|
LỜI ĐẦU SÁCH Quyển Hoa Vô Ưu này được kết tập từ các bài giảng của Ḥa thượng Viện Chủ Thiền viện Thường Chiếu Thích Thanh Từ. Trong đó, gồm một số bài Ḥa thượng được thỉnh giảng cho sinh viên một số trường Đại học ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh. Ngoài ra, một số bài Ḥa thượng thường giảng cho Tăng Ni, Phật tử các nơi và tại các Thiền viện. Để đáp ứng nhu cầu t́m hiểu pháp thiền và hâm mộ tu thiền của Tăng Ni, Phật tử nhưng chưa đủ điều kiện tu học trực tiếp nơi Ḥa thượng, chúng tôi tŕnh xin ư kiến của Ngài và được Ngài hoan hỷ cho biên tập lại các bài giảng trên. Tuy nhiên, v́ là văn giảng nên tập sách không sao tránh khỏi sự trùng lặp tất yếu của nó. Rất mong độc giả đạt ư quên lời. Được thế, hy vọng tập sách sẽ đến tay quư vị với những lợi ích thiết thực nhất. Như vậy, chúng ta có thể t́m hiểu, thâm nhập và hành tŕ pháp thiền. Đồng thời trên bước đường tu học, chúng ta có thêm bạn đồng hành luôn cảm thông với chúng ta. Mùa Hạ năm Canh Th́n Thường Chiếu, ngày 24-06-2000. THÍCH NHẬT QUANG ĐƯỜNG LỐI TU THIỀN THIỀN TÔNG VIỆT NAM Thiền viện Trúc Lâm 1997
Hôm nay tôi nói về đường lối chủ trương của Thiền viện Trúc Lâm cho tất cả quư vị hiểu, nắm được vững. Từ đó, quư vị tu và giải thích cho những người cần hiểu biết, không c̣n ngờ vực về Thiền nữa. Chủ trương đường lối tu của Thiền viện Trúc Lâm là thế nào? Quư vị nghe bài diễn văn khai mạc lúc đặt viên đá đầu tiên, cũng như bài diễn văn khai mạc làm lễ Khánh thành, quư vị cũng biết đại khái đường lối ở đây rồi. Nhưng hôm nay chúng tôi muốn đi thẳng vào thực tế cuộc sống và đời tu của Thiền sinh, cũng như người Phật tử muốn tập tu theo ở đây biết cho thật rơ, chớ không phải chỉ biết khái quát như trước nữa. Như vậy đề tài này là Khôi phục Thiền tông Việt Nam hay Làm sống dậy Thiền tông đời Trần. Khôi phục Thiền tông Việt Nam là sở nguyện lâu nay của chúng tôi. Khôi phục Thiền tông Việt Nam tức là làm sống dậy Thiền tông đời Trần. Nguyên trong bài diễn văn chúng tôi đă nói: "Thiền tông đời Trần đủ tư cách đại diện cho Phật giáo Việt Nam". Cho nên chúng tôi làm sống dậy Thiền tông đời Trần tức là khôi phục Thiền tông Việt Nam. Làm sống dậy Thiền tông đời Trần bằng cách nào? Trong đây chúng tôi chia làm hai phần: I- Lư thuyết: Chúng tôi giảng các tư liệu về Phật giáo Thiền tông đời Trần c̣n sót lại mà hiện nay chúng tôi có. Đứng về mặt lư thuyết, chúng ta phải hiểu cái nh́n, cái thấy và phần nghiên cứu của các Tổ đời trước như thế nào. Các Ngài đă nói ra hoặc viết lại thành sách vở, nên ngày nay chúng ta lượm lặt được. Phần đó chúng ta phải hiểu cho thấu suốt. Hiểu cho thấu suốt rồi, chúng ta mới nắm vững được lư thuyết. Phần lư thuyết, chúng tôi bắt đầu từ vua Trần Thái Tông lần xuống cho tới Tổ Huyền Quang, tức là Tổ thứ ba của Thiền phái Trúc Lâm. Như vậy từ vua Trần Thái Tông, Tuệ Trung Thượng Sĩ, vua Trần Thánh Tông, Điều Ngự Giác Hoàng tức Sơ Tổ, ngài Pháp Loa, ngài Huyền Quang với những tư liệu hiện giờ chúng tôi t́m được, chúng tôi sẽ giảng cho Tăng Ni, Phật tử hiểu, nắm cho vững. Đó là phần lư thuyết. II- Thực hành: Về phần thực hành, chúng tôi chia làm hai: a) Chúng tôi hướng dẫn Tăng Ni ở Thiền viện Trúc Lâm mỗi đêm có một thời Sám hối, gọi là Sám hối sáu căn. Bài Sám hối này do vua Trần Thái Tông soạn, có sẵn trong bộ Khóa Hư Lục. Trong Khóa Hư Lục, bài Sám hối này chia làm sáu thời. Sáu căn là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ư. Sáu căn đó, ngài Trần Thái Tông chia mỗi căn là một thời Sám hối. Nhưng ở đây thấy Tăng Ni ít th́ giờ, nên chúng tôi dồn sáu căn chung lại thành một thời, gọi là Sám hối sáu căn. Đó là phần thực hành về h́nh thức tụng niệm. b) Phần thực hành bằng cách tu ở nội tâm tức là giờ ngồi thiền. Hoặc tất cả những giờ chúng ta hoạt động bên ngoài cũng đều phải biết ứng dụng tu. Tôi lấy câu của ngài Tuệ Trung Thượng Sĩ trả lời cho ngài Trần Nhân Tông khi c̣n làm Thái tử làm chỗ y cứ. Ngài Trần Nhân Tông hỏi về bổn phận và tông chỉ phải thực hành thế nào, ngài Tuệ Trung Thượng Sĩ đáp bằng một câu: "Phản quan tự kỷ bổn phận sự, bất tùng tha đắc". Tức là xem xét lại chính ḿnh, đó là phận sự chính, không phải từ bên ngoài mà được. Chỉ nghe một câu này, Ngài liền ngộ và biết được lối đi, để hướng dẫn toàn thể Tăng Ni thời đó. Như vậy "Phản quan tự kỷ" là một trọng trách vô cùng to lớn. Do đó hằng ngày chúng ta tu thiền ứng dụng "Phản quan tự kỷ" là phận sự chính, chớ không phải trông cầu cái ǵ ở bên ngoài. Đó là trọng tâm tu thiền mà Thiền viện Trúc Lâm chúng tôi chủ trương. Chủ trương đó được căn cứ trên hai phần: Một là phần h́nh thức tụng niệm Sám hối sáu căn do vua Trần Thái Tông soạn. Hai là phần chuyên tu thiền, ứng dụng câu "Phản quan tự kỷ" là trọng tâm. Đó là đại cương về đường hướng chúng tôi chủ trương. Kế đến đi sâu vào phần chi tiết. Có người nghe chúng tôi giải thích như vậy liền đặt câu hỏi: Tại sao không Sám hối như từ xưa đến giờ là Sám hối Hồng danh hoặc Từ bi thủy sám, Lương Hoàng sám… mà lại Sám hối sáu căn? Từ trước đến giờ, các chùa chưa có ai ứng dụng lối Sám hối này. Vậy th́ lối Sám hối này có ǵ quan trọng mà Thiền viện chúng tôi ứng dụng tu hành trong mỗi đêm? Đó là một câu hỏi hay một vấn đề mà Phật tử các nơi ngờ vực. Chúng tôi sẽ giải thích cho quư vị biết Sám hối lục căn quan trọng như thế nào, mà Thiền viện chúng tôi phải ứng dụng. Ở đây, chia làm hai phần: 1.Sám hối sáu căn: Từ xưa đến giờ chúng ta quen cho rằng những ǵ người Trung Hoa soạn, dịch hay viết đều là hay là quư. C̣n những ǵ của người Việt Nam soạn hay viết, chúng ta lại xem thường. Đó là tinh thần lệ thuộc ngoại bang khá nặng! V́ vậy tất cả những nghi thức ở Trung Hoa soạn, chúng ta lấy đó làm căn bản để tu. Ngược lại những nghi của các vị ở Việt Nam soạn th́ chúng ta lại ngờ vực, không quan trọng. Đối với chúng tôi, chúng tôi thấy ḿnh là người Việt Nam, tổ tiên ḿnh tu, các Ngài t́m được cái ǵ hay, thấy cái ǵ đúng th́ ḿnh phải ứng dụng theo, mới thích hợp với tâm trạng của người Việt Nam. Người khác xa lạ th́ làm sao đúng với tâm trạng của dân tộc ḿnh. Do đó chúng tôi chỉ lấy những lời soạn hay những bài viết của các Thiền sư Việt Nam để giải thích cho quư vị hiểu và tu tập. Qua đó quư vị tự thấy tầm vóc quan trọng