|
LỜI ĐẦU SÁCH Quyển Hoa Vô Ưu này được kết tập từ các bài giảng của Ḥa thượng Viện chủ Thiền viện Thường Chiếu Thích Thanh Từ. Trong đó, gồm một số bài Ḥa thượng được thỉnh giảng cho sinh viên một số trường Đại học ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh. Ngoài ra, một số bài Ḥa thượng thường giảng cho Tăng Ni, Phật tử các nơi và tại các Thiền viện. Để đáp ứng nhu cầu t́m hiểu pháp thiền và hâm mộ tu thiền của Tăng Ni, Phật tử nhưng chưa đủ điều kiện tu học trực tiếp nơi Ḥa thượng, chúng tôi tŕnh xin ư kiến của Ngài và được Ngài hoan hỷ cho biên tập lại các bài giảng trên. Tuy nhiên, v́ là văn nói nên tập sách không sao tránh khỏi sự trùng lặp tất yếu của nó. Rất mong độc giả đạt ư quên lời. Được thế, hy vọng tập sách sẽ đến tay quư vị với những lợi ích thiết thực nhất. Như vậy, chúng ta có thể t́m hiểu thâm nhập và hành tŕ pháp thiền. Đồng thời trên bước đường tu học, chúng ta có thêm bạn đồng hành luôn cảm thông với chúng ta. Mùa Hạ năm Canh Th́n Thường Chiếu, ngày 24-06-2000. THÍCH NHẬT QUANG ĐỨC TỪ BI VÀ NHẪN NHỤC Hôm nay nhân quư thầy chùa Bửu Thọ mời chúng tôi về dự lễ an vị đức Bồ-tát Quán Thế Âm và khai đại hồng chung của chùa, nên tôi sẽ giảng về đề tài Đức từ bi và nhẫn nhục. Bởi v́ tôn tượng Bồ-tát Quán Thế Âm tượng trưng cho hạnh từ bi trong đạo Phật. Từ bi và nhẫn nhục là hai pháp tu tối thiết yếu của người Phật tử cũng như người xuất gia. Từ bi là ban vui, cứu khổ. Người có ḷng từ bi là người thương tất cả chúng sanh b́nh đẳng như nhau. V́ thương mọi người nên đem hết cả tâm tư sức lực của ḿnh làm cho mọi người được vui, hết khổ, nên gọi là ban vui, cứu khổ. Ở đời ai không có khổ, hoặc nhiều hoặc ít thôi. Chư Phật và Bồ-tát thương muốn cho chúng ta hết khổ nên các Ngài dạy chúng ta tu. V́ vậy từ bi là hạnh thiết yếu trong đạo Phật. Kế đến là nhẫn nhục. Bởi có từ bi mà thiếu nhẫn nhục th́ không bao giờ thực hiện được hạnh từ bi. Nhẫn nhục lúc nào cũng ở bên cạnh từ bi, không thể riêng rẽ được, nên tôi giảng chung từ bi và nhẫn nhục. Trong kinh Pháp Hoa Phật có dạy, muốn vào nhà Như Lai tức phải có ḷng từ bi, muốn mặc áo Như Lai tức phải nhẫn nhục. Tóm lại, muốn vào nhà Phật, mặc áo Phật phải tu hạnh từ bi và nhẫn nhục. Nếu không có từ bi, không có nhẫn nhục th́ không thể vào nhà Phật, mặc áo Phật được. Nên người Phật tử thiếu từ bi th́ chưa phải Phật tử. Đây là vấn đề mà quư Phật tử cần phải hiểu. Nói từ bi theo nghĩa cứu khổ ban vui, quư Phật tử cảm thấy khó hiểu. Để gần gũi và dễ hiểu hơn, tôi có thể nói từ bi là t́nh thương v́ mọi người chớ không phải v́ ḿnh. Chúng ta ai cũng có t́nh thương, nhưng t́nh thương v́ ḿnh nhiều hơn v́ mọi người. Ví dụ ta đi đâu trễ xe hoặc trễ đ̣, có một người tử tế mời vào nhà uống nước, ăn cơm để chờ tới chuyến đ̣, chuyến xe sau. Họ xử sự rất tốt nên ta nói người đó dễ thương quá. Tại v́ họ tốt với ḿnh nên ḿnh nói dễ thương. Nếu người ấy xấu với ḿnh th́ ḿnh không thương. Như vậy để thấy t́nh thương của chúng ta đi đôi với bản ngă. T́nh thương đó không gọi là từ bi. Đến bao giờ chúng ta thấy người lem luốc, xấu xí, không lễ độ, đói khổ mà ta vẫn thương. Chúng ta cho chén cơm, ổ bánh ḿ, dù họ không cám ơn nhưng chúng ta vẫn thấy vui. Đó là t́nh thương của ḷng từ bi, thấy người khổ ḿnh thương, ḿnh giúp mà không cần đền đáp. Là người Phật tử biết học Phật, tu Phật th́ nên tập mở rộng t́nh thương. Ai khổ, ai đói th́ chúng ta thương, không v́ bản ngă, không đợi người giúp ḿnh, ḿnh mới thương lại. Đó là t́nh thương của ḷng từ bi. C̣n v́ ḿnh th́ chưa phải từ bi. Nên hiểu cho tường tận, chớ thương người này, thương người kia rồi cho đó là từ bi th́ không thể được. Bởi từ bi hệ trọng như vậy nên người Phật tử bước chân vào đạo phải tập mở rộng ḷng thương mọi người. Đó là tập tâm từ bi. Có tâm từ bi rồi th́ chúng ta tu mới có thể tiến được. C̣n chưa có từ bi th́ không thể nào chúng ta tiến được trên đường tu. Tại sao từ bi phải đi đôi với nhẫn nhục? Như ở thế gian có người con hiếu thảo, thương cha mẹ nhưng gia cảnh nghèo làm không đủ ăn. Bấy giờ Giám đốc một xí nghiệp nhận vào làm, trong xí nghiệp anh ta bị rầy, bị quở nhiều thứ, xúc chạm tới tự ái. Nhưng v́ thương cha mẹ thiếu thốn nên vẫn chịu đựng, nhịn nhục làm có tiền để nuôi cha mẹ. Do đó phải ẩn nhẫn, cực khổ, nhục nhă chớ không dám bỏ việc. Như vậy t́nh thương giúp cho chúng ta có sức chịu đựng, sức nhẫn nại. Đó gọi là nhẫn nhục. Nếu chúng ta không thương cha mẹ th́ khi gặp cảnh bị rầy la, khinh bạc liền bỏ quách, cần ǵ phải làm, chỗ này không được kiếm chỗ khác. Nhưng v́ thương cha mẹ cho nên nhẫn chịu mọi sự phiền hà, xúc phạm. Đó là v́ t́nh thương mà phải nhẫn nhục. Một ví dụ nữa, như người phụ nữ gặp ông chồng bạo hành, nhưng đă có với nhau hai, ba mặt con. Người chồng bạo hành chịu hết nổi th́ lẽ ra phải ly dị nhưng v́ thương con, sợ con bơ vơ không c̣n đủ cha mẹ, việc học hành sa sút v. v… Thương con mà nhẫn nhịn sự bạo hành của chồng. Như vậy cũng v́ t́nh thương mà phải chịu đựng. Trường hợp trước là người con hiếu, v́ thương cha mẹ mà nhận chịu những khó khăn, khinh bỉ. Trường hợp sau v́ thương con mà không bỏ được người bạn từng hành hạ ḿnh, chịu đựng mọi điều v. v… Nên biết, nhờ t́nh thương mà người ta có thể nhẫn chịu những cái khó nhẫn. Nếu không có t́nh thương th́ chắc rằng con người sẽ không đủ sức để vượt qua những cảnh khó khổ. Sống trong đời chúng ta muốn làm điều lành, điều tốt nhưng chắc ǵ được mọi người tán thán. Cho nên muốn làm điều lành điều tốt để giúp mọi người, th́ trước chúng ta phải tập có ḷng thương mạnh mẽ đối với mọi người. Đó là từ bi. Kế phải có sức nhẫn nại, chịu đựng những khó khăn. Chúng ta không nên hiểu lầm nhẫn nhục là điều xấu, theo quan niệm của nhiều người, nhẫn là phải chịu nhục. Theo tôi th́ không phải vậy. Nhẫn nhục là một sức mạnh chớ không phải yếu đuối. Thế gian thường cho rằng người làm việc ǵ bị la rầy, quở mắng nhưng vẫn ráng chịu đựng là người yếu đuối, nhu nhược, v́ không dám chống cự lại, đôi khi c̣n bảo là ngu. Nhưng trong đạo Phật không phải vậy. Đạo Phật dạy nhẫn nhục là một sức mạnh. Nếu chúng ta để ư sẽ thấy ở những ngôi chùa xưa thường viết câu Đại Hùng Bửu Điện, tức là điện báu thờ đấng Đại Hùng. Đức Phật là đấng Đại Hùng, nhưng Ngài có đánh dẹp ai đâu mà tôn vinh là Đại Hùng? Trong kinh Pháp Cú, Phật có dạy thế này: Thắng một vạn quân không bằng thắng ḿnh Thắng ḿnh mới là chiến công oanh liệt nhất Nghĩa là người nào thắng được ḿnh mới gọi là người hùng. Thắng giặc bên ngoài chưa phải là hùng. Như vậy nhẫn nhục là việc dễ hay khó? Bị người sỉ nhục, mắng nhiếc ta, ta sỉ nhục, mắng nhiếc lại là dễ hay nhịn nhục là dễ? Mắng lại là dễ chớ bỏ qua khó lắm. Đừng nói chi người lớn, trẻ con khi bị ức hiếp nó tức giận la lối dễ hay làm thinh dễ? Như vậy khi trái ư, nổi giận la lối con nít làm cũng được, c̣n nhẫn nhịn, người lớn đôi khi làm chưa nổi nữa. Qua đó th́ biết cái nào khó! Khó