con sẽ ra sao! Như vậy, do ḷng tham quá đáng nên đưa đến kết quả khổ cũng quá nhiều. Thế nên đệ tử Phật phải hạn chế bớt ḷng tham.

Trong nhà Phật luôn nhắc đến câu: "Người biết tu hành phải biết thiểu dục tri túc". Nghĩa là ít muốn và biết đủ. Trong kinh nói rơ: "Tri túc chi nhơn, tuy ngọa địa thượng, vi du an lạc. Bất tri túc chi nhơn, tuy xử thiên đường diệc bất xứng ư". Nghĩa là người biết tri túc dù nằm trên băi cỏ cũng vẫn thấy vui vẻ. C̣n người không biết tri túc dù được lên thiên đường ở với trời Đế Thích cũng vẫn không vừa ư.

Rơ ràng Phật dạy chúng ta sống thiểu dục tri túc, bởi v́ chúng sinh ở thế gian luôn luôn bị thân năm ấm xúi giục đ̣i hỏi đủ thứ. Như cái lưỡi chúng ta cứ ăn rau muống luộc chấm nước tương hoài th́ chán lắm, nên lâu lâu phải có đậu hủ mới được. Đó là trong chùa, c̣n quư Phật tử ở ngoài đời cứ ăn cá kho quẹt hoài, chịu không? Phải có cá chiên này nọ nữa. Như vậy khi cái lưỡi đ̣i hỏi, chúng ta chiều nó th́ được cái này nó đ̣i cái khác, cứ đ̣i thêm hoài không cùng.

Lỗ mũi cũng vậy, thích những mùi thơm. Nhưng một mùi thơm ngửi hoài cũng chán, muốn t́m mùi thơm khác. Do đó người ta chế đủ thứ nước hoa mà có thỏa ḷng thiên hạ đâu. Bởi ḷng tham không có đáy. Đến con mắt, ưa thích những thứ đẹp. Đẹp nhiều thứ, đẹp của đồ đạc vật dụng hoặc là sắc đẹp của con người. Nếu chiều nó th́ sao? Đồ đạc sắm đầy nhà cũng chưa vừa ư. Bởi v́ thế gian đâu có dừng, cái này qua rồi liền chế cái khác đẹp hơn, th́ chừng nào chúng ta mới thỏa măn sự đ̣i hỏi của con mắt.

Như vậy rơ ràng mắt, tai, mũi, lưỡi, thân đ̣i hỏi đủ thứ chuyện, nếu chúng ta chiều nó hoài th́ chừng nào mới chịu dừng? Suốt đời cũng không có ngày dừng. Thế nên muốn được b́nh an chúng ta phải hạn chế bằng cách tiết dục hay thiểu dục. Phật dạy chúng ta thiểu dục tri túc để quân b́nh tạm đủ cho cuộc sống, không đ̣i hỏi quá đáng. Chính sự đ̣i hỏi quá đáng đó đưa đến bất an.

Giả sử có người con mắt thích vật ǵ liền được, lỗ tai thích tiếng hay liền được, rồi mũi, lưỡi, thân thích ǵ được nấy th́ người đó có sống được bảy, tám mươi tuổi không? Tôi đọc sử thấy vua chúa hồi xưa t́m một người sống được năm mươi tuổi cũng khó, đừng nói tới bảy, tám mươi tuổi. Tại thụ hưởng nhiều thứ quá, mà càng nhiều vật chất th́ càng sanh bệnh. Cụ thể như thời đại của chúng ta ngày nay, ai thích ăn ngon, ăn nhiều th́ bị huyết áp cao hoặc là tiểu đường v. v… Như vậy rốt cuộc hưởng thụ nhiều chỉ đưa tới kết quả không tốt thôi. Cho nên sống càng đơn giản càng tốt.

Khi tôi ra Bắc, gặp các cụ già ngoài ấy, có cụ đă hơn bảy mươi tuổi mà leo núi Yên Tử như bay. Trong khi các vị miền Nam leo núi, người nào người nấy thở hào hển, có khi không nổi nữa, phải nhờ người khác bê phụ mới lên được. Như vậy rơ ràng được ưu đăi nhiều thức ăn ngon sẽ đưa đến hậu quả thân béo ph́, nặng nề, nhiều bệnh hoạn. C̣n phần nhiều các cụ ngoài Bắc ở quê sống rất đạm bạc, nên người mảnh khảnh nhẹ nhàng, rất khỏe và dẻo dai. Chúng ta thử tưởng tượng một cụ già bảy, tám mươi tuổi mà nặng tám, chín chục kư sẽ khổ như thế nào. Chẳng những khổ cho bản thân ḿnh mà c̣n khổ lây cho những người chung quanh nữa. Với một trọng lượng như vậy mà ngă bệnh th́ không ai đỡ nổi. Thật là khổ.

Như vậy, không phải được hưởng thụ, được thỏa măn nhiều là tốt mà chúng ta phải biết điều ḥa, biết tiết dục th́ cuộc sống mới an lành. Cho nên đối với ngũ dục, càng tham càng khổ, càng nhiều phiền hà. Người nào ít tham tức là thiểu dục th́ người đó nhẹ nhàng, khỏe khoắn b́nh an. Đó là hạnh phúc.

Đến phần sân, tức là nóng giận. Một khi cơn nóng giận nổi lên rồi th́ sau đó phải ăn năn hối hận. Phật tử ở gia đ́nh hay ra đường gặp việc ǵ trái ư nổi sân lên, rồi căi vă đánh đập nhau. Như vậy có b́nh an không hay là bất an? Ở gia đ́nh căi vă đánh đập nhau bất an, ra đường căi vă đánh đập nhau cũng bất an. Như vậy người nào sân nhiều th́ bất an nhiều, càng mất hạnh phúc, càng bất hạnh.

Giới tu sĩ cũng vậy, trong kinh Phật dạy: "Người tu mà c̣n nóng giận th́ chẳng khác nào bầu trời xanh có sấm chớp". Người thế gian v́ tham lam ngũ dục, nếu tham lam được th́ họ tham thêm, tham lam không được th́ nổi sân. C̣n người xuất gia đă chán chê ngũ dục vào chùa tu th́ đâu c̣n ḷng tham lam. Như vậy tại sao lại nổi sân? Không có lư do ǵ mà nổi sân th́ cũng giống như trời trong mà nổi sấm chớp vậy. Đó là hiện tượng bất thường, v́ vậy người tu không có quyền sân. Tham lam dụ như mây đen, mây đen nên có sấm chớp. Thế gian có tham lam ví như trời có mây đen, tham không được nổi sân lên th́ có sấm chớp. Người tu không c̣n tham lam ngũ dục tức không có mây đen mà lại hiện sấm chớp, không phải hiện tượng bất thường là ǵ? Nên người tu càng phải dè dặt.

Tôi có nghe người ta dùng danh từ "thầy chùa lửa" để chỉ những vị Tăng nóng nảy, hay sân giận. Thầy chùa lửa v́ động tới liền la oác oác. Người tu mà để cho thiên hạ gọi như vậy có tốt không, có thể dạy đệ tử được không? Nếu đệ tử nổi sân mà ḿnh là lửa th́ làm sao dạy cho nó nguội được. V́ vậy mấy huynh đệ c̣n trẻ ráng tu, giữ ǵn đừng để sân hận nổi lên. Đó là một hiện tượng bất thường của giới tu sĩ chúng ta vậy.

Dù Phật tử tại gia hay xuất gia phải giảm sân hận, không cho nó tăng trưởng. Tu như vậy mới đi tới chỗ an lành tự tại. Trong nhà Phật có câu "Tăng hận bất cách túc", nghĩa là Tăng giận không quá một đêm. Chúng ta có giận nhưng giận ít thôi, phải mau hết. Người thế gian giận từ cha tới con. V́ cha giận nên xúi con giận theo để báo thù. C̣n người tu có ǵ trái ư lắm chỉ giận một chút thôi, ngủ qua đêm sáng dậy liền hết. Theo tôi giận một đêm cũng quá rồi, đừng giận càng hay.

Tôi nhắc lại một lần nữa, chúng ta tu càng hạn chế sự nóng giận trong nội tâm th́ càng hay, càng tốt. Càng hạn chế nó tức là càng bảo vệ cho ḿnh được b́nh an, hạnh phúc. Ngược lại, không hạn chế sân hận th́ tạo nhân đau khổ cho ḿnh, cho mọi người. Đó là điều thứ hai.

Thứ ba là si mê, trong Thập thiện nói không tà kiến. Tà kiến tức là một nhân của si mê, v́ dạy cho Phật tử nên nói không tà kiến. Đối với hàng xuất gia là bớt si. Si là ǵ? Si là mê muội. Mê muội đó nguy hiểm như thế nào? Lâu nay chúng ta quen đọc theo chữ Hán là tham, sân, si. Với cái nh́n của tôi th́ phải đảo ngược lại là si, tham, sân. Người có học đạo lư sẽ thấy điều này rất rơ.

Ví như thân này duyên hợp hư giả, vô thường tạm bợ, nhưng chúng ta cứ ngỡ thân ḿnh là thật. Nghĩ như vậy tức là si! Si tức là ngu, nhưng có ai nói anh hay chị ngu liền nổi giận. Rơ ràng chúng ta không thấy đúng lẽ thật, ngu mà chúng ta không chịu ngu. Đó là si lại thêm si.

Người thế gian si mê thật đáng thương. Cha mẹ tắt thở, ra tiệm mua cái ḥm nhưng có ai hỏi anh hay chị đi đâu đó th́ đáp tôi đi nhắc cái thọ cho ba tôi hay mẹ tôi. Thọ là sao? Thọ là sống dai. Đă tắt thở đi mua ḥm mà lại nói sống dai. Để thấy chúng ta ngu tới cỡ nào, thật là si mê đáo để!

Thêm một điều tệ nữa. Cha mẹ chết liền đến thầy đồ coi ngày, coi giờ. Họ nói ông bà đi nhằm ngày trùng, bảo con cháu phải hoăn lại năm bảy ngày, đừng chôn, gặp ngày trùng sợ trong nhà có người chết theo. Điều này tôi phản đối kịch liệt. Tại sao cha mẹ khi c̣n khỏe mạnh, đi đâu con cái cũng đ̣i đi theo. Nhưng khi cha mẹ chết, cả gia đ́nh mấy chục người mà nghe nói nhằm ngày trùng có thể có người chết theo, liền không chịu chôn.

Thêm một việc tàn nhẫn nữa là xin thầy dán bùa chú, cấm cha mẹ không được về nhà, sợ về sẽ dẫn thêm người. Nếu thần thức cha mẹ c̣n lang thang, quanh quẩn đâu đó sẽ buồn tức biết mấy. Con cái ǵ mà bất hiếu lạ! Cha mẹ chết là tại hết duyên nên phải đi, đâu phải tại ngày giờ mà con cái cấm không cho về. Chúng ta thấy có tàn nhẫn quá không? Chính v́ si mê đó mà con người đối xử với nhau quá tàn nhẫn, không chút thương xót. Đă yếm bùa chú không cho về, rồi ba ngày sau mở cửa mả. Mở cửa mả đi đâu? Thật là ích kỷ. Từ si mê sanh ra ích kỷ, tàn nhẫn đủ cả.

Việc này riêng đối với tôi đă thử nghiệm qua rồi. Bởi v́ thầy chúng tôi là Ḥa thượng Viện trưởng mất ngày 20 tháng Chạp và Giáo hội định ngày 25 tháng Chạp th́ thiêu. Lúc đó có một ông thầy coi ngày nói 25 tháng Chạp là ngày trùng. Nếu thiêu Ḥa thượng th́ một là anh em trong gia đ́nh phải chết, hai là đệ tử phải chết. Nghe vậy Giáo hội lúng túng không biết giải quyết thế nào, liền gọi tôi lên v́ tôi là trưởng tử.

Quư Ngài kể lại sự việc và hỏi tôi: "Bây giờ Thanh Từ nghĩ sao? ". Tôi thưa:

- Xin phép quư Ḥa thượng cho con đi thỉnh ư Sư bác và Sư cô của con xem sao.

Tôi xuống gặp Ḥa thượng trụ tŕ chùa Phật Quang là anh ruột của Thầy tôi và thưa:

- Bạch thầy! Ngày mai thiêu Thầy con nhằm ngày trùng. Thầy coi ngày bảo có thể trong gia quyến có người bị chết. Thưa thầy, vậy Thầy có sợ chết không?

Ngài nói rằng:

- Tôi muốn chết thế cho Thầy ông đó mà chết không được, tại sao tôi lại sợ chết.

Tôi yên ḷng t́m tới Sư bà Bảo An là chị của Thầy tôi và thưa:

- Thưa Sư bà! Ngày mai là ngày trùng, nếu thiêu Thầy con th́ trong gia quyến có người chết hoặc đệ tử phải chết, vậy Sư bà có sợ chết không?

Sư bà nói:

- Tôi già rồi, không sợ chết ǵ hết, chừng nào chết cũng được.

Tôi rất mừng. Như vậy Sư bà, Ḥa thượng Phật Quang là hai vị chị em ruột trong thân quyến không sợ chết, c̣n tôi là đệ tử lớn cũng không sợ chết. Do đó tôi quyết định tŕnh với Giáo hội ngày 25 tháng Chạp thiêu. Vậy mà có thấy ai chết đâu. Chúng ta v́ si mê cố chấp, sợ chết mà có ai khỏi chết đâu. Tất cả quư vị có mặt đây, người nào không chết? Ai cũng chết hết th́ sợ cái ǵ. Đâu phải việc chỉ riêng ḿnh chịu, ai cũng phải tới. Việc đến th́ cứ cười mà đi, có ǵ đâu phải sợ. Bởi v́ đó là con đường tất yếu ai cũng phải qua cả.

Nên tôi nói nếu người thân của ḿnh chết nhằm ngày trùng th́ chúng ta nên mừng khi được chôn ngày đó. Nhờ thế mà gia đ́nh được sum họp, cha đi rồi mẹ đi, con cái cũng đi theo hết, như vậy càng vui chớ sao. C̣n để một người đi bơ vơ, bao nhiêu người ở lại cứ khóc, có vui ǵ! Như vậy ngày trùng càng tốt, không có ǵ xấu hết. Người gan một chút sẽ nói thế. Sợ chết là si mê v́ ai cũng phải chết th́ sợ làm chi.

Nếu chúng ta thấy được lẽ thật, chúng ta không bị những si mê ám ảnh làm những điều không đúng lẽ thật, cư xử với nhau không c̣n t́nh nghĩa nữa. Đó là tôi nói về si mê. Người tu cần phải dè dặt hạn chế cho ư bớt tham, bớt sân, bớt si.

Bây giờ trở lại việc người giữ năm giới trong sạch, khi chết sẽ về đâu. Về điểm này Phật giáo có chia ngũ thừa:

1. Nhân thừa

2. Thiên thừa

3. Thanh văn thừa

4. Duyên giác thừa

5. Bồ-tát thừa

Nếu giữ tṛn năm giới là tu Nhân thừa. Do tu Nhân thừa nên đời này làm người, đời sau chết trở lại làm người tốt hơn nữa. Như vậy không có ǵ sợ sệt. Chiếc xe cũ hư, chúng ta bỏ sắm chiếc xe mới tốt hơn. Lúc sống b́nh an, khi ra đi cũng b́nh an. Đó là điều quư báu của sự tu.

Nếu tiến hơn nữa Phật tử tu thập thiện, giữ thân, miệng, ư thanh tịnh như đă nói. Thân không làm ba việc ác, miệng không nói lời xấu, ư bớt tham sân si, người đó chết sẽ sanh về cơi trời Lục dục thiên, cao hơn cơi người một bậc. Như vậy người tu giữ giới của Phật, khi sống được b́nh an hạnh phúc, lúc chết hoặc trở lại làm người tốt hơn hoặc sanh lên cơi trời rất vui sướng. Thế có phải là chúng ta tạo dựng hạnh phúc cho ḿnh trong đời này và cả đời sau nữa không? Vậy mà không chịu tu th́ không biết nói sao.

Tu để được hạnh phúc trong đời này và tiếp những đời sau. Đó là chúng ta khôn ngoan thấy xa, làm được lợi ích cho ḿnh, cho người. C̣n tu mà chẳng biết ra sao ở ngày mai th́ không phải là người sáng suốt. Đó là tôi nói giới luật giúp cho con người được b́nh an hạnh phúc trong hiện đời và mai sau.

Đến phần thứ hai là trí tuệ giúp cho b́nh an hạnh phúc. Đạo Phật chủ trương tu là phải mở con mắt trí tuệ. V́ con mắt trí tuệ sáng th́ đau khổ mới dừng. Nếu mắt trí tuệ không sáng th́ chúng ta khó diệt hết mầm đau khổ.

Chúng ta luôn ảo tưởng rằng ḿnh là người khôn ngoan, sáng suốt, thông hiểu tất cả. V́ ảo tưởng như thế nên khi bị người ta nói anh hay chị ngu th́ nổi nóng lên liền. Từ đó rồi sanh sự căi vă đủ thứ chuyện. Như vậy chúng ta thật khôn hay ngu. Lẽ ra khi nghe nói anh hay chị ngu, Phật tử chúng ta phải trả lời rằng: "Thưa vâng, tôi rất là ngu. Bởi v́ trên nhân gian này muôn ngàn việc mà tôi chỉ biết có chút ít thôi, làm sao dám nhận ḿnh khôn được".

Người xưa nói càng học càng thấy dốt. Càng học lẽ ra càng thông minh sao lại càng thấy dốt? V́ trên thế gian có muôn ngàn ức việc nhưng chúng ta chỉ biết một phần nhỏ xíu. Như vậy không dốt là ǵ? Biết ḿnh ngu và nhận ḿnh ngu th́ có ai giận đâu. Đằng này ngu mà không chịu ngu, cứ tưởng ḿnh khôn th́ có thật khôn không? Ví như người giỏi về Anh văn nhưng các sinh ngữ khác như Trung Hoa hay Nhật Bản v. v… th́ không biết. Như vậy người ấy cũng chỉ khôn một phần nhỏ thôi, đâu phải là thật khôn. Biết chỉ một phần trong muôn triệu phần, làm sao gọi là khôn được.

Do đó ai muốn dành khôn là đă ngu rồi. C̣n người ngu mà biết ḿnh ngu th́ chưa phải thật ngu.

Ḿnh ngu biết ḿnh ngu là biết bằng trí tuệ, thấy đúng lẽ thật chớ không phải tưởng tượng. C̣n kẻ ngu mà nghĩ ḿnh khôn là tưởng tượng chớ không phải lẽ thật. Như có người nói chúng ta là con ḅ hay con gà, con vịt đều đúng cả, không có ǵ nhục. Bởi v́ tất cả những thứ đó đều có trong quư vị hết.

Như quư Thầy, quư cô tu, nếu có người nói thầy là cọng cỏ. "Thưa phải, v́ tôi ăn rau". Có ǵ đâu mà nhục. Lời lẽ thế gian cho rằng nói như vậy là làm ḿnh nhục, nhưng biết được lẽ thật th́ không có ǵ nhục cả. Như tôi ở Đà Lạt, trên rừng thông, nếu ai nói rằng thầy là cây thông. Tôi gật đầu ngay: "Phải, tôi là cây thông. V́ ban đêm rừng thông nhả oxy ra, tôi hít vô nên tôi có dự phần trong đó rồi".

Về điểm này với cặp mắt khoa học, người ta thấy ḿnh với môi trường sống không tách rời nhau mà c̣n liên hệ chặt chẽ với nhau nữa là khác. Do đó chúng ta phải dùng trí tuệ để thấy rơ, đừng mang ảo tưởng sai lầm. Ảo tưởng sai lầm là si mê, dùng trí tuệ soi tỏ si mê. Hết si mê th́ hết đau khổ. Thế thôi, không có ǵ quan trọng cả. Lẽ thực trong cuộc sống là vậy.

Sở dĩ chúng ta cho người này sang, kẻ kia hèn là v́ kiến chấp. Thấy người ăn mặc đẹp, ở nhà cao th́ cho là sang, người ăn mặc xấu, ở nhà thấp th́ cho là hèn. Đó là tưởng tượng chớ không có sự thật. Chỉ những người mê muội đáng thương là người hèn, c̣n người có trí tuệ sáng suốt là người đáng quư.

Như vậy quư hay hèn tùy theo trí tuệ. H́nh dáng bên ngoài không thể đánh giá được lẽ thật. Lẽ thật phải được thể hiện bên trong con người có trí tuệ. Chúng ta hiểu đạo lư rồi th́ thấy thân này Phật dạy là cái đăy da hôi thối, nên ai chê ḿnh hôi thối th́ chúng ta cũng vẫn vui v́ họ nói đúng. "Dạ có như thật". Nên người thấy đúng lẽ thật là người luôn b́nh an. Sở dĩ chúng sanh đau khổ là v́ sống trong ảo tưởng, trong si mê. Họ cứ đ̣i hỏi, khen chê, muốn được cái này, cái nọ nên rồi khổ, v́ vậy mà bất an.

Tóm lại muốn được b́nh an hạnh phúc th́ chúng ta phải khéo tu Phật bằng hai cách, giữ giới chúng ta đă thọ và mở sáng con mắt trí tuệ, thấy đúng như thật. Ngược lại là bất hạnh. V́ chúng ta không khéo tu nên đến với đạo mà than khổ đủ thứ. Nếu Phật tử tu đúng pháp th́ ở trong đạo càng lâu càng an lạc, càng hạnh phúc, chớ không có buồn khổ.

Mong tất cả Phật tử cũng như Tăng Ni qua những ǵ tôi tŕnh bày, quư vị chiêm nghiệm cho kỹ. Nếu thấy đúng th́ cố gắng thực hành và sống cho được như vậy th́ chắc chắn quư vị sẽ được b́nh an hạnh phúc.


 

BỎ TẤT CẢ LÀ ĐƯỢC TẤT CẢ

Giảng tại Chùa Dược Sư

TP. HCM 07-2000.

Hôm nay tôi sẽ giảng về đề tài "Bỏ tất cả là được tất cả". Nhưng để làm rơ hơn ư nghĩa của đề tài này, tôi sẽ nói phản đề lại "Được tất cả là mất tất cả" để quí vị dễ đối chiếu.

Tại sao "Được tất cả là mất tất cả"? Hiện giờ chúng ta thấy ở thế gian, có người muốn ǵ, làm ǵ đều được thành công. Muốn tạo được cái nhà liền được cái nhà, muốn có chiếc xe hơi liền được chiếc xe hơi, muốn có danh vọng liền được danh vọng, muốn có tài sản liền được tài sản. Tóm lại muốn ǵ được nấy. Tuy nhiên như thế, nhưng đến khi hết duyên nhắm mắt ra đi, th́ tất cả những ǵ ḿnh được đó có c̣n không? Mất hết. Vậy th́ được tất cả rồi sẽ mất tất cả, chớ không có ǵ c̣n măi với ḿnh. Người đời ước ao mong mỏi những ǵ ḿnh muốn đều được toại nguyện, đó là hạnh phúc. Nhưng thực ra được bao nhiêu đi nữa, cuối cùng rồi cũng ra đi với hai bàn tay trắng. Tất cả những ǵ cả đời ḿnh cố công tạo dựng đều để lại cho thế gian, vậy th́ được đó chính là mất. Cho nên người biết tu, thức tỉnh thấy rơ cuộc đời như vậy.

Người xuất gia tu hành, có nghĩa là xả phú cầu bần, xả thân cầu đạo. Xả tức là bỏ hết. Bỏ hết những giàu sang ở đời, bỏ cả thân mạng này để cầu đạo. Đă bỏ cả giàu sang, quên cả thân mạng th́ có ǵ mà bỏ không được? Thân mạng c̣n không tiếc th́ cái ǵ đáng tiếc hơn? Vậy mà có khi gặp những việc nhỏ lại xả không được. Đó là chưa thực hiện được đúng với bản nguyện của ḿnh.

Tôi nói bỏ tất cả sẽ được tất cả là sao? Chúng ta đọc lịch sử biết rơ đức Phật là con nhà vương giả, Ngài đi tu bỏ lại tất cả ngôi vị, quyền tước, tài sản, sự nghiệp, đất nước v. v… chỉ c̣n chiếc áo cẩm bào trên ḿnh. Nhưng cuối cùng Ngài cũng cởi ra, đổi lấy chiếc áo thợ săn để vào rừng tầm sư học đạo. Như vậy tất cả danh vọng sự nghiệp thế gian, cho tới cha mẹ vợ con Ngài đều xả tất cả. Ngài chỉ đem theo chí nguyện xuất gia, cầu đạo giải thoát thôi. Đó là xả phú cầu bần đó.

Kế đó, đức Phật xả đến thân. Sáu năm tu khổ hạnh, Ngài ăn uống đơn giản, một ngày chỉ chút ít mè, chút ít đậu cho tới kiệt sức ngất xỉu. Trong kinh A-hàm diễn tả lúc đó thân Phật chỉ có xương sườn, không c̣n chút da thịt nào cả. Đối với thân Ngài không c̣n một chút luyến tiếc, không một chút yêu quí, miễn sao t́m được đạo giải thoát th́ thôi. Đó là tinh thần xả thân cầu đạo của người quyết chí tu hành.

Rơ ràng đối với hai thứ xả đó, đức Thích Ca đă thực hành hết rồi. Trước là xả phú cầu bần, kế là xả thân cầu đạo. Chúng ta bây giờ có xả được không? Xả chừng bao nhiêu? Đó là câu hỏi mà mỗi người phải tự đặt ra, rồi kiểm nghiệm lại ḿnh để thấy ḿnh làm được tới đâu.

Đứng về mặt thân, đứng về sự nghiệp, đức Phật đă xả hết rồi, Ngài lại tiếp tục xả đến tâm nữa. Nghĩa là buông bỏ tất cả những niệm tưởng lăng xăng từ thô đến tế, cho đến khi tâm được định, hoàn toàn thanh tịnh, chừng đó Ngài mới được giác ngộ viên măn.

Như vậy ư nghĩa xả ở đây, một là xả tất cả sự nghiệp tài sản, cha mẹ anh em bên ngoài. Kế đó xả thân mạng, sau cùng là xả hết nội tâm của ḿnh. Nội tâm là những thứ lăng xăng loạn tưởng, làm cho ḿnh phiền năo rối rắm. Thiền định dưới cội Bồ-đề suốt bốn mươi chín ngày đêm, khi đó tâm Phật hoàn toàn thanh tịnh, không c̣n một ư niệm ǵ nên vào được đại định. Từ đại định Ngài phát triển tuệ giác như thật của ḿnh, thấu suốt được tánh tướng của các pháp, liền đó được giác ngộ chứng quả vị Phật.

Như vậy xả có ba giai đoạn. Giai đoạn thứ nhất là xả tất cả các thứ bên ngoài, từ sự nghiệp, danh vọng, tài sắc cho tới thân quyến cha mẹ anh em vợ con. Giai đoạn hai là xả bỏ thân mạng, liều chết để tu. Đó là xả thân. Giai đoạn ba là xả tất cả tâm nghĩ tưởng lăng xăng, không c̣n mảy may vọng động lo lự nào, gọi là xả tâm. Sau đó mới chứng ngộ thành Phật.

Khi thành Phật rồi th́ thế nào? Như hiện giờ chúng ta kiểm tra nội trong nước Việt Nam tính ra cũng mấy chục ngàn ngôi chùa, c̣n Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên, Thái Lan, Xri Lanca, (Tích Lan), Mianma (Miến Điện) v. v… cộng lại không biết bao nhiêu ngôi chùa thờ Phật. Như vậy Ngài bỏ ngai vàng, giang san, sự nghiệp trong nước, đến khi thành Phật rồi th́ có tất cả. Ngài xả bỏ quyến thuộc nhỏ bé, để rồi sau đó ngh́n muôn ức triệu người nh́n nhận là con của đức Phật, như vậy có phải là được tất cả không. Xả sự nghiệp riêng được sự nghiệp chung to lớn hơn. Xả thân quyến riêng thân quyến chung nhiều vô kể. Xả một được vô số thân. Xả tâm nghĩ tưởng lăng xăng chứng được Tam minh, Lục thông, Tứ vô sở úy, Thập bát bất cộng v. v… Xả những thứ vô nghĩa tầm thường, th́ đạt được những vi diệu phi thường. Rơ ràng Ngài xả tất cả là được tất cả không. Ngược lại với thế gian, giữ tất cả để rồi mất tất cả.

Giờ đây chúng ta tu theo Phật phải làm sao? Nên giữ hay nên xả? Chúng ta phải tập xả, người xuất gia th́ xả trọn vẹn, c̣n người tại gia th́ xả từng phần, nhưng phải xả chớ đừng cố giữ. Tôi thí dụ trước về người tại gia. Như quí Phật tử làm ăn có tiền, có cơm gạo, thấy ai khổ ḿnh giúp, đó là xả. Bố thí là xả, xả quyền lợi của ḿnh giúp cho người thiếu, người khổ. Người đời tranh giành danh lợi, c̣n ḿnh tu rồi th́ bớt không tranh giành danh lợi, đó là xả. Tất cả những lời hơn thua tranh căi nhau ḿnh cũng bỏ hết, đó là xả. Tập xả được như vậy là chúng ta khéo tu, có tiến. Ngược lại cái ǵ cũng muốn giữ hết th́ không thể nào tu được. Tu mà muốn làm giàu, muốn làm quan, muốn hơn thiên hạ, th́ có được không? Cho nên nói tới tu là nói tới xả, tới chừa bỏ.