của các vị tiền bối trong Phật pháp như thế nào, đáng cho chúng ta kính trọng hay không. Nhiều khi chúng ta quên đi những cái hay của bậc tiền bối nước nhà, mà lại trông cậy vào nơi khác. Đó là điều không hay. Nói tới Sám hối lục căn là nói tới Sám hối sáu căn. Tất cả những tội lỗi chúng ta gây ra đều xuất phát từ sáu căn. Cho nên sáu căn là nền tảng tạo thành tội lỗi. Như mắt thấy sắc liền nhiễm sắc. Tai nghe tiếng, tâm phân biệt tiếng rồi buồn, thương, giận, ghét cũng là gốc gây ra tội lỗi. Mũi ngửi mùi, lưỡi nếm vị, thân xúc chạm v. v… tất cả những căn đó đều là mầm để chúng ta tạo thành tội lỗi. Cho nên người xưa nói sáu căn là lục tặc, tức sáu căn là sáu đứa giặc. Tại sao nó là sáu đứa giặc? Bởi v́ nó lôi kéo bóng dáng sáu trần vào trong tâm, làm quấy rầy, xáo động tâm thể chân thật của ḿnh. Tâm thể chân thật của chúng ta như một kho báu, như một hạt minh châu. Khi pháp trần xáo động th́ hạt minh châu bị che mờ, nên nói chúng ta bị mất đi của báu. Khi đó sáu căn là những kẻ giặc làm mất đi những cái quư báu của ḿnh. V́ vậy mà nói nó là lục tặc. Nhưng đối với người tu th́ sáu căn cũng là cửa ngơ của giải thoát, chớ không phải chỉ là lục tặc thôi. Các Thiền sư thường dạy khi sáu căn thanh tịnh th́ nó trở thành lục thông, khi sáu căn ô nhiễm th́ nó là lục tặc. Trong kinh Pháp Hoa, đức Phật nói: Nếu người nào sáu căn thanh tịnh th́ đầy đủ các công năng như lục thông… Điều đó rất rơ ràng. Bây giờ tôi dẫn chứng tầm vóc quan trọng của sáu căn, khiến cho người xưa nói nó là sáu cửa giải thoát hay sáu thông. Để cụ thể hơn, chúng tôi sẽ dẫn những bài kinh từ hệ Nguyên thủy cho đến hệ Phát triển, để quư vị thấy rơ tinh thần tu về sáu căn ở đây. Bài kinh số 88 trong Tương Ưng Bộ tên là Pùrna, Trung Hoa dịch là Phú Lâu Na, có đoạn ghi như vầy: Ngài Phú Lâu Na đến trước Phật thưa rằng: "Lành thay! Bạch Thế Tôn, nếu Thế Tôn thuyết pháp vắn tắt cho con, sau khi nghe pháp của Thế Tôn, con sẽ sống một ḿnh an tịnh, không phóng dật, nhiệt tâm tinh cần". Nghĩa là Ngài thỉnh Phật giảng cho một bài pháp rất vắn tắt để Ngài ở chỗ yên tịnh tu hành. Phật dạy: "Này Pùrna! Có những sắc do mắt nhận thức, khả lạc, khả hỷ, khả ư, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Nếu Tỳ-kheo hoan hỷ sắc ấy, tán dương, an trú, luyến trước, hỷ sanh. Này Pùrna! Ta nói rằng do hỷ tập khởi nên khổ tập khởi. Này Pùrna! Có những tiếng do tai nhận thức, có những hương do mũi nhận thức, có những vị do lưỡi nhận thức, có những xúc do thân nhận thức. Này Pùrna! Có những pháp do ư nhận thức, khả lạc, khả hỷ, khả ư, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Nếu Tỳ-kheo hoan hỷ pháp ấy, tán dương, an trú, luyến trước, nên hỷ sanh. Này Pùrna! Ta nói rằng do hỷ tập khởi nên khổ tập khởi. Văn Pali dịch hơi dài ḍng một chút. Nói đơn giản hơn, sáu căn mà an trú, luyến trước sáu trần th́ đó là khổ sanh. Ngược lại Phật dạy: Này Pùrna! Có những sắc do mắt nhận thức, khả lạc, khả hỷ, khả ư, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Nếu Tỳ-kheo không hoan hỷ sắc ấy, không tán dương, không an trú, luyến trước, do vị ấy không hoan hỷ sắc ấy, không tán dương, không an trú, không luyến trước, nên hỷ đoạn diệt. Này Pùrna! Ta nói rằng do hỷ đoạn diệt nên khổ đoạn diệt. Này Pùrna! Có những pháp do ư nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ư, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Nếu Tỳ-kheo không hoan hỷ pháp ấy, không tán dương, không an trú, không luyến trước, do vị ấy không hoan hỷ pháp ấy, không tán dương, không an trú, không luyến trước, nên hỷ đoạn diệt. Này Pùrna! Ta nói rằng do hỷ đoạn diệt nên khổ đoạn diệt. Như vậy là hết khổ. Đây là một bài pháp Phật dạy rất vắn tắt. Ngài Pùrna chỉ nghe dạy có bấy nhiêu đó mà tới xứ khác an trú tu ba tháng chứng quả A-la-hán. Pháp Phật dạy đây chỉ là sáu căn tiếp xúc với sáu trần không nhiễm trước, không đắm mến th́ hết khổ. Hết khổ là Niết-bàn, chứ không có ǵ xa lạ hết. Thêm một bài kinh khác. Có vị Tỳ-kheo cũng đến hỏi Phật về phương pháp tu vắn tắt. Phật giảng xong, thầy Tỳ-kheo ấy đúc kết lại như sau: Bạch Thế Tôn! Lời giảng vắn tắt này của Thế Tôn, con hiểu một cách rộng răi là: Thấy sắc niệm mê say, tác ư đến ái tưởng, tâm tham đắm cảm thọ, tham luyến sắc, an trú, thọ tăng trưởng, từ sắc sinh tham dục và hại tâm. Do năo hại tâm, vị ấy như vậy khổ tích lũy, gọi là xa Niết-bàn. Thế nên nếu thấy sắc chúng ta có tâm luyến trước, tham ái, đó là đă đi xa Niết-bàn. Nghe tiếng, ngửi mùi, nếm vị… đều như vậy. Cuối cùng Ngài nói: Vị ấy không tham sắc, thấy sắc không luyến ái, không an trú theo sắc ấy. Vị ấy thấy từ cách thọ cảm giác tiêu ṃn, không tích lũy, như vậy chánh niệm hành, như vậy khổ không chứa, được gọi là gần Niết-bàn. Gần Niết-bàn, xa Niết-bàn là do cái ǵ? Sáu căn tiếp xúc với sáu trần mà không dính mắc, không tích lũy, không ưa thích, đó là gần Niết-bàn, rơ ràng như vậy. Đó là tôi dẫn kinh theo hệ Nguyên thủy do Ḥa thượng Thích Minh Châu dịch từ chữ Pali. Trong Tạp A-hàm, có bài kinh này. Một hôm đức Phật nói với các thầy Tỳ-kheo: Ví như một đàn khỉ đi ăn, có một con khỉ không thích theo đàn, nó đi riêng. Tới chỗ người thợ săn để mồi, nó thích quá mà không ngờ miếng mồi có bôi nhựa. Nó nhảy đến chụp mồi th́ một tay bị dính vào nhựa. Nó lấy tay kia gỡ nên bị dính luôn. Nó tiếp tục dùng hết chân này gỡ, đến chân kia gỡ nên hai chân cũng bị dính luôn. Nó há miệng cạp th́ miệng cũng dính. Sau cùng c̣n cái đuôi, nó vẫy vô, thế là dính luôn. Như vậy sáu bộ phận: hai tay, hai chân, miệng và đuôi dính chặt vào miếng mồi. Lúc đó chú thợ săn lại nắm cổ lôi đi, con khỉ không giăy giụa ǵ được hết. Qua câu chuyện đó, Phật ví con khỉ bỏ đàn như vị Tỳ-kheo không chịu sống trong đoàn thể, mà lại muốn đi riêng cho tự do, nên gặp sáu trần liền nhiễm. Nhựa là dụ cho sáu trần. Khi dính với sáu trần rồi th́ chú thợ săn lại nắm cổ lôi đi, là dụ cho ma vương nắm cổ lôi đi, không c̣n giăy giụa ǵ được hết. Như vậy nếu sáu căn dính với sáu trần th́ chúng ta rơi vào đường ma, chớ không bao giờ giải thoát được. Ngược lại sáu căn không dính với sáu trần th́ chúng ta được tự do, tức là giải thoát. Qua đó, chúng ta thấy tinh thần kinh điển Nam tông hay Bắc tông đều nói một ư giống nhau không khác. Bây