mà làm được nên gọi là Đại Hùng. Đức Phật được gọi là Đại Hùng v́ Ngài nhẫn được những điều khó nhẫn. Trong kinh kể lại, có lần đức Phật trên đường du hóa, một thầy Bà-la-môn lẽo đẽo theo sau chửi nhưng Phật cứ thong thả đi. Ông tức quá chận lại hỏi: - Ngài Cồ Đàm! Ngài có điếc không? Phật đáp: - Không. - Không điếc sao ông nghe tôi mắng chửi mà không có phản ứng? - Ta không điếc. Việc mắng chửi của ông có liên hệ ǵ với ta đâu. Phật liền nói ví dụ: - Như nhà ông có giỗ mời bà con quyến thuộc tới dự. Khi họ sắp về, ông gói quà bánh tặng. Những người ấy không nhận th́ quà đó về ai? Ông Bà-la-môn đáp: - Nếu họ không nhận th́ quà đó về tôi chớ về ai. Phật bảo: - Cũng vậy, ông chửi ta mà ta chẳng nhận th́ những lời mắng chửi đó xin gửi lại cho ông. Người ta cứ nghĩ rằng nhịn là thua, nhưng trường hợp vừa kể, đức Phật có thua không? Chửi Ngài mà Ngài không chống cự lại th́ hậu quả tự trở về người chửi. Chúng ta thử tập khi bị mắng chửi mà chúng ta cứ lặng lẽ làm thinh không nói ǵ hết th́ rốt cuộc người nào tức hơn. Người bị chửi tức hay người chửi tức? Cho nên tưởng rằng tranh hơn thua là hay, không ngờ càng tranh là càng lún sâu vào phiền năo. Chẳng khác nào như lửa cháy mà cứ chế thêm dầu hoài. C̣n một bên nóng giận, một bên im lặng, không có lời thách đố nhau th́ làm ǵ có chuyện đấu tranh để dẫn đến những việc tai hại lớn lao. Rơ ràng nhẫn nhịn là điều hết sức quan trọng, không phải việc thường. Người biết nhẫn nhịn là người làm được việc lớn, c̣n người không nhẫơn nhịn được th́ không làm được việc ǵ hết. Cho nên chúng ta muốn làm được điều hay điều tốt th́ phải có đức nhẫn nhịn mạnh mẽ, như vậy việc làm mới thành công. Chúng ta ai cũng biết câu chuyện Quan Âm Thị Kính. Tôi lược kể điểm hay đặc biệt của bà Quan Âm Thị Kính. Theo sử sách Trung Quốc th́ bà thuộc gia đ́nh khá giả, có danh giá, chồng bà là một nho sinh hiếu học. Gia đ́nh hai bên cũng môn đăng hộ đối. Một hôm nhân chồng học hành mệt mỏi nên nằm ngủ trưa. Bà nh́n thấy có sợi râu mọc ngược lên trên khó coi, nên lấy kéo định hớt giùm sợi râu. Nhưng vừa đưa kéo đụng vào th́ ông giật ḿnh chụp tay la: "Ám sát tôi". Ông la lên như vậy th́ cả nhà đều tin theo, nói bà định dùng kéo ám sát ông chồng. Việc đó có oan không? V́ ông ngủ mơ màng không tỉnh táo nên bị đụng vào da liền giật ḿnh hoảng hốt, thấy bà đang cầm kéo th́ la lên nói vợ ám sát ḿnh. Dù bà có nói ǵ cũng không ai tin hết. Cuối cùng gia đ́nh bên chồng giao trả bà về cha mẹ của bà, v́ là nàng dâu hư. Cha mẹ bà cũng không biết nói sao hơn nên đành đem con về. Về nhà ḿnh rồi, bà nghĩ sự tủi nhục v́ là con nhà thế phiệt mà bây giờ mang tiếng giết chồng, nhưng không biết làm sao minh oan được. V́ vậy bà định đi tu để khỏi mang tai tiếng cho cha mẹ. Hồi xưa ở Trung Hoa chưa có phái nữ đi tu, chỉ có phái nam thôi. Nên muốn đi tu bà phải giả trai. Khi vào chùa được Ḥa thượng nhận cho ở, nhưng v́ có nhan sắc nên giả trai bà cũng đẹp. Do đó động ḷng Thị Mầu, con một nhà giàu thường lui tới viếng chùa. Thị Mầu có tâm không tốt nên sau này gần gũi với người nô bộc của gia đ́nh, cô mang thai rồi đổ oan cho ông đạo Kỉnh Tâm, tức pháp danh của bà. Sự việc Thị Mầu khai trước làng xă đ̣i bà đến công đường tra hỏi. Bà trả lời không có ǵ hết nhưng chẳng ai tin. Dù bị tra khảo đánh đập đi không nổi nhưng bà vẫn chịu đựng, không tiết lộ ḿnh là người nữ để minh oan. Cuối cùng làng mời Ḥa thượng đến trả bà về chùa nuôi dạy lại. Như vậy mới thấy sức chịu đựng phi thường của bà. Khi về chùa, Ḥa thượng không biết sự việc thế nào nên xử sự với bà khác lúc trước. Bà không được ở trong chùa mà phải ở hành lang. Thời gian sau Thị Mầu sanh đứa con trai, cô bồng đứa bé đến chùa giao cho bà nói rằng: "Con của ông nay tôi giao trả cho ông". Chúng ta thấy rơ ràng sự việc không có ǵ dính dáng mà bây giờ xảy ra đến mức độ như vậy. Bà can đảm nhận nuôi đứa bé, bởi bà nghĩ người tu dù cho công phu nhiều mà không có ḷng từ bi th́ cũng không xứng đáng. V́ chúng sanh, v́ cứu một mạng người nên bà chấp nhận hết mọi nhục nhă, mọi h́nh phạt. Cho nên trong một đoạn thơ truyện Quan Âm Thị Kính có câu này: Dù xây chín bậc phù đồ, Không bằng làm phước cứu cho một người. Phù đồ tức là cái tháp, ư câu này nói dù xây tháp chín tầng, không bằng cứu một sinh mạng con người. Nghĩ vậy nên bà đành ôm đứa nhỏ nuôi. Sự việc này càng làm cho Ḥa thượng nghi ngờ, nếu không phải con của bà th́ sao nhận lănh nuôi. Sống trong hoàn cảnh ấy bà vẫn âm thầm chịu đựng. Mỗi ngày ẵm đứa bé đi khắp xóm làng xin sữa bú, chịu đựng mọi khinh bỉ, chê bai của thiên hạ. Bà kiên nhẫn nuôi cho đứa bé lớn lên. Thời gian chịu nhục nhă không biết là bao nhiêu. Một đứa trẻ không có liên hệ máu mủ ǵ hết mà v́ ḷng từ bi muốn cứu một mạng sống, không để cho nó chết nên bà phải chịu nhục nhă, đủ thứ xấu xa. Tới khi đứa bé lớn rồi, từ đó bà mới được tu hành yên ổn, và đến lúc lâm chung mọi người phát hiện bà là người nữ th́ bà đă đắc quả vị Bồ-tát. Người đời sau thường gọi là Quan Âm Thị Kính. Đó là tôi kể tổng quát, bây giờ tôi nhấn mạnh thêm tinh thần nhẫn nhục của bà để chúng ta noi theo tu tập. Thứ nhất, bà nhẫn khi bị chồng vu oan. Việc ngẫu nhiên thôi mà bị hàm oan như thế. Nếu người không có can đảm, bị oan ức đó có thể tự tử. Thường người ta cho rằng tự tử là gan, nhưng tôi th́ nói ngược lại, tự tử là không can đảm. Bởi v́ xấu hổ chịu đựng không nổi, không đủ sức nhẫn nên mới tự tử, nếu đủ sức nhẫn th́ đâu có tự tử. Bà không tự tử mà sống và tu. Đó là một đức nhẫn nhục lớn. Thứ hai, khi đi tu bị người ta vu oan là quan hệ với Thị Mầu có thai. Điều đó hết sức vô lư v́ bà là người nữ. Nếu muốn minh oan rất dễ, chỉ cần nói tôi là người nữ th́ mọi việc đều êm xuôi hết. Nhưng v́ muốn được tiếp tục tu hành, bà không muốn lộ tông tích ḿnh là người nữ, nên phải nhận lănh sự hành hạ, đánh đập, khảo tra. Trường hợp trước nhẫn để được sống và tu. Trường hợp thứ hai, v́ sự tu nên cam chịu khổ nhọc. Và đến giai đoạn cuối cùng là ḷng từ bi thương đứa bé ra đời không có cha mẹ nuôi dưỡng. Sợ nó chết tội nên nhận nuôi, chịu nhục nhă, không phải một ngày mà cả mấy chục năm trời. Chính v́ ḷng từ bi nên bà đă có sức kiên nhẫn phi thường như vậy. Khi đă vượt qua sức chịu đựng đó bà liền thành tựu Bồ-tát. Chúng ta thấy ḷng từ bi, sức nhẫn nhục vượt hơn tất cả người thường t́nh. Do đó thành tựu được Bồ-tát hạnh. Bây giờ chúng ta tôn vinh bà là Phật Bà Quan Âm. Như vậy, người chịu đựng được là người mạnh mẽ, có một sức nhẫn phi thường. Cho nên tu muốn đến nơi đến chốn đ̣i hỏi chúng ta phải có đủ hai mặt, vừa có ḷng từ bi vừa có đức nhẫn nhục. Từ bi nhẫn nhục đủ th́ chúng ta mới tu tiến, mới thành công. C̣n chỉ có từ bi mà thiếu nhẫn nhục th́ khó thành công. Ví dụ như chúng ta thấy người nghèo khổ muốn giúp đỡ nhưng họ không biết mang ơn. Vậy là chúng ta không muốn giúp nữa. Đó là chúng ta làm việc lành, việc tốt mà chưa có đức