Phật tử tại gia c̣n như thế, huống nữa là người xuất gia. Xuất gia rồi th́ có ǵ để giữ đâu. Tất cả đều là của chung, cuộc sống của ḿnh chỉ là sống để tu, chớ không phải sống để được danh, được lợi, được tất cả sự nghiệp ở trong chùa. Như vậy đâu có ǵ là của ḿnh, cho nên người tu là người dễ xả trăm phần. Xả hết quyền lợi, xả hết những ǵ thuộc về sự nghiệp, h́nh thức bên ngoài, không giữ ǵ hết. Chẳng qua v́ đạo mà có chùa có đồ chúng để truyền bá chỉ dạy cho người cùng tu, chớ không có cái của ḿnh. Nhớ rơ vậy là chúng ta xả. Đó là xả bên ngoài, c̣n xả về bản thân th́ sao?

Trước tôi nói về cư sĩ. Người không biết đạo họ lo lắng tấm thân trau chuốt cho đẹp, nuôi nấng cho sung túc mập mạp. C̣n người biết tu không cần trau chuốt, chỉ sống b́nh dị, vừa phải, đủ no ấm thôi chớ không quá sung túc rồi sanh ra bệnh hoạn. Đó là Phật tử cũng xả mà xả vừa chừng, không phải xả nhiều. Người biết tu đối với danh không ham, đối với lợi biết vừa đủ, đối với tài sắc v. v… đừng để dính nhiễm, đó là xả về thân.

Giới xuất gia th́ xả thế nào? Hồi chưa xuất gia ḿnh cũng đầu tóc như ai, ăn mặc như ai. Bây giờ xuất gia rồi cạo bỏ tóc, những ǵ thế gian cho là duyên dáng, là đẹp ḿnh xả hết, đó là xả rồi. Tới ăn mặc. Người đời thay đổi đồ này đồ kia cho đẹp, ra vẻ sang trọng quí phái, c̣n ḿnh tu rồi mặc áo nâu áo nhuộm, đó là xả. Người đời ăn món này món kia cho ngon miệng, ḿnh tu rồi chỉ ăn tương rau chay lạt, đó là xả. Cư sĩ tại gia một ngày phải ngủ đủ tám tiếng cho khỏe, c̣n người xuất gia ngủ chừng bốn năm tiếng thôi. Bớt ăn, bớt ngủ như vậy là xả. Nghĩa là những ǵ trau chuốt, cung dưỡng cho thân, chúng ta giảm bớt để dễ tu, không c̣n đa mang nhiều th́ mới mong đến gần với đạo. Đó là xả về thân. Bây giờ tới tâm.

Về tâm, cư sĩ tại gia xả như thế nào? Nếu có ai nói gác một câu, quí vị có nhịn được không? Chắc là khó nhịn lắm. Nhịn th́ sợ người ta nói ḿnh ngu, ḿnh thua nên ít chịu nhịn. Bây giờ quí vị biết tu rồi, phải nhớ lời Phật dạy vô thường để chận đứng tâm tranh đua của ḿnh. Nếu nghĩ tới danh lợi th́ biết nó là vô thường, không bền lâu. Đă vô thường mà dành được mất với nhau làm ǵ, đó là xả. Chết sống nay mai là chuyện lớn mà không lo, c̣n hơn thua phải quấy là chuyện nhỏ lại để tâm lo lắng, có phải khờ dại không. Cho nên nghĩ tới vô thường đuổi gấp chúng ta không c̣n thời giờ mà tu, huống nữa tranh hơn tranh thua. Nhớ như vậy th́ tất cả những ǵ người đời lấn hiếp ḿnh, chúng ta bỏ qua được hết.

Người dành hơn dành thua là khôn hay người nhịn bỏ để tu là khôn? Người lấn hiếp thấy dường như hơn, người nhịn thấy dường như thua. Nhưng xét kỹ người dành hơn rồi đi tới chỗ chết không biết về đâu, c̣n người nhịn để tu hành, mai kia khi chết đă có hướng sẵn nên không lo không sợ, đó mới là người khôn. Như vậy người biết nghĩ tới chuyện lâu dài là khôn, người chỉ nghĩ nhất thời là dại. V́ vậy chúng ta đừng tranh hơn tranh thua, để rồi phiền năo đau khổ, không tu hành. Đó không phải là thật khôn. Người thật khôn phải tránh, phải chừa hết những điều gây cho tâm ḿnh rối loạn, phiền năo, sự tu mới tiến. Tu tiến mới mong cứu được ḿnh.

Cho nên tu hành là phải ẩn nhẫn. Nói ẩn nhẫn nhưng thật ra có ẩn nhẫn ǵ đâu. Thí dụ người nào đó nổi sân, thấy ḿnh đi ngang họ nói: "Cha mầy". Lúc đó ḿnh nổi nóng lên muốn chửi lại. Nhưng tôi xin hỏi chữ "cha mầy" đó nặng ở chỗ nào? Sao chúng ta không trả lời: "Phải tôi có cha". Nói cha mầy tức là nhắc cha của ḿnh th́ ḿnh nhận, có ǵ đâu phải giận. Đằng này nghe người ta nói "cha mầy" liền nổi sân nói lại "mẹ mầøy", thế là có chuyện đánh lộn. Người ta cứ sống cuồng loạn với nhau thật vô nghĩa. Ḿnh có cha người ta nói cha ḿnh th́ nhận là xong, có ǵ phải tức giận. Người thế gian nói điên khùng, chẳng lẽ ḿnh tu cũng điên khùng theo. Họ điên khùng th́ chúng ta phải sáng suốt, nhưng không hiểu sao người ta cứ đua nhau dành phần điên về ḿnh. Thiên hạ nói ḿnh nặng một, ḿnh nói nặng hai, rồi căi nhau đánh nhau, có giống hai người điên không? Vậy mà ta vẫn cứ dành làm người điên!

Rơ ràng sự tu không phải khó, chỉ là sự sáng suốt chân thật để cho ḿnh được an lành. Nghĩ nhiều khi chúng ta khờ dại thật đáng thương. Nghe người ta nói ḿnh là con chó, liền nhảy tới tát tai người ta, như vậy là nhận ḿnh chó mất rồi, mới nhảy ra cắn người ta. Người ta nói ḿnh con chó, ḿnh chỉ cần b́nh tĩnh trả lời tôi không phải con chó, thế là đủ rồi, người ta cũng sẽ không biết nói ǵ hơn nữa. Đó là sự lầm lẫn si mê của con người, v́ chấp ngă quá nặng nên động tới ḿnh liền sanh sự.

Người tu là phải xả bỏ ngă chấp đó, luôn luôn tỉnh táo sáng suốt, chừa bỏ những ǵ sai lầm, không nên bám giữ. Như vậy chúng ta mới biết tu. Nếu không biết tu th́ dễ gây sân hận oán hờn nhau, rồi đau khổ cả đời, ḿnh khổ người khổ. Thế gian khổ là v́ vậy. Cho nên người biết tu trong tâm không cố chấp, không nghĩ ḿnh khôn hơn hết, đẹp hơn hết, tài giỏi hơn hết v. v… Mà chỉ thấy ḿnh là cọng cỏ, cọng rơm thôi, không có ǵ quan trọng, nên rất dễ sống, nhẹ nhàng, không đau khổ. Người chấp ngă sâu nặng quá nên động tới nổi sân, động tới nổi giận, động tới liền buồn. C̣n chúng ta xả được cái ngă này, th́ hết khổ hết buồn.

Phật nói "chấp là kẻ mê", nói dễ hiểu hơn chấp là người ngu. Chấp nhiều th́ ngu nhiều, chớ đừng tưởng chấp là hay. Người tu là người tỉnh, người sáng suốt th́ không nên chấp. Không nên chấp về thân, không nên chấp về tâm, không nên chấp về cảnh. Được vậy chúng ta sống được b́nh an, tu hành thanh tịnh. Đó là nói về người tại gia.

Bước qua lănh vực của người xuất gia, c̣n xả nhiều hơn nữa. Khi có huynh đệ giận, chỉ mặt ḿnh nói: "Huynh ngu quá", lúc đó ḿnh cười không hay cũng đỏ mặt? Nếu nghe nói "Huynh ngu quá", chúng ta liền đáp "Phải, ba tạng kinh tôi học chưa được một phần tám, không ngu sao được". Nói vậy th́ người kia hết nói. Chỉ khéo một chút th́ chúng ta b́nh an, không ǵ giận hờn chi hết.

Hoặc nghe người ta nói "Coi bộ thầy (cô) si mê quá", ḿnh vui vẻ nhận ngay "Tôi chưa giác, không si mê sao được". Đáp như vậy là yên. Chớ nghe người ta nói ḿnh si mê, nổi giận căi ùm lên th́ quả là si rồi. Chúng ta chỉ cần khéo một lời nói, khéo một cái nh́n th́ hết phiền năo. Người ta chê ḿnh ngu, chê ḿnh si mê, ḿnh cười thôi không có ǵ quan trọng. Đằng này, huynh đệ nói lời hơi nặng một chút, ḿnh phiền năo hai ba ngày, bỏ ăn bỏ ngủ, th́ chừng nào mới thành Phật. Ai tu cũng muốn thành Phật mà cứ chấp. Càng lớn chấp càng nhiều, chấp quá chừng là chấp th́ thành Phật sao nổi. Cho nên chúng ta tu phải bỏ, phải xả hết mọi ngă chấp.

Người tu vui trong đạo, vui với những lời của Phật dạy, mọi bàn luận hơn thua là tṛ đùa, không có giá trị ǵ hết. Nhớ như vậy, nghĩ như vậy là chúng ta biết tu. Được thế sự tu mới tiến nhanh, mới được lợi ích. Cho nên xả thân đă là tốt nhưng xả tâm chấp ngă mới là quan trọng. Người khéo tu cần phải biết điều này.

Xả tâm tức là xả bỏ tất cả những vọng tưởng của ḿnh. Tại sao xả bỏ vọng tưởng quan trọng như vậy? Bởi vọng tưởng là cái mê lầm, là những cụm mây đen che mất trí tuệ chân thật của ḿnh. C̣n vọng tưởng là c̣n mê lầm, chừng nào sạch hết vọng tưởng mới được giác ngộ. Chúng ta tu bất cứ pháp môn nào cũng phải dẹp vọng tưởng. Không dẹp vọng tưởng th́ không bao giờ thành Phật.

Thí dụ tu Tịnh độ th́ niệm Phật tới nhất tâm bất loạn. Nghĩa là niệm đến chỗ chỉ c̣n một câu niệm Phật thôi, không nghĩ ǵ khác ngoài câu niệm Phật. Nhất tâm cũng gọi là nhất niệm. Dùng một niệm để dẹp tất cả niệm, tất cả niệm sạch rồi cuối cùng một niệm ấy cũng phải xả luôn cho tới vô niệm. Niệm tới chỗ không c̣n niệm nào nữa th́ mới thấy Phật, mới được văng sanh.

Người tu thiền cũng vậy, ban đầu v́ tâm loạn tưởng quá nhiều, muốn nó dừng nên dùng phương tiện hoặc đếm hơi thở, hoặc quán chiếu một pháp nào như quán ngũ uẩn giai không v. v… Tới khi tất cả những niệm lăng xăng lặng rồi, tâm thanh tịnh vô niệm, đó là vào định. Tu thiền phải đến chỗ an định trọn vẹn, chừng đó mới chứng được vô sanh.

Trong kinh thường dạy, chúng ta ai ai cũng có tánh Phật. "Nhất thiết chúng sanh giai hữu Phật tánh" nghĩa là tất cả chúng sanh đều có tánh Phật. Đức Phật biết sống trở về với tánh Phật của Ngài, nên Ngài thành Phật. Chúng ta cũng có tánh Phật nhưng không biết trở về sống với tánh Phật của ḿnh, nên chúng ta làm chúng sanh. Giờ đây muốn trở về tánh Phật của ḿnh phải làm sao? Đây là chỗ tôi nhắc luôn. Chúng ta có tánh Phật nhưng v́ quên, không nhận ra nên sống với nghiệp của chúng sanh. Như trong giờ ngồi thiền, ḿnh muốn tâm yên lặng hay lăng xăng? Muốn tâm yên lặng, nhưng có chịu yên lặng đâu. Vừa yên lặng là thấy hơi buồn, liền nghĩ cái này, nghĩ cái kia rồi chạy theo nó mất tiêu.

Tại sao ḿnh thường hay nghĩ như vậy? Bởi v́ tánh Phật hằng tri hằng giác nơi con người không có h́nh bóng, không có tướng mạo nên khó nhận vô cùng. Cái ǵ có tướng mạo, có h́nh bóng ḿnh dễ nhận ra. Nhưng nếu nghiệm kỹ, chúng ta thấy khi tâm hồn thanh thản, không nghĩ suy ǵ hết được đôi ba phút, trong thời gian ấy ḿnh có biết không? Vẫn biết chứ. Mắt thấy tai nghe, vừa có người đi biết có người đi, vừa có tiếng nói biết có tiếng nói. Mũi cũng vậy, mùi thơm mùi hôi đều biết rơ. Như vậy sáu căn hằng tri hằng giác mà chúng ta không nhận ra, đợi có nghĩ suy mới cho rằng biết. V́ cái biết đó không có h́nh dáng, không động nên ḿnh dễ quên.

Thế nên hàng ngày chúng ta sống với tâm vọng tưởng, chạy theo bóng dáng của sáu trần, cho đó là tâm ḿnh. Thân vô thường sanh diệt cho là thân ḿnh. Lấy thân sanh diệt, tâm vô thường làm ḿnh th́ khi nhắm mắt nhất định đi trong luân hồi lục đạo, không nghi ngờ. Bây giờ tu là muốn ra khỏi con đường đó, vậy phải làm sao? Chúng ta thường nói tu để giải thoát sanh tử, giải thoát bằng cách nào? Nếu chúng ta khởi nghĩ lành, tạo nghiệp lành, sanh cơi lành; khởi nghĩ dữ, tạo nghiệp dữ, sanh cơi dữ. Ba ác đạo và ba thiện đạo do tâm niệm lành dữ của ḿnh mà ra. Nếu tâm niệm lành dữ đều không c̣n th́ ḿnh đi đường nào? Không đi đường nào, tức là giải thoát sanh tử rồi. Thiền định chính là không c̣n niệm thiện ác nào dẫn ḿnh đi trong sanh tử nữa.

Như vậy nhân giải thoát ở đâu, hiện giờ chúng ta có hay không? Ai cũng có hết, đó là Phật tánh, nó bàng bạc khắp nơi ḿnh, chỉ tại chúng ta không nhớ. C̣n suy nghĩ phải quấy, hơn thua có h́nh bóng, nên ḿnh biết tâm sanh diệt đó mà không biết tâm thật của ḿnh. Cứ chạy theo tâm sanh diệt th́ trách nào chúng ta không đi trong luân hồi. Giờ muốn ra khỏi luân hồi phải dừng tâm sanh diệt. Niết-bàn là giải thoát sanh tử không c̣n bị trở lui lại trong lục đạo luân hồi nữa. Cái thật biết của chính ḿnh, không h́nh, không tướng, không động tịnh, cái biết đó là giải thoát sanh tử, chớ đâu phải không có. Nhiều người cho rằng bỏ nói thân giả dối, bỏ tâm vọng tưởng rồi th́ không c̣n ǵ nữa. Đó là hiểu biết nông nổi, cạn cợt.

Chúng ta nh́n lên bầu hư không, thấy con chim bay qua. Lúc đó chỉ nhớ con chim mà quên bầu hư không. Con chim bay qua mất, lát sau có chiếc phi cơ bay lại, lúc đó ḿnh nh́n theo chiếc phi cơ. Phi cơ lại bay mất, có đám mây xuất hiện, ḿnh chạy theo đám mây. Cứ chạy theo các sự đổi thay vô thường, mà quên bẳn bầu hư không hiện tiền yên lặng và trùm khắp tất cả.

Tâm ḿnh cũng giống như vậy. Hết nghĩ chuyện A liền nhớ người B, cho nên cả giờ ngồi thiền cứ chạy bậy, có khi đấu khẩu nữa. Lư luận với ai thua, đến giờ ngồi thiền đấu tiếp, nghĩ ra thế này thế kia, phải nói như vầy hay hơn. Như vậy ngồi đó để lư luận chớ không phải để tu. Nếu mà tâm cứ ôm ấp những thứ ấy, là chúng ta ôm ấp tâm sanh diệt, ǵn giữ thân sanh diệt, nhưng hai thứ đó bản chất của nó vô thường, làm sao giữ được? Giữ thân sanh diệt cho mấy cũng có ngày bị hoại, giữ tâm sanh diệt càng nguy hơn v́ nó sẽ dẫn ḿnh đi trong lục đạo luân hồi. Buông hết hai thứ ấy, chỉ c̣n một tâm hằng tri hằng giác hiện tiền đây, đó mới là cái chân thật. Cho nên người học Phật phải t́m tới chỗ cứu cánh chân thật đó, chớ không phải học Phật để đời sau sanh ra giàu sang hơn đời này, đẹp hơn đời này v. v…

Tu để gỡ sạch mọi thứ nghiệp luân hồi, ra khỏi ḍng sanh tử, đó là mục đích trên hết. Đức Phật dạy "Bị thiêu đốt dưới địa ngục chưa phải là khổ, bị đói khát trong loài ngạ quỷ cũng chưa phải là khổ, bị kéo cày kéo xe cũng chưa phải là khổ. Chỉ có mờ mịt không biết lối đi đó mới là khổ". V́ khổ ở địa ngục hết tội rồi cũng được ra. Khổ ở ngạ quỷ hết kiếp ngạ quỷ cũng được sanh trở lại. Khổ ở loài súc sanh kéo xe kéo cày, hết nợ rồi cũng được trở lại làm người. Chỉ có mờ mịt không biết lối ra, tức là không biết đường đi để thoát khỏi lục đạo luân hồi, đó mới là cái khổ hơn hết. Bởi c̣n trong lục đạo luân hồi th́ cứ quay ṿng sanh rồi tử, tử rồi sanh, không biết bao giờ mới xong.

Chúng ta kiểm lại, người ở cảnh sung sướng có hoàn toàn sướng hay cũng khổ? Có ai không bệnh, không già, không chết đâu. Có bệnh, già, chết tức là có khổ. Có thân là có khổ. Lẩn quẩn măi trong sanh già bệnh chết, không khổ sao được. Chỉ khi nào ra khỏi đó mới thực là hết khổ. V́ vậy Phật nói chỉ hết si mê mới là hết khổ.

Thế th́ muốn hết khổ chúng ta phải bỏ chấp về thân, bỏ chấp về tâm. Tâm được trong sạch lặng lẽ, th́ tri giác của ḿnh mới hiện tiền, đó là giải thoát sanh tử. C̣n ôm ấp giận hờn, thù oán, thương ghét không bao giờ hết khổ. Tóm lại, muốn hết khổ phải buông tất cả, để một tâm thanh tịnh hiện tiền hằng tri hằng giác, đó là thoát ly sanh tử. Trong nhà Phật nói: Bỏ một thân mà được ba thân là Pháp thân, Báo thân, Hoá thân, rồi được Tam minh, Lục thông, Tứ vô sở úy v. v… Như vậy có phải bỏ tất cả được tất cả không, có thiệt tḥi chỗ nào đâu. Chỉ v́ chúng ta không dám xả, cứ khư khư chấp cái này của ḿnh, cái kia của ḿnh nên chúng ta khổ hoài. Ḿnh đă khổ mà không ai thương tưởng tới, lại c̣n ghét nữa. C̣n cứ xả hết v́ mọi người, th́ ta đă không khổ mà mọi người lại thương ḿnh nhiều hơn.

Cho nên tôi nói bỏ tất cả là được tất cả, c̣n giữ tất cả là mất tất cả. Quí vị tự xét nên bỏ hay nên giữ, tiến hay lùi là quyền của mỗi người chúng ta vậy.


 

PHẬT PHÁP

TRỊ TẬN GỐC TÂM BỆNH

Thiền viện Trúc Lâm - 2000

Lần này cũng như các lần trước, đoàn bác sĩ lên thăm bệnh cho Tăng Ni của Thiền viện, sau đó có xin tôi một thời pháp ngắn, năm nay cũng như vậy. Kỳ trước tôi nói phương thuốc trị từng tâm bệnh của con người, kỳ này tôi nói phương thuốc trị tận gốc rễ của tâm bệnh.

Như trước tôi đă nói, nếu người tham tiền của th́ dùng thuốc bố thí trị; tham sắc đẹp th́ dùng thuốc quán bất tịnh trị v. v… Hôm nay trị tận gốc rễ của tâm bệnh mà chỉ dùng một thang thuốc thôi. Như vậy thang thuốc này hơi khó, v́ từng thứ thuốc trị từng thứ bệnh th́ chúng ta dễ nhận, dễ hiểu, dễ ứng dụng. C̣n chỉ một phương thuốc mà trị tất cả bệnh nên khó sử dụng. Phương thuốc này như thế nào?

Quư vị nghe châm ngôn của Thiền tông:

Bất lập văn tự,

Giáo ngoại biệt truyền,

Trực chỉ nhân tâm,

Kiến tánh thành Phật.

Châm ngôn đó nó ảnh hưởng tới phương thuốc này rất sâu đậm. Trước khi nói đến thuốc, tôi chỉ cho quư vị thấy gốc bệnh phát sinh từ đâu. Như tham sân si th́ có thuốc trị tham sân si. Nhưng tham sân si phát nguồn từ đâu? Tham sân si từ tâm niệm dấy khởi.

Thí dụ như thấy một đóa hoa, nếu ta chỉ thấy đóa hoa không thôi, th́ có tham không? Không. Đằng này thấy đóa hoa rồi khởi niệm "Hoa này đẹp hay xấu. " Nếu đẹp th́ chúng ta muốn hái về chưng, hoặc bẻ cầm tay chơi. Muốn hái về chưng hoặc bẻ cầm tay chơi, mà ai ngăn không cho th́ giận. Do thấy đẹp dấy ḷng tham. Dấy ḷng tham không được th́ nổi sân. Như vậy tham, sân phát nguồn từ phân biệt đẹp xấu. Nên ư thức phân biệt đẹp xấu là nhân đưa tới bệnh tham, sân.

Như vậy muốn trị tất cả tham sân si, phải trị từ đâu? Từ tâm phân biệt. Thấy hoa chỉ thấy hoa, đừng khởi phân biệt đẹp xấu. Không phân biệt đẹp xấu th́ không có tham, sân. Không tham, sân là không tạo nghiệp. V́ tham, sân là nghiệp sanh tử, nếu hết tham, sân th́ nghiệp sanh tử không c̣n. Đó là nói một thí dụ nhỏ. Ngoài ra tất cả các thứ khác cũng vậy.

Cho nên trị bệnh tham, sân là trị ngọn chứ không phải gốc. Khởi tâm phân biệt mới là gốc đưa tới tham, sân. Bây giờ muốn trị gốc bệnh đó, chúng ta phải trị bằng cách nào? Đó là chỗ lâu nay tất cả người tu chúng ta ít lưu tâm. Chỉ thấy tham khổ, sân khổ nên lo dẹp tham, sân v. v… mà chưa phăng t́m tại sao có tham, sân.

Lâu nay chúng ta có một lầm lẫn lớn, cho cái phân biệt so sánh là tâm ḿnh. Nếu người không khởi phân biệt so sánh th́ bảo người đó ngu dốt. Nhưng sự thật không phải vậy. Bởi v́ phân biệt, so sánh mang tính cách đối chiếu. Thí dụ chúng ta phân biệt người này đẹp th́ tất nhiên phải lôi h́nh ảnh của người xấu ra đối chiếu. Phân biệt hoa này xấu th́ phải lôi h́nh ảnh hoa kia đẹp để đối chiếu. Chúng ta sống với tâm phân biệt trong hiện tại, lại c̣n đeo mang những h́nh bóng của quá khứ để đối chiếu, và ước mơ trông đợi vào vị lai. Ǵn giữ bóng dáng quá khứ đem đối chiếu với hiện tại, rồi mơ ước vị lai.

Như vậy tâm ḿnh đang sống trong ba thời: quá khứ, hiện tại, vị lai. Nhưng ba thời đó có thật không? Quá khứ đă qua mất rồi, vị lai th́ chưa đến, hiện tại th́ luôn trôi chảy không dừng. Cho nên cả ba thời đều không có thật. Tâm ôm ấp những h́nh ảnh đối chiếu theo ba thời không thật th́ tâm đó có thật không? H́nh ảnh nó chứa đă không thật v́ đó chỉ là bóng, rồi thời gian đối chiếu cũng không thật, th́ bản chất của tâm đó làm sao được.

Đă không thật mà ḿnh suy nghĩ nói việc này phải, ai đó nói quấy, ḿnh nổi sân liền. Bởi chấp suy nghĩ là ḿnh, cho nên khi bị phản đối chúng ta có phản ứng ngay. Điều này chúng ta cần phải xét nét thật kỹ, để có một phương pháp biết bệnh, rồi mới nghiên cứu tới thuốc. Biết thuốc biết bệnh th́ trị mới lành.

Như chúng ta đă biết bệnh tham, sân, si từ niệm phân biệt, so sánh mà ra. Bây giờ muốn dứt tận gốc tham, sân, si th́ phải dứt các niệm phân biệt so sánh. Chúng ta ngồi thiền để làm ǵ? Để dừng niệm phân biệt so sánh đó. Bởi v́ niệm phân biệt suy nghĩ không phải là ḿnh. Nếu suy nghĩ là thật ḿnh th́ ḿnh là trăm thứ ngàn thứ sao? Tâm niệm suy nghĩ thay đổi như chong chóng, chợt có chợt mất. Có những người trước kia ḿnh không ưa, nhưng sau này họ thay đổi, ḿnh thấy dễ thương. Hoặc những người hồi xưa ḿnh quư, nhưng bây giờ họ thay đổi, ḿnh thấy dễ ghét. Như vậy thương, ghét có thật là chưa? Nếu thật th́ trước sau như một. Đằng này nó đổi thay luôn th́ làm sao thật ḿnh được? Quư vị thấy, có khi trong một ngày, lát th́ ḿnh giận, lát th́ ḿnh thương, đổi thay bất thường. Trong những cái đổi thay đó, cái nào là ḿnh? Thương là ḿnh hay ghét là ḿnh? Giận là ḿnh hay vui là ḿnh? Không có cái thật ḿnh, bởi v́ tất cả đều là bóng dáng đổi thay tùy duyên, tùy cảnh.

Cho nên lâu nay chúng ta sống trong sự lầm lẫn hết sức lớn lao. Sự lầm lẫn lớn lao đó chính là vô minh. Từ vô minh sanh ra tham, sân, si đủ thứ hết. Đó là do chấp tâm phân biệt suy nghĩ là ḿnh nên thành bệnh. Muốn trị bệnh này phải dùng thuốc nào? Thay v́ nói thuốc, ở đây tôi dẫn câu chuyện ngài Thần Quang đến học với Tổ Đạt Ma.

Khi Tổ đă nhận ngài Thần Quang làm đồ đệ, cho theo học đạo, một hôm ngài Thần Quang bạch Tổ: "Bạch Ḥa thượng, tâm con không an, xin Ḥa thượng dạy cho pháp an tâm". Tâm không an là tâm nào? Là tâm nghĩ tốt, nghĩ xấu, nghĩ phải, nghĩ quấy… tất cả các thứ lăng xăng tạp loạn. Bởi nhớ nghĩ lăng xăng nên khi ngồi lại thấy không an. V́ nó dẫn ḿnh chạy đủ nơi đủ chốn. Chạy như vậy gọi là bất an. Nên ngài Thần Quang nghĩ phải có một pháp ǵ chận đứng cho nó an lại.

Tổ Đạt Ma bảo: "Đem tâm ra ta an cho! " Tâm ở đâu mà đem? Khi nghe hỏi câu nói đó, ngài Thần Quang soi lại, t́m xem tâm ḿnh ở đâu. T́m một hồi thấy mất tăm mất dạng. Ngài thưa: "Con t́m tâm không được". Tổ Đạt Ma bảo: "Ta đă an tâm cho ngươi rồi". Ngay đó ngài Thần Quang đại ngộ, biết được pháp tu.

Pháp đó là pháp ǵ? Điểm kỳ đặc chính là không có một pháp. Thí dụ tôi nói bệnh tham dùng pháp bố thí để trị. bệnh sân dùng pháp nhẫn nhục để trị v. v… C̣n tâm bất an này, dùng pháp ǵ? Chỉ quay lại t́m xem cái bất an đó ra sao, nó ở đâu? T́m lại th́ nó mất. Rơ ràng nó hư dối. Ḿnh tưởng tâm ḿnh thật, nhưng khi quay lại t́m th́ nó mất tiêu. Nếu thật th́ t́m lại phải thấy. Nhưng khi t́m lại mất tăm mất dạng, th́ làm sao nói nó thật được.