giờ tôi dẫn sang kinh của hệ Phát triển. Như trong kinh Lăng Nghiêm, ngài A-nan bạch Phật: "Bạch Thế Tôn! Cái ǵ là căn bản của phiền năo, cái ǵ là cội gốc của Niết-bàn? " Lúc đó đức Phật Thích-ca lặng thinh không đáp, bỗng nghe trên hư không cả trăm ngàn đức Phật, khác miệng đồng lời đáp chung câu này: "Này A-nan! Căn bản phiền năo là sáu căn của ông. Cội gốc Bồ-đề Niết-bàn cũng là sáu căn của ông". Như vậy chúng ta tu ở đâu? Ngay nơi sáu căn của ḿnh. Nếu sáu căn khéo tu th́ chúng ta giải thoát được sanh tử. Nếu sáu căn không khéo tu th́ chúng ta bị trầm luân trong sanh tử. Không phải t́m kiếm ở đâu xa mà ngay nơi sáu căn, chúng ta biết ứng dụng tu cho đúng, đó là giải thoát sanh tử. Rơ ràng những kinh thuộc hệ A-hàm cho đến những kinh thuộc hệ Phát triển đều nói một ư không khác. Gần với chúng ta nhất là Lục Tổ Huệ Năng, Ngài ngộ ở kinh Kim Cang câu Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm. Nói cho đủ là nhân ngài Tu-bồ-đề hỏi Phật: Vân hà hàng phục kỳ tâm, vân hà an trụ kỳ tâm? Nghĩa là khi phát tâm Vô thượng Bồ-đề rồi, làm sao hàng phục tâm ấy, làm sao an trụ tâm ấy? Đức Phật trả lời: Bất ưng trụ sắc sanh tâm, bất ưng trụ thanh, hương, vị, xúc, pháp sanh tâm. Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm. Chúng ta cứ nhớ câu Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm, mà không nhớ câu trước Bất ưng trụ sắc sanh tâm, bất ưng trụ thanh, hương, vị, xúc, pháp sanh tâm… Tức là không nên sanh tâm trụ trước nơi sắc, không nên sanh tâm trụ trước nơi thanh, hương, vị, xúc, pháp; nên không có chỗ trụ mà sanh tâm Vô thượng Bồ-đề. Như vậy rơ ràng muốn đạt được tâm an trụ Vô thượng Bồ-đề th́ đừng trụ trước nơi sáu trần. Không trụ trước nơi sáu trần, đó là an trụ tâm Vô thượng Bồ-đề. Lục Tổ nghe tới đó liền ngộ. Nghĩa là tâm Bồ-đề không phải ở đâu, mà chính khi không dính với sáu trần th́ tâm Bồ-đề hiện tiền. Rơ ràng không c̣n nghi ngờ ǵ nữa. Từ lời dạy các thầy Tỳ-kheo thời đức Phật cho đến những lời dạy trong kinh lưu truyền về sau này, chư Tổ nghe và ngộ cũng đều từ sáu căn mà ra. Như vậy Sám hối sáu căn có phải là một phương tiện canh chừng, nhắc nhở chúng ta mỗi ngày phải nhớ đừng để sáu căn dính với sáu trần. Đó là nền tảng Phật pháp từ thời đức Phật c̣n tại thế cho đến bây giờ. Đây không phải là chuyện ở đâu các Ngài bịa ra để bắt ḿnh theo. Cho nên chúng ta dùng phương tiện, ứng dụng tu mỗi đêm Sám hối sáu căn, để ḿnh nhớ không cho sáu căn đuổi theo và dính mắc với sáu trần. Đêm nào cũng nhắc đi nhắc lại, không cho mắt nhiễm sắc, không cho tai nhiễm thanh v. v… Nếu chúng ta nhớ măi không dính như vậy, đó là cơ duyên tốt để chúng ta tiến tới giải thoát, tiến tới Niết-bàn. Đó là tôi giải thích phần thứ nhất Sám hối sáu căn. 2.Tu Phản quan tự tánh: Điều này tôi nhắc lại cho thật kỹ. Vua Trần Nhân Tông khi c̣n là Thái tử, được vua cha là Trần Thánh Tông ủy thác cho Tuệ Trung Thượng Sĩ chỉ dạy, nên Ngài thường đến học đạo với Tuệ Trung Thượng Sĩ. Một hôm Ngài hỏi Tuệ Trung Thượng Sĩ: - Bổn phận và tông chỉ của người tu thiền là thế nào? Tuệ Trung Thượng Sĩ liền đáp: - Phản quan tự kỷ bổn phận sự, bất tùng tha đắc. Nghe câu đó rồi, Ngài liền lănh hội và biết lối đi. Giống như ngài Thần Quang nghe Tổ Bồ-đề-đạt-ma nói một câu liền lănh hội và biết lối vào. Câu Phản quan tự kỷ bổn phận sự, bất tùng tha đắc mang ư nghĩa ǵ? Tôi giải thích cho quư vị nghe từng chữ. Phản nghĩa là quay lại. Quan nghĩa là xem xét. Tự kỷ là chính ḿnh. Tự là ḿnh, kỷ cũng là ḿnh, hai chữ ráp lại là chính ḿnh. Xem xét hay quán sát lại chính ḿnh, đó là phận sự chính của người tu thiền. Ở đây, ngài Trần Nhân Tông hỏi về bổn phận và tông chỉ của người tu thiền. Bổn phận ḿnh là phải luôn luôn xem xét lại chính ḿnh. Đó là bổn phận mà cũng chính là tông chỉ của nhà thiền, không phải từ nơi khác mà được. Tinh thần Thiền tông đời Trần là Phản quan tự kỷ. Ngài Trần Nhân tông lănh hội được tinh thần này và từ đó Ngài tu được ngộ đạo. Sau này, Ngài xuất gia làm Sơ Tổ phái Trúc Lâm Yên Tử. Do đó chúng ta thấy tầm vóc quan trọng của câu này đến bậc nào! Khi c̣n làm Thái Thượng Hoàng, Ngài có làm bài phú "Cư trần lạc đạo" bằng văn Nôm. Tôi trích một đoạn trong phần thứ sáu: Thực thế, Hăy xá vô tâm, Tự nhiên hợp đạo, Dừng tam nghiệp mới lặng thân tâm, Đạt một ḷng th́ thông được Tổ giáo. Thực thế tức là thực vậy đó. Hăy khá vô tâm nghĩa là ḿnh phải được vô tâm. Dừng tam nghiệp mới lặng thân tâm, là ba nghiệp dừng được rồi th́ thân tâm mới yên lặng. Đạt một ḷng th́ thông được Tổ giáo tức là đạt được nhất tâm, chừng đó mới thông suốt được giáo lư của Tổ. Phải làm sao ḿnh mới được vô tâm, làm sao ḿnh dừng được tam nghiệp, làm sao ḿnh được một ḷng? Đó đều là lối phải nh́n lại, phải xả bỏ những ǵ đang làm rối loạn, đang làm điên đảo ở nội tâm ḿnh. Cho nên ḿnh phải hằng quan sát, hằng thấy rơ chính ḿnh, mới được nhất tâm bất loạn. Đó là Tổ giáo, tức là lời dạy của chư Tổ trong nhà thiền. Sau này, tới đầu thế kỷ thứ 18,Thiền sư Hương Hải khi trở về Bắc được vua Lê Dụ Tông mời đến triều hỏi đạo lư. Vua hỏi: - Nghe Ḥa thượng là người thông suốt giáo lư của Phật dạy, vậy xin Ḥa thượng dạy Trẫm phương pháp tu hành. Ngài liền ứng khẩu đọc bài kệ: Phản văn tự kỷ mỗi thường quan Thẩm sát tư duy tử tế khan Mạc giáo mộng trung tầm tri thức Tương lai diện thượng đổ sư nhan Dịch: Hằng ngày quán lại chính nơi ḿnh Xét nét kỹ càng chớ dễ khinh Trong mộng t́m chi người tri thức Mặt Thầy sẽ thấy trên mặt ḿnh. Ngài Hương Hải cách đời Trần tới bốn thế kỷ, mà Ngài tự nhận ḿnh thuộc hệ phái Trúc Lâm Yên Tử, tức là con cháu hệ phái Trúc Lâm Yên Tử. Cho nên khi vua hỏi phương pháp tu, Ngài liền đọc bài kệ này. Bài kệ này hoặc là Ngài làm, hoặc là Ngài lượm lặt của những vị Thiền sư khác, nhưng tinh thần dạy tu đúng là tinh thần của Sơ Tổ Trúc Lâm không khác. Phản văn tự kỷ mỗi thường quan. Văn là nghe, nghe lại chính ḿnh, thường quan sát như vậy. Nghe đây là nghe, là thấy, là biết lại chính ḿnh. Thẩm sát tư duy tử tế khan là luôn luôn ḿnh tư duy, xét nét cho kỹ càng, chín chắn. Như vậy việc tu của ḿnh là ǵ? Là mỗi ngày nghe thấy những ǵ, ḿnh đều quay lại quan sát ở chính ḿnh, chớ đừng chạy theo cảnh bên ngoài. Hằng quan sát như vậy đó là tu. Mạc giáo mộng trung tầm