nhẫn nhục nên dễ lùi lắm. Đó là tôi nói Bồ-tát Quán Thế Âm ở trong truyện thơ Quan Âm Thị Kính. Bây giờ tôi nói Bồ-tát Quán Thế Âm trên h́nh tượng mà quư vị đang thờ. Chúng ta đến chùa lễ Bồ-tát Quán Thế Âm thường thấy Ngài dưới h́nh thức người nữ, nhưng thật ra Bồ-tát không có nam nữ. Trong kinh Phổ Môn có nói rơ, Bồ-tát Quán Thế Âm khi cần độ đồng nam th́ hiện thân đồng nam. Khi cần độ đồng nữ th́ hiện thân đồng nữ, cần độ Tể Quan th́ hiện thân Tể Quan. Như vậy Ngài không có thân nhất định là nam hay nữ, mà tùy theo căn cơ chúng sanh thích thân ǵ th́ hiện ra thân ấy. Song v́ người nữ giàu t́nh thương, Ngài thường hiện thân nữ. V́ vậy khi nói về t́nh thương, người ta hay nói như mẹ hiền thương con. Cha cũng thương nhưng có khi phải răn, phải đánh. C̣n mẹ thương thường vuốt ve mà ít đánh. Do đó mà nói mẹ hiền, ít nói cha hiền. Cha nghiêm nên hay gọi nghiêm phụ, mẹ hiền nên hay gọi từ mẫu. Do đó ḷng từ thường được tượng trưng qua người nữ. Ngài Quán Thế Âm tu hạnh từ bi nên Ngài hiện thân người nữ để thể hiện hạnh nguyện của ḿnh. Kế đó chúng ta thấy trên tay trái Ngài cầm tịnh b́nh, tay phải cầm cành dương. Như vậy ư nghĩa như thế nào? B́nh là để chứa nước cam lồ. Tôi xin đọc lại một đoạn nguyên văn chữ Hán trong Từ bi Thủy sám: "Thùy dương liễu nhi biến sái cam lồ. Trừ nhiệt năo ĩ giai đắc thanh lương. Tầm thinh cứu khổ ư tứ sanh. Thuyết pháp độ thoát ư lục đạo". Như vậy là Ngài cầm cành dương rưới nước cam lồ từ trong tịnh b́nh. Nước cam lồ và cành dương tượng trưng cho cái ǵ? Chữ cam là ngọt, lộ là sương. Mù sương đọng trên lá cây, nước đó trong sạch và ngọt gọi là cam lồ. Nước cam lồ là tượng trưng cho tâm từ bi. Tâm ấy trong sạch, dịu ngọt như cam lồ. V́ vậy từ bi tới đâu th́ lửa nhiệt năo tắt ngụm tới đó. Ngọn lửa phiền năo của chúng ta cháy hừng hực nên chỉ có nước từ bi mới dập tắt được. Phiền năo nóng giận là sân. Muốn cho hết sân, qua được cơn nóng giận phải có ḷng từ bi. Nên nước cam lồ tượng trưng cho ḷng từ bi. Khi ta gặp khổ đau, người có ḷng từ bi khuyên dạy ta sẽ giảm. Những chúng sanh đang trong cảnh đói thiếu, đủ thứ tai nạn, gặp được những người có ḷng từ bi th́ họ sẽ được cứu giúp. Cho nên khổ đau chỉ có ḷng từ bi mới đưa đến sự b́nh an. Nước cam lồ đem rưới cho mọi người được mát mẻ th́ phải nhờ cành dương. Có người lấy cành trúc hay cành tre thay thế cành dương để rưới nước cam lồ. Nhưng sự thật ư nghĩa nước cam lồ chỉ rưới được qua cành dương. Tại sao vậy? V́ cành dương nhỏ, mảnh, khi gặp gió th́ nó uyển chuyển nhưng mà không găy. Như vậy để nói lên ư nghĩa người có đức nhẫn nhục, gặp cảnh khó khăn luôn tùy thuận, nhẫn nại, không chống đối. Mới nh́n như yếu, lại dẻo dai chịu đựng, không bị găy, bị thua. Như vậy h́nh ảnh cành dương nói lên đức nhẫn nhục. V́ nhẫn nhục mới có thể đem nước cam lồ hay ḷng từ bi chan rải cho mọi người được. Nếu không có nhẫn nhục th́ không bao giờ chan rải được ḷng từ bi. Rơ ràng từ bi và nhẫn nhục nương nhau th́ làm việc ǵ cũng thành tựu. Có từ bi mà thiếu nhẫn nhục hay ngược lại, có nhẫn nhục mà thiếu từ bi cũng không được. Cho nên trong kinh nói cầm cành dương Ngài rưới nước cam lồ lên khắp cả. Trừ nhiệt năo, Ngài làm cho mọi người đều được tắm trong ḍng suối thanh lương. Nghe tiếng kêu mà cứu khổ cho tứ sanh. Ngài thuyết pháp độ khắp cả lục đạo. Qua đó chúng ta thấy h́nh tượng Ngài cầm cành dương rải nước cam lồ lên tất cả mọi người, đó là đem ḷng từ bi chan rải khắp muôn loài. Do sức mạnh của ḷng từ bi mà tiêu diệt được ḷng sân hận của con người. Chúng ta sống nếu không có ḷng từ bi th́ không thể nào thực hiện được những điều đức Phật đă dạy. Tôi nhắc lại khi đức Phật c̣n tại thế, có lần trên đường giáo hóa, gặp một nhóm côn đồ mắng chửi thậm tệ, nhưng Ngài vẫn thản nhiên, không có thái độ nào tỏ vẻ khó chịu hay bất măn. Nhưng tôn giả A Nan chịu không nổi, liền thưa với Phật: - Bạch Thế Tôn, chúng ta nên đi nơi khác. Phật bảo: - Bây giờ đi chỗ nào A Nan? Ngài A Nan thưa rằng: - Đi chỗ nào không có người chửi mắng ḿnh th́ mới có thể truyền đạo. Phật bảo: - Giả sử chúng ta đi đến chỗ khác cũng có người mắng chửi nữa th́ làm sao A Nan? Ngài A Nan thưa: - Như vậy th́ chúng ta t́m lại những nơi đă từng giáo hóa như thành Xá Vệ hoặc những nơi có đệ tử của Ngài. Phật bảo: - Này A Nan! Nếu là thầy thuốc giỏi th́ có nên treo tấm bảng trước nhà rằng: "Ở đây chỉ nhận chữa những bệnh thông thường, c̣n bệnh nặng th́ mời đi nơi khác"? Ngài A Nan thưa: - Không Phật hỏi: - Tại sao vậy? Ngài A Nan thưa: - Thầy thuốc giỏi th́ trị bệnh nặng, c̣n bệnh thường có ǵ quan trọng. Phật bảo: - Cũng vậy, người ta đang bệnh ta phải trị cho họ, chừng nào họ không cần th́ ta mới đi. Ngài A Nan nói: - Họ đang chửi ḿnh th́ họ đâu cần ḿnh. Những người côn đồ nghe nói vậy liền thức tỉnh lên tiếng: - Bạch Ngài, chúng con cần Ngài. Do đó đức Phật đă ở lại giáo hóa độ những người đó. Câu chuyện đă cho chúng ta thấy, Phật dù hóa độ chúng ta nhưng không phải tới đâu người ta cũng kính ngưỡng như nhau. Ngay cả đức Phật đi giáo hóa cũng gặp nhiều cay đắng, bị trở ngại đủ thứ hết, nhưng Ngài cũng thản nhiên chịu đựng. Nhờ vậy Ngài mới thành đạo và truyền bá Phật pháp cho tới ngày nay. Chúng ta là hàng đệ tử của Phật th́ phải học gương sáng của Ngài. V́ thương những người khổ hay người ngang ngạnh nên dù họ có gây khó khăn, làm điều hung dữ, chúng ta vẫn phải độ họ, không nên giận họ. Trong đạo Phật lúc nào cũng nhắc nhở người Phật tử luôn cố gắng thực hiện cho được tinh thần từ bi nhẫn nhục. Chưa hành được hạnh đó th́ chúng ta chưa phải là đệ tử của Phật. Thật ra chúng ta ai cũng có ḷng từ bi, nhưng ḷng từ bi đó bị hạn chế. Ví dụ có người đi xem hát thấy các diễn viên bi lụy rơi nước mắt họ cũng khóc theo, như vậy th́ có t́nh thương, thấy cảnh khổ mới khóc. Nhưng có điều lạ là thấy cảnh khổ trên sân khấu th́ khóc, mà thấy người khổ thật ở ngoài th́ thản nhiên. Nên cái khóc đó là do các diễn viên khéo gợi cảm xúc của ḿnh, c̣n những cảnh khổ không gợi được cảm xúc th́ không khóc, chỉ thương v́ tội nghiệp thôi. Đó là do ḷng từ bi c̣n bị ảnh hưởng trong t́nh cảm riêng tư. Cho nên chúng ta hiểu đạo Phật rồi tập theo đức từ bi, chúng ta sẽ được những điều lợi ích lớn. Tất cả những ǵ chúng ta làm lợi cho người khác, mới thấy như thiệt tḥi nhưng thực t́nh chúng ta giúp cho mọi người, rồi sau này ḿnh sẽ được mọi người giúp lại. Ḿnh xử sự tốt với mọi người th́ người sẽ xử sự tốt với ḿnh. Cũng có người thắc mắc sao tôi xử sự tốt với người mà người lại xử sự xấu với tôi? Chúng ta không nên vội nghĩ "làm ơn lại mắc oán". Sự thật không phải như vậy. Tôi thường ví dụ như trước kia chúng ta làm khổ ai đó, bây giờ ḿnh phát tâm hiền lành tốt, nhưng sự cải tiến của ḿnh chưa xứng với việc ḿnh làm khổ người khi trước. Do đó dù chúng ta giúp người nhưng họ vẫn không mang ơn chúng ta mà lại c̣n hầm hầm nữa chứ. Cho nên hiểu được nhân quả rồi th́ không