Nên biết chấp tâm là hư dối, là vọng tưởng. Đă là vọng tưởng th́ không phải thật. Lâu nay chúng ta ngỡ nó thật. Từ ngỡ nó thật nên chấp thành ra có tham, sân, si. Bây giờ biết nó không thật, th́ nó tự tan biến. Ngày xưa nó không thật ḿnh ngỡ nó thật, đó là si mê. Bây giờ nó không thật biết nó không thật th́ đâu c̣n si mê nữa.

Phản quan nh́n lại tâm không thật đó, thấy rơ nó hư dối, đó là chúng ta tỉnh, chúng ta giác. Tỉnh giác mà không cần dùng một pháp nào cả, nên nói không có pháp đối trị. Chỉ cần nh́n lại tâm lăng xăng đó, biết nó là vọng tưởng không thật, không theo nó, th́ nó đâu có dẫn ḿnh tạo nghiệp tham, sân, si được. Tất cả bệnh đều do tâm không thật đó mà ra.

Cho nên khi tu cần phải biết rơ gốc của sự tu. Nếu không, chúng ta sẽ thắc mắc tại sao thầy dạy cái ǵ cũng bỏ, đừng vọng tưởng. Chỉ vậy thôi, đơn giản quá th́ làm sao trị hết bệnh. Không ngờ, chính cái nhận biết tâm dấy động lăng xăng là hư dối, là vọng tưởng lại là gốc của sự tu. Bởi v́ cái nhận biết đó là trí tuệ.

Các pháp giả dối, chúng ta lầm theo nó là si mê. C̣n giả dối mà biết giả dối là trí tuệ. Như quư vị ra tiệm bán đồ nữ trang, thấy người ta bày hàng trong tủ kiếng. Hàng nào giả, hàng nào thật, quư vị không phân biệt được th́ đó là quê dốt. Ngược lại, hàng giả hàng thật quư vị đều nhận biết được hết, th́ đó là khôn ngoan.

Cũng vậy, tâm vọng tưởng hư dối mà lâu nay ḿnh cho nó thật, đó là si mê. Bây giờ biết vọng tưởng hư dối, không thật, đó là trí tuệ. Nh́n lại từng tâm niệm dấy khởi, chúng ta biết nó là vọng tưởng hư dối, đó là dùng trí tuệ để dẹp si mê. Khi biết nó là vọng tưởng, ḿnh không theo th́ nó c̣n hay lặng mất? Nó lặng mất. Tuy lặng mất nhưng gặp duyên nó sẽ nổi lên nữa. Hoặc lặng mất cái này, cái khác nổi lên. Chúng ta cứ tiếp tục tỉnh giác, không theo nó, dần dần sẽ điều phục hết vọng tưởng.

Nhiều Phật tử ngồi thiền thấy vọng tưởng hoài, không yên nên cho rằng ngồi thiền có kết quả ǵ đâu. Không phải vậy. Lục Tổ bảo nếu vọng tưởng dấy khởi, ḿnh biết nó. Biết tức là giác, theo nó tức là mê. Mê theo vọng tưởng là chúng sanh. Giác được vọng tưởng là Phật. Cho nên một trăm chú chúng sinh th́ có một trăm ông Phật chận đón, thua thiệt ǵ đâu.

Quư vị thấy ở Thiền viện, Tăng Ni ngồi thiền hơi gục gục là bị ăn gậy liền. Sao tàn nhẫn vậy, người ta ngồi tu mà đánh người ta? Bởi v́ thà ngồi thiền vọng tưởng mà thấy được, ḿnh tranh đấu để đánh thắng nó. C̣n ngủ gục th́ đâu c̣n thấy ǵ nữa mà xung trận. Lúc đó hoàn toàn mù mịt tối tăm. Cho nên nhà thiền gọi ngủ gục là đi vào hang quỷ, tối ṃ không thấy ǵ hết.

Tâm dấy niệm ḿnh biết không theo, th́ thấy có sự tranh đấu hơi nhọc nhằn, nhưng có Phật có chúng sanh. Chứ c̣n gục xuống rồi th́ thôi, thua luôn. V́ vậy thiện tri thức phải đánh cho ḿnh tỉnh, đừng để ma ngủ dẫn đi trong hang quỷ. Đó là ư nghĩa của người giám thiền, giúp cho hành giả ngồi thiền được tỉnh. Dù có vọng tưởng cũng đừng sợ, chỉ sợ ḿnh chạy theo nó thôi. Nếu ḿnh biết rơ nó là vọng tưởng, th́ nó tự lặng. Cái khác nhú lên, chúng ta cũng nhận ra vọng tưởng, nó lại lặng. Cứ như vậy th́ có thiệt tḥi ǵ đâu.

Cho nên Lục Tổ nói: "Không sợ niệm khởi, chỉ sợ giác chậm". Nghĩa là vọng tưởng khởi lên, dẫn ḿnh đi lâu lơ lâu lắc, ḿnh mới biết "đó là vọng". Như vậy là giác chậm. Nếu vọng tưởng vừa dấy lên, chúng ta chận ngay lúc ấy th́ nó không có tác dụng ǵ hết, ḿnh làm chủ được nó.

Tu thiền theo lối dạy của Tổ Đạt Ma y cứ vào pháp nào? Hỏi "Tâm con không an, xin Ḥa thượng dạy pháp an tâm". Nếu Tổ bảo: - Tâm ngươi không an nên dùng quán nhân duyên v. v… Đó là có pháp. Có pháp tức là có giáo lư, có giáo lư tức là có văn tự. Nhưng khi nghe nói "Tâm con không an", Tổ bảo: "Đem tâm ra ta an cho. " Lời này không có trong kinh nào cả. V́ vậy gọi là giáo ngoại biệt truyền tức truyền ngoài giáo lư. Ngoài giáo lư nghĩa là không có trong văn tự kinh điển. Nên nói bất lập văn tự là vậy.

Thiền tông là cốt tủy của đạo Phật, nhưng lại không có trong từ ngữ của kinh điển. Bởi v́ Thiền tông chỉ thẳng, nh́n thẳng. Nh́n lại ḿnh, biết rơ vọng tưởng hư dối th́ ngay đó an tâm. Như vậy phương pháp của Tổ dạy là chỉ tận gốc của tâm. Biết được tâm vọng tưởng hư dối rồi, th́ dụng công phu không c̣n sai lầm nữa.

Một hôm, ngài Huệ Khả bạch với Tổ Đạt Ma:

- Bạch Ḥa thượng, con dứt hết các duyên.

Tổ xoay lại bảo:

- Coi chừng rơi vào không.

Ngài liền nói:

- Rơ ràng thường biết, làm sao không được.

Ngay đó, Tổ bảo:

- Ông như thế. Ta như thế. Chư Phật cũng như thế.

Đó là ấn chứng. Ấn chứng tức truyền tâm pháp ấn. Ông như thế, ta như thế, chư Phật cũng như thế, nghĩa là con dấu của ông, của ta, của chư Phật cũng vậy thôi. In xuống giấy trắng th́ dấu nào cũng như nhau, không sai biệt. Đó gọi là truyền tâm pháp ấn.

Khi tâm suy nghĩ lăng xăng hết, lúc đó các duyên bặt dứt, không c̣n dính với các cảnh bên ngoài nữa. Tổ Đạt Ma e rằng đến chỗ dứt hết các duyên, ngài Huệ Khả sẽ rơi vào cái rỗng không, nên Tổ gạn lại: "Coi chừng rơi vào không". Ngài Huệ Khả liền nói: "Rơ ràng thường biết, làm sao không được". Tuy chẳng duyên theo bóng dáng các trần, nhưng con rơ ràng thường biết. Biết tức là tâm, tâm đó rơ ràng như vậy làm sao rơi vào không được.

Chúng ta nghiệm từ thực tế sẽ thấy, có những lúc ḿnh ngồi chơi, không nghĩ suy ǵ hết, nhưng có tiếng động ḿnh vẫn nghe, có người đi ḿnh vẫn thấy, gió thổi ḿnh biết mát… tức hiện tại ḿnh thấy biết rơ ràng. Biết rơ ràng mà không có nghĩ suy. Cái biết rơ ràng này quư vị có đuổi nó được không? Nó có sanh, có diệt không? Rơ ràng nó không sanh không diệt, mà không mất mát bao giờ.

Từ muôn đời chúng ta chấp cái nghĩ suy chợt có chợt không cho là thật. Từ chấp giả cho là thật nên tạo nghiệp luân hồi vô số kiếp. Bây giờ chúng ta biết nó giả, không theo, th́ tâm chân thật hiện tiền. Tâm chân thật này ai cũng có sẵn. Nên Phật nói tất cả chúng sanh đều có Phật tánh. Chỉ v́ chúng ta quên, chạy theo vọng tưởng hư giả thành ra đánh mất ông Phật của ḿnh. Bây giờ biết rồi, không chạy theo vọng tưởng nữa, th́ cái tâm chân thật hiện tiền. Tâm chân thật tức là tâm Phật.

Như vậy tu cốt đừng lầm giả cho là thật, mà phải nhận chân cái thật sẵn nơi ḿnh từ thuở nào, đó là giác ngộ. Vọng tưởng hư giả lẽ ra dễ bỏ, c̣n tâm chân thật sẵn có xưa nay không thể bỏ được. Vậy mà ta nói bỏ vọng tưởng khó là sao? Tại v́ gốc mê sâu dày quá.

Khi chúng ta ngồi thiền được năm mười phút, tâm không dấy động, không có niệm chạy theo cảnh, lúc đó có ḿnh không? Nếu không có ḿnh th́ ai biết không có niệm. Không có niệm, yên tịnh, ḿnh biết rơ ràng th́ cái biết hiện tiền. Cái biết đó không có tướng mạo nên không có sanh diệt. Những ǵ có tướng mạo th́ sanh diệt.

Lâu nay, chúng ta bám vào cái sanh diệt cho là tâm ḿnh. Nên Phật dạy phải định là vậy. Định th́ dừng tâm sanh diệt, để cái chân thật hiện tiền. Cái chân thật hiện tiền rồi th́ chúng ta lo ǵ chết bị nghiệp dẫn đi chỗ này chỗ nọ. Bởi v́ thương, ghét, giận, hờn… là nghiệp, mà chúng không c̣n nữa th́ cái ǵ dẫn ḿnh đi trong sanh tử nữa? Như vậy mới thấy gốc của sự tu hết sức rơ ràng.

Trực chỉ nhân tâm, kiến tánh thành Phật. Trực chỉ nhân tâm tức là chỉ thẳng tâm chân thật của ḿnh. Tâm là cái biết. Nếu chúng ta duyên theo bóng dáng trần cảnh, đó là tâm hư dối. C̣n cái biết không chạy theo trần cảnh, hằng hữu ở ḿnh, đó là tâm chân thật. Tổ chỉ thẳng nơi tâm ḿnh, biết cái ǵ giả, cái ǵ thật. Biết được cái thật, gọi là kiến tánh. Cái chân thật ấy là nhân thành Phật, nên nói kiến tánh thành Phật.

Hiểu được bốn câu châm ngôn tối quan trọng ấy rồi, chúng ta mới nắm được yếu chỉ Thiền tông, không có một pháp. Nếu không chúng ta sẽ nói Thiền tông khó quá. V́ tu theo lối trị từng thứ bệnh th́ dễ đối chiếu, dễ thấy kết quả. C̣n nh́n thẳng từ nhân dấy động ban đầu, dừng nó không cho dấy khởi, th́ lúc đó chưa thành bệnh. Nên chỉ một "cái biết" mà trị tất cả bệnh. Song v́ nhân ban đầu này sâu thẳm bên trong, t́m hơi khó một chút, chúng ta phải khéo mới được. Đó là phăng tận gốc rễ để trị tận căn nguyên.

Tổ Huệ Năng khi được pháp ở Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn rồi, Ngài mang y bát về phương Nam. Khi đó đám người kỳ thị đuổi theo giật y bát lại. Trong nhóm đó có Thượng tọa Minh, trước khi tu làm tướng nên cỡi ngựa rất giỏi, rượt kịp. Tổ biết người ta đuổi theo giành y bát, nên Ngài để y bát trên bàn thạch, chui vô lùm cây trốn.

Thượng tọa Minh nhảy xuống ngựa, ôm y bát lên nhưng ôm không nổi. Chừng đó mới giật ḿnh, th́ ra đây là vật huyền bí, không phải vật thường. Bấy giờ, ông vừa sợ vừa hối lỗi. Tất cả niệm tranh giành ngang đó chấm dứt. Ông liền gọi: "Hành giả, hành giả! Tôi đến đây v́ pháp, chứ không phải v́ y bát".

Khi ấy, Lục Tổ ở trong lùm cây chui ra nói: "Nếu ông v́ pháp, th́ ta sẽ nói cho ông. " Rồi bảo: "Ông yên lặng giây lâu, ta sẽ dạy cho" Thượng tọa Minh đứng yên lặng giây lâu. Tổ nói: "Không nghĩ thiện, không nghĩ ác, cái ǵ là bản lai diện mục của Thượng tọa Minh? " Ngay câu đó Thượng tọa Minh liền thấy đạo.

Quư vị thấy Lục Tổ hết sức thật thà. Ngài thấy chỗ cứu kính thế nào th́ Ngài nói thế ấy. Thiện, ác tức là hai bên. Thiện ác, thương ghét, phải quấy v. v… đều là hai bên. Niệm đầu vừa dấy lên th́ niệm sau nối tiếp theo nhau. Buông hết hai bên th́ không c̣n niệm, lúc ấy bản lai diện mục hiện tiền. Bản là xưa, lai là nay, diện mục là mặt mắt thật của ḿnh. Hết sức đơn giản.

Nói vậy quư vị sẽ có thắc mắc. Người tu cấm không được nghĩ ác, làm ác, chứ tại sao bảo không nghĩ thiện, làm thiện? Không nghĩ thiện, không nghĩ ác tức là không làm lành cũng không làm ác. Như vậy làm sao tu? Quư vị nhớ trong nhà Phật dạy tu có nhiều cấp bậc. Người tu ít, người tu nhiều, người tu b́nh b́nh khác nhau. Tùy theo công phu tu mà sanh trong lục đạo địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, người, a tu la, trời.

Trong lục đạo luân hồi có chia ba đường thiện, ba đường ác. Cho nên nghĩ thiện, nghĩ ác đều đi trong luân hồi. Lâu nay người ta quen cho rằng tu là làm việc thiện thôi. Nhưng sự thật tu thiện th́ được sanh cơi lành. Làm người, a tu la hoặc trời là sanh trong ba cơi lành nhưng vẫn c̣n đi trong sanh tử. Nhà Phật gọi đó là tu pháp Nhân thừa, Thiên thừa thôi, chứ không phải pháp giải thoát. Muốn giải thoát sanh tử th́ phải ra khỏi cả thiện lẫn ác.

Nhà Phật cũng nói về hai thứ: hữu duyên từ và vô duyên từ. Hữu duyên từ là c̣n có sự phân biệt theo duyên thích hợp mà khởi ḷng từ bi. C̣n vô duyên từ th́ thấy người ta khổ là ḿnh cứu ngay, không phân biệt có duyên hay không có duyên. Thí dụ người không nghĩ thiện không nghĩ ác ǵ cả, thấy đứa bé té liền bế nó dậy, đó thuộc về vô duyên từ. Chúng ta đa số làm việc thiện mà nghĩ suy nhiều quá. "Việc thiện này làm kết quả không? " "Được khen hay bị chê? " v. v… nghĩ đủ thứ.

Đức Phật hay các vị Bồ tát luôn luôn làm lành với tâm vô duyên từ, tức là ḷng từ vô duyên. Gặp cảnh th́ làm chứ không có nghĩ suy, không xét duyên cớ. Chúng ta bây giờ thấy người đó nghèo đói, mà họ làm thinh, ḿnh cũng bỏ lơ. Ngược lại, nếu họ năn nỉ "Tôi nghèo đói quá, cô bác giúp đỡ giùm" th́ mới chịu giúp. Giúp như vậy là có duyên, có sự cầu khẩn, c̣n b́nh thường th́ không giúp. Với Phật, với Bồ tát th́ không như vậy. Thấy người ta khổ là giúp, khỏi xin xỏ, khỏi cầu khẩn. Cho nên các Ngài làm lành rồi là thôi. C̣n chúng ta do đợi xin xỏ, nên giúp người rồi mà họ ngó lơ không thèm cám ơn là bực bội liền. Cho nên có duyên từ th́ kèm theo có danh, đ̣i hỏi này nọ. C̣n vô duyên từ không đ̣i hỏi điều kiện ǵ hết. Đó mới cao siêu, quư báu. Đừng cho rằng không nghĩ thiện, không nghĩ ác là xấu. Hiểu vậy như vậy mới thấy gốc của sự tu.

Ngài Nam Nhạc Hoài Nhượng có đệ tử là Mă Tổ Đạo Nhất rất nổi danh ở Trung Quốc. Một hôm Mă Tổ cùng thị giả là Bá Trượng Hoài Hải ra vườn chơi. Trên đường đi, thấy bầy vịt trời bay trên hư không, Mă Tổ hỏi:

- Cái ǵ đó?

Hoài Hải thưa:

- Bầy vịt trời.

Hồi sau Mă Tổ hỏi:

- Bay đâu rồi.

Ngài Hoài Hải ngó lên thấy bầy vịt trời bay mất, liền trả lời:

- Bay mất rồi.

Liền bị Mă Tổ nắm lỗ mũi véo một cái thật mạnh, Ngài la thất thanh. Mă Tổ bảo:

- Sao không nói bay mất đi?

Ngay đó Bá Trượng liền đại ngộ.

Mă Tổ dạy cái ǵ mà ngài Bá Trượng ngộ đạo? Đó là những h́nh ảnh kỳ đặc của các Tổ sau này. Véo lỗ mũi người ta đau điếng đến nổi phải la thất thanh, rồi hỏi: "Sao không nói bay mất đi? ". Vậy mà đệ tử liền ngộ. Để thấy rằng ông thầy muốn chỉ cái thật cho học tṛ mà không dùng những ngôn từ b́nh thường, chỉ dùng những thủ thuật đặc biệt.

Lâu nay chúng ta có bệnh mắt th́ chạy theo sắc, tai th́ chạy theo tiếng… tất cả sáu căn luôn luôn đuổi theo sáu trần. Nhớ sáu trần mà quên cái gốc nơi sáu căn. Sáu căn có cái thấy, cái nghe, cái ngửi, cái nếm… Có thấy, có nghe, có ngửi, có nếm… là có biết. Cái biết đó không đuổi theo sáu trần, mà luôn hiện hữu nơi ḿnh, có vắng lúc nào đâu.

Trong kinh Lăng Nghiêm, đức Phật đưa tay lên, hỏi ngài A Nan:

- Thấy không?

- Thấy.

- Thấy cái ǵ?

- Thấy tay Phật đưa lên.

Phật để tay xuống rồi hỏi tiếp:

- Thấy không?

- Không thấy.

Phật quở:

- Tay đưa lên th́ thấy có tay, tay để xuống th́ thấy không tay, chứ cái thấy đâu có vắng. Sao lại nói lộn xộn vậy.

Phật quở v́ ngài A nan lầm cho cái tay là cái thấy, đó là quên ḿnh theo vật. Chúng ta cũng như vậy. V́ quên ḿnh theo vật nên cho vật là ḿnh.

Thêm một ví dụ nữa, Phật bảo ngài La Hầu La đánh một tiếng chuông nghe "boong", hỏi A Nan:

- Ông nghe không?

- Dạ nghe.

Tiếng chuông bặt, Phật hỏi:

- Ông nghe không?

- Dạ không.

Phật quở một phen nữa:

- Tiếng chuông có th́ nghe có tiếng chuông. Tiếng chuông lặng th́ nghe không có tiếng chuông. Tại sao nói không nghe?

Chúng ta có lầm như vậy không? Tất cả chúng ta đều lầm như vậy cả. Nên rồi ḿnh sống trong mê lầm mà không hay. Chính ḿnh đang nghe có tiếng hoặc không tiếng, chứ đâu phải không có cái nghe. Thấy không có cảnh, không có vật, chứ đâu phải không có cái thấy. Rơ ràng chúng ta quên ḿnh theo vật, cứ chạy theo sáu trần. V́ vậy bên ngoài sáu căn đuổi theo sáu trần, rồi đem bóng dáng đó vào chấp chứa, phân biệt trong tâm. Đó là sống với cái giả mà quên cái thật.

Cho nên Mă Tổ nắm lỗ mũi Bá Trượng véo một cái đau điếng, hỏi: "Sao không nói bay mất đi" Bay qua th́ chim bay qua, chứ cái thấy chim bay qua có mất lúc nào đâu. Ngài Bá Trượng nhờ thế sực tỉnh, nhớ cái lỗ mũi đau đời đời không quên. Đó là một thủ thuật. Tổ Bá Trượng sau nổi tiếng là nhờ thủ thuật của ông thầy.

Chúng ta thấy hai vị trước là Tổ Đạt Ma và Tổ Huệ Năng nói rất hiền lành. Qua tới Mă Tổ th́ bắt đầu kỳ đặc. Dưới Tổ Bá Trượng có ngài Hoàng Bá Hy Vận cũng có thủ thuật rất kỳ đặc. Ngài Lâm Tế trước khi gặp Tổ Hoàng Bá, là một con người rất thâm trầm, cho nên Thủ tọa Minh thấy có tương lai, nên xúi ngài Lâm Tế hỏi Tổ Hoàng Bá: "Thế nào là đại ư Phật pháp? ". Hoàng Bá nghe xong, không trả lời lấy một câu, liền lấy gậy đập cho một gậy. Ngài Lâm Tế bị đập rồi ngẩn ngơ, không biết làm sao hết. Đó là lần thứ nhất.

Ít hôm sau Thủ tọa lại bảo: "Thôi lên hỏi nữa đi". Ngài cũng hiền, nghe xúi th́ làm theo, cũng lên hỏi câu đó: "Bạch Ḥa thượng! Thế nào là đại ư Phật pháp? ", liền bị đập một gậy nữa. Đau quá, Ngài không biết nói ǵ nữa, ôm ḷng buồn tủi đi xuống.

Ít hôm sau, Thủ tọa lại xúi lên hỏi nữa. Lần thứ ba cũng bị ăn gậy, đau khổ cùng cực Ngài chỉ c̣n có nước khóc thôi. Xuống gặp Thủ tọa hỏi: "Bữa nay thế nào? " Ngài trả lời: "Ba lần hỏi, ba lần đều bị ăn đ̣n, chắc tôi không có duyên ở đây. Thôi tôi xin đi. " Thế là Ngài cuốn gói sửa soạn đi. Ông Thủ tọa nói nhỏ: "Trước khi đi nên đến bạch với Ḥa thượng cầu chỉ dạy. " Nghe lời, Ngài lên thưa: "Bạch Ḥa thượng, con không có duyên ở đây, con xin đi. " Tổ Hoàng Bá bảo: "Ông nên tới chỗ Cao An, hỏi Đại Ngu. Kia sẽ v́ ông mà chỉ cho".

Đại Ngu tức là núi Đại Ngu, c̣n tên của Ngài tôi quên mất rồi, chỉ nghe người ta kêu theo tên núi là Đại Ngu. Lâm Tế qua đó gặp ngài Đại Ngu. Đại Ngu hỏi:

- Ông từ đâu đến?

- Con từ Hoàng Bá đến.

- Hoàng Bá đă chỉ dạy ǵ cho ông?

- Con ba lần hỏi đại ư Phật pháp, ba lần đều bị ăn đ̣n, không biết con có lỗi hay không lỗi?

Ngài Đại Ngu liền chụp lấy vai Lâm Tế nói:

- Hoàng Bá đă v́ ông chỉ tột, mà c̣n hỏi có lỗi hay không lỗi?

Ngay đó ngài Lâm Tế liền đại ngộ, nói:

- Phật pháp của Hoàng Bá rất ít.

Ngài Đại Ngu liền xô ra hỏi:

- Mới hồi năy nói có lỗi không lỗi, bây giờ lại nói Phật pháp của Hoàng Bá rất ít. Ông thấy đạo lư ǵ, nói mau. "

Lâm Tế liền thôi cho Đại Ngu một thôi vô hông. Ngài Đại Ngu xô ra bảo:

- Thầy ngươi là Hoàng Bá, không phải ta.

Quư vị thấy thế nào? Ngài Hoàng Bá, mới nh́n thấy quá tàn nhẫn phải không. Nhưng dưới con mắt của Đại Ngu th́ Ngài quá từ bi. V́ quá từ bi nên mới dồn đệ tử tới chỗ bí hiểm đó. Dồn rồi đưa qua cho Đại Ngu v́ biết ngài Đại Ngu sẽ tháo gỡ được. Cho nên khi nghe ngài Đại Ngu nói: "Hoàng Bá đă v́ ông chỉ tột, mà ông c̣n hỏi có lỗi không lỗi? " th́ Lâm Tế liền đại ngộ. Ngộ như thế tới chết cũng không quên! Bởi v́ ba lần bị đánh đ̣n đau quá, quên sao nổi.

Một bên bị véo lỗ mũi, một bên bị đánh đ̣n. Đau quá nên cả hai đều đại ngộ! Chỗ Lục Tổ nói không nghĩ thiện, không nghĩ ác th́ ngài Lâm Tế nói có lỗi không lỗi. Hai lối nói đó có khác nhau không? Khi nào không c̣n chỗ thấy hai bên mới là chỗ chân thật. Ngài Lâm Tế ngộ được chỗ đó rồi, sau này Ngài thường nói với Tăng Ni: "Ta sau khi ăn đ̣n, biết được chỗ chân thật rồi, tới nay không bao giờ quên. "

Ngày nay, Phật tử nghe quư thầy nói cũng hiểu vậy, nhưng vài bữa là quên. Tại v́ chưa ăn đ̣n, chưa bị véo lỗ mũi, phải không? Quư thầy ngày nay dễ nên Phật tử cũng dễ quên. C̣n người xưa khó như vậy nên không bao giờ quên. Đó là những thủ thuật đặc biệt của các Thiền sư Trung Hoa.

Những phương tiện ấy đều là giáo ngoại biệt truyền. Trong kinh không dạy đánh, không dạy véo lỗ mũi, nhưng quư Ngài làm những việc đó. Như vậy có trái với đạo lư không? Chẳng những không trái mà những thủ thuật ấy c̣n đưa hành giả tới chỗ lư đạo sâu xa hơn, không bao giờ quên.

Bởi v́ lâu nay chúng ta quen nghĩ suy rồi. Bây giờ muốn chặn đứng nó lại phải có phương pháp mạnh mới chặn nổi. Nếu không th́ cũng ngồi thiền, cũng ngó xuống, mà cái đầu lăng xăng không chịu yên. Cho nên thói quen đă thành đường ṃn rồi, sửa khó. Muốn cho đường ṃn đó được bít lại, th́ phải có cách khôn ngoan, khéo léo để chặn đứng nó.

C̣n nghĩ thiện, c̣n nghĩ ác là c̣n sanh tử. Nghĩ thiện th́ đi đường lành, nghĩ ác th́ đi đường dữ. Người tu chuyển nghiệp là đừng đi đường dữ, mà đi đường lành, đó là tu Nhân thừa và Thiên thừa. Nếu muốn dứt hết không c̣n sanh tử nữa th́ phải làm sao? Tâm không c̣n dính, không c̣n kẹt bên nào th́ mới thoát ly sanh tử. Tại sao? Bởi v́ dấy niệm thiện, ác th́ tạo nghiệp thiện, ác. Trong ba nghiệp, ư là chủ. Ư nghĩ thiện nghĩ ác th́ thân làm thiện làm ác, miệng nói thiện nói ác. Bây giờ ư không nghĩ thiện nghĩ ác, gặp cảnh th́ làm tùy duyên, tâm không khởi niệm. Việc làm đó không có gốc của thiện, ác.

Nếu tâm của chúng ta thản nhiên, tự tại, không bị một niệm nào sai khiến th́ nó bao la, trùm khắp. Nên nói tâm bao la trùm khắp khó hiểu, bởi v́ người ta cứ nghĩ tâm ở trong tấm thân nhỏ bé này. Nhưng sự thật, nếu chúng ta nghĩ về người, th́ cái nghĩ đó duyên theo h́nh bóng người, nghĩ về cái chuông th́ duyên theo bóng của cái chuông, nghĩ về đồng hồ th́ duyên theo bóng của đồng hồ… nó có giới hạn. Nếu không nghĩ ǵ hết th́ nó duyên theo bóng nào? Không có bóng. Không có bóng,

không có h́nh tướng th́ nó trùm khắp rồi. Vậy mà chúng ta lại bỏ cái rộng lớn bao la ấy, đi bắt lấy những cái nhỏ nhoi, tạm bợ. Cho nên Phật thương chúng sanh là thương ở chỗ mê lầm đó.

Chúng sanh bám vào những giả dối, tạm bợ mà hài ḷng, c̣n cái chân thật lại bỏ quên. Trong khi cái chân thật đó không bao giờ mất, nó luôn ở bên ḿnh. Nên nói rằng chúng ta xuống địa ngục th́ Phật tánh cũng xuống địa ngục; nhưng Phật tánh không bị hành, không bị khổ. Rơ ràng Phật tánh không tách rời chúng ta, chỉ tại chúng ta quên thôi.