tri thức là đừng bảo đi t́m thiện tri thức trong mộng. Nghĩa là tất cả thiện tri thức bên ngoài không thật. V́ các ngài chẳng phải là chỗ cứu kính bất sinh bất diệt của ḿnh. Nên dù các ngài có dạy ǵ, cũng là dạy ở bên ngoài, mà tướng bên ngoài là tướng sanh diệt, nên nói là trong mộng. Tương lai diện thượng đổ sư nhan nghĩa là sau này, trên mặt ḿnh nh́n thấy mặt Thầy. Mặt Thầy là Thầy nào? Như vậy chúng ta đi cầu Phật hay đi cầu Thầy ở bên ngoài không bằng cầu Phật cầu Thầy nơi chính ḿnh. Nơi ḿnh mới có ông Thầy thật, ông Phật thật. Tại sao? Bởi v́ ngay nơi chúng ta, ai ai cũng có Vô sư trí, là thiện tri thức bất sanh bất diệt. Khi đạt được Vô sư trí đó th́ gọi là Phật, chớ không có ǵ lạ. Cho nên ngay nơi mặt ḿnh mà ḿnh thấy được mặt Thầy, chớ không phải t́m đâu xa. Qua bài kệ này, chúng ta thấy Ngài rất xứng đáng kế thừa hệ phái Thiền Trúc Lâm Yên Tử của Sơ Tổ Trúc Lâm. Chúng ta thấy người trước người sau tu, cùng theo nhau trên một tinh thần, chớ không phải đợi ông thầy trao y bát cho đệ tử mới gọi là kế thừa. Chính nơi tinh thần thâm nhập, hiểu thấu đường hướng của người trước, ứng dụng đúng, th́ gọi là kế thừa. Người ta nói hệ phái Trúc Lâm ngắn, chỉ có ba đời. Nhưng sự thật cho tới thế kỷ thứ 18 vẫn c̣n có người kế thừa. Sau này chúng ta nghe Thiền sư Chân Nguyên cũng kế thừa hệ phái Trúc Lâm. Cho tới Thiền sư Minh Chánh thế kỷ thứ 19 cũng kế thừa hệ phái Trúc Lâm. Tuy hệ phái Trúc Lâm có ngắt quăng một giai đoạn dài, nhưng trong đó sự thầm truyền không dứt. Đến ngày nay chúng ta cố gắng ứng dụng theo lối tu ấy, gọi là làm sống dậy tinh thần Thiền tông đời Trần. Tôi sẽ dẫn kinh để minh chứng tinh thần đạo Phật nằm trong mấy chữ Phản quan tự kỷ bổn phận sự. Nếu quư vị đọc kinh A-hàm th́ sẽ thấy những phương pháp dạy tu như Tứ niệm xứ, Ngũ đ́nh tâm, Lục diệu pháp môn v. v… Những pháp đó có phải là phản quan tự kỷ không? Thí dụ như pháp Tứ niệm xứ là: Quán thân bất tịnh, quán thọ thị khổ, quán tâm vô thường, quán pháp vô ngă. Quán thân bất tịnh là quán ai? Tức là xem xét lại nơi thân ḿnh. Quán thọ là thọ cái ǵ? Thọ từ nơi sáu căn của ḿnh mà có. Tức là quán những cảm thọ do xúc, con mắt xúc với sắc trần có cảm thọ thích hay không thích. Lỗ tai xúc chạm với thinh trần có cảm thọ ưa hay không ưa. Tất cả những cảm thọ đó đều là khổ chứ không vui. Ví dụ lưỡi xúc chạm với món ăn là vị. Nếu món ăn ngon th́ khổ hay vui? Vui, sao Phật nói tất cả cảm thọ đều là khổ? Tất cả chúng ta quen cho rằng những ǵ hợp với sáu căn gọi là vui, không hợp gọi là khổ. Nhưng ngược lại, đức Phật nói dù cho thích hợp hay không thích hợp đều khổ hết. Nghe thế nhiều người không bằng ḷng. Nhưng sự thật là vậy. Chữ "Khổ" đây đừng hiểu là khó chịu, mà khổ là hoại diệt. Cho nên trong nhà Phật nói vô thường, khổ, không, vô ngă. Dù cho ḿnh có xúc chạm với cái thích hay không thích, th́ tướng thích không thích đó chỉ qua rồi mất, không c̣n. Qua rồi mất tức là vô thường, vô thường là khổ. Như vậy thích cũng là vô thường, không thích cũng là vô thường. Mà vô thường đều là khổ. Cho nên tất cả thọ đều là khổ. Nhưng v́ chúng ta tưởng nó thường nên thấy vui, chớ nó có vui thật đâu. Ví dụ lưỡi vừa xúc chạm thức ăn ngon mấy phút rồi hết. Cái vui đó có trong một thời gian rất ngắn liền mất. Mất tức là vô thường, vô thường là khổ. Nên Phật kết luận những ǵ vô thường đều là khổ. Nhưng chúng ta bám vào cái vô thường, phân biệt khổ, phân biệt vui rồi đuổi theo nó cho đó là hạnh phúc hoặc đau khổ. Chớ sự thật tất cả đều là vô thường, nên Phật nói đều là khổ. Quán thọ thị khổ là như vậy. Quán tâm vô thường, tức là những tâm sở duyên theo sáu trần đều là tướng vô thường. Đó là quán lại nơi tâm ḿnh. Tóm lại, trong Tứ niệm xứ đều là Phản quan tự kỷ, chớ không chạy t́m kiếm cái ǵ ở ngoài. Cho tới Ngũ đ́nh tâm, Lục diệu pháp môn đều là xoay trở về ḿnh. Như vậy trong các kinh A-hàm đều có dạy Phản quan tự kỷ, c̣n những kinh khác th́ sao? Chúng ta hằng đêm tụng kinh Bát-nhă. Kinh Bát-nhă có phản quan không? Chiếu kiến ngũ uẩn giai không, ngũ uẩn của ai? Hằng soi thấy năm uẩn của ḿnh đều không tự tánh, không thật, hư huyễn. Kinh A-hàm nói vô thường cho nên đặt nặng khổ, c̣n kinh Bát-nhă soi thấy năm uẩn đều không tự tánh, duyên hợp không có chủ thể, cho nên nói là không, là hư giả. Cả hai đều dạy quán chiếu lại ḿnh. Như vậy cả kinh A-hàm và kinh Bát-nhă đều soi lại ḿnh, đều là phản quan. Tinh thần của chư Phật dạy chúng ta tu đều là phản quan lại ḿnh. Chư Tổ chủ trương Phản quan tự kỷ là chủ trương đúng với tinh ba Phật giáo, không sai chạy được. V́ vậy ông Suzuki nói Thiền là cốt tủy của đạo Phật. Người ta không hiểu tưởng đâu Thiền là cái ǵ xa lạ, nhưng không ngờ Thiền là gốc, là cội nguồn của Phật giáo. Đó là tôi dẫn Kinh, kế đến tôi dẫn Tổ. Quư vị nhớ khi ngài Huệ Khả mới đến Tổ Bồ-đề-đạt-ma, Tổ cứ ngồi nh́n vách hoài không thèm ngó ngàng ǵ. Ngài Huệ Khả biết đây là một vị Tổ đắc đạo, nên quyết tâm cầu Tổ chỉ dạy cho được. Vào mùa đông, tuyết xuống tới đầu gối, mà Ngài vẫn khoanh tay đứng suốt đêm ở trước sân chùa Thiếu Lâm. Sáng Tổ Đạt-ma nh́n ra thấy, hỏi: - Ngươi cầu việc ǵ mà khổ hạnh như vậy? Ngài thưa: - Con v́ cầu pháp Vô thượng Bồ-đề cho nên mới khổ hạnh thế này. Tổ quở: - Pháp Vô thượng Bồ-đề đâu phải dễ cầu. Diệu đạo Vô thượng của chư Phật, dù nhiều kiếp tinh tấn, hay làm được việc khó làm, hay nhẫn được việc khó nhẫn, c̣n không thể đến thay! Huống là dùng chút công lao nhỏ này mà cầu được sao? Ngài liền xuống nhà bếp mượn dao chặt cánh tay dâng lên Tổ để tỏ ḷng thiết tha cầu đạo. Tổ khen "Khá", rồi đặt tên Ngài là Huệ Khả. Huệ là trí tuệ. Khả là khá, là có khả năng. Chúng ta thấy người cầu pháp phải liều chết th́ mới được pháp, chớ c̣n lừng chừng th́ không được ǵ hết. Khi được chấp nhận làm đệ tử, một hôm ngài Huệ Khả bạch cùng Tổ Bồ-đề-đạt-ma: - Tâm con không an, xin Ḥa thượng dạy con phương pháp an tâm. Tổ Đạt-ma nh́n bảo: - Đem tâm ra ta an cho. Câu này mới nghe như một câu ngớ ngẩn, tâm ở đâu mà đem. Nhưng người học tṛ đă tha thiết chết sống cầu đạo, th́ dù một lời nói tầm thường của ông thầy cũng không dám bỏ qua. Khi Tổ bảo "đem tâm ra ta an cho", Ngài mới xoay lại t́m tâm xem nó ở đâu. T́m lại th́ nó mất tăm mất dạng, Ngài liền bạch: - Bạch Ḥa thượng, con