giận họ mà phải biết v́ việc làm của ḿnh chưa xứng đáng, chưa thật quư, chưa cao thượng nên người chưa vừa ḷng. Có người nói từ trước tới giờ tôi chưa từng làm khổ ai chút nào, nhưng chúng ta nên nhớ trong nhà Phật nói những sự việc xảy ra với chúng ta không chỉ xảy ra trong đời này mà có sự liên hệ tới nhiều đời trước nữa. Ngày nay chúng ta tử tế với người nhưng biết đâu trước kia chúng ta làm khổ người quá nhiều. Sự oán hờn của quá khứ c̣n núp trong tàng thức của người, bây giờ gặp lại, dù chúng ta có làm điều lành điều tốt, nhưng chưa xứng với việc cũ nên họ không hài ḷng, không thông cảm với ta. Hiểu như vậy chúng ta chỉ trách ḿnh chớ không trách người. Nhờ thế việc tu hành mới không trở ngại. Hiểu được như vậy, tất cả chúng ta ai cũng ư thức được rằng cuộc đời của ḿnh nếu được tốt đẹp xứng đáng, đó là chúng ta biết từ bi, biết thương người, biết cứu giúp người. Không phải chúng ta chỉ biết bằng lời nói suông thôi mà c̣n phải có sức chịu đựng, nhẫn nhục. Tôi kể thêm câu chuyện nữa, có lần đức Phật đi khất thực, một thầy Bà-la-môn theo sau chửi bới thậm tệ mà Phật vẫn thản nhiên đi. Thầy Bà-la-môn bực tức chạy lên trước chận đường hỏi: Cồ Đàm! Ngài thua tôi chưa? Phật liền trải tọa cụ ngồi xuống, nói bài kệ: Người hơn th́ thêm oán Kẻ thua ngủ chẳng yên Hơn thua hai đều xả Ấy được an ổn ngủ. Ngài nói ai c̣n thấy hơn, thấy thua là c̣n khổ. Hơn người th́ oán hờn, c̣n thua người th́ đêm đến trằn trọc ngủ không được. Chỉ người bỏ được hơn thua th́ được an ổn, hạnh phúc. Như tôi đă nói, chúng ta tôn đức Phật là đấng Đại Hùng, v́ trong trường hợp nào Ngài cũng nhịn hết, không hề chống cự hoặc hành hạ ai. Ngài chỉ nhẹ nhàng nhắc nhở giáo hóa thôi. V́ vậy Ngài không hờn, không giận, không oán thù. Sức chịu đựng đó gọi là Đại Hùng. Đức Phật là đấng Đại Hùng, chúng ta ít ra cũng làm được tiểu hùng v́ chúng ta là con Phật. Vậy trong gia đ́nh cho tới ngoài xă hội chúng ta phải sống và tu như thế nào? Nếu ở gia đ́nh, người chồng lớn tiếng th́ vợ phải nhẫn nhịn. Nhẫn nhịn không có nghĩa là xấu hổ, là thua sút. Nhẫn nhịn người ngoài c̣n không thua, huống nữa là nhẫn nhịn người trong nhà. Chúng ta nhẫn nhịn được tức là chúng ta tự chế ngự được sự nóng giận của ḿnh. Nhịn người lớn hơn hoặc bằng ḿnh th́ dễ, c̣n nhịn những người nhỏ hơn mới thật là khó. Có những người nhỏ kém đức hạnh, ăn nói thô lỗ, chẳng lẽ chúng ta lại đi căi vă với họ sao? Cho nên nhịn tất cả, lớn nhỏ ǵ cần nhẫn nhịn th́ chúng ta cứ nhẫn nhịn. Nên nhớ từ bi nhẫn nhục không chỉ đối với người ngoài mà c̣n đối với trong gia đ́nh nữa. Được vậy chúng ta mới biết tu, mới gọi là đệ tử của đấng Đại Hùng được. Nếu muốn trở thành một Phật tử chân chính th́ phải có tâm từ bi, có đức nhẫn nhục. Đă là Phật tử mà người động tới mỗi việc đều nổi giận hoặc thấy kẻ đó khổ không thương không giúp, th́ có xứng đáng gọi là Phật tử chưa? Trong kinh Phật thường hay nhắc nhở chúng ta phải có ḷng từ bi thương chúng sanh, phải chịu đựng những khó khổ để tâm trong sáng, thanh tịnh. Đó là điều không thể thiếu được. Chúng ta c̣n phải biết rằng trên đường tu luôn gặp chướng duyên. Nếu không hiểu chúng ta sẽ nghĩ, chẳng lẽ ḿnh không có phước? Người tu hạnh nhẫn nhục mà đến đâu cũng được quư kính th́ chưa thể hành hạnh nhẫn nhục. Ví như đức Phật nếu không có người mạ lị th́ làm sao chúng ta thấy được đức tánh cao cả của Ngài. Nhờ có kẻ càn bướng dám mắng chửi Ngài, chúng ta mới thấy được nhẫn lực phi thường của Ngài. Chúng ta tu mà có người kính, có người chửi, có người khinh, chúng ta cũng tự nhiên như vậy, mới gọi là người thật tu. Đa số Phật tử ngày nay cứ ngỡ tu là cúng kính, là làm phước mà không biết tu là xây dựng cho bản thân ḿnh một cái tâm từ bi nhẫn nhục. V́ vậy những trở ngại trên đường tu, tôi không gọi trở ngại mà gọi thắng duyên. Nhờ có người chửi ḿnh mà tṛn được hạnh nhẫn nhục. Nếu không th́ chúng ta đâu có biết ḿnh nhẫn được hay không. Quư Phật tử tu đừng sợ khó, đừng sợ bị thử thách. Bởi v́ thử thách chính là cơ hội tốt để chúng ta thể hiện tinh thần tu hành của ḿnh. Tu là có sức an nhẫn, có sức chịu đựng mọi thử thách, chớ không phải tu là để đón nhận mọi thứ an lành hết. Bởi người tu cũng như chèo thuyền ngược nước, ngược gió. Nếu chúng ta thả lơi th́ thuyền sẽ trôi ra tới biển. C̣n nếu ra sức chèo chống th́ chúng ta mới đến được tận nguồn, tận nơi chúng ta muốn. Người tu hành muốn chi được nấy th́ c̣n ǵ tu nữa. Phật tử đến chùa lạy xin Phật cho con làm ăn phát đạt, mọi việc đều tốt đẹp, con cái học hành giỏi v. v… Xin mọi thứ chớ không chịu tu. Như vậy là xin hay tu? Nếu xin Phật không được th́ đâm chán. Nghe nói có Bà Chúa xứ linh lắm, chạy qua xin Bà. Xin Phật không được th́ xin Bà. Người như vậy là chưa biết tu. Tu là gây dựng cho ḿnh một đức tính tốt đẹp, một hạnh nguyện cao siêu, chớ đâu phải tu là đi xin xỏ. Phật tử chúng ta hay xin quá! Đi chùa th́ đi nhưng nghe chỗ nào linh liền chạy đi cầu xin. Đó là thói thường của những người chưa hiểu được ư nghĩa của sự tu hành. Khi hiểu được ư nghĩa của sự nhẫn nhục rồi th́ chúng ta không c̣n than tu hành sao gặp nhiều khó khăn quá. Vị nào tu gặp trở ngại nên vui mừng nói với huynh đệ rằng: Tôi thật là đại phước, tu gặp cả mười cái trở ngại và đều vượt qua hết. Vậy đó, nhờ có trở ngại chúng ta mới thành công. Nếu không có trở ngại th́ đâu có thành công. Như người tập nhảy cao, lúc đầu để cây thấp, lần lần đưa lên cao, như vậy người cầm cây gây trở ngại hay giúp cho người tập nhảy cao? Chúng ta tu cũng vậy. Tu là để mỗi ngày được thanh tịnh, mỗi ngày được sáng suốt. Muốn được như vậy th́ tất cả trở ngại chúng ta đều vượt qua, xem như tṛ chơi, không có ǵ đáng để tâm. Như vậy mới thành công, c̣n sợ khổ, sợ khó, bị trở ngại th́ tu mong cho sung sướng, chớ không phải tu để được giải thoát. Hiểu như vậy quư Phật tử nên suy xét lại cho chín chắn, đừng buồn, đừng sợ khi chúng ta gặp trở ngại hay bị bạc đăi. Chúng ta phải có sức mạnh, lập chí cho vững, quyết tâm đi đến nơi đến nơi đến chốn. Được vậy mới là người quyết chí tu chân chánh. Tu c̣n cầu xin là tu tà đạo. Tu chân chánh th́ phải biết chuyển sửa những điểm dở, điểm xấu của ḿnh thành hay, thành tốt. Đức Phật thường dạy rằng: Ta không có quyền ban phước giáng họa cho ai. Nếu Phật có quyền ban phước giáng họa cho người, th́ chắc rằng Phật không dạy chúng ta phải nhẫn nhục, phải từ bi, tu nhân quả. Gây nhân tốt th́ được quả tốt, gây nhân xấu th́ chịu quả xấu. Nếu Phật cho được th́ chúng ta đâu cần gây nhân, cứ lạy Phật rồi Phật cho. Vậy Phật có cứu chúng ta không? Phật chỉ cho chúng ta một con đường, ai đi đúng đường th́ an vui, ai đi sai đường th́ đau khổ. Như quư Phật tử khi quy y tam bảo, Phật dạy phải giữ năm giới. Nếu giữ năm giới trọn vẹn th́ được làm người tốt. C̣n không giữ năm giới th́ sẽ đọa vào đường ác như địa ngục v. v… Giữ năm giới là tu, không giữ năm giới là không tu. Phật chỉ dạy chúng ta