Quư vị nh́n lại chàng cùng tử trong kinh Pháp Hoa xem có giống ḿnh không? Cha là trưởng giả giàu có, của cải vô số mà chàng cùng tử không chịu ở, bỏ đi lang thang. Tới chừng khổ quá, mới thức tỉnh trở về. Thức tỉnh trở về mà cũng không dám nhận cha của ḿnh, của cải sự nghiệp của ḿnh. Dần dần do người cha khéo dùng phương tiện d́u dẫn, chàng cùng tử mới quen và từ từ nhận ra được gia tài và cha ḿnh.

Chúng ta cũng vậy, có cái chân thật, thênh thang mà không dám nhận. Chỉ nhận bóng dáng tạm bợ mấy chục năm, tâm lăng xăng lộn xộn luôn luôn thay đổi là ḿnh, bỏ quên cái chân thật. Như vậy có đáng thương không? Chư Phật và Bồ tát, thương là thương cái mê lầm đó của chúng sanh. Cho nên toàn bộ kinh Phật đều nhằm đánh thức cho ḿnh tỉnh, đừng mê lầm nữa. Hết mê lầm là giải thoát sanh tử.

Cho nên có trí tuệ giác ngộ rồi mới đi tới giải thoát. Nếu không có trí tuệ, không có giác ngộ th́ không có giải thoát. Đó là lẽ thường. Như vậy chúng ta tu cốt để được giải thoát sanh tử th́ phải đi con đường đó. Nếu chúng ta tu để đời sau sướng hơn đời này, th́ đi con đường Nhân thừa hoặc Thiên thừa như đă nói ở trên. Nhưng đức Phật không thích chúng ta lên cơi trời. Tại sao? Bởi v́ lên cơi trời hưởng sung sướng nhiều quá, tu không được. Đến khi hưởng hết phước rồi th́ rơi xuống trở lại. Thế là uổng công bao nhiêu năm!

Chúng ta thường lầm cho nghĩ rằng ăn ngon, mặc đẹp, ở nhà lầu, đi xe hơi… là hạnh phúc. Nhưng nếu xét kỹ thân này ăn để chi? Cả ngày cứ mượn trả, mượn trả… ít chục năm nó cũng hư hoại. Mượn trả tốt, mượn trả xấu cũng là mượn trả thôi, chứ có ǵ hơn. Đó là nói ở cơi ta bà này chỉ có mấy chục năm thôi. Nếu ở cơi trời th́ tuổi thọ gấp năm mười lần, hai ba mươi lần cơi này. Nhưng lên đó mượn trả đă rồi cũng phải trở xuống. Như vậy có nghĩa lư ǵ. Tốt hơn ở đây có khổ có vui, mau tỉnh. Mau tỉnh th́ dễ tu. Dễ tu mới có thể ra khỏi sanh tử luân hồi sớm. Chúng ta thấy rằng đức Phật nh́n thật tường tận. C̣n chúng ta th́ không như thế.

Như vậy ở thế gian, người giàu quá hoặc nghèo quá, dễ tu hay khó tu? Cả hai đều khó cả. Chỉ có hạng người vừa đủ ăn, khổ vui lẫn lộn là dễ tu hơn hết. Khổ quá th́ tối ngày bận bịu với cuộc sống, đâu có rảnh mà nhớ tu. C̣n dư giả quá, giàu có quá th́ tiệc tùng liên miên cũng không rảnh mà tu. Nên nó cả hai trường hợp này đều khó tu. Phật bảo sanh trong tam ác đạo không tu được nên phải tránh. Nhưng cơi trời cũng khó tu, chỉ cơi người là dễ tu.

Từ nay, quư vị có than phiền sanh cơi người khổ nữa không? Sanh cơi người là cơ hội tốt để cho ḿnh dễ thức tỉnh. Nếu được lên cơi trời ḿnh cứ hưởng không nghĩ tới tu. Sanh cơi người, chúng ta có đủ cơm ăn là tốt rồi, để thời giờ nghiên cứu, học hỏi, tu hành. Người biết đạo là người không tham cầu sung sướng, chỉ vui trong hoàn cảnh vừa đủ của ḿnh, rồi để dành thời giờ lo tu. Những vui buồn là cơ hội tốt để ḿnh tỉnh, chứ nếu vui hoài th́ không tỉnh. Nên buồn không hẳn là tai họa, nó cũng là duyên để chúng ta thức tỉnh.

Nhớ như vậy th́ sự sống của ḿnh an lành. C̣n nếu chúng ta cứ đ̣i hỏi bằng người này, bằng người kia là không biết sống. V́ sống mà cứ mơ ước, trông đợi trong ảo tưởng, không thực tế cho nên khổ.

Tất cả các bệnh của chúng ta đều từ tâm niệm so sánh, đối chiếu mà có. Tham, sân, si cũng từ đó. Nếu chúng ta buông liền từ gốc dấy niệm th́ đâu c̣n ǵ để tham, sân, si. Như vậy uống có một thang thuốc mà lành hết tất cả bệnh. Đó là do trị tận gốc vậy. Phương thuốc thật đơn giản, nói đơn giản nhưng lại khó làm. Nếu làm được th́ kết quả rất to, chứ không phải thường. Cho nên đường lối tu thiền này các Tổ sư gọi là Tối Thượng thừa, không theo thứ bậc nào cả.

Trị từng bệnh là Nhị thừa. Đến như Bồ tát cũng c̣n trị từng bệnh. Ở đây không trị từng bệnh, mà trị tận gốc. Gốc hết rồi th́ tất cả bệnh theo đó hết. Đây gọi là đi đường thẳng. Cho nên nó đốn giáo, tức thẳng tắt chứ không có quanh co. V́ vậy Tối Thượng thừa cũng gọi là Phật thừa. Mê là chúng sanh, ngộ là Phật; chứ nó không có quanh co thứ bậc. Các thừa kia theo thứ lớp, dẹp được phiền năo nào th́ chứng được tầng bậc nào tương ứng. Ở đây không dẹp phiền năo, mà dẹp gốc sanh phiền năo. Gốc sanh phiền năo nếu dẹp được th́ thẳng đó thành Phật. Ngay ông Phật sẵn của ḿnh hiện ra. Học Thiền Đốn Ngộ là chỉ thẳng gốc ấy. Nếu gốc đốn được rồi th́ ngọn dễ lắm. Nếu gốc chưa đốn được th́ chặt ngọn này, nó nhảy ra ngọn khác, khó lâu mới hết sạch.

Người tu không hiểu, không nắm được pháp tu là tu mù. Nếu biết rơ th́ kết quả tu sẽ đúng như ḿnh mong muốn. Đó là tu trong sáng suốt. Nên quư vị đừng mong rằng ḿnh ngồi thiền, ngày nào đó có hào quang sáng ngời lên chẳng hạn. Những việc ấy không thể cứu được ḿnh. Cứu ḿnh là thấy đúng như thật. Vọng tưởng biết vọng tưởng. Đó là trí tuệ rồi. Trí tuệ này hết sức đơn giản. Chúng ta thường không chịu cái đơn giản, mà đ̣i có hào quang, đ̣i đủ thứ hết. Bởi vậy người tu thiền lạc vào tà đạo cũng tại mong muốn những thứ không thực tế.

Cho nên trong kinh, Phật nói rằng: "Ngoại đạo tu có thể chứng được ngũ thông; c̣n ta tu chỉ lấy đạo thông làm gốc. " Đạo thông tức là suốt được lối đi, thấu được đạo lư chân thật. Bởi v́ thần thông không cứu được ḿnh. Hiểu như vậy trên đường tu mới khỏi lầm lẫn.

Chư sư Nguyên thủy tu theo Tứ Niệm Xứ v. v… các ngài đi biết dở chân, đứng biết dừng chân, duyên theo từng hành động. Bởi tu duyên theo từng hành động nên lối đi đứng rất nghiêm trang. C̣n lối tu biết vọng, trong các oai nghi thảnh thơi, biết vọng không theo. Chỉ "chăn" cái nghĩ, mà không "chăn" hành động. V́ vậy lối tu này, hành giả sinh hoạt một cách tự nhiên, không kềm gượng.

Nhiều Phật tử thuật lại cho tôi nghe, họ ứng dụng lối tu biết vọng, lúc lái xe th́ cứ lái xe, vừa nghĩ bậy liền buông. Do đó khi lái xe cũng vẫn tu được. Làm việc ǵ chuyên tâm vào việc đó, không cho nghĩ cái ǵ khác. Nhờ chuyên tâm nên việc làm rất tốt. Như vậy trường hợp nào cũng tu được hết. Sống trong thời khoa học máy móc này, nếu chúng ta lơ lỏng, ngồi đây mà lo ra, nghĩ chuyện khác th́ sẽ rất nguy hiểm.

Như vậy lối tu này, tu mà không thấy ḿnh tu ǵ hết. Ở ngoại quốc ứng dụng lối tu này rất hay, v́ nếu tụng kinh, lễ bái nhiều hàng xóm nghe chuông, nghe mơ người ta phản đối lắm. Chúng ta ngồi thiền im ĺm không có ǵ phiền đến người khác cả, như vậy vừa hay cho ḿnh, vừa hay cho người. Tu ở đâu cũng được, dễ dàng không có ǵ trở ngại.

Tóm lại, trên đường tu chúng ta tu thế nào để cho bản thân ḿnh, cuộc sống của ḿnh và cuộc sống xă hội không bị trở ngại, đó là điều cần thiết. Được vậy sự truyền bá của Phật pháp mới đúng với nhịp tiến của thời đại. Nếu chúng ta tu mà không thích hợp với cuộc sống của thời đại, của xă hội mới th́ không được. Quư Phật tử cần phải hiểu cho thấu đáo để ứng dụng tu có kết quả thiết thực. Hôm nay tôi đưa ra thang thuốc này, chúc quư vị được lành tất cả bệnh.


 

TÁNH KHÔNG VÀ CHÂN KHÔNG

Giảng tại Thiền viện Trúc Lâm - 2000.

Từ ngày c̣n ngồi ghế nhà trường cho tới những năm sau này, đọc kinh sách và đọc những bài luận của các học giả Phật giáo, tôi cứ hoang mang v́ sự luận giải lẫn lộn giữa Tánh không và Chân không.

Tánh không và Chân không là một hay là khác? Điều này thâm trầm lắm, nếu chúng ta không nhận được th́ sự tu sẽ lẫn lộn. Do lẫn lộn, chúng ta không biết đâu là gốc, đâu là ngọn. Có một số học giả giải Tánh không tức là Chân không, đây là lầm lẫn lớn vậy.

Tánh không là ǵ? Chân không là ǵ? Đó là chỗ tôi muốn giảng trạch cho quư vị hiểu.

Tất cả các kinh Bát-nhă đều nói về Tánh không. Bởi v́, theo sự phán giáo của các Tổ ngày xưa, chia giáo lư của đức Phật theo thứ tự từ hệ A-hàm đến hệ Bát-nhă, hệ Pháp Hoa Niết bàn v. v… Như vậy Tánh không nằm ở hệ Bát-nhă.

Tất cả pháp do nhân duyên sinh, đó là giáo lư căn bản của A-hàm. Từ lư nhân duyên sinh đó, hệ Bát-nhă đi sâu hơn. Đă là nhân duyên sinh ra các pháp, th́ trước khi các pháp sinh, nó ở Tánh không. Do Tánh không duyên mới hợp được, nếu nó sẵn có th́ không đợi duyên hợp. Thí dụ bao kiếng có sẵn th́ cái ǵ hợp thành bao kiếng không? V́ chưa hợp nên đợi ráp từng phần lại mới có bao kiếng.

Nói Tánh không phải hiểu các pháp tự tánh vốn không, do duyên hợp mới thành h́nh. V́ vậy sự thành h́nh này là tạm có, hư dối không thật. Nếu nó có sẵn một cái nguyên thể trọn vẹn từ ban đầu th́ không đợi duyên hợp. V́ cái nguyên thể trọn vẹn ban đầu không có, phải đợi đủ duyên hợp thành các pháp, nên gọi là Tánh không. Như vậy nói rơ hơn là Tánh không duyên khởi, tức duyên hợp sanh ra muôn pháp.

Có người giải Tánh không là Chân không, duyên hợp sanh muôn pháp là diệu hữu. Hiểu như vậy th́ quả thật là lầm to. Chúng ta phải nh́n cho tường tận, Tánh không duyên hợp sinh ra muôn pháp, cho nên muôn pháp là hư dối, đó là tinh thần của Bát-nhă. Do thấu triệt được lư tánh không duyên hợp, mà phá tan mọi cố chấp. Không có ǵ trên thế gian là thật, kể cả xuất thế gian cũng không thật luôn. Bởi v́ xuất thế gian là đối với thế gian mà nói. Thế gian đă không thật có th́ xuất thế gian làm ǵ có được.

Ví dụ chúng sinh do mê lầm mà phải chịu sanh tử, Phật nói pháp Tứ đế để diệt sanh tử. Như vậy v́ đối trị sanh tử nên nói pháp diệt sanh tử. Nếu hết sanh tử th́ pháp diệt sanh tử cũng không c̣n. Cho nên nói tất cả pháp do duyên hợp đều là hư dối. V́ vậy trong tướng không, các pháp không sanh, không diệt, không nhơ, không sạch v. v… cho tới không khổ, tập, diệt, đạo cũng như thế. Pháp Tứ đế là chân lư mà cũng không, nên mười hai nhân duyên cũng không. Tất cả những ǵ do đối duyên dựng lập đều là không thậät.

Như vậy Bát-nhă là phá tan tất cả kiến chấp, chấp thế gian, chấp xuất thế gian đều bị phá hết. Tất cả chúng ta dính mắc đầu này, đầu nọ là tại sao? Bởi cái ǵ ḿnh cũng cho là thật, là quí nên yêu thích. Đă yêu thích th́ chấp giữ, mà chấp giữ là khổ. Bây giờ nh́n cái ǵ cũng giả nên không chấp giữ. Do không chấp giữ nên được mất không lo, như vậy không giải thoát là ǵ. Đó là cái nh́n trí tuệ Bát-nhă, thấu suốt tường tận tánh không của các pháp. Đó là phá sạch, không c̣n chấp chỗ nào nữa cả.

Trong kinh Bát-nhă có nói "Chư pháp không tướng, bất sanh, bất diệt, bất cấu, bất tịnh, bất tăng, bất giảm…" tất cả đều không. Nhưng tại sao chúng ta thấy rơ ràng sự vật có dơ, có sạch, có sanh, có diệt, như vậy Bát-nhă có ngụy biện không? Thực t́nh tánhkhông là các pháp vốn không có sẵn, do duyên hợp mới có, nên nó có sanh có diệt. Sanh diệt đó là xét trên tướng duyên hợp, chứ trong Tánh không, không có ǵ hết.

Tánh không của các pháp, trong đó kể cả ngũ uẩn: sắc, thọ, tưởng, hành, thức cũng là pháp. Như vậy tất cả pháp đều Tánh không, duyên hợp giả có. Đó là lư luận triệt để về Tánh không.

Kế tôi nói đến Chân không. Tánh không là nói trên tánh của các pháp. C̣n Chân không là nói trên tâm thể. Cho nên Lục Tổ bảo "Bản lai vô nhất vật", tức là Chân không vậy. Ngài thấy được tâm ḿnh xưa nay thanh tịnh, tâm ḿnh vốn không sanh diệt v. v… Tâm đó không có tất cả ư niệm lăng xăng nên nói Chân không.

Chân không làm sao sanh diệu hữu? V́ diệu hữu là khởi nghĩ. Nhưng đây không phải là khởi nghĩ vọng tưởng lăng xăng. "Chân không sanh diệu hữu" tức là cái dụng của tâm thể như: tam minh, lục thông, tứ vô sở úy, thập bát bất cộng v. v… Diệu hữu là những diệu dụng mầu nhiệm từ tâm thể Chân không mà ra. Khi chúng ta nhận được tâm không một pháp rồi, th́ mới thấy diệu hữu của nó. Cho nên Phật mới có đủ tam minh, lục thông, tứ vô sở úy, thập bát bất cộng v. v… Nếu nói diệu hữu là tất cả các trần cảnh th́ lầm quá to. Chúng ta nhớ lời của thiền sư Minh Chánh: "Chẳng rơ bản lai vô nhất vật, công phu uổng phí một đời ai? ", tức là không nhận được cái Chân không của ḿnh th́ uổng một đời công phu, không đi tới đâu hết. Như vậy Chân không là tâm thể của ḿnh. C̣n Tánh không đó là thể tánh của muôn pháp. Hai thứ riêng khác. Tánh không duyên hợp sinh ra muôn pháp hư giả không thật. Chân không là tâm thể bất sanh bất diệt mà có diệu dụng hay sanh muôn pháp, nên gọi là diệu hữu. V́ vậy chư Phật mới có vô số phương tiện, vô số thần thông, đều từ Chân không mà ra.

Tánh không là y cứ theo Bát-nhă để phá chấp. Chân không là y cứ theo kinh Pháp Hoa, kinh Hoa Nghiêm, kinh Niết-bàn chỉ cho chúng ta có chân tâm bất sanh bất diệt. Khi nào phá hết các pháp chấp rồi, mới nhận ra được chân tâm. Chân tâm chính là chân không diệu hữu. Rơ ràng như vậy, nên nói Tánh không là Chân không là sai lầm lớn. Một bên chuyên bác không lập ǵ hết, một bên nhận thẳng chân tâm. Từ chân tâm mới có diệu hữu. Diệu hữu tức là những sự mầu nhiệm khi đạt được chân tâm.

Như vậy chúng ta tu trước phải đi từ Bát-nhă. Lục Tổ ngộ nơi kinh Kim cang "Bất ưng trụ sắc sanh tâm, bất ưng trụ thanh, hương, vị, xúc, pháp sanh tâm. Ưng vô sở trụ như sanh kỳ tâm", Kỳ tâm là tâm nào? Phật nói phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác th́ đừng trụ tâm nơi sắc, thanh, hương, vị xúc, pháp. Nên không có chỗ trụ mà phát tâm Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Như vậy tâm chẳng sanh chẳng diệt mới là tâm hay sanh muôn pháp. Cho nên "kỳ tâm" là tâm Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác vậy. Chúng ta tu mà không dính sáu trần chính là đă phát tâm Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác rồi. Chân không chính là tâm không vướng mắc với sáu trần. Đó là tâm chân thật.

Giáo lư của đức Phật có một hệ thống cụ thể rơ ràng. Cho nên hiểu sâu mới thấy các từ quí Ngài dùng đều chính xác, rơ ràng. Chúng ta tu học phải thấy cho tường tận, nếu không th́ sự tu không dính dáng ǵ với lời Phật dạy, không có kết quả ǵ cả.


 

PHẢN QUAN TỰ KỶ BỔN PHẬN SỰ BẤT TÙNG THA ĐẮC

Giảng tại Trường hạ Phổ Đà TP. HCM
ngày 23.7.2000 - Canh Th́n

Hôm nay tôi sẽ giảng về đề tài Phản quan tự kỷ bổn phận sự, bất tùng tha đắc. Đây là một đề tài chuyên về tu thiền, nhất là Thiền tông Việt Nam.

Đời nhà Trần, Tuệ Trung Thượng Sĩ là một cư sĩ được ngộ đạo. Cho nên vua Trần Thánh Tông gởi Thái tử Trần Khâm cho Tuệ Trung Thượng Sĩ dạy đạo lư. Khi học hỏi gần xong sắp trở về triều, trước lúc từ giă Thái tử hỏi Tuệ Trung Thượng Sĩ: "Bạch Thượng Sĩ, pháp yếu của Thiền tông là ǵ? ". Thượng Sĩ trả lời: "Phản quan tự kỷ bổn phận sự, bất tùng tha đắc".

"Phản quan" là soi sáng hay xem xét, "tự kỷ" là chính ḿnh. "Phản quan tự kỷ bổn phận sự, bất tùng tha đắc" có nghĩa xem xét lại chính ḿnh là việc bổn phận, không phải từ nơi khác mà được. Đó là câuchâm ngôn trong nhà Thiền. Chúng ta nghiên cứu Phật pháp sẽ thấy câu này hệ trọng như thế nào.

Trong pháp tu Tứ niệm xứ gồm có quán thân bất tịnh, quán thọ thị khổ, quán tâm vô thường, quán pháp vô ngă. Cả bốn thứ quán này đều quay lại ḿnh, chớ không đi hướng nào khác. Quán thân bất tịnh là quay lại ḿnh để xem xét thân này nhớp nhúa không sạch. Quán thọ thị khổ là quay lại ḿnh xem xét những cảm giác thọ nhận đối với sáu trần bên ngoài đều là đau khổ. Quán tâm vô thường là quay lại ḿnh để xem xét tâm niệm luôn luôn sinh diệt không dừng. Quán pháp vô ngă là quay lại ḿnh xem xét những tâm sở pháp không có chủ thể cố định.

Đến pháp quán hơi thở là Anapanna cũng nh́n lại hơi thở của ḿnh từ thô đến tế. Nên pháp quán này c̣n được gọi là "Lục diệu pháp môn". Đó là sáu môn quán chiếu xoay lại ḿnh: sổ tức, tùy tức, chỉ, quán, hoàn, tịnh.

Sổ tức, tức là đếm hơi thở. Hít vô cùng, thở ra sạch đếm một, như vậy đếm tới mười th́ bỏ, bắt đầu đếm lại từ một. Sổ tức đă thuần thục bước sang Tùy tức, nghĩa là theo dơi hơi thở. Quan sát hơi thở vô, hơi thở ra một cách rơ ràng gọi là Tùy tức. Chỉ là dừng tâm để nh́n hơi thở. Quán là xem xét hơi thở vô ra, nên hơi thở là mạng sống vô thường không bền lâu. Hoàn là xoay trở lại t́m xem cái quán hơi thở vô thường đó là ǵ. Cuối cùng dừng hết tâm, không chạy ra ngoài nữa gọi là Tịnh.

Như vậy pháp tu Tứ niệm xứ hay Lục diệu pháp môn v. v… đều là phản quan, chớ không có ǵ khác. Người tu Phật muốn đi tới chỗ an định, trí tuệ sáng suốt th́ phải quay lại quán chiếu nơi ḿnh. Thấy rơ được ḿnh như vậy gọi là phản quan. Phản quan ở đâu? Phản quan nơi chính ḿnh.

Đêm nào chúng ta cũng tụng kinh Bát-nhă hết. Vậy tụng kinh Bát-nhă để làm ǵ? Để bổ khuyết tâm kinh phải không? Không phải. Lâu nay có một ít người lầm, cho rằng kinh Bát-nhă là bổ khuyết tâm kinh. Sao gọi là bổ khuyết? Bởi khi tụng kinh, người đánh mơ nhanh quá nên có khi tụng sót, v́ vậy phần sau phải bổ khuyết lại bằng bài kinh Bát-nhă. Hiểu như vậy là một lầm lẫn lớn lao.

Bát-nhă là trí tuệ. Trí tuệ đó là trí tuệ chiếu soi thấu suốt được bản thân con người và tất cả ngoại cảnh bên ngoài, cho nên gọi đó là trí tuệ Bát-nhă. Mở đầu kinh Bát-nhă là câu: "Quán Tự Tại Bồ-tát hành thâm Bát-nhă ba-la-mật-đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách. " Nghĩa là Bồ-tát Quán Tự Tại khi hành sâu trí tuệ Bát-nhă, Ngài chiếu soi thấy năm uẩn đều không, liền qua hết tất cả khổ nạn. Tinh thần Bát-nhă là phản quan lại, chiếu soi năm uẩn không thật th́ qua hết tất cả khổ nạn.

Pháp tu nào của nhà Phật cuối cùng cũng phải tụng kinh Bát-nhă. Tu Tịnh độ, tu Mật tông, tu Thiền v. v… đều như vậy. Nghĩa là tất cả pháp tu của Phật dạy, cuối cùng đều qui hướng về trí tuệ. Có trí tuệ mới giải thoát đau khổ, có trí tuệ mới thấy được chân lư. Có trí tuệ mới ngộ đạo. Đó là điểm then chốt, là căn bản trên con đường tu tập để được giác ngộ giải thoát.

Như kinh Kim Cang, Phật trả lời hai câu hỏi của ngài Tu Bồ Đề: "Vân hà an trụ, vân hà hàng phục kỳ tâm? " Nghĩa là làm sao an trụ, làm sao hàng phục được tâm kia? Đức Phật trả lời: Phải độ tất cả chúng sanh nào thai sanh, thấp sanh, hóa sanh cho tới những loài hữu sắc vô sắc, hữu tưởng vô tưởng v. v… đều vào vô dư Niết-bàn, đó là hàng phục tâm. Nếu thấy sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp mà không dính mắc không trụ trước, đó là an trụ tâm.

Phật dạy chúng ta hàng phục tâm là đưa những niệm nghĩ tưởng về hữu sắc, vô sắc v. v… vào vô dư Niết-bàn, tức vào chỗ không sanh không diệt, đó là hàng phục tâm. Nếu muốn an trụ tâm th́ đối với sáu trần không cho dính mắc. Không trụ nơi sắc sanh tâm, không trụ nơi thanh, hương, vị, xúc, pháp sanh tâm, đó là an trụ tâm. Như vậy trọng tâm kinh Kim Cang dạy hàng phục tâm, là bất cứ niệm tưởng nào cũng đều đưa nó vào chỗ vô sanh. Đối với sáu trần không dính, không kẹt, đó là an trụ tâm.

Chúng ta học kinh, hiểu rơ ư nghĩa kinh th́ sự tu hành mới dễ. Trọng tâm tu là phải hàng phục vọng tưởng bên trong, đừng dính mắc sáu trần bên ngoài. Muốn hàng phục tâm vọng tưởng bên trong, phải phản quan nh́n lại chính ḿnh. Muốn không dính mắc sáu trần th́ phải khéo quán sát. Khi sáu căn tiếp xúc với sáu trần liền thấy, liền biết không cho dính kẹt. Đó là gốc của đạo Phật.

Chúng ta tu muốn đi tới giác ngộ, tâm hoàn toàn an định th́ không có cách nào khác hơn là phải ứng dụng như vậy. Cho nên tất cả người tu đều phải giữ ǵn đừng để sáu căn dính với sáu trần. Được thế là tự do tự tại. Tự do tự tại chính là giải thoát vậy. Trong kinh A Hàm, có câu chuyện:

Một hôm đức Phật vào rừng ngồi thiền. Sau khi xả thiền, Ngài nh́n chung quanh thấy có con rùa lớn ḅ qua. Một con rái cá thấy được định chụp ăn, nhưng mai con rùa cứng và trơn quá, nó chụp không được. Nó chờ con rùa ló đầu ra liền chụp. Con rùa lại rút đầu vào, rái cá chờ chụp chân nhưng rùa cũng rút chân luôn. C̣n cái đuôi, rái cá vừa định chụp th́ rùa vội rút đuôi vô mai. Sáu bộ phận rùa đều rút kín vô mai hết, con rái cá đi tới đi lui cạp không được, cuối cùng nó bỏ đi.

Phật nói người tu phải khéo giữ sáu căn như con rùa khéo giữ các bộ phận của nó vậy. Nếu các bộ phận rút vô mai hết th́ rái cá không ăn được. Cũng vậy, chúng ta nếu khéo phản quan sáu căn của ḿnh quay lại, không cho dính với sáu trần, đó là kế sách an toàn nhất. Người không dính với sáu trần th́ người đó sẽ được giải thoát sanh tử.

Cho nên Lục Tổ Huệ Năng khi nghe Ngũ Tổ giảng kinh Kim Cang đến câu "bất ưng trụ sắc sanh tâm, bất ưng trụ thanh hương vị xúc pháp sanh tâm, ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm", Ngài liền đại ngộ và thốt lên "đâu ngờ tánh ḿnh xưa nay thanh tịnh, đâu ngờ tánh ḿnh vốn không sanh diệt v. v…". Ngay đó Ngũ Tổ biết Ngài đă ngộ đạo.

Vậy Ngài ngộ đạo qua pháp ǵ? Qua lời dạy an tâm. Tâm không dính sáu trần th́ được tự tại. Bởi v́ khi tâm không dính với sáu trần th́ không khởi niệm nghĩ điều ǵ cả. Tất cả các nghĩ tưởng của chúng ta đều duyên theo sáu trần sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp mà có. Thí dụ ngồi niệm Phật hoặc ngồi thiền, không tiếp xúc với sắc thanh hương vị xúc nhưng c̣n thấy pháp trần. Những bóng dáng cũ hôm qua hôm kia c̣n lưu lại trong tâm, bây giờ nó sống dậy. Thấy các bóng dáng đó th́ phải bỏ đi, không chạy theo nó, đó là chúng ta tu. Đi ra nh́n thấy sắc thanh hương vị xúc, ḿnh không dính. Ngồi lại pháp trần dấy hiện lăng xăng, ḿnh buông đi, không dính. Tu như vậy là gỡ các thứ dính mắc, không cho sáu căn kẹt nơi sáu trần. Do đó mà tâm được định. Tu là cốt để được định, từ định phát sinh trí tuệ.