t́m tâm không được. Tổ bảo: - Ta đă an tâm cho ngươi rồi. Ngay đó ngài Huệ Khả liền biết đường vào, tức là biết lối tu. T́m lại tâm có phải phản quan không? Trọng tâm nằm ở đó. T́m lại tâm ḿnh mà tâm ḿnh là tâm nào? Ngài cũng như tất cả chúng ta, lâu nay quen cho cái suy nghĩ lăng xăng là tâm ḿnh, nên lúc nào cũng thấy nó nhảy nhót lăng xăng bất an. Bây giờ muốn được an tâm nên cầu Tổ dạy pháp an tâm. Nhưng Tổ không dạy ǵ, chỉ bảo: "Đem tâm ra ta an cho". Ngài Huệ Khả t́m lại không thấy, th́ Tổ bảo "Ta đă an tâm cho ngươi rồi". Pháp ǵ an tâm? Không có một pháp, chỉ là dùng trí tuệ nh́n lại cái mà lâu nay ḿnh chấp là tâm đó, nó có thật hay không? T́m lại thấy nó không thật, đó là an tâm. Như vậy an tâm mà không có pháp. Từ đó chúng ta nh́n chư Tổ trước ứng dụng tu như thế nào th́ các Tổ sau cũng đều như thế ấy. Các Ngài dùng phương tiện để chỉ cho chúng ta thấy cái mà chúng ta gọi là tâm đó, chỉ là cái hư dối vọng tưởng không thật. Lâu nay ḿnh tưởng nó là thật cho nên bị nó lôi cuốn, bị nó dẫn đi. Bây giờ biết nó không thật là đă an tâm. Trọng tâm là t́m lại, là quay lại xem xét tận t́nh, xem điều đó thật hay không. Tổ Huệ Khả nhận ra, thấy rơ như vậy nên tâm Ngài an. Từ đó về sau Ngài thấy rơ được cái ǵ là hư dối không lầm, nhận chân được cái thật của chính ḿnh, gọi là ngộ đạo. Tổ thứ ba là Tổ Tăng Xán, trong bài Tín Tâm Minh của Ngài, chúng ta thấy cũng là lối phản quan. Đại đạo vô nan, duy hiềm giảng trạch. Đại đạo không khó, khó là tại ḿnh hay phân biệt, hay chọn lựa. Nếu không phân biệt, không chọn lựa th́ tự nhiên minh bạch. Cho nên kết thúc Ngài chỉ nói: Tín tâm bất nhị, bất nhị tín tâm. Nghĩa là tin được tâm ḿnh th́ không thấy có hai, c̣n thấy có hai là chưa tin được tâm ḿnh. Hai tức là niệm này, niệm kia. C̣n niệm này, niệm kia tức là chưa thấy được tâm ḿnh. Thấy được tâm ḿnh th́ hai niệm không c̣n. Như vậy cũng là xoay lại thấy rơ ḿnh. C̣n Tổ Huệ Năng chủ trương ba trọng tâm: Vô niệm vi Tông, Vô tướng vi Thể, Vô trụ vi Bản. Làm sao biết ḿnh vô niệm? Tức là cũng phải phản quan, thấy được ḿnh có dấy niệm hay không dấy niệm. Vô niệm đây không phải đè tâm, mà theo Lục Tổ dạy: Vô niệm là khi đối với cảnh, đối với trần mà không có tâm dính mắc gọi là Vô niệm. Ngài ngộ như thế nào th́ Ngài dạy lại đúng như vậy. Đối với pháp trần, thấy tâm niệm ḿnh không c̣n bị kẹt, không c̣n bị dính, đó là được Vô niệm. Vô niệm là chủ của tu thiền. Quư vị thấy từ chư Tổ trước cho đến chư Tổ sau, hướng đi không hai. Chúng ta tu, trong nhà Phật thường hay dạy làm sao đừng để cho tâm ḿnh chạy theo, dính mắc với trần cảnh, làm mờ tánh giác của ḿnh. Cho nên trong nhà Phật cũng như trong nhà Thiền thường dạy phải "Bối trần hợp giác". Nếu "Bối giác hợp trần" là chúng sanh, nếu "Bối trần hợp giác" là Phật, là Tổ. Sao gọi là Bối trần hợp giác, sao gọi là Bối giác hợp trần? Bối có chỗ đọc là Bội, nghĩa là ngược lại, trái lại. Thường thường ban đêm đốt đèn, chúng ta nh́n thấy ánh sáng ở trước. Nếu cứ như vậy mà đi th́ càng đi càng gần ánh sáng. C̣n nếu chúng ta xây lưng lại đi, th́ càng đi càng tối. Ánh đèn ví dụ cho tánh giác. Đối với tánh giác mà chúng ta hướng về th́ chúng ta gần với tánh giác. C̣n nếu đối với tánh giác mà chúng ta xây lưng đi, th́ càng đi càng xa tánh giác. Trần là ǵ? Là sáu trần: sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp. Nếu hằng ngày tâm chạy theo, dính mắc với sáu trần th́ gọi là bối giác hợp trần, tức chúng ta là phàm phu. Chúng sanh hằng ngày, sáng mở mắt ra th́ nghĩ kiếm ǵ ăn lót ḷng cho ngon. Nghĩ ăn lót ḷng cho ngon là bối ǵ hợp ǵ? Lưỡi xúc chạm vị mà thích ngon là thích vị ngon, đó là hợp trần. T́m tiếng ǵ nghe cho êm tai cũng là bối giác hợp trần. Muốn nh́n cái ǵ cho đẹp đẹp một chút, cũng là bối giác hợp trần. Cả thế gian có ai không như vậy đâu. Sáng ra cứ chạy theo trần, dính với trần, th́ đâu có nhớ tánh giác. Đây chẳng khác nào như người quay lưng với ánh sáng mà đi măi về phía tối, đó gọi là Bối giác hợp trần. Ngược lại Bối trần hợp giác, nghĩa là đừng cho sáu căn dính với sáu trần. Con mắt có muốn nh́n cái ǵ đẹp không? Lỗ tai có muốn nghe tiếng hay không? Lỗ mũi có muốn ngửi mùi thơm không? Hay là sáng thức dậy biết rằng ḿnh chỉ được một bữa cơm với tương thôi, nhiều lắm là hai món rau luộc, nước tương hoặc đồ kho với cơm. Mấy trần đó tuy không được thích lắm, nhưng ḿnh vẫn nhận. Đó là gỡ được một chút rồi. Nhạc cũng không nghe là gỡ được một chút nữa. Chỉ con mắt thích nh́n mấy cành hoa đẹp. Hoa đẹp th́ ít hại, người đẹp mới hại hơn. Gỡ từ từ, lấy cái này thế cái khác. Những ǵ có tính hấp dẫn nhiều, chúng ta bớt. Bớt tức là gỡ lần. Gỡ lần lần tức là Bối. Nếu bối trần là trở về tánh giác. Như vậy chúng ta tu là Bối trần hợp giác, c̣n người không biết tu là Bối giác hợp trần. Tôi dẫn một bài kệ của vua Trần Nhân Tông, khi Ngài c̣n là một cư sĩ: XUÂN VĂN Niên thiếu hà tằng liễu sắc không Nhất xuân tâm sự bách hoa trung Như kim khám phá đông hoàng diện Thiền bản bồ đoàn khán thụy hồng. Dịch: Thuở bé chưa từng rơ sắc không Xuân về hoa nở rộn trong ḷng Chúa Xuân nay bị ta khám phá Chiếu trải giường thiền ngắm cánh hồng. Niên thiếu hà tằng liễu sắc không: Hồi c̣n trẻ đâu từng rơ lư sắc không. Bởi không rơ lư sắc không cho nên Nhất xuân tâm sự bách hoa trung. Một mùa Xuân tới trăm hoa đua nở, ḷng ḿnh cũng rộn theo. Hoa này đẹp, hoa kia xấu, theo đó mà phân tích, theo đó mà rộn ràng. Đó là lúc Ngài c̣n mê chưa hiểu lư sắc không, cho nên những ǵ đẹp, những ǵ lạ th́ tâm Ngài cũng duyên theo, rộn ră theo, không an. Như kim khám phá đông hoàng diện: Như ngày nay khám phá ra bộ mặt thật của chúa Xuân hay nói rơ hơn bộ mặt thật của chính ḿnh. Thấy được mặt thật đó rồi th́ Thiền bản bồ đoàn khán thụy hồng. Ngồi trên giường thiền nh́n thấy từng cánh hoa rơi tơi tả mà tâm lặng, không rộn ră như ngày xưa nữa. Như vậy khi c̣n mê th́ trái tánh giác chạy theo trần. Cho nên trần cảnh đẹp xấu, hay dở v. v… ḿnh đều bị nó chi phối, bị nó dẫn chạy luôn luôn. Khi biết ḿnh có cái chân thật, biết các pháp là hư dối, không thật, chừng đó ḿnh mới ngồi trên giường thiền nh́n thấy trăm hoa rơi rụng mà không một chút xao xuyến, tức là ḷng ḿnh lạnh với sáu trần. Bối được sáu trần là hợp với tánh giác. Nếu dính với sáu