tu, chớ không phải đưa chúng ta vào loài người hay xuống địa ngục, ngạ quỷ. Con đường Phật vạch ra là để cho chúng ta đi, chớ không phải Phật dùng thần thông ban phước giáng họa cho chúng ta. Hiểu như vậy mới là hiểu đạo. Hiểu rồi quư Phật tử ứng dụng tu th́ có lợi ích vô cùng. Bằng ngược lại, tuy đi chùa nhưng không được lợi ích bao nhiêu. Tóm lại, chúng ta tu Phật là phải mở rộng ḷng từ bi và đức nhẫn nhục. Nhẫn nhục từ bi đó phải từ sự tu sửa của chúng ta, chớ không phải ở đâu đem đến. Công phu có được chính là do sự huân tập hàng ngày mà thành tựu. V́ vậy chúng ta nên tập đức từ bi nhẫn nhục trong cuộc sống, trong từng giây phút để chúng ta có đủ đạo lực khi gặp các chướng duyên. Ngày này, giờ này chúng ta thấy thua thiệt nhưng phước đức sẽ sâu dày ở nhiều đời nhiều kiếp sau, không bao giờ mất. Không có một vị Phật nào ngẫu nhiên mà thành Phật. Các Ngài đều do tu mà thành Phật, không có vị Bồ-tát nào bỗng dưng thành Bồ-tát. Tất cả đều qua biết bao năm tháng tu hành mới được. V́ vậy, là đệ tử Phật, chúng ta cố gắng tu tập cho xứng với ư nghĩa Phật đă dạy. Mong tất cả ghi nhớ và thực hành cho, để đạt được kết quả như sở nguyện. CƯƠNG YẾU ĐỂ TU Giảng tại chùa Thiên Phước - Long An 21-7-2000 - Canh Th́n Hôm nay thể theo lời mời của Sư Bà tại chùa Thiên Phước cũng như trong Giáo Hội, chúng tôi về đây giảng một thời pháp cho Tăng Ni và toàn thể Phật tử nghe. Trên đường tu, chúng ta muốn tu đúng với chánh pháp của Phật để được an lạc giải thoát, th́ điều kiện tiên quyết là phải hiểu, phải nhập được chánh pháp. Hồi xưa có Thiền sư Đạo Lâm ở Trung Quốc, Ngài rất quyết tâm tu hành. Để đạt được kết quả như sở nguyện, Ngài dùng cây cột thành chỗ ngồi như một ổ quạ, trên cháng ba của một cổ đại thụ. Ngài ngồi trên đó tu. Đương thời người ta không biết tên Ngài là ǵ nên họ gọi là Ô Sào Thiền sư. Ô là quạ, sào là ổ, Thiền sư ngồi tu trên ổ quạ. Do quyết tâm tu nên chẳng bao lâu Ngài ngộ đạo. Từ đó, tiếng đồn vang khắp. Khi ấy Bạch Cư Dị là một thi sĩ nổi tiếng và rất mến mộ đạo Phật. Nghe Ngài là người được đắc đạo nên ông t́m tới. Dưới gốc cây, ông nh́n lên chắp tay thưa: "Bạch Ḥa thượng, cúi xin Ngài v́ con nói pháp cương yếu, để con theo đó mà tu". Ngài liền đọc bài kệ, nguyên văn chữ Hán là: Chư ác mạc tác Chúng thiện phụng hành Tự tịnh kỳ ư Thị chư Phật giáo. Dịch: Chớ làm các điều ác Vâng làm các điều lành Giữ tâm ư trong sạch Đây lời chư Phật dạy. Nghe bài kệ ấy xong ông cười, nói: - Bạch Ḥa thượng, bài kệ này con nít tám tuổi cũng thuộc, Ngài dạy cho con làm ǵ! Thiền sư nói: - Phải, bài kệ này con nít tám tuổi cũng thuộc, nhưng ông già tám mươi làm cũng chưa xong! Bài kệ này thường được in trong lá phái quy y của quư Phật tử đó. Chư Phật đă dạy như thế, chứ không phải chỉ một đức Phật thôi. Chúng ta nên lưu tâm cho rơ. Tôi sẽ thứ tự giải thích bốn câu kệ này cho quư vị thấy tầm vóc quan trọng của nó. Chư ác mạc tác là không làm các điều ác. Điều ác là những điều ǵ? Phật dạy tất cả người tu khi bước chân vào đạo, đều phải giữ giới. Nếu cư sĩ th́ giữ năm giới; người xuất gia thọ Sa-di giữ mười giới, Tỳ-kheo giữ hai trăm năm mươi giới; Tỳ-kheo Ni ba trăm bốn mươi tám giới… Như vậy bước đầu vào đạo là phải giữ giới. Giữ giới là để ngăn ngừa không làm những điều tội lỗi. Cho nên trong giới luật thường có câu pḥng phi chỉ ác, tức là ngừa đón, ngăn dứt tội ác. Người bước vào đạo, Phật bắt phải giữ giới để ngừa đón, chặn đứng không cho làm những điều tội ác. Giới không cho chúng ta rơi vào hầm sâu, hố thẳm, nên giới là hàng rào để ngừa đón sự nguy hiểm cho chúng ta. Người tu xuất gia hay tại gia, đều phải có hàng rào để ngừa đón tội lỗi. Nếu không có hàng rào đó, chúng ta dễ rơi vào những chỗ nguy hiểm, hậu quả không an vui mà c̣n dẫn đến nhiều khổ đau khác nữa. Tôi nói gần nhất là giới của cư sĩ tại gia. Phật không cho sát sanh, trộm cắp, tà dâm, nói dối, uống rượu, x́ ke, ma túy… Phật cấm không được làm những điều này. Nếu Phật tử làm th́ sẽ dẫn đến đau khổ, tội lỗi. Bước đầu v́ sợ tội, sợ phạm nên quư vị không làm những điều đó, tức là không làm điều ác. Các hành động như giết người, trộm cắp, tà dâm, nói dối, uống rượu say… có ác không? Năm điều đó là tội ác cho nên chúng ta ngừa đón, không làm, không làm tức là giữ giới. Nhờ giữ giới nên tránh được tội ác. Tránh được tội ác rồi, kế đó chúng ta mới làm các việc lành. Làm các việc lành như tu Thập Thiện, tức là mười điều lành của người tu Thiên thừa Phật giáo. Người tu Thập Thiện sau khi chết sẽ sanh về cơi trời. Trong mười điều lành đó thân có ba, miệng có bốn, ư có ba điều. Thân có ba là: "Không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm". Miệng có bốn là: "Không nói dối, không nói lời hung dữ, không nói lưỡi đôi chiều, không nói lời thêu dệt". Ư có ba là: "Bớt tham, bớt sân, bớt si". Người tu không làm mười điều ác đó sẽ được sanh về cơi lành. Như vậy bước đầu của người tu Phật là phải ngăn chận ḍng tội lỗi. Không gây tạo tội lỗi là bước thứ nhất trên đường tu. Người theo đạo Phật mà không chịu giữ giới là người không biết tu. Trong mười điều đó: thân ba, miệng bốn, ư ba. Chúng ta có thể giữ được thân, miệng nhưng ba điều của ư, quư Phật tử có giữ được không? Thí dụ về tham, cái tham hết sức nhỏ như tham ăn. B́nh thường thấy gà vịt nuôi sẵn ở nhà cũng thương, nhưng khi đă thèm ăn rồi th́ cứ đè xuống cắt cổ. Nó giăy giụa mấy cũng mặc, đâu có xót xa chút nào, miễn được ăn ngon thôi. V́ miếng ăn mà chúng ta tàn sát chúng sanh không thương tiếc! Nên tôi nói người tu ăn chay có lợi rất lớn, dễ tăng trưởng ḷng từ bi. Thí dụ chư Tăng Ni ăn chay trường, khi ra đường có những hồ ao gần bên, cá dưới ao nhảy lên bờ giăy giụa, quư vị thấy thế th́ sao? Thấy thương, lượm bỏ xuống hồ. C̣n người không ăn chay trường, thấy th́ sao? Th́ mừng, lượm bỏ vô giỏ. Như vậy có một việc thôi, mà người ăn chay trường thấy thương, c̣n người ăn mặn th́ thấy là món ăn ngon nên lượm bỏ vô giỏ. Cái khổ sợ kinh hoàng của nó, ḿnh không một chút xót thương. Rơ ràng người tu ăn chay th́ có ḷng từ đối với chúng sanh hơn. Người tu mà c̣n tham ăn ngon là c̣n sát phạt sinh vật khác, không biết thương tiếc mạng sống của nó. Từ tham ăn rồi tới tham tiền, tham của. Tham tiền, tham của th́ sao? Th́ ra đường thấy ai làm rơi bóp lượm lên. Lượm được mừng quá giấu luôn. Như vậy do tham, dù không trực tiếp ăn cắp, nhưng đă gián tiếp làm việc đó rồi. Người mất của họ buồn rầu, ḿnh lượm được th́ mừng vui. Tức là vui trong sự đau khổ của người khác. Như vậy có tội không? Chúng ta thấy từ tham làm ra bao nhiêu tội ác. Sân cũng vậy. Khi nào nổi nóng ít ai b́nh tĩnh, sáng suốt nói lời tốt lành. Người ta nói trái ư, ḿnh nổi giận liền kêu tên chửi mắng. Do giận dấy lên, chúng ta mất hết trí khôn nên nói bậy, gây ra tội lỗi. Người tu phải bớt nóng giận. Chẳng riêng ǵ giới Phật tử cư sĩ mà kể cả người xuất gia có hết được nóng giận chưa? B́nh