Đến đây tôi sẽ nói về các Thiền sư. Thiền sư đầu tiên ở Trung Quốc là Tổ Huệ Khả. Khi Tổ Bồ Đề Đạt Ma từ Ấn Độ sang, Ngài đến chùa Thiếu Lâm chín năm ngồi xây mặt vào vách. Bấy giờ Tổ Huệ Khả tên là Thần Quang, nghe danh của Ngài. Khi đến thấy Tổ ngồi xây mặt vào vách, ngài Thần Quang không biết làm sao thưa hỏi. Lúc đó núi Thiếu Thất ở miền bắc Trung Quốc, nhằm mùa đông giá rét, vậy mà Ngài đứng suốt đêm ngoài sân, tuyết ngập tới đầu gối.

Sáng, Tổ xoay lại thấy liền hỏi: "Ông cầu việc ǵ mà khổ hạnh như vậy? ". Ngài Thần Quang thưa: "Con muốn cầu pháp thoát ly sanh tử, xin Ngài dạy cho". Tổ quở: "Ngày xưa chư Bồ-tát muốn cầu pháp thoát ly sanh tử, các Ngài hy sinh cả thân mạng, ông chỉ dùng chút ít khổ hạnh thôi mà cầu pháp thoát sanh tử được sao? ". Nghe vậy Ngài ra sau nhà bếp mượn dao chặt một cánh tay dâng lên để tỏ ḷng thiết tha cầu pháp. Tổ gật đầu khen khá, liền đặt tên là Huệ Khả.

Đây là chỗ tất cả chúng ta lưu ư. Người tu th́ phải xả thân cầu đạo, c̣n chúng ta tu lại quí thân. Như vậy có trái với đạo lư không? Thế nên người tu dù tại gia hay xuất gia phải có gan, dám chịu cảnh túng quẩn nghèo thiếu, dám quên thân mạng th́ nhất định sẽ đạt đạo. C̣n nếu không dám như thế th́ khó đạt đạo. V́ vậy sự việc Tổ Huệ Khả chặt tay cúng dường là một h́nh ảnh tượng trưng cho ḷng quyết tâm cầu đạo.

Khi đă được Tổ nhận, một hôm ngài Huệ Khả thưa: "Bạch Ḥa Thượng, tâm con không an xin Ḥa Thượng dạy con pháp an tâm". Lúc đó Tổ Bồ Đề Đạt Ma nh́n thẳng vào mặt ngài Huệ Khả bảo: "Đem tâm ra ta an cho". Ngài Huệ Khả sửng sốt không biết tâm ở đâu mà đem. Ngài xoay lại t́m tâm nhưng không thấy bóng h́nh nó ở đâu, Ngài thưa: "Bạch Hoà Thượng con t́m tâm không được". Tổ bảo: "Ta đă an tâm cho ngươi rồi". Ngay đó ngài Huệ Khả liền biết lối vào.

Chỗ này tôi đă kể nhiều lần, nhưng mỗi lần kể là mỗi lần mới, v́ vậy ít nhứt cũng năm ba người biết được lối vào. Tâm không an là tâm nào? Đó là tâm vọng tưởng, nó nghĩ cái này nghĩ cái kia lăng xăng nên gọi là tâm không an. Tổ bảo: "Đem tâm ra ta an cho", th́ làm sao mà đem? Quí vị có ai đem được không? Không được. Tại sao? V́ nó không thật, t́m lại là nó mất tăm mất dạng. Vậy tâm lăng xăng đó thật hay giả? Giả nên gọi là vọng tưởng, vọng tưởng là hư dối không thật.

Lâu nay chúng ta ngỡ cái nghĩ suy là tâm ḿnh thật. Nó là vọng tưởng hư dối, mà chúng ta v́ si mê lầm lẫn cho là thật. Rồi bị nó dẫn chạy liên miên, hết chỗ này sang chỗ nọ. Ngồi tọa thiền một giờ nó dẫn ḿnh chạy không biết mấy chục lần. Cho nên khi ngài Huệ Khả xin Tổ dạy pháp an tâm, Tổ không dạy một pháp nào cả chỉ bắt quay lại t́m xem tâm ấy ở đâu. Tức là chiếu soi cái nghĩ suy đó xem nó ở đâu, nhưng khi t́m lại th́ nó mất. Cái nghĩ suy ấy mất tức là tâm an rồi. Đó là an tâm mà không dùng một pháp môn nào hết. Lối tu này gọi là đốn ngộ hay đốn giáo.

Chỉ nh́n thẳng trở lại thấy tâm không thật th́ tự nó an, không qua một pháp nào hết. Cho nên Tổ Đạt Ma khi sang Trung Hoa, Ngài tuyên bố: "Bất lập văn tự, giáo ngoại biệt truyền, trực chỉ nhân tâm, kiến tánh thành Phật". Đó là bốn câu châm ngôn của Thiền tông. Bất lập văn tự là không dùng văn tự. Giáo ngoại biệt truyền là truyền ngoài giáo lư. Trực chỉ nhân tâm là chỉ thẳng tâm người. Kiến tánh thành Phật là nhận ra bản tánh th́ thành Phật.

"Đem tâm ra ta an cho" là giáo ngoại biệt truyền, bởi v́ câu này không có trong kinh nào hết. Phật nói pháp này pháp nọ, chớ không bảo đem tâm ra ta an cho. Tự ḿnh dùng trí phản chiếu lại ḿnh, tự nhiên nghĩ suy lăng xăng không c̣n nữa. Nó lặng hết là an rồi.

Biết tâm hư dối là vọng tưởng, khi vọng tưởng lặng mà vẫn hằng giác hằng tri, đó chính là tánh giác của ḿnh. V́ vậy trực chỉ nhân tâm là chỉ thẳng tâm người, để nhận ra tánh giác là nhân thành Phật. Đơn giản như vậy, cụ thể như vậy. Cái nh́n đó chân thật mà không qua phương tiện nên nói thẳng tắt. Thẳng tắt tức là trực chỉ, chỉ thẳng không quanh co. Khi tánh giác của ḿnh hiển lộ, đó là nhân thành Phật.

V́ sao b́nh thường tánh giác không hiển hiện được? Là v́ vọng tưởng che phủ, hết niệm này tới niệm kia liên tục măi. Đồng thời chúng ta lại nhận vọng tưởng là ḿnh, quên hẳn tánh giác. Bây giờ vọng tưởng dấy lên, ḿnh biết nó vọng, hư dối, không theo nó, gạt qua một bên th́ lần lần nó lặng. Nó lặng th́ tánh giác hiện ra. Như có phút giây nào, chúng ta ngồi yên một chỗ, dưới gốc cây chẳng hạn. Ḿnh nh́n trời nh́n mây mà không khởi một ư nghĩ nào hết, thời gian đó quí vị có biết không? Biết, mây bay biết mây bay, chim kêu biết chim kêu, mà không suy nghĩ. Cái biết không do suy nghĩ chính là tâm ḿnh mà ḿnh quên. Chúng ta chỉ nhớ tâm lăng xăng lộn xộn thôi, trong khi cái lặng lẽ hiện tiền ḿnh lại quên.

Tâm nghĩ suy nào buồn, thương, giận, ghét, nó thường trực hay vô thường? Khi đang buồn mà gặp việc hài ḷng th́ vui lên liền. Như vậy buồn qua mất rồi. Hoặc lúc đang vui, có ai nói ǵ trái ư liền buồn giận ngay. Rơ ràng nó luôn luôn sanh diệt theo cảnh, không có thật. Chúng ta quên cái thật chạy theo cái giả nên Phật nói ḿnh mê. Mê là ǵ? Mê là quên, quên thật theo giả.

Trong kinh Pháp Hoa, Phật nói thí dụ anh chàng say có ḥn ngọc quí cột trong chéo áo mà không biết. Khi được người bạn chỉ mới biết, tuy biết nhưng rồi lại quên ḥn ngọc ấy nên vẫn sống lang thang. Có của quí mà không nhớ, không nhớ nên phải chịu khổ. Chúng ta hiện giờ cũng vậy, tâm vọng tưởng hư dối buồn thương giận ghét liên miên, là hư ảo giả dối không thật, mà ḿnh lại theo nó; c̣n cái chân thật hiện tiền lại bỏ quên. Cho nên Phật dạy tu là dừng vọng tưởng. Vọng tưởng dừng rồi th́ chân tâm hiện ra, không t́m không kiếm ở đâu hết.

Chân tâm là tánh giác không có sanh diệt, c̣n những nghĩ suy là niệm khởi sanh diệt. Chúng ta đang sống với niệm sanh diệt, quên sống với tâm vô sanh của ḿnh. V́ vậy Phật, Tổ bảo chúng ta dừng lại, đừng chạy theo niệm lăng xăng sanh diệt nữa. Dừng lại để chúng ta thấy được tâm chân thật của chính ḿnh. Xoay lại t́m đó chính là phản quan. Cho nên qua lời chỉ bảo của Tổ Đạt-ma, ngài Huệ Khả "biết được lối vào". Biết được lối vào mà không cần một phương tiện nào hết.

Nhiều người nói tu thiền khó. Tu niệm Phật hoặc tu các pháp quán hơi thở v. v… dễ hơn. Tại sao tu thiền khó? Bởi v́ nó không có phương tiện. Nếu có dùng phương tiện rồi cũng phải bỏ. Lúc đầu dùng phương tiện để điều phục vọng tưởng, khi tâm yên th́ phương tiện cũng phải bỏ, c̣n phương tiện th́ chưa phải cứu kính. Như pháp niệm Phật, niệm cho tới chánh niệm. Tuy nhiên, được chánh niệm vẫn chưa là chỗ cứu kính, phải niệm tới vô niệm, chỉ c̣n một tâm thanh tịnh mới là chân thật, là cứu kính. Như vậy cũng đâu phải dễ.

Ngài Triệu Châu khi có người hỏi: "Con chó có Phật tánh không? ". Lần thứ nhất Ngài đáp "không". Hỏi: "Tại sao trong kinh nói tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, mà con chó lại không? " Ngài trả lời: "Có mà không biết tức là không". Cũng vậy, chúng ta có chân tâm nhưng không biết thành ra cũng như không. V́ chân tâm khó thấy, nó không có tướng để hiện như vọng tưởng, nên chúng ta không nhận ra được. C̣n vọng tưởng duyên theo bóng dáng của sáu trần; nhớ người th́ hiện bóng người, nhớ vật th́ hiện bóng vật, cho nên ḿnh dễ thấy.

Người khác hỏi: "Con chó có Phật tánh không? ". Ngài Triệu Châu lại đáp "có". Hỏi: "Tại sao có Phật tánh, mà lại chui vào đăy da lông lá lù xù vậy? ". Ngài nói: "V́ biết mà cố phạm". Câu này rất quan trọng. Thí dụ Phật tử nam giữ năm giới, trong đó có giới không uống rượu. Khi gặp bạn bè mời, nể t́nh uống một chút. Ḿnh biết uống là phạm giới mà vẫn uống, vậy có phải biết mà cố phạm không? C̣n quí Phật tử nữ buôn bán ngoài chợ, món đồ đó mua một trăm, nhưng khi người ta hỏi th́ nói hai trăm để nâng giá bán lên. Biết nói dối là phạm tội mà v́ quyền lợi vẫn cứ nói dối. Như vậy có phải biết mà cố phạm không? Đó là do nghiệp dẫn. Đă bị nghiệp dẫn th́ mê mờ, làm sao nhận ra tánh giác nữa.

Như vậy tất cả chúng ta tu để làm ǵ? Tu để phá tan mây mù nghiệp thức che phủ tánh giác của ḿnh. Nghiệp từ những vọng tưởng khởi niệm lành niệm dữ, tạo thành nghiệp lành nghiệp dữ. Nên vọng tưởng là nhân của nghiệp. Khi những niệm vọng tưởng yên lặng th́ nghiệp theo đó hết. Như vậy niệm không c̣n th́ nghiệp không c̣n. Tâm niệm rỗng lặng th́ tự nhiên an lành tự tại, không dính không mắc. C̣n tâm niệm lăng xăng lộn xộn th́ đưa tới chỗ dính mắc. Dính mắc là bị nghiệp lôi, không dính mắc là không bị nghiệp lôi. Người không bị nghiệp lôi là người giải thoát sanh tử. C̣n người bị nhgiệp lôi là người đi trong ṿng sanh tử. Rơ ràng như vậy.

Tổ Đạo Tín khi c̣n là một Sa di mười bốn tuổi, ngài gặp Tổ Tăng Xán liền qú bạch: "Bạch Ḥa thượng, xin Ngài dạy con phương pháp giải thoát". Tổ Tăng Xán nh́n thẳng vào mặt Ngài hỏi: "Ai trói buộc ngươi? ". Ngài hoảng hốt t́m lại không thấy ai trói buộc ḿnh nên đáp: "Dạ không ai trói buộc con". Tổ bảo: "Không ai trói buộc, cầu giải thoát làm ǵ? ". Ngay đó ngài Đạo Tín liền ngộ đạo, biết cách tu. Đơn giản làm sao!

Thường chúng ta hay nghĩ ḿnh bị trói buộc, bị mất tự do. Thế gian gọi là "thê thằng tử phược", vợ con là sợi dây trói buộc. Nhưng trong đạo th́ ai trói buộc chúng ta, quư vị t́m kỹ xem. Thế nhưng chúng ta vẫn cảm nhận ḿnh đang bị thập triền thập sử trói buộc ḿnh. Thập triền sử là ǵ? Là tham, sân, si, mạn, nghi, thân kiến, biên kiến, kiến thủ, giới cấm thủ, tà kiến. Nó ở ngoài hay ở trong chúng ta? Nó ở trong chúng ta, không như thê thằng tử phược ở ngoài thế gian.

V́ nó cột bên trong, nên chúng ta phải dẹp hết tham sân si… mới không c̣n bị trói buộc nữa. Nếu tâm khởi tham là do đâu mà khởi tham. Như mắt thấy hoa đẹp th́ khởi tham, là do sắc trần tiếp xúc với nhăn căn sanh ra nhăn thức phân biệt. Phân biệt đẹp xấu nên mới khởi tham. Nếu con mắt là căn, hoa là trần tiếp xúc mà không có nhăn thức phân biệt, th́ có thấy đẹp xấu không? Thấy th́ thấy mà không có niệm khởi phân biệt đẹp xấu. Không khởi niệm nghĩ th́ không dính. C̣n vừa khởi nghĩ phân biệt đẹp xấu là dính mắc liền.

Nhưng người ta lại cho rằng thấy hoa mà không biết phân biệt đẹp xấu là khờ. Nhưng không ngờ người khéo phân biệt là người dính mắc hơn ai hết. V́ tâm họ nhạy quá nên khó tu. Thấy mà không dính mắc th́ tâm mới an. Cho nên Tổ bảo: "Cái ǵ trói buộc ngươi? " Nếu c̣n niệm luyến ái là c̣n trói buộc. Nhưng ngài Đạo Tín t́m lại không thấy một niệm nào hết. Không có niệm th́ có ǵ trói buộc, đó là giải thoát rồi, cầu pháp làm ǵ!

Như vậy chúng ta tu mỗi ngày mỗi tháng mỗi năm đều biết quay lại ḿnh. Thấy rơ những vọng tưởng là hư dối, th́ dù nó nghĩ hay, nghĩ tốt ḿnh cũng không theo. Lúc đó, tự nhiên tâm thanh tịnh. Tâm thanh tịnh th́ không c̣n ǵ trói buộc hết. Cho nên biết không phải cảnh bên ngoài trói buộc, mà chính từ nội tâm chúng ta dấy lên niệm trói buộc. V́ vậy kinh gọi là thập triền sử. Triền là trói buộc, sử là dẫn lôi. Rơ ràng giải thoát không phải ở ngoài, mà ở ngay trong nội tâm ḿnh.

Bài kệ "Cư trần lạc đạo" của Sơ Tổ Trúc Lâm có hai câu kết như thế này: Gia trung hữu bảo hưu tầm mích. Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền. Hai câu này thật là chí lư. Gia trung hữu bảo hưu tầm mích là trong nhà có ḥn ngọc quí, đừng t́m kiếm ở đâu nữa. Hăy xoay lại t́m ḥn ngọc của chính ḿnh. Thường thường quí Phật tử t́m Phật ở trên núi hay ở chỗ nào linh thiêng, chớ không chịu t́m Phật của chính ḿnh. Ḿnh có ḥn ngọc quí sẵn một bên mà bỏ quên, lại đi t́m ở đâu xa tít th́ làm sao thấy được.

Phật trên núi là Phật ở ngoài, không phải Phật của ḿnh. Phật của ḿnh chính là tự tâm thanh tịnh sáng suốt ngay nơi ḿnh. Đó mới là Phật thật. V́ vậy chúng ta phải xoay lại ḿnh, nh́n lại những tâm niệm lăng xăng là vọng tưởng hư ảo, không theo không dính nó, đó là ḿnh trở về với ông Phật của ḿnh. Những thứ đó lặn hết th́ ông Phật ḿnh hiện ra, đó là ḥn ngọc sẵn trong chéo áo. Chúng ta trở lại t́m ngay nơi ḿnh th́ đúng. Ngược lại là sai.

Muốn thế, chúng ta phải tu bằng cách nào? Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền, là đối với cảnh trần mà tâm không dính mắc, đó là thiền. Không dính mắc với sáu trần, đó là cơ hội để thấy ông Phật của ḿnh. Đối với sáu trần bên ngoài, chúng ta không dính mắc chính là tu thiền. Đâu cần phải ngồi liêm diêm mới gọi là tu thiền.

Phần nhiều chúng ta phải đợi ngồi mới tu. Bởi v́ b́nh thường quen cho tâm phóng chạy ra ngoài, nên khi đi đứng sinh hoạt, chúng ta kềm không nổi. Nghe người ta nói cái ǵ hay hoặc làm cái ǵ lạ cũng chăm chú nh́n, thành ra khó tu. Nên bây giờ buộc ḷng tối, khuya phải ngồi cho tỉnh lại. Nhờ tỉnh lặng mới thấy từng niệm dấy lên, buông xả không theo nó. Tu như vậy đến khi nào thuần rồi, đi ra ngoài thấy người thấy cảnh không chạy theo nữa th́ bấy giờ trong bốn oai nghi đều là thiền. Câu đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền đă định nghĩa thiền hết sức rơ.

Chúng ta tu từ thấp lên cao, ngồi yên một chỗ trong thiền đường là để dẹp pháp trần, không dính với pháp trần. Khi thuần rồi đi ra ngoài đối với sáu trần gỡ lần, không cho dính nữa, lúc đó chúng ta tự tại. Tu hành đến chỗ tự tại mới gọi là giải thoát sanh tử; c̣n dính c̣n cột, dù cột với pháp tu vẫn th́ c̣n sanh tử.

Đức Phật dạy các pháp tu như Tứ niệm xứ, Lục diệu pháp môn v. v… cho tới Bát-nhă, đều là phản quan tự kỷ hết. Như vậy tu theo Phật là trở lại ḿnh. Phản quan tự kỷ là soi sáng lại chính ḿnh, nhận ra ông Phật nơi chính ḿnh, không phải từ bên ngoài mà được. Phật là giác, mà giác không ai đem đến được, phải từ tâm ḿnh phát ra. Chúng ta tu là xoay lại tâm ḿnh, chớ t́m ở bên ngoài th́ không bao giờ được giác ngộ. Nên nói "bất tùng tha đắc", là không từ ngoài mà được.

Ngày nay đa số người tu hướng bên ngoài cầu. Hướng về phương tây lạy Phật Di Đà cầu Phật độ, hướng về phương đông lạy Phật Dược Sư cầu Phật độ v. v… mà không nhớ ông Phật của ḿnh. Trong kinh Lăng Nghiêm Phật dùng từ "quên ḿnh theo vật". Trong nhà thiền có câu chuyện của Thiền sư Cảnh Thanh đời Tống ở Trung Quốc.

Một hôm, Sư ngồi trong thất có chú thị giả bên cạnh. Bên ngoài con rắn bắt con nhái, nó kêu ệch ệch, Ngài hỏi thị giả: "Tiếng ǵ đó? ". Thị giả thật thà trả lời: "Tiếng con rắn bắt con nhái kêu". Ngài nói: "Chúng sanh khổ lại có khổ chúng sanh". Như vậy cái ǵ là chúng sanh khổ, cái ǵ là khổ chúng sanh?Con rắn bắt con nhái, con nhái giăy giụa kêu la th́ con nhái là chúng sanh khổ, c̣n khổ chúng sanh là chú thị giả. Thị giả thấy sao nói vậy, có ǵ là khổ? Tôi kể thêm một câu chuyện nữa.

Một hôm Ngài ngồi trong thất, nghe tiếng mưa rơi xuống mái chùa, Ngài hỏi thị giả: "Tiếng ǵ đó? ". Thị giả trả lời: "Tiếng mưa rơi". Ngài nói: "Chúng sanh quên ḿnh theo vật". Sao vậy? Mưa rơi th́ nói mưa rơi, sao Ngài quở quên ḿnh theo vật?

Trở lại đức Phật trong kinh Lăng Nghiêm. Phật bảo La Hầu La đánh tiếng chuông kêu boong rồi hỏi A Nan: "Ông nghe không? " A Nan thưa: "Dạ nghe". Khi tiếng chuông dứt, Phật lại hỏi: "Ông nghe không? " A Nan thưa: "Dạ không nghe". Phật bảo đánh tiếng chuông nữa, hỏi: "Ông nghe không? " A Nan thưa: "Dạ nghe". Một hồi tiếng chuông lặng, Phật lại hỏi: "Ông nghe không? " A Nan thưa: "Dạ không nghe". Phật bảo: "Chúng sanh quên ḿnh theo vật".

Đó là điều hết sức cụ thể và cũng hết sức lạ lùng, chỉ có Phật mới dám chỉ điều đó. Bởi v́ chúng ta cứ nghĩ mắt ḿnh thấy là thấy h́nh tướng sự vật. Khi không có h́nh tướng sự vật th́ nói không thấy. Nghe là khi có âm thanh, không có âm thanh th́ nói không nghe. Sự thật âm thanh là tiếng động bên ngoài, nó có rồi mất. Khi có tiếng th́ tai ḿnh nghe có tiếng, khi không tiếng th́ tai ḿnh nghe không tiếng, sao lại bảo không nghe. Không nghe là điếc rồi. Nếu điếc th́ đánh tiếng chuông thứ hai đâu có nghe. Vậy tiếng chuông kêu th́ chúng ta nghe, khi tiếng chuông lặng th́ chúng ta cũng nghe, nhưng nghe tiếng chuông lặng. Có động không động chúng ta đều nghe, đâu phải là không nghe.

Cũng vậy, trước mắt có cảnh th́ chúng ta thấy có cảnh, không cảnh th́ chúng ta thấy không cảnh, chớ đâu phải không thấy. Như vậy chúng ta trả lời trong cái nhớ cảnh mà tánh thấy, nhớ tiếng mà quên tánh nghe. Bởi quên thấy nên cảnh mất rồi nói tôi không thấy, quên nghe nên tiếng lặng rồi nói tôi không nghe. Mà thật ra tánh nghe hằng hữu, tánh thấy hằng hữu nhưng chúng ta lại quên. Chỉ nhớ cái sanh diệt bên ngoài, nên bị quở là quên ḿnh theo vật. Đă quên ḿnh theo vật th́ bị vật chuyển, chuyển tức là lôi đi. Nhớ ḿnh th́ không cái ǵ chuyển được.

Thế nên sự tu hành cốt ở chỗ chúng ta phải hằng nhớ lại ḿnh. Ngoài không theo sáu trần, trong không theo vọng tưởng th́ bản tâm chân thật hiện tiền. Nó luôn sẵn đủ, chớ không thiếu vắng bao giờ. V́ vậy phản quan tự kỷ bổn phận sự, bất tùng tha là châm ngôn của người tu. Bất kỳ tu pháp môn nào cũng phải trở lại ḿnh. Nếu quên ḿnh mà cầu ở bên ngoài th́ không thể được.

Chúng ta dù tại gia hay xuất gia đều phải phản quan soi chiếu lại ḿnh, th́ đó là người biết tu, người không phụ ḿnh quên ḿnh. Ngược lại, nếu c̣n chạy ra ngoài, đó phụ ḿnh quên ḿnh. Quên ḿnh th́ trầm luân trong sanh tử, chịu nhiều khổ đau. Trở về với ḿnh th́ tự do tự tại, giải thoát khỏi mọi khổ đau. Đó là ư nghĩa bài giảng hôm nay.


 

NÓI CHUYỆN VỀ THIỀN TÔNG TẠI

ĐẠI HỌC KHOA HỌC XĂ HỘI VÀ NHÂNVĂN

Tp. HỒ CHÍ MINH

Hôm nay chúng tôi đủ duyên được vị Khoa trưởng khoa Ngữ văn tại đây, mời nói chuyện với quư vị về đề tài Phật giáo Thiền tông ở Việt Nam. Đề tài này thật ra rất rộng. Nhưng v́ th́ giờ có hạn, chúng ta không thể đi sâu vào chi tiết hết được, nên chúng tôi chỉ nói những nét đại cương của Phật giáo Việt Nam thôi.

Trong đề tài này chúng tôi chia làm năm phần:

1- Nói về Phật giáo.

2- Nói về Thiền tông.

3- Nói về Thiền tông truyền vào Việt Nam.

4- Nói về tông chỉ tu hành của Thiền tông.

5- Nói về Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử.

Chúng tôi sẽ đi theo thứ tự từng phần như đă nêu.

1- Nói về Phật giáo

Bởi v́ nói tới Thiền tông là nói tới Phật giáo, cho nên đầu tiên chúng ta phải hiểu Phật giáo là ǵ. Như chúng ta đă biết Phật giáo là giáo pháp do đức Phật Thích Ca sau khi giác ngộ rồi, Ngài giảng dạy lại và được ghi chép thành ba tạng Kinh, Luật, Luận. Gọi chung ba tạng ấy là Phật giáo.

Ở đây chúng ta không đi chi tiết từng phần trong ba tạng đó, mà chỉ nhắm thẳng cốt tủy của Phật giáo thôi. Chúng tôi có thể tạm định nghĩa, cốt tủy của Phật giáo là chỉ dạy cho tất cả mọi chúng sanh đều được giác ngộ và giải thoát. Hoặc chúng ta có thể dùng lối nói khác, Phật giáo là một lối chỉ dạy cho mọi người có đầy đủ trí tuệ và từ bi. Đó là cốt tủy của Phật giáo. Tại sao chúng tôi nói như vậy?

Bởi v́ như trong sử ghi lại, Phật nguyên là một Thái tử rời cung điện đi tu. Khi đi tu trải qua những giai đoạn khổ cầu tầm đạo, cuối cùng Ngài ngồi thiền định dưới cội Bồ-đề, được giác ngộ thành Phật. Như vậy việc thành Phật của Ngài là từ sự giác ngộ, chớ không phải do một công hạnh nào khác. Giác ngộ thành Phật rồi th́ gọi là giải thoát. Nói như vậy sẽ có nhiều vị nghi ngờ, giác ngộ cái ǵ và giải thoát thế nào?

Trước hết nói về giác ngộ. Ở đây chúng tôi tạm giải thích, giác ngộ là nhận thấy lẽ thực của con người và vũ trụ. Hay là thấu triệt được lư nhân duyên sinh của vạn vật trên thế gian này. Tất cả đều không có chủ thể và cố định. Điều này lấy ǵ để minh chứng rơ ràng? Chúng tôi sẽ thứ tự giải thích.

Đọc sử Phật quư vị thấy động cơ thúc đẩy Ngài đi tu không ǵ hơn là nh́n thấy cảnh già, bệnh, chết của con người mà không ai thoát khỏi. Cho nên Ngài nhất định đi tu để t́m ra một lối thoát. Muốn t́m được lối thoát ấy, Ngài đă quyết tâm tu, nhất là Thiền định dưới cội Bồ-đề. Khi công phu Thiền định đă thành tựu, Ngài liền được giác ngộ. Giác ngộ rồi Ngài mới thấy được lẽ thực của con người và thấy được lẽ thực của vũ trụ.

Như vậy giác ngộ thế nào mà thấy được lẽ thực của con người và vũ trụ? Về con người, trong kinh điển Phật nói đến Tam minh, tức Thiên nhăn minh, Túc mạng minh và Lậu tận minh. Từ ba minh này mà Ngài thấy rơ và chỉ rơ cho chúng ta biết được lẽ thực của con người.

Thiên nhăn minh là Ngài thấy một cách tường tận những vật ở trong vũ trụ thật xa và thật nhỏ. Đồng thời Ngài thấy được sự luân chuyển và vậïn hành của chúng sanh ở trong lục đạo luân hồi. Thấy thật xa và thật nhỏ là thấy như thế nào? Như Tăng Ni mỗi khi uống nước, đều có đọc mấy câu kệ: " Phật quán nhất bát thủy, bát vạn tứ thiên trùng", tức là Phật nh́n trong một bát nước thấy có tám muôn bốn ngàn vi trùng. Điều đó cho thấy cách đây hai mươi mấy thế kỷ mà Phật đă thấy được vi trùng rồi! Nếu không phải Thiên nhăn minh th́ làm sao thấy được. Bởi v́ lúc đó khoa học chưa phát triển, không có các loại kính hiển vi như bây giờ. Do thấy rơ vi trùng, Ngài mới dạy chư Tăng Ni muốn uống nước, phải lọc cho thật kỹ để không phạm tội sát sanh.