trần là quên tánh giác, nên nói tánh giác bị sáu trần cướp đi. Người xưa cũng như ḿnh, có những lúc c̣n mê th́ bị sáu trần chi phối, nhưng khi tỉnh rồi th́ lạnh nhạt với sáu trần. Khi lạnh nhạt với sáu trần là lúc đó trở về với tánh giác. Như vậy mê với ngộ không phải t́m kiếm ở đâu xa. Chỉ đối với sáu trần ḿnh say mê, đó là mê; đối với sáu trần ḿnh lạnh nhạt, đó là tỉnh. Dễ quá! Như trở bàn tay, bên này là xấp, lật lại là ngửa, chớ không có ǵ xa lạ hết. Nhưng chỉ v́ chúng ta không chịu lật lại, cứ để úp hoài úp măi thành ra mê tánh giác. Đó là bệnh của chúng sanh. Như vậy Thiền tông đời Trần rất phù hợp với tinh thần kinh điển Phật dạy và chư Tổ trước kia đă dạy. Chúng ta tu theo tinh thần Thiền tông đời Trần, không phải v́ tính cố chấp dân tộc riêng tư, mà do các Ngài nhận ra đạo lư một cách đúng đắn, hợp với lời Phật dạy, đúng với tinh thần Tổ dạy, cho nên chúng ta hướng theo để ứng dụng tu. Ngày nay tại Thiền viện Trúc Lâm, chúng ta phải tu như thế nào? Đó là trọng tâm tôi muốn nói. Như trên chúng tôi đă nói rơ. Thứ nhất, mỗi đêm Tăng Ni ở đây đều làm lễ Sám hối lục căn. Đó là tôi muốn cho Tăng Ni luôn luôn gỡ những dính mắc đối với sáu trần, những ǵ lâu nay chúng ta quen bị nó cột trói, bây giờ gỡ lần, đừng để cho dính mắc nữa. Làm sao sáu căn chúng ta đối với sáu trần dửng dưng, không c̣n bị nó lôi kéo, đó là chúng ta đă thành công. Cho nên mỗi đêm quư vị đừng sợ đau gối, rán qú Sám hối, đem hết tâm thành của ḿnh Sám hối cho tha thiết. Sám hối để hổ thẹn, biết rơ điều đó là xấu, là tội lỗi ḿnh chừa tránh, đừng cho dính mắc. Nếu không dính mắc sáu trần th́ tâm dễ an vô cùng. C̣n dính một trần nào cũng đều là bất an hết. Đó là gốc của sự tu. Phần thứ hai, Phản quan tự kỷ bằng cách nào? Ở đây chúng tôi chia ra làm hai phần: 1.Dành cho những người sơ cơ: Người sơ cơ mới bước vào đạo, muốn tu thiền mà chưa biết ǵ hết, chúng tôi dạy họ tu phương pháp Sổ tức quán. Sổ là đếm. Tức là hơi thở. Sổ tức là phương pháp đếm hơi thở. Đếm bằng cách nào? Ngồi yên hít vô cùng, thở ra sạch. Khi biết cùng và biết sạch là tâm ḿnh đă duyên theo hơi thở. Hít vô cùng thở ra sạch, đếm một. Hít vô cùng thở ra sạch, đếm hai. Đếm tới mười, bỏ. Đếm lại một, hai, ba cho tới mười; cứ đếm như vậy hoài. Nếu đếm tới sáu mà lỡ quên th́ đếm lại từ một, chớ không cho đếm tiếp tục. Quên là do tâm ḿnh nhớ chuyện khác. Tâm không thể nghĩ một lúc hai việc. Nếu nhớ hơi thở, nhớ số th́ không nhớ chuyện thế gian. Vừa nhớ chuyện thế gian th́ quên số, quên hơi thở. Cho nên khi lộn là ḿnh đă nhớ chuyện thế gian, đă phóng tâm rồi. V́ vậy ḿnh phạt nó, bắt nó phải nhớ hơi thở, nhớ số trở lại từ đầu. Ứng dụng nhớ hơi thở, hít vô cùng thở ra sạch, đếm từ một đến mười là chúng ta làm hai việc một lượt: Nhớ hơi thở và nhớ số. Thời gian sau thuần thục, chỉ nhớ hơi thở và nhớ số thôi, không nhớ chuyện thế gian nữa. Cho đến nửa giờ đồng hồ ngồi thiền không nhớ chuyện ǵ. Do không nhớ chuyện ǵ nên không lộn. Ngang đó chúng ta dừng bớt một phần. Hai phần mà bớt một phần, tức là dừng phần đếm mà chỉ nhớ hơi thở. Hít vô cùng thở ra sạch, hơi thở tới đâu tâm ḿnh duyên theo tới đó. Chuyên nhớ hơi thở, không nhớ chuyện khác. Nếu nhớ chuyện khác th́ quở rầy, trở lại nhớ hơi thở. Nhớ như vậy tới bao giờ ngồi nửa tiếng đồng hồ chỉ nhớ hơi thở, không bao giờ quên th́ đó là thành công chặng thứ hai. Hai chặng đó là hai chặng dành cho người sơ cơ. 2.Dành cho người tu đă thuần thục: Qua hai chặng ở trên rồi, đến đây là không c̣n nhớ hơi thở, mà khi hít vô thở ra cũng duyên theo hơi thở. Nh́n thấy tâm ḿnh có niệm khởi th́ biết có niệm khởi, không theo. Không có niệm khởi th́ biết không có niệm khởi. Cứ nh́n vậy thôi, không những nh́n trong lúc ngồi thiền, mà lúc nấu cơm, lặt rau, bửa củi, cuốc đất… việc nào chúng ta cũng như vậy hết. Vừa thấy niệm khởi là buông. Chuyên tu không phải chỉ giới hạn vào ngồi thiền, mà mọi giờ mọi phút mọi giây đều tu. Cho nên chư Tổ thường nói đi, đứng, nằm, ngồi đều là Thiền hoặc hái rau, bửa củi đều là Thiền. Thiền là vậy đó, nghĩa là bất cứ trường hợp nào vừa thấy niệm khởi liền buông. Đây là giai đoạn rất thiết yếu. Niệm khởi tức là vọng tưởng. Tôi thường dùng hai chữ vọng tưởng để phá cái chấp cho niệm là niệm thật. Trong nhà thiền, đệ tử của Mă Tổ là ngài Vô Nghiệp, khi gặp Thiền tăng hỏi câu ǵ, Ngài cũng đều trả lời "Chớ vọng tưởng". Chỉ một câu đó là sự nghiệp cả đời của Ngài. Thấy niệm khởi biết nó hư dối không theo, đó là "Chớ vọng tưởng". Như vậy nếu cả ngày không vọng tưởng th́ ḿnh thành gỗ, thành đất vô tri phải không? Nhiều người không biết, họ suy lư rằng: "Ḿnh có nghĩ có suy tính th́ mới biết, không nghĩ không suy tính th́ đâu có biết ǵ, như vậy là gỗ là vô tri". Đó là tại họ chưa tu. Nếu quư vị ngồi nửa tiếng đồng hồ không khởi một niệm nào, gió thổi qua nghe mát, có ai động ở đằng trước ḿnh nghe tiếng động, có ai đi ngang ḿnh thấy. Thấy người đi ngang, nghe tiếng động, biết xúc chạm, đó là vô tri hay tri? Tri nhưng mà không động. Biết mà không động, không suy nghĩ, th́ cái biết đó mới không có phân biệt, hằng biết mà không động. C̣n cái biết do nội tâm suy nghĩ là cái biết dấy động. Dấy động cho nên sanh diệt vô thường. Ḿnh bám vào cái dấy động vô thường cho là tâm ḿnh, nên ḿnh cứ chạy trong ṿng luân hồi sanh tử. Nếu biết rơ khi những niệm dấy động yên rồi, chỉ c̣n cái hằng tri hằng giác, cái đó không động. Không động mà tri th́ cái tri giác đó mới thật là tâm ḿnh. Nhận cái không sanh không diệt, hằng tri hằng giác là ḿnh, th́ ḿnh có bị luân hồi sanh tử không? Cái ǵ động th́ vô thường sanh diệt, c̣n không động th́ không vô thường sanh diệt. Không vô thường sanh diệt là Niết-bàn. Niết-bàn tức là Vô sanh. Chúng ta t́m Niết-bàn ở đâu? Chỉ buông xả các niệm vô thường sanh diệt, sống bằng cái hằng tri hằng giác, bất sanh bất diệt, đó là chúng ta sống Niết-bàn, t́m đâu cho xa. Cho nên nói "Ngay nơi mặt ḿnh có mặt Thầy", đừng kiếm ở đâu xa. Đó là chủ trương mà tôi hướng dẫn Tăng Ni, Phật tử tu để cầu giải thoát, chớ không phải t́m kiếm ở nơi nào huyền bí xa xôi. Chúng ta không cần cầu được lục thông, không cần cầu được những ǵ huyền bí mà chúng ta chỉ cần đừng dính với sáu trần. Chúng ta chỉ cần tâm niệm vọng tưởng lặng yên. Cả hai: đừng dính