thường quư vị sợ nhưng tới nổi cơn lên th́ hết sợ! Để thấy khi nổi giận lên th́ trí tuệ sáng suốt bị khuất lấp đi, không c̣n nữa nên nói bậy, làm bậy. Trong gia đ́nh Phật tử cư sĩ, vợ chồng có t́nh ràng buộc từ buổi đầu cho tới ngày nhắm mắt. Nhưng khi nổi giận th́ bất kể, nói những lời hết t́nh hết nghĩa, làm cho tan nát cả gia đ́nh. Thế th́ nóng giận có phải là tội ác không? Nếu chúng ta bớt nóng giận th́ bớt tội ác. Đó là một cái lẽ thật. Người tu phải làm sao tự ḿnh kềm chế. Ở đây tôi nói bớt thôi, chứ chưa dám nói hết. Thí dụ trước kia quư vị nóng một trăm phần trăm, kể từ nay về sau, mỗi tháng bớt xuống chừng mười phần trăm. Như vậy tới cuối năm sẽ hết hoàn toàn. Dứt được sân th́ ḿnh bớt khổ và những người chung quanh cũng bớt khổ. Nóng giận làm cho người ta mất hết lương tri, mất hết trí tuệ. Những việc không nên làm mà cứ làm là điều hết sức nguy hiểm. Thứ ba là si mê. Sao gọi là si mê? Nhiều vị khi bị người ta nói "Chị khờ quá! ", nổi giận liền. Nói "khờ" c̣n nhẹ, nói "ngu quá! " th́ sao? Nổi giận đùng đùng lên. Bởi cho rằng người ta nói ngu là xúc phạm đến giá trị của ḿnh, làm cho ḿnh mất hết uy tín, danh dự… Nếu nghe nói ngu mà cứ cười: "Họ nói ḿnh ngu mà ḿnh không ngu th́ thôi", như vậy khỏe biết mấy. Phải chi họ nói ngu mà ḿnh ngu liền th́ nổi giận là đúng. Người ta nói ngu mà ḿnh không ngu th́ thôi, có hệ trọng ǵ. Vậy mà không bao giờ chịu. Người xưa c̣n nói: "Càng học thấy càng dốt", đây là câu nói của hàng Thánh nhân chứ không phải thường. Học nhiều lẽ ra phải thông minh, sao "càng học càng thấy dốt"? Bởi trên thế gian cả trăm cả triệu ngành nghề khác nhau. Thí dụ như chúng ta học nghề bác sĩ y khoa, giỏi về bệnh trạng, biết thuốc trị cho bệnh nhân hết bệnh, đó là bác sĩ hay. Nhưng nếu đưa ông bác sĩ qua ngành điện hoặc ngành hóa chất hay các ngành tầm thường hơn như thợ hồ, thợ mộc th́ ông có biết ǵ không? Như vậy trăm ngàn nghề, ḿnh biết có một nghề, c̣n bao nhiêu nghề không biết, th́ đâu gọi là khôn hoàn toàn. Ḿnh biết có một phần trong muôn phần th́ vẫn c̣n ngu, chưa thể gọi là thấu suốt được hết. Ngu mà biết ngu là chưa thậät ngu. Ngu mà không biết ngu đó mới thật là ngu! Khi nghe người ta nói ḿnh ngu, ḿnh cười thôi: "Trong trăm ngh́n muôn ức việc, tôi biết có một hai việc thôi bảo ngu là phải" Nói như vậy có thiệt tḥi giá trị của ḿnh không? Người bàng quan nghe thế, họ chê cười hay là khen ngợi? Chúng ta có những thứ si mê hết sức là vô lư, không đáng si mê mà cứ si mê. Từ si mê không chấp nhận ḿnh ngu nên sanh ra sân. Từ sân gây tai họa nguy hiểm thêm. Trong kinh A Hàm, Phật có kể câu chuyện: Có một thầy Tỳ-kheo tu hành rất chân chính, Ngài tránh xa quần chúng, tu trong một khu rừng. Những tiều phu hái củi thấy thế, họ về nói lại trong xóm nghe. Trong xóm, có một thiếu nữ rất tâm đạo, nghe vị Tỳ-kheo tu chân chính như thế, nên cô xin phép ba mẹ mỗi ngày bưng một bát cơm vào rừng cúng dường cho thầy. Thấy thế, xóm làng nghi ngờ cô gái có t́nh ư với thầy. Họ đồn bậy, cô buồn nên không dâng cơm nữa. Trước khi không dâng cơm, cô thưa với thầy: - Thưa thầy, con đă phát tâm cúng dường cho thầy, nhưng bây giờ xóm làng đàm tiếu, nói con có ư riêng thầy, nên con không dám dâng cơm cho thầy nữa. Nghe xong thầy Tỳ-kheo ấy buồn, v́ nghĩ ḿnh tu chân chính thế này, mà người ta đàm tiếu những chuyện không hay, thôi th́ chết đi cho rồi. Thầy mới làm một dây tḥng lọng treo trên cây cổ thụ. Lúc Thầy vừa đưa cổ vào dây, có vị thần hiện ra hỏi: - Tại sao thầy lại tự tử? Thầy trả lời: - Tôi tu hành chân chính mà bị người ta đồn có t́nh ư với cô gái cúng dường cơm cho tôi. V́ vậy tôi xấu hổ, muốn tự tử chết cho rồi. Vị thần đó hỏi: - Thưa thầy, nếu người ta đồn thầy chứng quả A-la-hán, lúc đó thầy có thành A-la-hán không? - Nếu tôi chưa chứng A-la-hán, mà bảo tôi chứng A-la-hán, tôi cũng đâu thành A-la-hán được. Vị thần hỏi: - Vậy nếu người ta nói thầy có t́nh ư xấu mà thầy không có, tại sao thầy lại tự tử? Nghe thế, thầy Tỳ-kheo mở tḥng lọng xuống bỏ. Sau một thời gian tinh cần, thầy chứng quả A- la-hán. Câu chuyện đó nói với chúng ta điều ǵ? Dư luận khen chê có thật hay không? Thí dụ quư vị tu chưa tới đâu, mà nghe nói "Thầy đă chứng A-la-hán, thầy đă là Bồ-tát rồi, " quư vị có mừng không? Lời khen mà không có lẽ thật th́ cũng vô giá trị. Ngược lại, nếu người ta nguyền rủa: "Thầy tu lôi thôi quá coi chừng đọa địa ngục", quư vị nổi giận không? Nếu ḿnh tu thanh tịnh, người ta nói đọa địa ngục, ḿnh có đọa đâu mà sợ. Nên cứ cười thôi, đâu có ǵ phải nổi nóng. Trên thế gian người ta nói xấu, nói tốt đâu có giá trị thật. Vậy mà ai hơi xúc phạm là ḿnh nổi nóng lên, la hét om ṣm. Đó là si mê rồi. Nếu chúng ta không si mê th́ cuộc sống có phải an lành không? Nên đạo Phật thường dạy chúng ta phải tránh si mê. Bởi v́ si mê là nhân đưa chúng ta đến đau khổ. Nên bớt si mê là bớt khổ đau. Nếu c̣n si mê là c̣n đau khổ. Muốn hết si mê chúng ta phải thường quán chiếu đúng với lẽ thật. V́ vậy người tu Phật đi vào đạo bằng trí tuệ, chứ không phải bằng cầu xin. Nhưng hiện nay quư chẳng những Phật tử, mà kể cả người tu cầu xin nhiều hơn vận dụng trí tuệ. Phật tử tới chùa dâng một dĩa quả rồi lạy, thầy hay cô đánh chuông, bảo: "Phật tử nguyện ǵ th́ cứ nguyện đi. " Thế là một đàng nhận, một đàng xin, Phật tử cứ thế mà cầu: "Nguyện cho gia đ́nh con được b́nh an, cho con cái học giỏi, cho làm ăn phát tài…" Rơ ràng cúng Phật ít mà xin th́ quá nhiều. Như vậy có phải tham không? Phật dạy bớt tham, bớt sân, bớt si mà chúng sanh tham như vậy, Phật biết làm sao? Chỉ c̣n lắc đầu. Chúng ta tu mà không hiểu được lời Phật dạy, làm sao tu theo Phật được. Đến chùa, nếu có cầu nguyện, người Phật tử hiểu đạo nên nguyện thế này: "Nguyện Tam Bảo chứng minh hộ độ cho tất cả chúng sanh đều hết mê lầm, hết đau khổ. " Như vậy là quá đủ. Bởi v́ trong chúng sanh đă có ḿnh rồi. C̣n xin cho một ḿnh ḿnh th́ tham lam, ích kỷ quá, Phật đâu có vui. Nhiều khi tôi cũng hơi buồn khi thấy Phật tử có ư trao đổi nhiều quá. Thí dụ Phật tử cúng cho thầy hoặc cô, mỗi tháng năm ba trăm ǵ đó. Một hôm có người nhà ấm đầu, bèn đến nhờ thầy cầu an giùm. Thầy bận việc không đi tới nhà được th́ buồn liền, thầy không thương ḿnh. Như vậy cúng để mong thầy bảo bọc cho gia đ́nh. Bệnh, chết hay trong gia đ́nh có chuyện ǵ, nhất nhất thầy đều phải có mặt để cầu cúng. Như vậy cúng chùa giống như đóng tiền bảo hiểm vậy. Cho nên từ sự hiểu lầm của Phật tử mà Tăng Ni trở thành khó xử. Bởi khi nhận của cúng dường tức là thiếu nợ Phật tử. Phật tử yêu cầu mà không làm theo th́ Phật tử buồn, không đi chùa nữa. Cho nên chiều Phật tử, Tăng Ni đi cầu cúng hoài, thành ra đánh mất ư nghĩa và giá trị thực của một tu sĩ. Phật tử sáng suốt, hiểu và hành đúng đạo lư, th́ Tăng Ni dễ tu, dễ hóa duyên. Nói vậy không có nghĩa tôi qui lỗi về hết cho quí Phật tử. Đôi lúc thầy cô cũng nhiệt t́nh quá, Phật tử chưa kịp mời mà quư vị đă