Trong kinh A Hàm kểâ lại, một vị Tỳ-kheo chứng quả A La Hán được Thiên nhăn thông. Khi nh́n thấy vô số vi trùng trong hồ nước, Ngài không uống được nên tới bạch Phật:

- Bạch Thế tôn, con thấy vi trùng nhiều quá, làm sao uống được?

Phật bảo:

- Sao ông không dùng nhục nhăn mà nh́n.

Như vậy do Thiên nhăn mà Phật thấy được vi trùng. Thấy được vi trùng tức là thấy vật hết sức nhỏ. Kế đến, Ngài thấy vô số thế giới giống như thế giới của chúng ta hoặc nhỏ, hoặc bằng, hoặc lớn hơn v. v… Nên chúng ta thường nghe từ "hằng hà sa số thế giới". Phật nói thế giới nhiều như cát sông Hằng ở Ấn Độ. Bây giờ tôi nói gần như sông Đồng Nai thôi, quư vị nghĩ sông Đồng Nai chừng bao nhiêu cát, sông Hằng dài gấp mấy sông Đồng Nai? Vậy mà Phật thấy thế giới trong vũ trụ này nhiều như số cát sông Hằng. Điều đó cách đây hơn hai mươi mấy thế kỷ, ai tin được? Đó là Phật thấy rơ ràng những vật thật xa.

Những điều Ngài thấy đó không ở trong giới hạn nào mà nó vô giới hạn. Khi Ngài đem ra dạy chư Tỳ-kheo cũng như tất cả Phật tử thời đó, Ngài không thể nào nói hết được, mà chỉ nói một phần nhỏ thôi. Nên một hôm nhân đi vào trong rừng, Ngài hốt một nắm lá cây rồi hỏi các thầy Tỳ-kheo:

- Nắm lá cây trong tay ta nhiều hay lá cây trong rừng nhiều?

Các thầy Tỳ-kheo trả lời:

- Nắm lá cây trong tay Thế Tôn rất ít, c̣n lá cây trong rừng nhiều vô số, không thể kể được.

Phật nói:

- Cũng vậy. Cái ta thấy, ta biết đem ra dạy cho các ông giống như lá cây trong bàn tay ta. C̣n cái ta thấy, ta biết mà chưa dạy cho các ông nhiều như lá cây trong rừng.

V́ sao như vậy? V́ chủ trương của Phật nhằm giải quyết vấn đề Ngài thắc mắc ngay ban đầu là vấn đề con người. Tại sao con người sanh ra phải già, phải bệnh rồi chết? Đó là điều Ngài thắc mắc hơn hết, Ngài phải giải quyết cho được. Nên tuy thấy được rất nhiều, nhưng Ngài chỉ xoay quanh trọng tâm con người. Lấy con người làm mục đích giảng dạy.

Khi thấu triệt được lẽ thật rồi, Ngài mới thấy rơ thân phận con người. Tại sao chúng ta có mặt ở đây, nguyên nhân nào lôi cuốn chúng ta trở đi trở lại và làm sao để thoát được nó.

Trong bài kinh Tứ thánh đế, Phật nói rất rơ ràng, luôn luôn có hai mặt nhân và quả của thân này. Trong đó có nhân và quả dẫn đi trong luân hồi lục đạo, nhân và quả do tu tập mà giải thoát được sanh tử. Nếu quư vị chịu khó đọc sẽ thấy rất rơ. Ở đây chúng tôi chỉ giới thiệu thôi, chứ không có th́ giờ đi vào chi tiết.

Như vậy do đức Phật xoay lại, chỉ nhắm vào con người, nên bao nhiêu kinh điển của Phật đều nhắc nhở chúng ta tu. Nếu chưa giải thoát sanh tử chúng ta tu nhân ǵ sẽ bớt đau khổ trong đời này và những đời kế tiếp. Tu nhân ǵ để giải thoát sanh, già, bệnh, chết như Ngài đă thấy. Ngài dạy bao nhiêu kinh điển đều nhắm vào việc đó, c̣n những phần chi tiết khác ít được kể đến.

Có nhiều người thắc mắc tại sao đạo Phật nặng về con người, mà không nói rơ những thứ bên ngoài. Phật là bậc Nhất thiết chủng trí, tức trí biết tất cả, mà sao không dạy chúng ta những ǵ hay như khoa học bây giờ phát minh. Ngài lại chỉ xoay quanh vấn đề con người, dạy chúng ta tu, dạy chúng ta làm sao giải thoát sanh tử, mà không dạy những phương tiện sung túc để chúng ta sống ấm no hạnh phúc hơn.

Điều này tôi xin tạm mượn một ví dụ để chỉ cho quư vị thấy. Như có người ở trong gia đ́nh, gạo c̣n hay hết không biết, con cái đi học hay bỏ học không biết… những chuyện trong nhà đều không biết. Nhưng chuyện năm châu bốn bể, ở đâu cũng rành, hỏi chỗ nào nói cũng hay. Rốt cuộc chuyện trong nhà, hũ gạo c̣n hết không biết, cho đến những việc nên hư được mất cũng không biết. Chúng ta nghĩ người đó sống có thực tế không? Biết tất cả việc bên ngoài tưởng như thực tế mà sự thực chuyện trong gia đ́nh không biết, th́ đó là thiếu thực tế. Muốn thực tế th́ trước phải biết chuyện trong nhà, rồi sau mới biết ra ngoài. Người như vậy mới gọi là hiểu biết thực tế chứ.

Trở lại vấn đề con người của đạo Phật. Nếu chúng ta biết tại sao ḿnh có mặt nơi đây, khi chết rồi sẽ ra sao? Nói là ḿnh, là ta; vậy cái ǵ là ḿnh, là ta? Vấn đề đó chắc chúng ta cũng c̣n mơ màng lắm. Bản thân ḿnh, con người ḿnh, chúng ta chưa biết rơ th́ cái biết bên ngoài chưa đúng với giá trị chân thật của nó. V́ giá trị đó là giá trị của con người, nên đức Phật chú trọng về con người. Bởi chú trọng về con người nên khi thấy được lẽ thật của con người, Ngài cứ xoay quanh vấn đề này.

Thí dụ như nói, Ngài giác ngộ là thấu triệt được lư nhân duyên sinh. Từ lư nhân duyên sinh mà có vạn vật trong thế gian. Nhưng Ngài không lấy lư nhân duyên đó để bàn luận rộng cuộc sống vật chất bên ngoài, Ngài lại xoay quanh ở con người. V́ vậy khi thấy được lư nhân duyên rồi, Phật nói rằng tất cả con người hay tất cả các pháp đều vô ngă. Tại sao? V́ sự thật tất cả các pháp không có chủ thể. Không có chủ thể tức là vô ngă. Các pháp cũng không có ǵ cố định hết. Không chủ thể, không cố định nên gọi là vô thường. Vô ngă, vô thường; cái nh́n đó có thích hợp với cái nh́n của khoa học hiện nay không?

Chúng ta không chối căi được muôn sự muôn vật ở thế gian này, không có vật ǵ do một người làm ra, cũng không có vật ǵ nguyên từ một vật thể thành h́nh, hoặc do một đấng thiêng liêng tạo nên. Tất cả đều do các duyên tụ hợp lại mà có. Đă từ các duyên tụ hợp th́ lấy ǵ làm chủ? Ví dụ như pḥng học chúng ta đang ngồi đây, hỏi cái ǵ tạo nên pḥng học, tức trong pḥng học này cái ǵ là chủ thể? Không có cái ǵ là chủ thể cả. Chẳng qua gạch, xi măng, cát, đá, vôi… đủ thứ tụ hợp lại thành pḥng học. Như vậy pḥng học không tự nó thành mà do nhiều điều kiện góp lại. V́ từ nhiều điều kiện góp lại nên nói không có chủ.

Không có chủ tức là vô ngă. Đó là điểm chủ yếu của đạo Phật về thuyết vô ngă.

Nh́n lại con người ḿnh, thử hỏi cái ǵ là chủ thể? Nếu phân tích theo đạo Phật th́, thân này gồm các chất cứng là đất, chất ướt là nước, chất động là gió, ấm là lửa; bốn thứ đó tụ hợp lại thành. Nếu nói theo khoa học do các tế bào tụ thành. Như vậy, trong đó cái ǵ là chủ? Vậy mà chúng ta luôn luôn thấy ḿnh là chủ. Ta là chủ. Nhưng thật buồn cười cho ḿnh. Nói ḿnh là chủ mà tất cả sự sắp xếp trong con người ḿnh, chúng ta có sắp xếp được đâu. Nó làm sao trong đó ḿnh cũng không biết.

Ví dụ khi ăn một món ăn, chúng ta có chỉ định món này chế ra cái ǵ không? Hay là đem vào bao tử th́ cứ đem, rồi tùy ư nó muốn làm sao th́ làm? Có những chất dư thừa mà ḿnh cứ đem vô hoài nên thành bệnh. Có những chất thiếu mà ḿnh không biết để bồi vào, nên cũng thành bệnh. Như vậy chúng ta có biết ǵ về ḿnh đâu? Các tế bào trong đó chống đối với vi trùng bên ngoài, ḿnh có thấy, có chỉ huy được không? Vi trùng tới th́ tự nó kéo nhau tới, trong đó làm ǵ được th́ làm. Chừng nào thua th́ ḿnh đau ốm, run rẩy lên vậy thôi, chứ có biết ǵ đâu.

Vậy mà lúc nào ḿnh cũng vỗ ngực xưng Ta. Ta đây là chủ. Nhưng hỏi chủ cái ǵ? Ta lại hoàn toàn bất lực. Cho nên đạo Phật nói không có chủ thể. Đây là tướng duyên hợp, không có chủ thể và không cố định. Nó nằm trong ṿng biến chuyển không lúc nào dừng. Quư vị thấy hơn hai ngàn năm về trước mà đức Phật đă nhận ra như vậy, so với nền khoa học hiện tại không có ǵ sai chạy cả.

Đó, tôi nói đại cương cho quư vị thấy, chủ yếu của đạo Phật là biết rơ từ sự vật cho đến con người đều do duyên sinh, không có chủ thể nên đức Phật nói vô ngă. Các pháp lại luôn luôn đổi dời, không cố định. Đó là một ḍng biến chuyển nên nói vô thường.

Đó là phần giác ngộ của đức Phật. Bây giờ nói tới phần giải thoát.

Giải thoát thế nào? Nói giải thoát của đạo Phật là nói giải thoát sinh tử luân hồi. Có lắm vị sẽ thắc mắc, đức Phật tám mươi tuổi cũng chết. Vậy nói Phật giải thoát sinh tử th́ không đúng rồi. Nhưng sự thật giải thoát của đạo Phật có chia làm hai phần.

Một, là giải thoát những trói buộc của sáu trần. Ngay nơi chúng ta có mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ư luôn bị sáu thứ bên ngoài như sắc, thinh, hương, vị, xúc và pháp (pháp trần) chi phối. Tai chúng ta chỉ nghe khi nào có tiếng, mắt chúng ta chỉ thấy khi nào có sắc. C̣n nếu không tiếng, không sắc th́ ḿnh nói không nghe, không thấy. Chính chỗ này tôi xin nói rằng đa số chúng ta quên mất ḿnh một cách đáng thương.

Trong kinh Lăng Nghiêm, đức Phật đưa tay lên và hỏi ngài A Nan: "Ông có thấy không? ". A Nan đáp: "Thưa thấy". Khi đức Phật rút tay lại, hỏi: "Ông có thấy không? " Ngài A Nan thật thà nói "không thấy" nên bị đức Phật quở.

Phật nói:

- Ông đă quên ḿnh theo vật. Ta đưa tay lên là lúc đó thấy có tay. Khi ta rút tay lại là lúc đó thấy không có tay, chớ đâu phải không thấy.

Chúng ta cứ quen thấy tay gọi là thấy, rút tay lại nói không thấy. Như vậy ḿnh đă lầm tay là cái thấy. Cái thấy dù có tay hay không tay ǵ vẫn thấy. Cũng như thế đối với cái nghe. Khi Phật bảo La Hầu La đánh một tiếng chuông: "Boong". Rồi hỏi: "Ông có nghe không? " A Nan đáp: "Dạ nghe". Khi tiếng chuông dừng lại, Phật hỏi: "Ông có nghe không? ". A Nan đáp: "Dạ không". Phật quở:

- Tiếng chuông có th́ nghe có tiếng chuông. Tiếng chuông lặng th́ nghe không có tiếng chuông, đâu phải không nghe?

Chúng ta cứ nói không có tiếng chuông th́ không nghe. Tất cả quư vị kiểm lại có phải như vậy không?

Đó là chúng ta đă lệ thuộc vào sắc trần, thinh trần. Có sắc trần gọi là có thấy, có thinh trần gọi là có nghe. Như vậy chúng ta không tự chủ chút nào hết. Cả ngày bị trói buộc bởi sáu trần, mà đă bị trói buộc th́ Phật gọi đó là trầm luân. Nó lôi cuốn, nó dẫn dắt, nó làm chủ ḿnh rồi.

Cho nên giải thoát là giải thoát cái ǵ? Là giải thoát sáu trần, nghĩa là sống với sáu trần mà không bị lệ thuộc nó. Làm sao để không lệ thuộc nó? Tôi nói gần nhất như lỗ mũi của chúng ta, nghe mùi thơm th́ thích, c̣n nghe mùi hôi th́ ghét. Tai chúng ta nghe tiếng hay th́ chịu, nghe tiếng dở th́ tránh. Lưỡi cũng vậy, cái ǵ ngon chúng ta thích, cái ǵ dở không ưa. Như vậy cả ngày chúng ta thế nào? Cứ t́m những ǵ vừa ư với cái thấy, cái nghe, cái ngửi, cái nếm, cái xúc chạm v.v... T́m được những thứ đó th́ gọi là thỏa măn, hạnh phúc.

Nhưng nếu chúng ta xét kỹ lại xem cái thỏa măn đó có lâu dài, bền chắc không? Chắc chắn là không. Vậy mà cả đời chúng ta cứ quanh quẩn với nó. Cứ sáng đi làm th́ nghĩ trưa có món ǵ ăn cho ngon miệng, như vậy công làm buổi sáng đó gần hết rồi. Đồng lương t́m được trong ngày chỉ đủ cho một buổi với món ăn ngon miệng. Đến tai, lâu lâu muốn nghe những bản nhạc mà ḿnh ưa thích th́ phải tới pḥng âm nhạc. Như vậy để vừa tai cũng phải tốn hết bao nhiêu tiền. Chúng ta cứ quay cuồng trong mắt, tai, mũi, lưỡi… mà có bao giờ thấy đủ đâu. Như thế hết ngày này, ngày nọ chúng ta già, già rồi chết. Có ǵ là bền lâu, hạnh phúc, tự do đâu?

Chúng ta cứ tưởng thụ hưởng ngũ dục cho thỏa thích là được tự do, nhưng sự thực như thế chính là mất tự do. Có nhiều người trẻ tuổi hay than phiền rằng: Người tu, nhất là tu sĩ trẻ tại sao dại khờ không hưởng dục lạc thế gian rồi đi tu, c̣n trẻ đi tu làm chi? Vào chùa phải ăn chay, ăn lạt, khổ gần chết. C̣n ở ngoài đời người ta ăn thịt ăn cá ngon lành. Điểm này trong kinh nói chẳng qua là sự huân tập thôi.

Nếu quư vị ăn mặn quen mà phải ăn một ngày chay th́ thấy khổ ghê lắm. Ngược lại chúng tôi ăn chay quen từ nhỏ đến lớn, bây giờ bắt ăn mặn th́ chúng tôi cũng khổ như vậy. Ăn chay quen th́ thấy ăn chay là thanh đạm, ăn mặn quen th́ thấy ăn mặn là ngon, vừa miệng. Chẳng qua do sự huân tập của ḿnh thôi. Nếu quen tập những thứ cầu kỳ, tự nhiên nó lôi cuốn ḿnh đi. Cho nên trong nhà Phật nói bị sáu trần trói buộc, làm cho ḿnh không được tự do. Giải thoát ở đây là giải thoát sáu trần.

Có người tới hỏi một Thiền sư ở Trung Hoa:

- Thế nào là giải thoát?

Ngài chỉ trả lời:

- Căn, trần không dính nhau là giải thoát.

Nghĩa là sáu căn không dính với sáu trần là giải thoát. Như vậy giải thoát là thực tế, chớ không phải chuyện xa vời. Ngay trong cuộc sống này mà chúng ta không bị trói buộc bởi sáu trần là chúng ta giải thoát. Đó là cái giải thoát thứ nhất.

Thứ hai là giải thoát luân hồi sinh tử. Luân hồi sinh tử là sao? Nhiều người cứ nghĩ rằng, luân hồi sinh tử là tưởng tượng, chớ không có thực tế. Nhưng thực ra đây là một lẽ thực, chớ không phải tưởng tượng. Bởi v́ với cái nh́n của đức Phật, cuộc sống chúng ta luôn luân lưu chuyển biến, không dừng ở một chặng nào.

Ví dụ như thân này do tứ đại: đất, nước, gió, lửa hợp thành. Tứ đại này khi hoại th́ nó c̣n hay hết? Khi bị hoại th́ người ta nói là hết. Nhưng lấy một ví dụ khác, như có người đem cái thau múc nước để ngoài nắng hoặc bắc lên bếp đun sôi. Đun sôi từ sáng đến trưa th́ thau nước đó khô. Thấy khô ai cũng nói nước hết rồi, nhưng sự thật nước có hết không? Đâu có hết, chẳng qua từ thể lỏng nó biến thành thể hơi. Thể hơi bay lên gặp lạnh th́ rơi xuống thành thể lỏng trở lại. Cứ như vậy mà lưu chuyển, đảo lên lộn xuống. Nếu để ở nhiệt độ trung b́nh th́ nước giữ nguyên thể lỏng, không bay lên cũng không đông lại. Đó là phần thuộc về tứ đại tức vật chất, luôn luân chuyển. C̣n tinh thần th́ sao, nó cũng luôn luân chuyển.

Phật nói chúng ta có thể tiến lên, có thể lùi xuống và có thể y nguyên, không tiến không lùi, tùy theo sự huân tập của mỗi người. Đức Phật giải thích cho chúng ta biết nguyên nhân nào đưa chúng ta tiến lên, nguyên nhân nào đẩy chúng ta lùi xuống, nguyên nhân nào khiến cho chúng ta vẫn giữ nguyên con người, không tiến không lùi. Đó là do sự luân chuyển về mặt tinh thần, hay nói khác đi là sự chuyển đổi nghiệp lực của ḿnh tùy theo công phu tu tập hay tạo nghiệp của mỗi người.

Tóm lại, giác ngộ trong nhà Phật là thấy rơ lẽ thực của con người và muôn pháp. Tất cả đều vô ngă, vô thường, không có chủ thể và không cố định. Hiểu điều này rồi chúng ta có thể hiểu qua cương yếu của Phật giáo.

Trong phạm vi bài này tôi chỉ đưa ra những nét cơ bản như vậy thôi, phần chi tiết sẽ hẹn ở một dịp khác.

2- Nói về Thiền tông

Có một ít người nghiên cứu đạo Phật cho rằng Thiền tông là quái thai của Phật giáo. Đó là v́ họ không hiểu đến nơi đến chốn về Thiền tông. Sự thực Thiền tông chính là cốt tủy của đạo Phật, chớ không phải tầm thường. Ở đây chúng tôi sẽ giải thích cho quư vị hiểu rơ.

Trước hết tôi nói về danh tự, tức tên của Thiền tông. Thiền tông, có chỗ gọi là Tổ sư Thiền. Tại sao gọi là Tổ sư Thiền? Bởi v́ trong đạo Phật có hai lối Thiền.

Khi đức Phật c̣n tại thế, Ngài dạy phương pháp tu Thiền có tính cách phổ thông, dùng chung cho người xuất lẫn tại gia, gọi là Như Lai Thiền. C̣n lối tu Thiền chỉ dành cho một số người tu như Tổ Ca Diếp chẳng hạn, đó là Tổ sư Thiền. Người đạt được yếu chỉ ấy gọi là Tổ. Như vậy nói Tổ sư Thiền là để giản biệt với Như Lai Thiền. Thiền tông cũng gọi là Như Lai tự tánh thanh tịnh Thiền. Tại sao gọi là Như Lai tự tánh thanh tịnh Thiền? Bởi v́ Như Lai tức là Phật; tự tánh tự là ḿnh, tánh là bản tánh bản tánh của ḿnh hằng giác, hằng sáng, gọi đó là Như Lai. Trở về sống với bản tánh hằng giác, hằng thanh tịnh của ḿnh th́ gọi là Như Lai tự tánh thanh tịnh Thiền. Đó là phần tên của Thiền tông.

Tổ sư Thiền này phát nguồn từ đâu. Điểm

này, tôi chỉ nêu đại cương. Trong nhà thiền nói Tổ đầu tiên là Tổ Ca Diếp, người Ấn Độ, sinh đồng thời với đức Phật. Tổ thứ hai là ngài A Nan… cho tới Tổ thứ hai mươi tám là ngài Bồ-đề Đạt Ma. Tổ Bồ-đề Đạt Ma truyền Thiền sang Trung Hoa và trở thành Sơ Tổ xứ này. Tới Tổ thứ ba mươi ba là Ngài Huệ Năng tức Lục Tổ của Trung Hoa. Sau này, chính hệ Thiền của ngài Huệ Năng truyền lần sang Việt Nam. Đó là chúng tôi lược nêu đại cương.

Có một vài học giả nghi hệ thống ba mươi ba vị Tổ ở Ấn Độ và Trung Hoa là một lối khéo sắp xếp của ngài Thần Hội, tức đệ tử ưu tú của Tổ Huệ Năng. Điều đó mới nghe tưởng như đúng nhưng sự thực không phải vậy. Khi đọc quyển Ma ha Chỉ Quán của Đại sư Trí Khải, chúng tôi thấy ngài Trí Khải đă kể về hai mươi tám vị tổ Ấn Độ rồi. Mà ngài Trí Khải sinh năm 538, tịch năm 597 Tây lịch, trước ngài Thần Hội trên trăm năm. Như vậy để quư vị thấy rằng, hệ thống chư Tổ trong nhà Thiền không phải do ngài Thần Hội tự dựng lên mà nó đă có từ trước rồi.

Về tông chỉ của Thiền tông th́ trong nhà Thiền thường dùng bốn câu của Tổ Bồ-đề Đạt Ma khi sang Trung Hoa, làm châm ngôn của người tu Thiền:

Bất lập văn tự

Giáo ngoại biệt truyền

Trực chỉ nhân tâm

Kiến tánh thành Phật.

Nghe như vậy quư vị lấy làm lạ, Thiền tông không lập văn tự, truyền ngoài giáo lư của Phật, chỉ thẳng tâm người, thấy tánh thành Phật. Đă không lập văn tự, truyền ngoài giáo lư mà Tổ Đạt Ma lại bảo ngài Huệ Khả:

- Ngươi nên lấy bốn quyển kinh Lăng Già làm chỗ ấn tâm.

Đến Tổ thứ sáu là ngài Huệ Năng, lại được Ngũ Tổ giảng kinh Kim Cang mà ngộ. Như vậy rơ ràng có văn tự mà nói bất lập văn tự. Lại nữa, trong Đại tạng kinh Trung Hoa, sách Thiền chiếm nhiều hơn tất cả sách của các Tông khác. Nói không lập mà sao nhiều sách quá? Như vậy có mâu thuẫn không? Tôi sẽ giải thích điểm này.

Chủ trương nhà Thiền là chủ trương phá chấp, không cho ḿnh kẹt vào một cái ǵ. Nhưng chúng ta thường nghe học giả thời xưa từng nói "Văn dĩ tải Đạo". Văn dùng để chở Đạo. Như vậy văn để chở đạo chớ không phải văn là đạo. Ví như chúng ta có chiếc xe chở gạo th́ gạo đó không phải là chiếc xe, chiếc xe cũng không phải là gạo. Nhưng nhờ chiếc xe mới chở được gạo. Văn cũng vậy, văn không phải là đạo nhưng nhờ văn mà chở được đạo. Do đó nếu chúng ta cứ phân tích văn để thấy đạo th́ thấy được không? Chắc chắn là không, mà phải nương theo văn để đạt đạo, thấy được đạo. Lại, chúng ta cũng thường nghe "Ư tại ngôn ngoại". Nghĩa là ư luôn luôn ở ngoài lời nói, chớ không phải trong lời nói. Nhiều khi lời nói ở đây mà ư ở chỗ khác. Cho nên nói ư tại ngôn ngoại. Hoặc nói "đắc ư vong ngôn", nghĩa là được ư quên lời. Phải nắm được ư, chớ đừng chấp lời nói mà hiểu sai ư.

Kinh Lăng Nghiêm hay kinh Viên Giác đều nói câu " Tu-đa-la như tiêu nguyệt chỉ", tức là kinh Phật như ngón tay chỉ mặt trăng. Nếu chúng ta biết ngón tay là phương tiện th́ nương ngón tay để thấy mặt trăng. Mặt trăng ở ngoài ngón tay chớ không phải mặt trăng là ngón tay. Người nào cứ nh́n ngón tay cho là mặt trăng th́ lầm. Cũng vậy, chúng ta cứ ôm ấp chữ nghĩa trong kinh, cho đó là đạo, cho đó là Phật th́ lầm. Phải nương theo kinh để thấy cái xa hơn nữa. Đó mới là mục đích chính đức Phật muốn nhắm đến.

Lục Tổ Huệ Năng nghe Ngũ Tổ Hoàng Nhẫn giảng kinh Kim Cang, trong đó chủ yếu là hai câu hỏi của ngài Tu Bồ Đề. Câu hỏi thứ nhất "Làm sao hàng phục được tâm? ". Câu thứ hai "Làm sao an trụ được tâm? ". Khi đức Phật giải thích về an trụ tâm, Ngài nói "bất ưng trụ sắc sinh tâm, bất ưng trụ thinh, hương, vị, xúc, pháp sanh tâm. Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm". Nghĩa là không nên trụ (trụ là dính mắc) nơi sắc mà sanh tâm Bồ-đề; không nên trụ, thinh, hương, vị, xúc, pháp mà sanh tâm Bồ-đề; nên không có chỗ trụ mà sanh tâm Bồ-đề. Đến đây, Lục Tổ bất giác thốt lên: "Đâu ngờ tánh ḿnh vốn tự thanh tịnh, đâu ngờ tánh ḿnh vốn không sanh diệt, đâu ngờ tánh ḿnh vốn tự đầy đủ, đâu ngờ tánh ḿnh vốn không dao động, đâu ngờ tánh ḿnh hay sanh muôn pháp". Như vậy là Ngài không dừng ở chỗ không dính với sáu trần, mà Ngài c̣n thấy xa hơn nữa.

Thế nên biết văn tự chỉ là phương tiện chớ không phải cứu kính, nhưng chúng ta thường hay mắc kẹt ở văn tự. Tổ Đạt Ma v́ không muốn chúng ta mắc kẹt như thế, nên Ngài nói bất lập văn tự. Tuy bất lập văn tự nhưng sao trong nhà Thiền có rất nhiều ngữ lục. Sở dĩ nói bất lập là để phá chấp, nhiều người không hiểu rồi cứ chấp vào cái bất lập đó, gặp nhau cứ im re không nói ǵ hết, mà chấp th́ vẫn cứ chấp. Đó là sai lầm lớn.

Thứ nữa là giáo ngoại biệt truyền, tức là truyền ngoài giáo lư. Như trên tôi đă nói, giáo lư của Phật là ngón tay chỉ mặt trăng. Muốn thấy mặt trăng là phải thấu ngoài giáo lư, c̣n chấp ngón tay là mặt trăng th́ sẽ thấy sai lầm. Trong nhà Phật có lắm người cứ tụng hết bài kinh này đến bài kinh nọ, cho đó là tu, là giác ngộ giải thoát. Đó là chấp cái ǵ? Chấp ngón tay cho là mặt trăng. Giáo ngoại biệt truyền là vậy, không phải nói giáo ngoại biệt truyền là không dính dáng ǵ đến giáo lư của Phật hết. Đó là chấp sai lầm.

Cuối cùng lập trường của Thiền tông là trực chỉ nhân tâm, kiến tánh thành Phật. Tức chỉ thẳng tâm người, thấy được tánh ḿnh th́ thành Phật. Nhận ra bản tánh rồi th́ thành Phật, tức tự tánh thanh tịnh Thiền như đă nói ở trên. Như vậy chữ thành Phật ở đây không có ǵ lạ hơn là được giác ngộ. Giác ngộ cái ǵ? Giác ngộ được cái chân thật sẵn có ở con người ḿnh. Nhận ra được cái thực đó th́ không c̣n lệ thuộc vào hai tướng vô ngă và vô thường. Tức là vượt thoáùt ra ngoài vô ngă và vô thường. V́ vậy mà gọi là Phật, là giải thoát.

Cho nên chủ yếu tu tập của Thiền tông là kiến tánh, nghĩa là biết rơ cái giả và nhận chân được cái thật ngay nơi con người chúng ta. Ngay nơi con người chúng ta cái nào giả ḿnh biết giả, cái nào thực ḿnh biết thực. Nhận được như vậy gọi là giác ngộ.