sáu trần, tâm lặng yên thanh tịnh mà biết cái chân thật hiện tiền, đó là gốc của sự tu. Vừa rồi tôi có giải thích cho một số Tăng Ni lư do tại sao tôi bắt ngồi thiền nhiều. Ở đây, tôi nói lại cho quư vị nghe thật kỹ, để thấm hiểu được ư nghĩa mà chúng tôi bắt quư vị phải thực hành. Có nhiều người đặt câu hỏi: "Tại sao các nơi dạy tu, đi đứng nằm ngồi cũng Thiền, cần ǵ một ngày một đêm Thầy bắt ngồi tới sáu tiếng đồng hồ, đau chân gần chết". Quư vị thử ngồi hai tiếng xem có ê ẩm không? Vậy mà cứ cách khoảng vài tiếng ngồi hai tiếng. Ngồi một ngày ba lần, nhiều người tŕnh với tôi là ngồi sưng chân. Phải chăng tôi dùng phương tiện hành phạt để quư vị khổ sở vô ích? Chính v́ vậy tôi phải giải thích cho Tăng Ni, Phật tử hiểu chủ trương của tôi. Sở dĩ chúng tôi bắt quư vị ngồi nhiều là v́ trong nhà thiền, chư Tổ dạy: Trong bốn oai nghi đều là Thiền, nhưng ngồi là thù thắng hơn hết. V́ ngồi mới đủ sức mạnh để nhận ra và điều phục những vọng tưởng. C̣n đi đứng ở ngoài, nó yếu lắm. Khi vọng tưởng dấy lên nhẹ nhẹ ḿnh bỏ qua, không để ư. Khi ngồi mọi thứ đều lặng, đều vắng, chỉ có một việc là soi chiếu lại ḿnh. Cho nên vọng niệm vừa nháng lên là thấy liền, ḿnh điều phục nó dễ hơn. Cái thù thắng nhất th́ ḿnh phải thực hành nhiều chứ! Cho nên một ngày một đêm hai mươi bốn tiếng, tôi bắt quư vị dành sáu tiếng, tức một phần tư của ngày để ngồi thiền. Ngồi thiền là một phương tiện thù thắng nhất, bởi v́ sáu căn tiếp xúc sáu trần, cái ǵ mạnh nhất? Con mắt thấy sắc, lỗ tai nghe tiếng. Con mắt thấy sắc không chưa nên tội, lỗ tai nghe tiếng không chưa nên tội. Có cái ǵ nữa mới thành tội? Có ư phụ họa theo nữa mới thành tội. Thấy sắc rồi liền dấy niệm phân biệt đẹp xấu nên thành tội. Nghe tiếng rồi ư phụ họa theo, nói hay dở nên thành tội. Như vậy tuy nói sáu căn dính theo sáu trần, nhưng thật ra cái dính theo là ư. Ư là chủ động để dính. Nếu không có ư th́ không dính ǵ hết. Ư là chất keo, hướng theo cái ǵ th́ dính mắc cái đó. Bởi vậy ḿnh phải thấy chú "Ư" là rất quan trọng. Quan trọng cho nên ḿnh phải dùng phương tiện hành hạ, đánh đập chú cho chú khờ đi mới được. Trong nhà thiền gọi là "Chăn trâu". Phải có roi, có dây hành chú. Và chỉ có giờ ngồi thiền hành mới mạnh, c̣n đi ở ngoài hành không mạnh bằng. V́ vậy khi ngồi thiền, con mắt không thấy ǵ, lỗ tai không nghe ǵ… lúc đó dồn hết tâm lực đánh chú "Ư" cho chú phải khờ, phải yếu đi. Tôi nói giờ ngồi thiền là giờ rất quan trọng, v́ quan trọng nên chúng ta phải ứng dụng nhiều. Tất cả những người xuất gia hay Phật tử tại gia, đều nghĩ ḿnh tu theo Phật là cốt giải thoát sanh tử, nhưng hỏi sanh tử từ đâu mà ra? Sanh tử là do nghiệp dẫn, nghiệp lôi. Nghiệp dẫn lôi cho nên ḿnh đi trong sanh tử luân hồi. Muốn hết sanh tử chúng ta phải hết nghiệp. Nghiệp từ đâu ra để ḿnh tiêu diệt cho hết? Ai cũng biết nghiệp từ thân, khẩu, ư. Ba chỗ đó là chỗ tạo thành nghiệp. Tạo thành nghiệp rồi th́ nghiệp dẫn đi trong sanh tử. Thân, khẩu chưa đến nỗi nào tạo nghiệp nặng mà chỉ có ư. Nếu ư nghĩ lành, thân khẩu làm lành là thiện nghiệp. Nếu ư nghĩ dữ, thân khẩu làm dữ là ác nghiệp. Thiện nghiệp th́ đi ba đường lành: trời, người, a-tu-la. Ác nghiệp th́ đi ba đường dữ: địa ngục, ngạ quỉ, súc sanh. Như vậy tất cả những ǵ ư tạo ra; lành là giúp người cứu vật, dữ là hại người hại vật; đó là tạo nghiệp lành nghiệp dữ. Bây giờ không giúp người cũng không hại người mà chỉ nhớ Phật thôi. Niệm Phật tức là nhớ Phật, nhớ Phật có khởi niệm không? Khởi niệm nhưng đó là tịnh niệm. Tịnh niệm th́ sanh cơi Tịnh, là cơi Phật A Di Đà. Tất cả những nghiệp đó đều là hướng sanh: sanh cơi lành, sanh cơi dữ, sanh cơi Tịnh… đều là sanh. C̣n sanh th́ chưa phải Niết-bàn. V́ Niết-bàn là vô sanh. Muốn cho không c̣n đi đâu hết, được vô sanh, th́ phải làm sao? Th́ ư phải lặng, phải đi tới vô niệm. Vô niệm tức là Niết-bàn. Muốn vô niệm th́ cái ǵ do ư dấy động ḿnh đừng theo, để cho nó cùn mằn đi, trụi hết đi. Đừng cho nó c̣n cánh tay nào bám vào sáu trần hết th́ ư lần lần lặng. Cho nên ngày xưa thời đức Phật c̣n tại thế, các Tôn giả như ngài Xá-lợi-phất thường ví dụ cho chư Tăng nghe, Ngài nói tâm Ngài bây giờ giống như con trâu không sừng. Con trâu không sừng th́ nó khỏi báng ai hết, nếu c̣n sừng th́ nó báng người ta. Cũng vậy, chúng ta tu chừng nào ư không c̣n dấy động, không chạy đâu nữa th́ chừng đó mới thật thanh tịnh. Trong Tứ Thập Nhị Chương có một bài kinh, Phật bảo: "Tỳ-kheo các ông không nên tin ư ḿnh. Chừng nào các ông chứng được A-la-hán mới tin được tâm ḿnh". Như vậy c̣n ở trong niệm khởi th́ nó chuyển biến không dừng. Giờ này tốt, giờ thứ hai chưa chắc nó tốt. C̣n sinh c̣n khởi th́ không bảo đảm trước sau như một. Chỉ bao giờ ư niệm lặng mới là vô sanh, là Niết-bàn, lúc đó mới tin. C̣n dấy động là chưa tin, bởi v́ nó có thể tạo nghiệp lành, tạo nghiệp dữ, tạo nghiệp tịnh tùy theo duyên của nó. Cho nên chúng ta tu nhất là tu thiền, phải biết rơ ư niệm không thật, ư niệm là gốc để sanh trong các cơi. Chúng ta tu muốn giải thoát sanh tử th́ phải đừng theo ư niệm. Chúng ta buông, chúng ta xả ư niệm, chừng nào hoàn toàn lặng lẽ, hằng tri hằng giác là không dấy niệm. Chừng đó chúng ta mới thấy Niết-bàn hiện tại, không c̣n đâu xa nữa. Đến chỗ cuối cùng đó là chỗ mà chư Phật, chư Tổ hằng dạy chúng ta phải đến. Như vậy muốn giải thoát sanh tử không phải cầu đời này đời kia, mà ngay trong đời này cũng được. Nếu chúng ta sạch hết những niệm khởi chạy theo các hướng th́ tâm ḿnh hằng thanh tịnh. Mà hằng thanh tịnh th́ c̣n ǵ tạo nghiệp lôi kéo đi nơi này nơi nọ. Tất cả chúng ta tu hiện giờ là cốt đi tới chỗ cuối cùng, làm sao cả ngày cũng ăn, cũng nói, cũng đi, cũng làm mà vẫn an nhiên tự tại, không có niệm nào quấy rầy ḿnh hết. Người đó tuy h́nh thức là sống ở cơi trần gian mà tâm đă vào Niết-bàn. Quư vị nghĩ chư vị A-la-hán thời Phật c̣n tại thế, được Niết-bàn sau khi chết hay lúc c̣n sống? Chứng A-la-hán là được Niết-bàn, mà các Ngài vẫn giảng, vẫn làm Phật sự. Như vậy Niết-bàn không phải đợi chết mới có, mà ngay trong cuộc sống này nếu chúng ta thật sự làm đúng như lời Phật dạy th́ chúng ta sống Niết-bàn. Khi không khởi niệm, lúc đó buồn hay vui? Có niệm mới có vui có buồn, không niệm c̣n ǵ buồn c̣n ǵ vui. Buồn vui trong nhà Phật nói