hưởng ứng trước rồi! "Nghe nói ông thân của cô bệnh nhiều, thôi để chiều nay thầy tới cầu an cho. " Sốt sắng quá nên thành thói quen. Bây giờ chúng ta phải sửa lại. Làm việc ǵ phải xét xem việc đó có hợp với chánh pháp, với đạo lư không. Không nên làm những việc sai lầm, trái với những lời Phật dạy. Chúng ta tu theo Phật là mở sáng trí tuệ. Trong kinh Phật thường dạy si mê là tăm tối, trí tuệ là sáng suốt. Tuy si mê là nhân của tham sân, nó khó trị, nhưng nếu biết trị th́ dễ lắm. Như trong ngôi nhà tối lâu năm không có người ở, bây giờ muốn cho hết tối, chỉ cần đốt lên một ngọn đèn, hay đem một cây đuốc đến là ngôi nhà sáng liền. Như vậy muốn hết tối, chỉ dùng ánh sáng. Ánh sáng mới phá tan si mê, tăm tối. Trí tuệ cũng vậy, nó giúp chúng ta diệt được vô minh. Như chúng ta hiểu sai lầm về việc cầu cúng, khi được nghe quí thầy giảng giải liền nhận ra, sửa đổi ngay là chúng ta đă sáng rồi. Đâu phải đợi mười năm, hai mươi năm mới sáng. Nghe, biết trước kia ḿnh mê lầm, bây giờ bỏ mê lầm, bỏ chấp trước là hết mê lầm. Hết mê lầm là trí tuệ, rất nhanh. Nên Phật dạy chúng ta tu phải thắp sáng ngọn đuốc trí tuệ. Có đuốc trí tuệ rồi, chúng ta mới giải hết được những nỗi khổ đau. Bởi mê lầm cho nên chúng ta đau khổ, nếu hết mê lầm th́ hết đau khổ. Ví như người đi lạc trong rừng, không biết lối ra. Lúc đó lao đao lận đận, t́m chỗ này chỗ kia nhọc nhằn khổ sở mà vẫn không ra khỏi rừng. Đến khi gặp được người chỉ đường, nắm vững lối đi rồi, cứ theo đó mà ra th́ hết lạc lầm. Hết lạc lầm th́ hết đau khổ. Nên chỉ có trí tuệ, thấy rơ được lối đi mới hết đau khổ. Không có trí tuệ th́ chúng ta măi khổ đau. Tăng Ni cũng như Phật tử, không nên nghĩ dùng thật nhiều công phu mới gọi là chuyên tu. Chúng ta mở sáng trí tuệ mới đúng là chuyên tu. Phật dạy chúng ta bước từng bước, ngăn ngừa không cho rơi vào tội lỗi, đó là giữ giới. Từ giữ giới, tiến lên loại trừ tham, sân, si để tâm được trong sạch, đó là bắt đầu có trí tuệ. Như thế dần dần đi tới chỗ b́nh an. Đó là câu thứ nhất "Chớ làm các điều ác". Đến câu thứ hai "Chúng thiện phụng hành", tức là vâng làm các điều lành. Nhiều người nghĩ rằng làm lành, làm phước th́ tốn của tốn công. Như vậy là thiệt tḥi cho ḿnh. Hiểu thế là sai lầm. Tôi dẫn câu chuyện của người xưa kể lại: Có anh chàng nghèo nọ ở trong một xóm toàn là người khá giả. Khi ấy có người hỏi: - Trong xóm toàn là người khá giả, một ḿnh chú nghèo, chú có buồn không? Anh trả lời: - Tôi tuy nghèo nhưng được ở trong một xóm khá giả, chẳng những tôi không buồn mà c̣n vui nữa. - Tại sao? - Bởi v́ tất cả mọi người đều khá, chỉ có ḿnh tôi nghèo. Khi thiếu thốn, tôi qua nhà này nhà kia mượn tiền, ai cũng giúp đỡ được cả. Như vậy tuy nghèo mà không đến nỗi khổ, v́ có người giúp tôi. Như vậy người nghèo thấy người giàu khá trong ḷng mừng vui, không đố kỵ th́ mọi người đều thương mến, nên họ sẵn sàng giúp đỡ những lúc khó khăn. C̣n nếu nghèo mà sanh tâm đố kỵ nói xiên nói xéo người ta, th́ dĩ nhiên họ oán ghét ḿnh. Đă thế th́ đâu ai thương và giúp đỡ nữa. Vậy mang tâm đố kỵ là khôn hay dại? Nhưng con người mang cái bản ngă trầm trọng, thấy thua người ta là đố kỵ, ganh ghét liền. Chúng ta cứ nghĩ tài sản trong tay mới thực là của ḿnh, c̣n của người khác th́ không dính dáng ǵ tới ḿnh. Nhưng không phải như vậy. Anh chàng nghèo mà cả làng đều thương, ai cũng sẵn sàng giúp đỡ th́ anh cũng cảm thấy hạnh phúc an vui. C̣n người giàu mà tâm keo xẻn, ích kỷ, bo bo canh giữ sự sản của ḿnh, không ai thương hết th́ khi gặp khổ vẫn cứ khổ như thường. Ta cứ mong cho mọi người được sung sướng, c̣n phần ḿnh không quan trọng. Lo cho mọi người, mới nh́n thấy như thiệt tḥi nhưng sự thật lo cho người tức là lo cho ḿnh. Tại sao? Bởi v́ trong xă hội, cuộc sống luôn liên đới nhau giữa ḿnh và mọi người, không thể tách rời được. Nếu mọi người được vui, được no ấm th́ ḿnh mới yên vui. C̣n mọi người khổ, chỉ một ḿnh ḿnh sung sướng th́ sao? Họ đâu có để yêân cho ḿnh, hết ŕnh ngơ trước lại ḍm ngơ sau. Chừng đó ḿnh vui hay lo sợ? Cho nên chỉ khi nào tất cả mọi người đều được ấm no hạnh phúc th́ ḿnh mới an vui. Trong kinh nói Bồ-tát thấy chúng sanh khổ như ḿnh khổ, thấy chúng sanh vui như ḿnh vui. Cái vui khổ của mọi người là cái vui khổ của chính ḿnh, không tách rời nhau. V́ sao? V́ sự liên đới giữa ḿnh với mọi người là mối tương duyên tương sinh không thể tách rời được. Thế nhưng ở thế gian nhiều người ích kỷ, muốn tách riêng một ḿnh, không dính dáng với ai. Đó là quan niệm rất sai lầm, không hiểu biết ǵ về lư duyên sinh cả. Phật dạy chúng ta làm cho tất cả người đều được an vui, tức là làm lành. Người đói cho họ cơm; người rách cho họ áo; người bệnh tật cho họ thuốc men v. v… Khi giúp đỡ người chính là lo cho ḿnh. Bởi v́ lo cho ḿnh là ḿnh gieo nhân tốt với mọi người nên mọi người quư mến. Gieo nhân tốt th́ mai kia mất thân này ḿnh được hưởng quả tốt. Như vậy có thiệt tḥi ǵ đâu. C̣n nếu ích kỷ, chỉ lo cho ḿnh, không biết tới người, đó mới là thiệt tḥi. V́ người ta không thương th́ ḿnh gặp khó khăn người ta không giúp đỡ. Chừng đó ḿnh sẽ khổ. Ḿnh có của, mọi người cùng có của; ḿnh khỏe vui, mọi người cùng khỏe vui. Đó là chúng ta biết làm lành. Biết làm lành tức là biết thương người. Thương người tức là thương ḿnh. Cho nên chúng ta phải cố gắng làm tất cả điều thiện. Nhiều vị hay than thở: "Người có tiền của th́ kêu gọi ḷng từ thiện được, c̣n tôi nghèo cháy da làm sao làm từ thiện? " Đó là v́ họ không hiểu. Trong nhà Phật dạy bố thí có ba: tài thí, pháp thí và vô úy thí. Tài thí cũng chia làm hai: nội tài và ngoại tài. Nếu ḿnh có tiền của, ai đói thiếu ḿnh giúp, đó là bố thí ngoại tài. Nếu ḿnh không có tiền của, thấy người hàng xóm bệnh, đi đứng không vững, ḿnh đến đỡ đần, dẫn họ đi, đó là bố thí nội tài. Có t́nh thương, có ḷng tốt th́ trong trường hợp nào, hoàn cảnh nào, chúng ta cũng làm việc thiện được. Thiếu t́nh thương th́ không làm việc lành, việc tốt được. Câu này Phật dạy chúng ta phải tận dụng khả năng của ḿnh làm tất cả những điều lành. Nói cụ thể hơn, làm các điều lành là chẳng những không sát sanh, không trộm cướp, không tà dâm, không nói dối, không uống rượu; mà c̣n cứu người cứu vật, bố thí giúp đỡ người nghèo thiếu, dạy người biết sống trinh bạch, nói lời chơn thật, ḥa nhă khuyên răn nhắc nhở mọi người, khuyên con cháu xóm làng tránh uống ruợu, hút x́ ke ma túy… Đó là làm lành. Trên đường tu mỗi ngày chúng ta mỗi ḅn mót công đức. Ḅn mót công đức là sao? Không phải tới chùa cúng dường mới có công đức. Giúp một người hàng xóm qua cơn hoạn nạn, là đă có công đức. Giúp một con vật bị hành hạ khổ sở, là đă có công đức. Công đức ở tất cả chỗ, tất cả mọi người. Hiểu như vậy chúng ta mới phát tâm làm lành một cách dễ dàng được. Kế đến là bố thí pháp. Sao là bố thí pháp? Thí dụ như có người cờ bạc rượu chè làm cho gia đ́nh nghèo túng, trước tiên chúng ta giúp tài vật cho họ qua cơn nghèo túng. Sau