Trong nhà Phật nói những ǵ không có chủ thể, không cố định đều là giả. Chữ giả đây đừng hiểu là không có, không ngơ. Nó có tạm thời, rồi mất. Cái ǵ có tạm thời rồi mất th́ gọi là giả. Như xét về thân này, chúng ta đều biết thân là tướng duyên hợp, tướng duyên hợp th́ không có ǵ bảo đảm bền chắc. Nên chúng ta sống ngày nay th́ biết ngày nay, không ai bảo đảm ḿnh sống đến ngày nào, tháng nào hết. Bởi v́ cái chết nó đến bất kỳ lúc nào. Mạng sống chúng ta không bảo đảm th́ đâu có thật. Không thật nên nhà Phật gọi là giả. Giả là tạm, nó tuy hiện hữu nhưng không bền không lâu, chứ không phải không ngơ.

Thân đă giả, đến tâm th́ sao? Đa số quư vị cho rằng tâm ḿnh là sự hiểu biết, phân biệt. Thật ra trong đạo Phật định nghĩa chữ tâm đơn giản lắm, tâm là cái biết. Nhưng cái biết đó có nhiều loại, nhiều thứ. Như quư vị cho rằng kiến thức hay những suy tư của ḿnh là tâm. Nhưng Phật không chấp nhận như thế. Tại sao?

Bởi v́ kiến thức của ḿnh là do sự huân tập mà được. Hồi nhỏ năm mười tuổi chúng ta đâu có kiến thức, phải không? Lớn lên chúng ta do học và huân tập nên có hiểu biết. Ai huân tập ngành nào th́ giỏi ngành đó, c̣n người không có phương tiện huân tập th́ gọi là dốt. Như vậy kiến thức là sự vay mượn từ bên ngoài, do người khác trao cho. Ḿnh mượn, ḿnh nhặt của người khác th́ nói của ḿnh sao được. Nếu nói kiến thức đó của ḿnh th́ người máy có bộ nhớ do người ta cài vào là của ai? Chẳng qua do bên ngoài nhồi vào th́ nó nhớ, nhớ rồi thành thói quen. Cái ǵ thực của ḿnh th́ không phải do bên ngoài đem đến. Nếu bên ngoài đem đến th́ không phải của ḿnh. Cho nên trong nhà Thiền có câu nói: "Nếu từ ngoài vào th́ không phải của báu trong nhà".

Nếu chúng ta cho rằng cái suy nghĩ là tâm của ḿnh, th́ lúc ngưng suy nghĩ, ḿnh có tâm không? Chẳng lẽ khi đó ḿnh như cây như gỗ. Khi suy nghĩ th́ có ḿnh, khi không suy nghĩ cũng vẫn có ḿnh. Như vậy ḿnh không phải là cái suy nghĩ. Nếu nói suy nghĩ là ḿnh th́ khi t́m lại nó, nó có không? Nó mất. Như vậy nó chỉ là bóng, có đó rồi mất đó, không thật.

Lại nữa, cái suy nghĩ của ḿnh là đối tượng bị ḿnh biết chớ không phải thật ḿnh. Bây giờ tôi xin hỏi, khi quư vị suy nghĩ, quư vị có biết ḿnh đang suy nghĩ không? Nếu có người hỏi: "Anh đang làm ǵ? " Đáp: "Tôi đang suy nghĩ vấn đề này". Rồi lúc không suy nghĩ ǵ hết, quư vị có biết ḿnh không suy nghĩ không? Vẫn biết. Vậy th́ biết ḿnh có suy nghĩ, biết ḿnh không suy nghĩ, cái biết đó lúc nào cũng có. Nhưng nó không phải là cái suy nghĩ.

Lâu nay chúng ta lầm nhận cái suy nghĩ là ḿnh. Cái suy nghĩ đó trong nhà Phật thường gọi là tâm vọng tưởng, nó luôn luôn chuyển biến, không dừng. C̣n tâm chân thật chúng ta lại không biết. V́ không biết, không nhận ra tâm chân thật nên chúng ta quên lăng nó, thành ra có cũng như không. Do đó nhà Thiền cốt làm sao chỉ cho chúng ta biết ngay nơi thân giả dối này có cái chân thật. Cái chân thật đó, nhà Thiền gọi là bản lai diện mục, trong kinh th́ gọi là Phật tánh, là chân tâm. Bản lai diện mục là ǵ? Bản là xưa, lai là nay, tức là mặt mắt sẵn có của ḿnh từ xưa đến nay. Bộ mặt ấy đă có từ thuở nào, nên gọi là bản lai diện mục.

Như vậy trong nhà Phật chia ra hai loại tâm, chơn tâm và vọng tâm. Chơn tâm là tâm hằng biết, hằng sáng, không có sanh diệt. Vọng tâm là tâm phân biệt sinh diệt. Lâu nay chúng ta chỉ nhận tâm sinh diệt cho đó là tâm ḿnh, c̣n tâm hằng biết kia chúng ta lại quên mất. Quư vị sẽ thắc mắc tâm hằng biết đó như thế nào, ở đâu, hiện giờ ḿnh có hay không? Tôi xin đơn cử một ít câu chuyện nho nhỏ để chỉ cho quư vị thấy.

Trong kinh Lăng Nghiêm, đức Phật có nói với ngài A Nan tánh thấy lúc nào cũng có. Khi ngủ cũng có thấy, cho tới con mắt mù cũng thấy nữa. Ngài A Nan ngạc nhiên quá! Con mắt mù làm ǵ thấy?

Khi ngủ quư vị có thấy không? Chúng ta cứ cho rằng khi ngủ không thấy, nhưng thật ra nếu chúng ta đang ngủ, có ai mở đèn th́ ḿnh thấy sáng liền, nên mới giật ḿnh thức dậy. Như vậy cái thấy luôn hiện hữu, nhưng v́ đóng kín cửa mắt cho nên thấy mờ. Cũng vậy, khi ngủ tai chúng ta có nghe không? Nếu không nghe th́ những tiếng động, tiếng đồng hồ reo chúng ta đâu có nghe. Do nghe nên mới thức dậy. Như vậy kể cả khi ngủ, khi thức cũng vẫn có tánh thấy, tánh nghe.

Nhưng nói người mù mà thấy th́ lạ quá. Trong kinh Phật nói người mù cũng thấy, ngài A Nan không chấp nhận. Phật bảo:

- Ông ra đường hỏi mấy người mù, xem trước mắt họ thấy cái ǵ?

Ngài A Nan nói:

- Nếu con hỏi th́ họ nói, trước mắt thấy tối đen.

Phật nói:

- Người mù trước mắt thấy tối đen. Với người sáng mắt, ban đêm vào pḥng tối cũng thấy trước mắt tối đen. Hai cái thấy đó có khác nhau không?

Người mù thấy tối đen và người sáng mắt khi không có ánh sáng hay ánh đèn, họ cũng thấy tối đen. Người mù thấy tối đen th́ nói không thấy, c̣n người sáng mắt thấy tối đen th́ nói thấy tối đen. Sao lạ vậy? Cả hai đều thấy tối đen, mà một bên nói thấy, một bên nói không thấy. Thấy tối đen là thấy rồi, đâu phải không thấy.

Nơi chúng ta đă có thấy tức là có biết, có nghe tức là có biết. Cái hằng biết đó không bị biến động mà chúng ta quên, chúng ta chỉ biết được cái luôn luôn biến động. Khi quư vị suy nghĩ, đó là một ḍng biến động. Nếu chúng ta hằng thấy, hằng biết mà không nghĩ ǵ hết, đó mới là không biến động. Có thấy, có biết tức là có tâm. Tâm đó không động.

Cho nên trong nhà Thiền có những câu chuyện mới nghe qua, quư vị cảm thấy như ngớ ngẩn, vô lư. Như có người đệ tử của ngài Nam Tuyền - Phổ Nguyện ở Trung Hoa, tức là Lục Hoàn Đại Phu. Ông đặt câu hỏi:

- Có người nuôi con ngỗng trong một cái b́nh, ở dưới rộng, ở trên hẹp. Khi nó lớn lên đầy kín cái b́nh. Bây giờ làm sao đem con ngỗng ra mà đừng đập bể cái b́nh?

Quư vị có cách nào đem ra được không? Khi đó ngài Nam Tuyền trả lời một cách lạ lùng, Ngài kêu:

- Hoàn đại công!

- Dạ.

- Ra rồi!

Quư vị thấy ra chưa? Đó là thủ thuật tiếp người của nhà Thiền.

Một chuyện nữa. Tướng quốc Bùi Hưu t́m đến ngài Hoàng Bá, tức thầy Tổ Lâm Tế. Ông đi quanh chùa thấy tượng các vị Thánh tăng, liền hỏi thầy Trụ tŕ:

- Tượng ở đây mà Thánh tăng ở đâu?

Thầy Trụ tŕ trả lời không được. Ông hỏi ở đây có Thiền sư không, xin mời trả lời dùm. Thầy Trụ tŕ mời ngài Hoàng Bá lên, Bùi Hưu hỏi lại:

- Vừa rồi tôi có hỏi thầy Trụ tŕ một câu mà Ngài tiếc lời không nói. Hỏi rằng, tượng Thánh tăng ở đây mà Thánh tăng ở đâu?

Ngài Hoàng Bá liền kêu:

- Bùi Hưu!

- Dạ!

Ngài nói:

- Ở đâu?

Nghe xong Bùi Hưu đại ngộ, thấy được Thánh tăng.

Những thủ thuật trong nhà Thiền như vậy đó. Mới nghe qua dường như không ǵ dính dáng hết, nhưng kỳ thực là chỉ chỗ tột cùng. Ai nhận được th́ nhận, không nhận được th́ thôi, không cho sanh hiểu.

Một trường hợp khác. Ngài Bá Trượng - Hoài Hải, là vị Tổ nổi tiếng với câu "Nhất nhật bất tác nhất nhật bất thực", nghĩa là một ngày không làm một ngày không ăn. Lúc Ngài c̣n nhỏ là đệ tử của Mă Tổ Đạo Nhất. Một hôm hai thầy tṛ đi dạo vườn, thấy có một bầy chim bay ngang hư không, Mă Tổ hỏi:

- Cái ǵ đó?

- Bầy vịt trời.

Một hồi Tổ hỏi lại:

- Bay đi đâu?

Ngài Bá Trượng trả lời:

- Bay qua.

Nghe vậy, Mă Tổ nắm lỗ mũi ngài Bá Trượng kéo mạnh một cái, Ngài la lên một tiếng thất thanh. Mă Tổ bảo:

- Sao không nói bay qua mất đi.

Ngay đó Ngài liền ngộ. Quư vị thấy lối dạy đạo của thầy tṛ trong nhà Thiền lạ lùng không? Ông thầy nhéo mũi học tṛ, vậy mà học tṛ ngộ. Ngộ cái ǵ? Đó là những điều tôi muốn chỉ cho quư vị thấy. Bởi v́ trọng tâm của Thiền tông cốt vạch bày cho chúng ta thấy cái chân thật hằng hữu nơi ḿnh. Nhưng cái đó không thể giải thích được. Giải thích là trật. Tức là mỗi người phải ṃ mẫm rồi phát minh thôi. Ở đây, tôi nói chuyện với quư vị lần đầu, buộc ḷng phải giải thích chút ít cho quư vị quen với lối dạy đạo của nhà Thiền. Sau th́ không cần phải giải thích nữa, để quư vị tự hiểu sẽ tốt hơn.

Chuyện con ngỗng nuôi trong cái b́nh, làm sao đem ngỗng ra mà không làm tổn hư cái b́nh? Thiền sư kêu, cư sĩ dạ một tiếng là con ngỗng ra rồi. Con ngỗng và cái b́nh dụ cho cái ǵ? Con ngỗng là dụ cho tâm thấy biết của ḿnh, cái b́nh dụ cho thân này. Tâm và thân không rời nhau, như con ngỗng đầy chật cái b́nh.

Nhưng làm sao biết trong thân này có tâm hằng hữu? Khi nghe hỏi Thiền sư biết liền, nên không trả lời mà Ngài chỉ kêu: "Hoàn đại công! ". Cư sĩ ứng thinh: "Dạ". Ngài nói: "Ra rồi". Vừa phát tiếng kêu liền có tiếng ứng thinh đáp lại, vậy cái này không hằng hữu là ǵ? Nhận được cái hằng hữu này th́ con ngỗng ra rồi. Tức là ngay nơi thân xác thịt này luôn có cái hằng hữu hiện tiền.

Chuyện của ngài Hoàng Bá cũng tương tự như vậy. Chuyện ngài Bá Trượng lại khác. Bầy chim bay qua mất, nhưng cái thấy bầy chim bay qua đâu có mất! Trong nhà Thiền hay dùng lỗ mũi để biểu trưng cho cái chân thật. Bởi v́ lỗ mũi tượng trưng cho mạch sống của chúng ta, nhưng chúng ta không thấy được. Nó ở trước mắt mà chúng ta không thấy, chỉ thấy người, thấy cảnh, chớ không thấy lỗ mũi ḿnh. Tánh thấy của ḿnh cũng hiện hữu như vậy, nhưng ta chỉ nhớ bầy chim mà quên đi tánh thấy. Mă Tổ vặn lỗ mũi bảo "sao không nói bay qua mất đi? " để nhắc cái hiện hữu đó. Ngài Bá Trượng liền thấy. Như vậy th́ chim bay mất chứ ḿnh đâu có mất. Nhận ra được cái ấy là ngộ.

Nhà Thiền sử dụng phương tiện đó để chúng ta thấy được cái chân thật của ḿnh ở ngay chính nơi ḿnh, chớ không bao giờ vắng. Bởi v́ chúng ta thấy sắc cứ lo chạy theo sắc, nghe tiếng chạy theo tiếng mà quên cái hay thấy, hay nghe. Trong khi chúng ta từng sống, từng dùng nó bên ḿnh, mà lại không nhận ra nó. Thật đáng tiếc!

V́ vậy Thiền tông sử dụng những phương tiện có tính cách lạ lùng để chúng ta không bị mắc kẹt trong phương tiện. Chủ yếu là làm sao cho hành giả thấy rơ, biết rơ được cái chân thật ngay trong cái hư giả này. Nhận ra được cái chân thật đó gọi là kiến tánh hay là giác ngộ. Đó là mục đích chính của các Thiền sư khi dạy đạo vậy.

3- Thiền tông truyền vào Việt Nam

Chúng ta thường nói Thiền tông và Phật giáo Việt Nam, nhưng theo cái nh́n của chúng tôi th́ nói Thiền tông là nói tới Phật giáo Việt Nam. Hay ngược lại nói Phật giáo Việt Nam là nói tới Thiền tông. Tại sao chúng tôi khẳng định như vậy?

Bởi v́ đầu tiên Thiền tông do Thiền sư Tỳ Ni Đa Lưu Chi truyền vào Việt Nam năm 580 TL. Như vậy cuối thế kỷ thứ sáu Thiền tông đă có mặt ở Việt Nam. Kế đó là Thiền sư Vô Ngôn Thông truyền vào năm 820 TL. Sau đó Thiền sư Thảo Đường truyền vào năm 1069 TL. Cuối cùng Tông Tào Động, Tông Lâm Tế truyền vào đàng trong, đàng ngoài vào thế kỷ thứ 17. Như vậy chúng ta có thể nói rằng Thiền tông đă có mặt trên đất nước Việt Nam từ cuối thế kỷ thứ sáu.

Nếu chúng ta nghiên cứu lịch sử kỹ sẽ thấy, trước khi Thiền tông từ các Sư Trung Hoa truyền vào Việt Nam th́ đoàn chư Tăng Ấn Độ sang truyền giáo ở đất nước ta, cũng truyền Thiền nhưng không phải là Thiền tông. Điều đó chắc quư vị cũng thấy rơ. Như vậy tại sao tôi cho rằng nói Thiền tông là nói đến Phật giáo Việt Nam hay ngược lại. Rơ ràng sử liệu c̣n ghi lại, những nhà sư nổi tiếng truyền bá đạo lư hoặc làm toàn là Thiền sư. Trước đời Lư ích nước lợi dân v.v.. Trần và từ đời Lư Trần về sau cũng như thế. Đó là nói thời trước.

Hiện giờ có nhiều người tưởng chừng như Thiền tông không có mặt trên đất nước Việt Nam, nhưng chúng tôi thấy khác. Nếu chúng ta chịu khó đến những ngôi chùa cổ, t́m các bài vị thờ Tổ, th́ không bài vị nào mà chẳng nói kế thừa Tông Lâm Tế hoặc Tông Tào Động. Trong Tông Lâm Tế có hai nhóm là Lâm Tế gia phổ và Lâm Tế chánh tông. Nếu Lâm Tế th́ là Thiền tông rồi, Tào Động cũng là Thiền tông. Những vị Ḥa thượng nổi tiếng hiện nay cũng thuộc các Tông đó.

Như vậy có thể nói rằng quư Ngài đều ở trong hệ Thiền tông. Nhưng phương pháp tu hành có thể uyển chuyển khác đi một chút. Song sự thực đều nằm trong hệ Thiền tông cả. Nếu tất cả chư vị cao Tăng đều xuất thân từ Thiền tông th́ Phật giáo Việt Nam đâu không phải là Thiền tông? Như vậy nói Thiền tông là nói tới Phật giáo Việt Nam rồi. Đó là tôi nói trên phương diện truyền bá từ trước đến nay theo chiều dài của lịch sử.

Nếu chúng ta nghĩ cho thật kỹ mới thấy tầm vóc quan trọng của Phật giáo, có một sự gắn bó giữa Phật giáo với dân tộc Việt Nam. Sự gắn bó đó như thế nào? Như các Thiền sư trước thời Đinh, Lê tức trước thời những vị đứng ra giành độc lập cho xứ sở, các Ngài đều có sự ủng hộ hay chuẩn bị cho nền độc lập của đất nước. Chẳng hạn như ngài La Quư An, rồi sau này có ngài Đỗ Pháp Thuận, Ngài Khuông Việt. Tới đời Lư, có ngài Vạn Hạnh v.v... Toàn là các Thiền sư đứng ra gánh vác một phần trong việc giành độc lập cho xứ sở. Điều đó, nếu quư vị có nghiên cứu chắc cũng thấy rơ.

Có nhiều người đặt câu hỏi: Thời đó không có các nhà Nho tài ba để biên chép hoặc trao đổi thư từ qua lại với triều đ́nh Trung Hoa hay sao, mà phải nhờ chư sư đảm đang việc này? Chúng ta nhớ lại, lúc Sĩ Nhiếp cai trị Việt Nam, ông đă đào tạo một số người có khả năng về văn học để giúp cho việc cai trị của ông. Đồng thời ông cũng cho người sang Trung Hoa học tập và thi cử đỗ đạt đàng hoàng. Như vậy có rất nhiều người giỏi chữ Hán, nhưng sao khi nước nhà độc lập th́ không thấy nhà Nho nào đứng ra lănh đạo hoặc giúp việc cho triều đ́nh?

Bởi v́ Sĩ Nhiếp cố t́nh dạy người ta thông thạo văn tự chữ nghĩa để giúp cho sự cai trị của ông. Tức là tuyển người cai trị chứ không phải dạy văn hóa cho người bị trị. Nên những người dưới sự giáo dục của ông hay của nhà Nho ở Trung Hoa đều không thể đứng về phía nhân dân Việt Nam. Cho nên khi nước nhà giành được độc lập, th́ các Vua đầu như Ngô Quyền hay Đinh Bộ Lĩnh… đều không thể nào dùng những nhà Nho này cả.

Chỉ có chư Sư ở chùa mới chính thống là người Việt Nam, lo cho dân tộc Việt Nam. Chư Sư Phật giáo cũng học chữ Hán, nhưng không phải với mục đích cai trị mà chỉ để hiểu kinh điển thôi. Nên các Ngài có nền văn hóa độc lập, không bị nhồi sọ bởi người cai trị. V́ vậy các triều đại Vua ta rất trọng dụng quư Ngài, nhất là trên mặt văn hóa. V́ thế Phật giáo ngay từ đầu, đă ít nhiều gắn liền với dân tộc rồi. Như vậy sự c̣n mất của đất nước tức là sự c̣n mất của Phật giáo. Đó là lư do tại sao các Thiền sư thời đó được dắc dụng trong triều đ́nh.

4- Tông chỉ tu hành của Thiền tông

Tông chỉ và sự tu hành của các Thiền sư truyền vào Việt Nam có lệch, có khác với Tông chỉ của các Thiền sư ở Trung Hoa, Ấn Độ không? Nói cách khác, nó có khác với kinh điển của nhà Phật không?

Đầu tiên chúng tôi nói về ngài Khuông Việt. Thiền sư Khuông Việt sinh năm 933, tịch năm 1011. Ngài là người được các vua Lê rất kính trọng và xem như Thái sư, giúp việc văn hóa. Về phần tu hành, chúng ta c̣n giữ được một bài kệ chữ Hán, Ngài để lại khi sắp tịch. Bài kệ đó như sau:

Mộc trung nguyên hữu hỏa

Hữu hỏa, hỏa hoàn sanh

Nhược vị mộc vô hỏa

Toản toại hà do manh?

Mộc trung nguyên hữu hỏa nghĩa là trong cây vốn có lửa. Hữu hỏa, hỏa hoàn sanh, bởi có lửa cho nên lửa phát sanh. Nhược vị mộc vô hỏa, nếu bảo rằng cây không lửa. Toản toại hà do manh, th́ dùi cọ làm sao lửa phát sanh được.

Như vậy qua bài kệ đó, Ngài muốn nói ǵ? Đoạn trước tôi đă nói về Thiền tông. Thiền tông cốt chỉ cho chúng ta thấy được nơi con người của ḿnh có sẵn tâm chân thật. Nó có sẵn nhưng bị những thứ hư dối phủ che làm mờ đi, nên ḿnh không thấy. V́ vậy Phật nói: "của báu trong nhà mà không biết", phải chịu làm kẻ ăn mày lang thang.

Chúng ta đọc sử đức Phật Thích Ca đều biết trước khi thành đạo, Ngài đi tham vấn một số thầy dạy các phương pháp thiền định từ sơ thiền đến tứ thiền, từ Không vô biên xứ đến Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Song Ngài thấy những pháp đó chưa thỏa măn được mong mỏi của Ngài. Nên cuối cùng Ngài đến cội cây Bồ-đề tọa thiền suốt bốn mươi chín ngày đêm. Đến đêm thứ bốn mươi chín tâm Ngài hoàn toàn thanh tịnh, từ đó phát ra được Tam minh, Lục thông. Thế là Ngài giác ngộ thành Phật. Khi giác ngộ rồi Ngài tuyên bố: "Ta học đạo không thầy". Đă không thầy th́ làm sao giác ngộ? Trong nhà Phật thường nói Giới, Định, Tuệ. Định rồi trí tuệ sáng, chớ không phải ai làm cho ḿnh sáng. Trí tuệ do tâm định mà sáng, th́ trí tuệ đó ở đâu ra? Hẳn là từ nơi ḿnh rồi. Nếu tâm định th́ trí sáng, chớ không từ đâu đến cả.

Khi nào chúng ta có vấn đề phiền toái, lo lắng, tự nhiên ḿnh cảm thấy đầu óc không được sáng suốt. Lúc ngồi yên tĩnh lại, những việc cần nhớ, cần biết từ từ hiện ra rơ ràng. Như vậy cái nhớ biết ấy từ đâu ra? Từ yên tĩnh mà ra. Cho nên trong nhà Thiền hay ví dụ: Như nước lấy từ hồ ao đổ vào khạp rất đục. Sự vật bên ngoài hoặc bóng chúng ta không hiện trong khạp nước đó. Nhưng nếu để nước đục lắng lại, các chất cặn bă lóng xuống th́ nước trong trở lại. Lúc đó đứng nh́n vào, chúng ta thấy cả mặt mày của ḿnh trong ấy, sự vật bên ngoài ở gần đó cũng đều phản ảnh trong mặt nước.

Như vậy bản chất của nước là trong hay đục? Chúng ta thấy đục liền nói nước đục, chứ thật ra bản chất của nước không có đục. Nước từ những hạt mưa trong hư không rơi xuống, cuộn theo bụi đất đọng lại thành hồ ao nên đục. Những thứ đất bụi đó lắng xuống th́ nước trở thành trong. Nước trở thành trong là mới có hay trong bản chất của nó đă trong? Do bản chất nó trong, nên lắng xuống mới trong trở lại được. Nếu bản chất nó không trong th́ dù có lóng bao nhiêu nó vẫn đục như thường. Cũng như nói trong cây có lửa. Có lửa mà không phát động th́ lửa không bao giờ phát. Do chúng ta dùng phương tiện cọ, dùi… nó mới phát lửa. Như vậy khi cây phát lửa không phải là ngẫu nhiên, mà nó đă có sẵn. Nếu lửa không có sẵn bên trong th́ chúng ta cọ, dùi ngàn năm cũng không bao giờ có lửa.

Cũng vậy, nếu đức Phật Thích Ca không có tánh giác sẵn th́ Ngài nhập định trong bao nhiêu năm cũng không sáng được. Do trước Ngài có tánh giác, nên khi định tâm th́ tánh giác phát sáng. Nên nhà Phật nói tất cả chúng sanh đều có Phật tánh là vậy. Phật tánh tuy có sẵn nơi mọi người, nhưng có người làm Phật, có người không làm Phật. Tại sao? Tại ḿnh không dùng phương tiện để lọc, để nắm cho nên nó không phát ra. Như cây nào cũng có lửa, cây khô cũng có lửa, nhưng nếu không có phương tiện dùi, cọ th́ không bao giờ nó phát lửa.

Chúng ta thấy đức Phật Thích Ca thị hiện trong cơi đời này rất là con người. Ngài sinh ra, lớn lên, có gia đ́nh, có vợ có con. Như vậy Ngài có khác ǵ ḿnh đâu? Sống trong cảnh giàu sang, vua chúa, Ngài cũng thụ hưởng như bao nhiêu ông hoàng. Nhưng khi thức tỉnh đi tu, Ngài buông bỏ tất cả và nỗ lực tu tập, chuyên tâm thiền định cho đến khi trí tuệ phát sinh, Ngài liền giác ngộ giải thoát, thành Phật.

Tất cả chúng ta khi ở trong cảnh dục lạc th́ chúng ta cũng nhiễm. Nhưng khi thức tỉnh chúng ta đi tu, tu được tâm định th́ chúng ta cũng sáng như Ngài. Ngài là một con người có sẵn tánh giác, cho nên khi loạn tưởng, phiền năo lắng xuống th́ tánh giác hiện. Chúng ta là con người, phiền năo vọng tưởng lắng xuống th́ tánh giác cũng hiện sáng như Ngài, không nghi ngờ.

V́ vậy Phật nói rằng Ngài có Phật tánh, chúng ta cũng có Phật tánh. Chỉ khác nhau ở chỗ biết dùng phương tiện khai thác, hay không biết dùng phương tiện khai thác thôi. Chúng ta thấy Phật rất là con người, Ngài cũng như chúng ta nhưng Ngài khéo khai thác nên được giác ngộ. C̣n chúng ta không khéo khai thác nên chưa được giác ngộ. Đạo Phật cốt chỉ cho chúng sanh giác ngộ nơi ḿnh có tánh Phật. Nhận ra được điều đó gọi là ngộ đạo, là kiến tánh v.v... Đây chính là những yếu chỉ trong nhà Phật hay nhà Thiền nhắm đến.

Như vậy, cái nh́n cái tu của Ngài Khuông Việt là, biết ḿnh có tánh Phật cho nên khai thác đúng chỗ ấy, tự nhiên thành tựu được mục đích chính của ḿnh, là giác ngộ giải thoát Qua bài kệ của Ngài, chúng ta thấy rất là rơ điều này.

Tới Thiền sư Vạn Hạnh. Không biết Ngài sanh năm nào, chỉ biết Ngài tịch năm 1018. Như vậy ngài Khuông Việt nằm trong hệ của ngài Vô Ngôn Thông. C̣n Thiền sư Vạn Hạnh nằm trong hệ của ngài Tỳ Ni Đa Lưu Chi. Ngang đây, tôi nói sơ lược về ngài Tỳ Ni Đa lưu Chi một chút, để quư vị làm công tác nghiên cứu có thêm tư liệu tham khảo.

Ngài Tỳ Ni Đa Lưu Chi người Ấn, sang Trung Hoa học đạo. Ngài gặp Thiền sư Tăng Xán. Theo truyền thừa của nhà Thiền, ngài Tăng Xán là Tổ thứ ba Trung Hoa. Ngộ đạo ở Ngài Tăng Xán rồi, ngài Tỳ Ni Đa Lưu Chi mới sang Việt Nam. Như vậy Ngài là nhánh từ Tổ Tăng Xán mà ra, ngang với Tổ thứ tư ở Trung Hoa là ngài Đạo Tín. Nên có thể nói Ngài tương đương với Tổ Đạo Tín vậy.