đó giải thích cho họ biết những tai hại của uống rượu và cờ bạc. Dạy thật rành rơ cho họ hiểu và bỏ, như vậy gọi là pháp thí. Trong lúc đói khát người ta không thể nghe đạo lư được. Muốn họ nghe th́ phải làm cho họ đỡ đói. Cho nên tài thí đi đầu rồi tới pháp thí theo sau. Có như vậy việc lành của chúng ta mới trọn. Nếu mỗi người trong xóm, thấy ai gặp khó khăn, khổ năo sẵn sàng giúp đỡ, th́ xóm làng đó tốt không? Nơi đó sẽ trở thành một nơi an vui, tự tại. Tất cả đều sống trong t́nh thương bảo bọc cho nhau th́ tốt đẹp biết bao nhiêu. V́ vậy Phật dạy chúng ta phải cố gắng làm tất cả điều thiện. Câu thứ ba "tự tịnh kỳ ư" nghĩa là giữ ǵn tâm ư cho thanh tịnh. Câu này là câu then chốt. Quư vị mỗi người tự nh́n lại xem tâm ư ḿnh có thanh tịnh chưa? Hay là như những con trốt bay quanh đám rơm, cuốn bụi tứ tung. Tâm chúng ta xáo động lăng xăng, không yên ổn nên gọi là ngầu đục. V́ tâm ngầu đục nên chúng ta không sáng suốt. Không sáng suốt th́ làm sao tạo được điều tốt, điều lành. V́ vậy tất cả điều tốt lành đều do ư trong sạch phát ra. Ư nghĩ tốt, miệng nói tốt, thân làm tốt. Như vậy ư là gốc, là nền tảng của sự tu. Cho nên Phật nhắm thẳng vào gốc đó là phải ǵn giữ tâm ư cho thanh tịnh. Muốn tâm ư thanh tịnh phải làm sao? Như người tu Tịnh độ, muốn cho tâm ư thanh tịnh phải dùng câu niệm Phật. Đi, đứng, nằm, ngồi luôn luôn niệm Phật. Niệm Phật không quên, để ư không chạy nhảy lung tung. Niệm Phật lâu ngày đă thuần thục rồi th́ tâm không c̣n lăng xăng nữa. Tâm không c̣n lăng xăng nữa là ư được thanh tịnh. Cho nên muốn tâm ư thanh tịnh th́ phải chuyên cần dùng một phương tiện nào đó để trừ dẹp những lăng xăng, lộn xộn trong tâm. Phương tiện đó gọi là pháp tu, hoặc pháp tu Tịnh độ, hoặc pháp tu Thiền. Người tu Thiền làm sao để tâm ư thanh tịnh? Có nhiều cách, tùy theo tŕnh độ sai biệt. Nếu tu Thiền Nguyên thủy th́ dùng pháp quán Tứ Niệm Xứ. Nếu tu Thiền Đại thừa th́ quán Giả, quán Không, quán Trung đạo v. v… Nhưng có một pháp tu tôi cho rằng đó là phương thuốc trị bá bệnh. Khi dấy niệm, chúng ta biết niệm đó là vọng tưởng hư dối, liền bỏ. Niệm khác dấy lên biết là hư dối vọng tưởng, bỏ. Phương pháp này như chuyện chăn trâu vậy. Con trâu vừa nghẽo đầu qua bên tây, mục đồng sợ ăn lúa mạ của người liền giựt lại. Nó nghẽo qua bên đông cũng giựt lại. Giữ cho con trâu đừng có ngă qua, ngă lại làm hư lúa của người. Cũng vậy, tâm vừa dấy niệm chạy theo cái này, chạy theo cái nọ, ḿnh đều bỏ. Đó là vọng tưởng, không theo! Bỏ măi cho đến khi nào vọng tưởng yên lặng, gọi là thanh tịnh. Đó là tu Thiền. Tất cả mầm gốc của bất tịnh đều do tâm chạy theo cảnh, duyên dính với cảnh. Chúng ta buông, không chạy theo cảnh nữa th́ tâm lặng. Tâm lặng tức là thanh tịnh. Phật dạy tu đến chỗ cuối cùng là phải trở về với tâm thanh tịnh ban đầu, không c̣n những ư niệm lăng xăng nữa. Bởi ư niệm lăng xăng đó không phải là tâm thật của ḿnh, nó chỉ là bóng dáng của sáu trần mà thôi. Tôi ví dụ như mặt biển thênh thang, khi nổi sóng th́ mỗi lượn sóng khác nhau. Có lượn cao, có lượn thấp nhưng mặt biển vẫn không hai. Tâm chúng ta cũng vậy, những thứ lăng xăng đó chỉ là những lượn sóng, do tâm duyên theo bóng dáng sáu trần. C̣n tâm thể chơn thật lúc nào cũng tṛn đầy, thanh tịnh. Cho nên tu, dừng được tâm lăng xăng đó th́ thể thanh tịnh hiện tiền. Cũng như sóng nổi ầm ầm nhưng khi lặng rồi th́ mặt biển thênh thang bằng phẳng. Chúng ta nói những lượn sóng là mặt biển được không? Không, v́ nó có giới hạn. Mặt biển th́ phải thênh thang, nên sóng không là mặt biển. Tuy nhiên sóng không rời mặt biển mà có được. Nên biết sóng không phải là mặt biển, nhưng cũng không rời mặt biển. Tâm chúng ta cũng vậy, những nghĩ suy lăng xăng không rời tâm chân thật, nhưng tâm chân thật th́ lặng yên, không giới hạn, c̣n suy nghĩ th́ có chừng mực, có giới hạn. Cái suy nghĩ không phải là tâm thật thênh thang, nhưng cũng không rời tâm thênh thang đó. Hiểu như vậy mới thấy được cội nguồn của tâm thể chân thật. Phật dạy tu là cứu kính thoát ly sanh tử. C̣n suy nghĩ th́ c̣n rơi theo hai đường: hoặc thiện hoặc ác tức là nghiệp lành, nghiệp dữ. Nghiệp lành, nghiệp dữ sẽ dẫn chúng ta sanh cơi lành, cơi dữ. Đó là đi trong sanh tử. Nếu cả hai lành dữ, thiện ác đều lặng hết, chỉ c̣n một tâm thanh tịnh th́ chúng ta đi theo nghiệp nào? Đó là giải thoát sanh tử. Như vậy th́ muốn giải thoát sanh tử, chúng ta phải lặng hết tất cả tâm lành dữ. Tâm lành dữ là tâm tương đối, sinh diệt, không thật. Nó lặng xuống rồi th́ tâm chân thật mới hiện bày. Tâm chân thật là tâm không sinh diệt. Sống được với tâm này mới gọi là giải thoát sanh tử. Cho nên Phật dạy phải lặng tâm ư cho trong sạch là v́ thế. Cho nên tu theo Tịnh độ th́ phải nhất tâm niệm Phật. Nhất tâm th́ không c̣n hai, không c̣n phải quấy. Như vậy là tâm lặng. C̣n nhà Thiền dạy dứt hết niệm tưởng lăng xăng, th́ chơn tâm hiển lộ. Chơn tâm hiển lộ đó là nhân giải thoát sanh tử. Câu cuối "Thị chư Phật giáo", đây là lời dạy của tất cả chư Phật chứ không riêng ǵ đức Phật Thích Ca thôi. Chỉ một bài kệ này chúng ta khéo ứng dụng, tu đúng như vậy th́ sẽ được giải thoát sanh tử. Nếu chưa giải thoát sanh tử, th́ ít ra cũng tránh được các đường dữ, sanh trong các cơi lành. Cho nên bài kệ này thường được in trong lá phái quy y của Phật tử. Bài kệ nhắc cho quư Phật tử thấy đó là chân lư, là lẽ thật mà mười phương chư Phật đều đồng thừa nhận như vậy, chứ không riêng ǵ đức Phật Thích Ca. Người tu Phật hiểu rơ và ứng dụng tu theo bài kệ đó, th́ từ một con người lỗi lầm sẽ trở thành con người lương thiện. Rồi từ con người lương thiện tiến lên con người thanh tịnh, giải thoát sanh tử. Như vậy trên đường tu, thăng tiến dần từ thấp tới cao, cho đến giải thoát hẳn mọi khổ đau. Tóm lại, chúng ta tu giai đoạn đầu là bỏ ác, làm thiện. Cuối cùng thiện ác đều dẹp luôn, chỉ c̣n một tâm thanh tịnh. Đó là chỗ cứu kính. Nếu quư vị nghe nhớ ứng dụng tu th́ sẽ thấy giá trị của việc tu hành ngày càng thâm sâu, ngày càng an lạc. Mong rằng tất cả hăy nỗ lực tinh tấn tu hành, đến khi nào đạt được kết quả viên măn mới thôi. NGƯỜI KHÉO TU PHẬT SẼ ĐƯỢC B̀NH AN HẠNH PHÚC Đề tài chúng tôi nói chuyện hôm nay là Người khéo tu Phật sẽ được b́nh an hạnh phúc. Với đề tài này chúng tôi chia ra làm hai phần: Một, người Phật tử khéo tu hay Tăng Ni khéo tu Phật sẽ được b́nh an và hạnh phúc qua sự ǵn giữ giới luật của Phật dạy. Hai, chúng ta tu Phật được b́nh an và hạnh phúc qua trí tuệ Phật chỉ dạy. Trước hết tôi nói về phần giới luật. Các Phật tử khi quy y Tam bảo rồi đều nguyện giữ năm giới, tức là năm điều răn cấm của đức Phật. V́ đức Phật thấy tường tận những nguyên nhân gây ra đau khổ cho con người, nên Ngài chỉ bảo các hàng đệ tử phát tâm tu theo, để tránh quả đau khổ do mỗi người vô t́nh hay cố ư tạo nên. V́ vậy Ngài có năm điều răn cấm. Người ta hay đặt vấn đề: Tại sao đạo Phật là đạo giác ngộ, đạo tự do mà phN |