C̣n ḍng Vô Ngôn Thông th́ hơi xa hơn. Từ Tổ thứ tư là Tổ Đạo Tín đến Tổ thứ năm là Tổ Hoằng Nhẫn, Tổ thứ sáu là Tổ Huệ Năng. Đến đây ngưng truyền y bát, không gọi là Tổ nữa, các vị về sau gọi là Thiền sư. Dưới Lục Tổ có những vị đệ tử nổi tiếng, phân làm hai hệ quan trọng ở Trung Hoa là, hệ của ngài Thanh Nguyên Hành Tư và hệ của ngài Hoài Nhượng ở Nam Nhạc. Dưới ngài Nam Nhạc Hoài Nhượng, có một đệ tử cự phách là Mă Tổ Đạo Nhất. Dưới Mă Tổ có Bá Trượng Hoài Hải. Ngài Bá Trượng mới sinh ra ngài Vô Ngôn Thông. Như vậy ngài Vô Ngôn Thông nằm dưới hệ Tổ Huệ Năng, nhằm đời thứ tư sau Lục Tổ. Ngài Vô Ngôn Thông ngộ nơi câu "Tâm địa nhược không, tuệ nhựt tự chiếu" của Tổ Bá Trượng. Nghĩa là đất tâm nếu trống không th́ mặt trời trí tuệ tự sáng. Ngộ rồi, sau Ngài mới sang Việt Nam truyền đạo.

Quư vị thấy như đức Phật do tâm an định, không có những niệm phiền năo dấy khởi, gọi là tâm không. Từ tâm không này mà trí tuệ chiếu sáng, nên nói mặt trời trí tuệ tự sáng soi. Như vậy các Tổ sư cũng đều thể hội giống như đức Phật cả, đâu có ǵ khác nhau.

Trở lại bài kệ của Thiền sư Vạn Hạnh. Bài kệ ấy như thế này:

Thân như điện ảnh hữu hoàn vô

Vạn mộc Xuân vinh Thu hựu khô

Nhậm vận thịnh suy vô bố úy

Thịnh suy như lộ thảo đầu phô

Đọc bốn câu kệ đó chúng ta thấy thật giản đơn, nhưng có nhiều người hiểu lầm bài kệ này hơi bi quan.

Thân như điện ảnh hữu hoàn vô, nghĩa là thân người như lằn điện chớp, như chiếc bóng, có đó rồi trở về không. Vạn mộc Xuân vinh Thu hựu khô, tức là muôn cây cỏ mùa Xuân th́ tươi tốt, mùa Thu th́ khô héo. Hai câu này nghe đều bi quan hết, phải không? Con người rất tạm bợ, rất mỏng manh, sự vật bên ngoài cũng vô thường, không thiệt. Nh́n đời bằng cách đó tự nhiên thấy bi quan.

Tới hai câu sau "Nhậm vận thịnh suy vô bố úy, nghĩa là mặc t́nh sự thịnh suy, không có sợ hăi. Thịnh suy như lộ thảo đầu phô, sự thịnh suy chẳng khác nào như hạt sương trên đầu ngọn cỏ có ǵ bền chắc. Nhiều người nghe Phật giáo nói cuộc đời là khổ, là hư giả nên cho rằng Phật giáo bi quan. Nói như vậy cũng có lư, ví dụ Phật nói nước mắt chúng sanh nhiều như bể cả, nghe buồn chết! Một giọt nước mắt là một nỗi khổ đau, mà nước mắt đầy như bể cả th́ khổ đau nhiều biết chừng nào mà kể.

Sự thực không phải vậy, nên quư vị thấy đạo Phật nói khổ mà nh́n quư thầy lúc nào cũng cười. C̣n thế gian cho rằng cuộc đời là hạnh phúc mà sao nhiều người ưu tư quá? Chỗ nói hạnh phúc mà người ta lại không vui, c̣n Phật nói khổ mà người tu lại cười? Điều ấy xuất phát từ chỗ sai biệt nào?

Bởi v́ trong nhà Phật nói khổ để chúng ta t́m cách diệt khổ, chớ không phải nói khổ để chịu khổ. Cho nên nói khổ mà biết diệt khổ th́ hết khổ, hết khổ là vui chứ ǵ? C̣n người đời vui trong cái khổ, nên dễ buồn chán, thành ra nhiều ưu tư. Buồn chút chút th́ c̣n ưu tư, nếu buồn chán quá th́ muốn tự tử… đủ thứ hết. Đó là tại v́ lầm, lầm tưởng khổù là vui, nên hết vui đâm ra khổ. Phật nói bản chất cuộc đời thực sự là khổ. Biết như thế rồi, chúng ta phải phăng t́m lư do ǵ mà khổ. Từ đó t́m cách diệt nguyên nhân tạo khổ, th́ sẽ dứt nhân khổ, dứt hết nhân khổ là vui. Như vậy nhà Phật nói khổ để được vui, chớ không phải nói khổ để rồi chán, rồi khổ.

Nói cuộc đời giả dối, thân này tạm bợ cũng vậy. Nói giả dối, tạm bợ th́ người ta dễ chán đời lắm, nhưng trong đạo Phật không phải thế. Nói thân cảnh tạm bợ, giả dối là nói lẽ thật cho ḿnh biết. Nhưng khi nhận được lẽ thật đó rồi chúng ta phải làm sao? Biết được lẽ thật rồi, chúng ta mới nhận hai trách nhiệm.

Trách nhiệm thứ nhất là ngày nào chúng ta c̣n có mặt, c̣n khỏe mạnh th́ phải làm sao lợi ḿnh lợi người, chớ không để mất th́ giờ. V́ nó tạm, nó ngắn, nên ngày nào phải sống cho trọn vẹn ngày đó, đừng chần chờ để mất đi rất uổng. Nói giả dối để ḿnh thúc tiến, vươn lên. Chớ không phải nói giả dối để ḿnh chán, ḿnh than thở hay buông xuôi. Nên nói giả dối để ḿnh phấn đấu, vượt lên. Ngày nào ḿnh có mặt là phải xứng đáng ngày đó, giờ nào ḿnh có mặt là phải làm tṛn bổn phận giờ đó. Đó là tinh thần trách nhiệm của đạo Phật.

Trách nhiệm thứ hai là khi biết cuộc đời này giả dối, tạm bợ th́ ḿnh nhận chịu các nghiệp ḿnh đă tạo một cách can đảm trước khi ra đi. Khi ḿnh biết nó giả dối th́ chuyện c̣n, mất có đáng sợ nữa không? Không đáng sợ! Cho nên quư vị đọc sử thấy Thiền sư lúc gần chết các Ngài cười, c̣n chúng ta gần chết th́ khóc. Vậy th́ tại sao cũng mất thân mà một bên khóc, một bên cười?

Chẳng qua người thấy thân là thật, là lâu dài nên cứ đinh ninh như vậy, bất thần phải tới chỗ kết thúc th́ sinh hoảng hốt, sợ sệt. Do thương tiếc nó quá cho nên phải khóc. C̣n người biết rơ thân giả dối tạm bợ, nó đến rồi nó sẽ đi, nó có rồi nó sẽ mất. Như vậy chuyện c̣n mất là chuyện đương nhiên, có ǵ đâu mà sợ, có ǵ đâu mà lo cho nên vui cười. Đó là ư nghĩa về lẽ thật trong đạo Phật.

Cho nên bài thơ của ngài Vạn Hạnh nói thân như lằn chớp, như chiếc bóng. Tất cả sự vật đều biến chuyển vô thường, có ǵ đâu mà quan trọng. Dù cái tốt, cái xấu, cái dở, cái hay đến với ḿnh rồi nó cũng không c̣n, th́ cứ mặc t́nh nó, không ǵ quan trọng hết. Do không quan trọng nó, nên không sợ hăi, không khủng khiếp.

Nên ngài Vạn Hạnh nói như sương trên đầu ngọn cỏ, thấy đó rồi mất đó, có ǵ đâu phải sợ. Như vậy nhờ thấy được lư tạm bợ, giả dối của kiếp người, của sự vật nên ta có một sức mạnh, không biết sợ hăi. Người không thấy được lẽ thật nên cứ tưởng tượng. Do tưởng tượng nên hay sanh hoảng hốt.

Tôi dẫn hai bài kệ này để quư vị thấy người tu Thiền phải biết: Một là nhận thấy ngay nơi ḿnh cái ǵ giả, biết là giả. Hai là phải nhận ra được cái thật trong cái giả đó. Do thấy giả cho nên chúng ta sẵn sàng đứng trước những cái giả dối mà không ngại, không sợ. Các chùa xưa hay đọc bài kệ:

Thị nhựt dĩ quá

Mạng diệc tùy giảm

Như thiểu thủy ngư

Tư hữu hà lạc.

Đại chúng đương cần tinh tấn

Như cứu đầu nhiên.

Nghĩa là ngày nay đă qua, mạng ḿnh cũng theo đó mà suy giảm. Như cá ở trong ao nước cạn, mỗi ngày nước khô đi một phần, có ǵ để vui. Thế nên chúng ta phải cố gắng nỗ lực, siêng năng tinh tấn như cứu lửa cháy đầu. Lửa táp trên đầu th́ phải phủi liền, chứ đâu thể chần chờ. Thấy vô thường để cố gắng, làm lợi ḿnh lợi người, chớ không phải thấy vô thường để bó tay chờ chết.

Đến bài kệ thứ ba của Thiền sư Măn Giác. Thiền sư Măn Giác thuộc hệ Vô Ngôn Thông, Ngài sinh năm 1052 và tịch năm 1096. Bài kệ của Ngài là:

Xuân khứ bách hoa lạc,

Xuân đáo bách hoa khai.

Sự trục nhăn tiền quá,

Lăo tùng đầu thượng lai.

Mạc vị Xuân tàn hoa lạc tận,

Đ́nh tiền tạc dạ nhất chi mai.

Bài kệ này có thể nói tổng hợp cả hai bài kệ trên.

Xuân khứ bách hoa lạc, tức mùa Xuân đi th́ trăm hoa rụng. Xuân đáo bách hoa khai, mùa xuân trở về th́ trăm hoa nở. Như vậy hoa rụng, hoa nở chỉ là hiện tượng sinh diệt ở bên ngoài. Sự trục nhăn tiền quá, tức là mọi việc trôi qua trước mắt ḿnh. Lăo tùng đầu thượng lai, cái già đă đáp trên đầu mất rồi.

Quư vị thấy bốn câu này mang h́nh dáng ǵ? Hai câu đầu nói muôn vật theo thời gian mà sinh mà diệt. Mùa Xuân đến th́ nó nở, mùa Xuân đi th́ nó tàn. Nói hoa cũng chính là nói tất cả sự vật trên thế gian này, tất cả đều theo thời gian mà sinh mà diệt. Ḍng thời gian cuốn trôi muôn vật. Chúng ta nh́n sự vật trôi đi theo thời gian và bỗng sực nhớ lại ḿnh, th́ cái già nó đă đáp trên đầu rồi. Như vậy chúng ta cũng bị cuốn theo thời gian. Con người và muôn vật đều bị thời gian chi phối. Nhưng ngang đó hết hay chúng ta c̣n lại ǵ nữa?

Mạc vị Xuân tàn hoa lạc tận, đ́nh tiền tạc dạ nhất chi mai, nghĩa là chớ bảo mùa Xuân qua rồi hoa rụng hết, mà đêm qua trước sân vẫn c̣n một cành mai nở rộ. Người đời thường cho rằng Xuân tàn th́ hoa hết, mùa Đông sẽ trơ trụi. Nhưng không ngờ mùa Đông lại có hoa của mùa Đông. Như vậy Thiền sư mượn cành mai để nói tuy sự tướng của muôn vật là một ḍng chuyển biến không dừng, nhưng trong đó ngầm chứa một cái mà thời gian không chi phối nổi, không hoại diệt nổi.

H́nh ảnh cành mai để nói lên trong cái sinh diệt, ngầm có cái không sinh diệt. Chỗ này, ngài Khuông Việt gọi là lửa ở trong cây. Chỗ khác gọi là Phật tánh hay bản lai diện mục. Nó nằm sẵn trong thân hoại diệt này, chứ không phải ngang đó là hết, ngang đó là cùng. Như vậy bài thơ của Thiền sư Măn Giác chứa đủ hai mặt. Một mặt là nhận chân cái giả, một mặt là thấy được cái thật nằm trong cái giả.

Như vậy qua một ít bài thơ của các Thiền sư cũng tạm đủ để nêu lên tông chỉ của Thiền tông.

5- Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử

Đây là một phái Thiền hoàn toàn của người Việt Nam. Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử ra đời năm 1299 và bị mai một vào năm 1334. Sơ Tổ là vua Trần Nhân Tông. Khi Ngài làm vua đă từng chiến đấu chống quân Nguyên và sau khi thành công, nước nhà thanh b́nh, Ngài nhường ngôi lại cho con rồi đi xuất gia.

Xuất gia, Ngài lên núi Yên Tử tu thiền và thành lập Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử. Nhưng người đă nuôi dưỡng, dạy dỗ chân tinh thần Thiền cho Ngài chính là Tuệ Trung Thượng Sĩ. Bởi trước đó, Vua cha là Trần Thánh Tông đă gửi gắm Ngài cho Tuệ Trung Thượng Sĩ. Như vậy ngài Tuệ Trung được xem như là thầy của ngài Trần Nhân Tông.

Ngài tu và lấy hai hiệu, đầu tiên là Hương Vân Đầu Đà, sau này là Trúc Lâm Đầu Đà. Chữ Đầu Đà là tiếng Phạn, Trung Hoa dịch là Đẩu tẩu; nghĩa là phủi rũ sạch hết. Có chỗ c̣n nói Đầu Đà là khổ hạnh.

Ngài Trần Nhân Tông là người rất đặc biệt. Khi ở ngôi Vua, Ngài làm hết bổn phận của một ông Vua, lo cho dân cho nước. Khi đi tu th́ dứt khoát hẳn là một người tu. Nên khi đă xuất gia rồi, Ngài không c̣n đi kiệu như xưa nữa. Dù đường từ

Trúc Lâm Yên Tử về kinh đô rất xa, nhưng Ngài chỉ đi bộ chứ không dùng kiệu, cũng không dùng thuyền rồng. Đó là nói lên tinh thần Đầu Đà của Ngài.

Do trước khi tu, Ngài đă học đạo hiểu được lư Thiền từ Tuệ Trung Thượng sĩ, nên lúc tu Ngài có sẵn căn bản. V́ vậy chỉ sau một thời gian ngắn tu tập, Ngài sáng được việc lớn. Từ đó Ngài thành lập một phái Thiền riêng. Phái Thiền này dung hợp cả các phái Thiền trên, tức là phái Thiền Tỳ Ni Đa Lưu Chi, phái Thiền Vô Ngôn Thông, phái Thiền Thảo Đường, trong đó cũng có ảnh hưởng một phần của phái Thiền Lâm Tế. Ngài thành lập phái Thiền Trúc Lâm theo tinh thần của Phật giáo Việt Nam, chớ không lệ thuộc vào lối tu của các Sư ở Trung Hoa.

Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử chủ trương Tam giáo đồng nguyên. Tam giáo đồng nguyên tức là Phật, Khổng, Lăo đồng nguồn. Chủ trương này rất hay, giúp cho đời Trần đoàn kết. Nhờ vậy toàn dân đánh thắng được giặc Nguyên. Nếu không có chủ trương đó th́ trong nước chia rẽ từng nhóm, đạo Khổng th́ bênh đạo Khổng, đạo Phật bênh đạo Phật, đạo Lăo bênh đạo Lăo. Như vậy thế nước sẽ yếu đi.

Chúng ta đọc sử thấy ở Trung Hoa ngoài Phật giáo, c̣n có hai tôn giáo lớn là Khổng và Lăo. Nhưng hai tôn giáo này đứng riêng biệt nhau. Về sau Phật giáo Thiền tông ở Trung Hoa tới thời cực thịnh là đời Đường sang đời Tống, với tinh thần cởi mở Thiền tông đă dung hợp được cả ba Phật, Lăo, Khổng.

Như tôi đă nói, với con mắt của nhà Thiền, hay của nhà Phật, th́ dù người tu theo đạo nào cũng đều có tánh Phật như nhau. Chẳng qua phương tiện tu có khác thôi. Như vậy chủ trương đó dung hợp được tất cả, nên nói đồng nguồn. Bởi v́ dù phương tiện có khác nhưng chỗ cứu kính không hai. Bởi đứng trên lập trường đó mà nhà Trần dung hợp cả Tam giáo. Nhờ vậy nên thời Trần đă lập được những chiến công oanh liệt nhất trong lịch sử chống giặc của Việt Nam, mà cũng có thể nói oanh liệt nhất trong thời đó đối với cả thế giới.

Thiền sư Việt Nam không chỉ là người xuất gia cạo đầu ở chùa, mà có thể là cư sĩ như mọi người, nhưng tu hành vẫn có thể đạt đạo. Như vua Trần Thái Tông, Tuệ Trung Thượng Sĩ, vua Trần Thánh Tông… các Ngài đều là hàng tại gia mà vẫn thấy được đạo. Ngài Điều Ngự Giác Hoàng xuất gia nhưng Ngài không khuyến khích tất cả chúng ta phải rời bỏ trần tục để vào đạo mới gọi là tu. Mà Ngài dạy ngay trong cảnh trần tục khéo tu th́ cũng vẫn có kết quả tốt như thường.

Như vậy chủ trương đó chỉ có ở Việt Nam chớ không có ở Trung Hoa. Quư vị đọc sử Trung Hoa thấy có một Thiền sư cư sĩ nổi tiếng là ông Bàng Long Uẩn, nhưng ông chỉ giáo hóa trong gia đ́nh thôi, chứ không giáo hóa người khác. Ở Việt Nam, Tuệ Trung Thượng Sĩ là một cư sĩ mà dạy luôn cả Tăng, Ni nữa. Ai đến Ngài cũng đều dạy được hết. Đó là những nét khác biệt giữa Thiền tông Việt Nam và Thiền tông Trung Hoa hay Thiền tông Ấn Độ.

Để thấy rơ hơn về tinh thần này, chúng tôi xin dẫn bài kệ kết thúc trong bài phú Cư Trần Lạc Đạo của ngài Trúc Lâm Đầu Đà. Cư trần lạc đạo nghĩa là ở giữa trần thế bụi bặm này mà vẫn vui với đạo. Đó là điểm đặc biệt của Ngài. Bài phú này rất dài, chúng ta không có th́ giờ đọc hết, tôi chỉ lược trích đoạn kết:

Cư trần lạc đạo thả tùy duyên

Cơ tắc xan hề khốn tắc miên

Gia trung hữu bảo hưu tầm mích

Đối cảnh vô tâm mạc vấn Thiền.

Tạm dịch:

Ở đời vui đạo hăy tùy duyên

Đói đến th́ ăn mệt ngủ liền

Trong nhà có báu thôi t́m kiếm

Đối cảnh không tâm chớ hỏi Thiền.

Ở đời vui đạo hăy tùy duyên, nghĩa là ở ngay trong ḷng đời mà muốn vui với đạo th́ phải khéo tùy duyên. Chúng ta có bệnh không biết tùy duyên. Tùy duyên không có nghĩa là cơ hội. Tùy duyên là giả dụ ḿnh đi làm, đồng lương thấp th́ ḿnh sống theo nếp của đồng lương thấp. Người khác đồng lương cao, họ sống theo nếp đồng lương cao. Nếu đồng lương thấp mà đ̣i sống như đồng lương cao th́ khổ, làm sao vui được. Cho nên người biết tùy duyên, ở trong hoàn cảnh nào cũng khéo lượng định để sống cho phù hợp với hoàn cảnh đó, đừng đ̣i hỏi quá khả năng của ḿnh, quá sức lực của ḿnh. Được vậy th́ vui, ngược lại chúng ta cứ đ̣i hỏi theo nếp của người khác th́ chúng ta không bao giờ vui được.

Bây giờ đa số quư Phật tử cứ than tu khó là tại sao? Tại không biết tùy duyên. Ḿnh nghèo mà đ̣i sống như mấy người trưởng giả th́ làm sao được. Thấy người ta cái ǵ cũng tốt rồi đâm ra phiền năo, phiền năo nên tu không được. C̣n nghèo mà sống đúng với nếp nghèo của ḿnh th́ tuy thiếu thốn một chút mà tinh thần an vui. Chúng ta phải biết ứng dụng đúng với khả năng, hoàn cảnh của ḿnh. Ứng dụng đúng th́ an tâm, mà an tâm th́ tu được chứ ǵ. Đó là khéo tùy duyên.

Đói đến th́ ăn mệt ngủ liền, câu này đa số đều nghi. Ai đói không ăn, mệt không ngủ? Trước khi giải thích câu này chúng tôi xin dẫn câu chuyện của một Thiền sư. Quốc sư Huệ Trung ở Trung Hoa đời Đường, sau khi hiểu đạo Ngài lên núi tu tới bốn mươi năm. Khi được vua Đường Túc Tông mời về triều, có một vị quan tới hỏi Ngài:

- Thưa Ḥa thượng, Ḥa thượng ở trên núi Bạch Nhai bốn mươi năm thường làm ǵ?

Ngài đáp:

- Đói ăn, mệt ngủ.

Vị quan ấy nói:

- Đói ăn, mệt ngủ. Việc đó quá tầm thường. Người đời cũng đói ăn, mệt ngủ. Như vậy Ngài có khác ǵ người đời đâu?

Ngài nói:

- Ta đói ăn mệt ngủ, nhưng không giống người thường.

- Tại sao không giống?

- Người thường đói đến mà không chịu ăn, đ̣i trăm thứ. Mệt đến mà không chịu ngủ, nghĩ trăm việc.

Đói không chịu ăn, đ̣i trăm thứ. Mệt không chịu ngủ, nghĩ trăm việc. Người này có sống đúng với tinh thần đói ăn mệt ngủ của nhà Thiền không? Tôi ví dụ, mỗi sáng ḿnh ăn một tô hủ tiếu rồi mới đi làm. Mọi hôm tô hủ tiếu có tiêu, có ớt; hôm nay thiếu tiêu, thiếu ớt th́ ḿnh không chịu ăn. Phải đ̣i cho đủ mấy thứ gia vị đó mới chịu ăn. Như vậy đâu phải đói th́ ăn. Đó là tôi nói trường hợp nhỏ. C̣n nếu sáng nào cũng có tô hủ tiếu mà hôm nay không có tô hủ tiếu, chỉ có tô cơm nguội th́ chẳng những không chịu ăn, mà c̣n có sự rầy la nữa là khác. Như vậy rơ ràng người đời đói mà đâu chịu ăn.

Rồi đến ngủ. Nhiều khi quư vị làm việc đến chiều tối về mệt, muốn ngủ một chút. Nhưng quư vị có ngủ được không hay nghĩ việc này, việc nọ. Có khi mất nửa tiếng hay một tiếng đồng hồ mới ngủ. Chưa kể có lúc thức trắng v́ mải suy nghĩ nên bị mất ngủ luôn. Như vậy th́ mệt đâu có ngủ.

C̣n Thiền sư khi đói có ǵ ăn nấy, khi mệt nằm xuống ngủ kḥ, không nghĩ suy chuyện ǵ hết. Như vậy th́ cũng đói ăn, mệt ngủ mà hai bên khác nhau. Cho nên nghe đói ăn mệt ngủ thấy tầm thường, mà thật ra không phải tầm thường. Đó chính là tinh thần, là sức mạnh của người làm chủ được ḿnh. Khi cần làm ǵ th́ làm, không phải so đo suy tính lung tung. Làm chủ ḿnh nên đầu óc không bị vọng tưởng kéo lôi, làm cho luẩn quẩn, rối rắm. Phải có sức làm chủ được như vậy mới gọi là đói ăn, mệt ngủ.

C̣n chúng ta không làm chủ ǵ hết. Nhiều khi nói tôi ngồi chơi, mà đầu cứ nghĩ lăng văng chuyện này, chuyện kia. Như vậy để thấy chúng ta không có sức làm chủ, bởi không có sức làm chủ nên chúng ta không như các Thiền sư. Các Ngài đói ăn, mệt ngủ. Chúng ta đói không chịu ăn, mệt không chịu ngủ. Hai bên khác nhau.

Trong nhà có báu thôi t́m kiếm, đối cảnh không tâm chớ hỏi Thiền. Trong nhà ḿnh có báu sẵn, không phải t́m kiếm ở đâu. Cho nên phải ngay nơi ḿnh mà nhận lấy của báu. Tại sao nhà Thiền gọi đó là của báu? Bởi v́ của báu là của quư, nó làm cho chúng ta được mọi sự như ư. Cũng vậy, người tu thấy được tánh giác của ḿnh rồi, th́ mọi việc đều được măn nguyện. Cho nên gọi đó là của báu.

Đối cảnh không tâm chớ hỏi Thiền. Đây là câu tuyệt vời nhất. Người ta hỏi Thiền là ǵ, Ngài không cần giải nghĩa, chỉ nói khi sáu căn tiếp xúc với sáu trần mà không có niệm dấy khởi, không dính mắc, đó là Thiền rồi. Đối cảnh vô tâm.

Qua bài kệ bốn câu ngắn gọn, đă nói được hết tinh thần Thiền từ các Tổ trước cho đến sau này. Đó là tôi dẫn Thiền sư đầu của hệ Trúc Lâm. Kế tôi sẽ dẫn Thiền sư cuối của hệ Trúc Lâm là Ngài Huyền Quang.

Ngài Huyền Quang cũng có một bài phú vịnh chùa Trúc Lâm Yên Tử. Đây là bài văn Nôm nên phần kết thúc cũng bằng văn Nôm. V́ bài phú dài nên chúng tôi chỉ lược đọc phần kết thúc:

Rũ không thay thảy ánh phồn hoa,

Lấy chốn Thiền lâm làm cửa nhà.

Khuya sớm sáng choang đèn Bát-nhă,

Hôm mai rửa sạch nước Ma-ha.

Ḷng Thiền vằng vặc trăng soi giại,

Thế sự hiu hiu gió thổi qua.

Cốc được tính ta nên Bụt thực,

Ngại chi non nước cảnh đường xa.

Rũ không thay thảy ánh phồn hoa, bởi Ngài là Trạng nguyên đi tu th́ tất cả phồn hoa của thế gian phủi sạch hết, không c̣n dính ǵ nữa. Lấy chốn Thiền lâm làm cửa nhà, tức là lấy cửa Thiền làm nhà của ḿnh. Hai câu này nói lên tinh thần tu của Ngài. Tu bằng cách nào?

Khuya sớm sáng choang đèn Bát-nhă. Hôm mai rửa sạch nước Ma-ha. Chữ Bát-nhă, Ma-ha đều dịch âm chữ Phạn. Bát-nhă dịch nghĩa là trí tuệ, nhưng nói trí tuệ không hết nghĩa, nên nhà Phật thường hay dùng từ trí tuệ Bát nhă. Bởi v́ người thế gian thông minh, học giỏi, hiểu nhanh th́ nói người đó có trí tuệ, nhưng đó là trí tuệ thế gian. C̣n trí tuệ này siêu xuất thế gian, nên gọi là trí tuệ Bát nhă.

Chữ Ma-ha Trung Hoa dịch là đại, là lớn. Thường thường trong chùa hay đọc Ma-ha Bát-nhă ba-la-mật-đa, nghĩa là trí tuệ Bát-nhă rộng lớn đến bờ kia. Câu trên dùng chữ Bát-nhă, câu dưới dùng chữ Ma-ha, nhưng đều muốn nói đến tinh thần Bát nhă.

Như vậy vào chùa tu là khuya sớm luôn luôn thắp sáng ngọn đèn trí tuệ Bát-nhă, để làm ǵ? Để rửa sạch hết bụi trần tục hay tâm phiền năo của ḿnh. Người nương trí tuệ Bát nhă th́ thấy tất cả pháp không thật, như huyễn như hoá nên không c̣n đắm luyến vào đó nữa.

Ḷng Thiền vằng vặc trăng soi giại. Thế sự hiu hiu gió thổi qua. Ḷng Thiền tức là tâm đạt được lư Thiền, lắng sạch, trong veo giống như ánh sáng mặt trăng soi bên chái nhà. Được chỗ trong sáng đó rồi, nh́n lại việc đời như gió thổi hiu hiu vậy thôi, không có ǵ quan trọng nữa hết. Cốc được tính ta nên Bụt thực. Chữ Cốc là biết, biết được chính ta thật là Bụt đó. Bụt là Phật. Chúng ta thấy tánh ḿnh là Phật thật, th́ c̣n ǵ ngại cho non nước cảnh đường xa. Dù xa bao nhiêu cũng ráng tu để sống lại được với ông Phật của ḿnh. Biết Phật của ḿnh th́ c̣n ǵ ngại, c̣n ǵ sợ khó khăn? Chỉ sợ ḿnh không biết thôi, đi t́m mới phiền mới cực.

Những câu thơ này đă nói lên tinh thần tu Thiền ở Việt Nam. Trước hết dùng trí tuệ Bát-nhă để dẹp sạch các phiền năo, sau ngộ được lư Thiền th́ tâm tự trong sáng. Như vậy là nhận nơi ḿnh có tánh Phật sẵn, không phải t́m kiếm ở đâu nữa cả. Đó là chân tinh thần tu tập của Thiền tông Việt Nam.

Kết lại, Thiền tông Việt Nam không khác ǵ Thiền tông Trung Hoa hay Thiền tông Ấn Độ, bởi v́ Thiền tông chính là cốt tủy của Phật giáo vậy.  

 

Last updated 11/29/2004 By Đồng Lực