đều là khổ v́ nó vô thường. Không khởi niệm, không buồn không vui th́ khổ hay không khổ? Vô thường là khổ, không vô thường là không khổ. Niết-bàn nghĩa là an tịnh, lâng lâng nhẹ nhàng. Nói vui đó là gượng nói, v́ có vui là có khổ, đối đăi. V́ vậy tới chỗ đó th́ rơ ràng là tịnh lạc. Hằng giờ hằng phút hoạt động mà tâm ḿnh lúc nào cũng an tịnh th́ không c̣n buồn vui, tâm an nhiên tự tại, đó là giải thoát hiện tiền. Buồn vui là cái cột trói lôi kéo, mà bây giờ ḿnh không buồn vui, cái ǵ cột trói, cái ǵ lôi kéo? Th́ ngay cuộc đời là tự tại giải thoát. Cho nên đi sâu trong đạo rồi mới thấy nghĩa giải thoát của Phật pháp rất cụ thể, rất thực tế, chớ không phải chuyện tưởng tượng, chuyện mơ ước. V́ vậy ở đây chủ trương khi những niệm trong tâm không c̣n dấy động, không c̣n sanh diệt để dẫn ḿnh đi trong luân hồi sanh tử, th́ lúc đó ngay nơi đây hết sanh tử. Tôi nghĩ Tăng Ni và Phật tử chịu khó ứng dụng tu, quyết tử tu th́ chắc chắn thành tựu không nghi. Quyết tử với ai? Quyết tử không phải là tranh đấu với người khác mà là ḿnh liều chết để tu. Tại sao tu "khỏe gần chết" mà nói liều chết? Quư vị hiểu nghĩa "khỏe gần chết" không? Bởi v́ "chết" hết những tâm niệm lăng xăng th́ lúc đó "khỏe". Khỏe v́ các tâm niệm của ḿnh đă chết hết rồi, chớ c̣n tâm niệm lăng xăng th́ mệt ghê lắm. Khi nào chúng ta ngồi thiền mà tâm niệm cứ chạy ngược chạy xuôi hoài, th́ bữa đó mệt muốn xuất hạn mồ hôi. C̣n ngồi thiền mà tâm nhẹ nhàng, lâu lâu có một hai dấy động nhỏ thôi, th́ hôm đó nhẹ nhàng thảnh thơi. Tu như vậy mới thấy nguồn an lạc của sự tu. Nhưng chúng ta phải can đảm quyết tâm th́ mới đi tới chỗ đó, chớ không thể chần chờ lôi thôi mà có kết quả được. Chúng ta thường có hai thứ bệnh: 1.Chấp thân: Quí thân lắm! Ai moi móc chê trách thân ḿnh; ví dụ ḿnh xấu ḿnh đen, mà ai nói ḿnh xấu ḿnh đen th́ bản ngă nổi dậy liền, bảo vệ cho ḿnh là hơn hết. C̣n ḿnh xấu ḿnh đen mà ai nói ḿnh đẹp th́ ḿnh chịu lắm. Người ta bảo vệ cái ngă tối đa, đó là ngă của thân. 2.Chấp tâm: Tức là cái suy nghĩ, kiến chấp của ḿnh. Ḿnh suy nghĩ ǵ th́ đều cho đó là chân lư. Ai nói trái điều ḿnh nghĩ là ḿnh giận liền. Cái ǵ ḿnh nghĩ, ḿnh muốn bảo vệ. Bảo vệ cái nghĩ của ḿnh là bảo vệ tâm. Như vậy bảo vệ thân đă tạo bao nhiêu thứ nghiệp, bây giờ bảo vệ tâm nữa. Cái ǵ ḿnh nghĩ, cái ǵ ḿnh suy tính cũng đều là chân lư hết. Ở nhà hay trong chùa, huynh đệ nào căi lại ư của ḿnh th́ ḿnh nổi sân lên liền. Đó là bảo vệ tối đa bản ngă của nội tâm. Cho nên chúng ta tu phải xả bản ngă của tâm nữa. Cả hai thân và tâm đều quên đi. Chê cũng được, khen cũng được, chửi cũng được, không có ǵ quan trọng hết. Tứ đại này khi ră ra c̣n thua đất bên ngoài nữa. Đất bên ngoài người ta c̣n dám hốt vô đổ nền nhà, chớ c̣n tứ đại của ḿnh ră ra có ai dám hốt đổ nền nhà đâu. Như vậy tại sao ḿnh chấp? Khi nó tạm kết hợp lại th́ nó tạm đi đứng nằm ngồi, nói năng. Khi nó ră ra th́ không có giá trị ǵ hết. Cái không ra ǵ mà chấp là si mê. Cái nghĩ của ḿnh chắc ǵ đúng. Nó khởi nghĩ lăng xăng, nay nghĩ vầy mai nghĩ khác. Cái nghĩ sau lại chê cái nghĩ trước. Có khi ḿnh vừa nói với ai câu đó, một lát không bằng ḷng, ḿnh rút lời nói hồi năy lại. Như vậy cái nghĩ không thật, nó đổi dời, hư dối mà chấp làm ǵ. Chúng ta v́ si mê quá trầm trọng cho nên bám vào bản ngă hư dối, bám vào tâm tưởng hư vọng cho là ḿnh, cho là ta. Cứ như vậy mà đau khổ, tạo nghiệp luân hồi. Bây giờ ḿnh biết tu, th́ hai thứ ngă của thân, ngă của tâm phải xả bỏ. Đừng quan trọng, đừng cố chấp, buông hết, xả hết th́ nhất định người đó sống với đạo. C̣n ai bám chặt vào hai thứ ngă đó th́ đừng mong đạt đạo. Hôm nay là buổi nói chuyện đầu tiên tại Tham vấn đường Thiền viện Trúc Lâm, tôi mong quư vị rán đem hết tâm thành suy gẫm những lời nói này để ứng dụng tu cho được kết quả tốt. Tôi đặt sở nguyện vào ngày mai kia sẽ có những người sáng được đạo, để thay thế tôi gánh vác Phật sự sau này. Mong tất cả quư vị cố gắng. TU LÀ CHUYỂN NGHIỆP LÀ DẸP BỎ THAM SÂN SI Trường hạ Vạn Hạnh 1999
Hôm nay nhân mùa an cư, chư Ni tụ hợp về Ni viện Vạn Hạnh và Bát Nhă để an cư tu học. Quư vị có nhă ư mời chúng tôi về đây nói chuyện, nhắc nhở Ni chúng tu hành, đồng thời sách tấn tất cả Phật tử đang trên đường học đạo phải siêng năng tinh tấn. Tôi hoan hỷ nhận lời, nên mới có buổi nói chuyện này. Trước hết tôi có đôi lời với Ni chúng. Quư vị đă có phúc duyên nhiều đời nên được làm thân người, được xuất gia học đạo, có thầy có bạn trên đường tu. Đó là chủng duyên lành nhiều đời, nhiều kiếp nên ngày nay mới được kết quả tốt đẹp như vậy. Đă được quả tốt th́ phải ráng vun trồng cho nó tăng trưởng đến thành tựu, chớ đừng ỷ lại nhân trước tốt rồi chúng ta bỏ qua, không nỗ lực, th́ nhân cũ sẽ hư lép đi, kết quả không c̣n tốt nữa. Trên đường tu, chúng ta phải ráng tu như thế nào cho xứng đáng với chí nguyện xuất gia lúc ban đầu của ḿnh. Có vị nào khi xuất gia lại nguyện con vô chùa để được ngủ nhiều, ăn nhiều, chơi nhiều không? Chắc không có. Ai cũng nguyện lớn rằng con xuất gia để được giác ngộ giải thoát và độ chúng sanh cùng được giải thoát. Đó là lư tưởng cao siêu ít có ǵ b́ được. V́ vậy trong nhà Phật thường nói, người xuất gia không phải là người làm việc tầm thường, nên gọi là phi thường. Đă là phi thường th́ chúng ta phải có tư cách, có thái độ phi thường mới được. Tôi thường nói, quư vị xuất gia là đă thực hiện một việc phi thường rồi. Quư vị thấy ḿnh đă làm được điều ǵ phi thường chưa? Người thế gian bên phái nữ khi lớn lên ai cũng muốn để tóc trang sức cho đẹp. Quư vị cạo bỏ phắt đi th́ đó đă là phi thường chưa? Dám cạo tóc không sợ xấu, không sợ người ta cười, không v́ trang sức đẹp đẽ của thế gian, không muốn bận tâm với trần tục để vào chùa tu. Đó là cái phi thường thứ nhất. Đến điểm phi thường thứ hai. Quư vị thấy Phật tử hay người đời lúc nào cũng trọng miếng ăn, ăn sao cho ngon. Mà muốn ăn ngon th́ tự nhiên phải có thịt cá mới ngon, c̣n rau cải đạm bạc làm sao ngon. Nhưng khi tu quư vị dứt khoát không ăn cá thịt nữa, chỉ ăn rau cải sống qua ngày. Đó cũng là một việc phi thường rồi. Song điều phi thường thứ ba là quan trọng nhất. Thế gian nam nữ lớn lên đều có đôi bạn, lập gia đ́nh, nhưng quư vị lại cương quyết tu, không bị cột trói bởi t́nh cảm gia đ́nh nữa. Một ḷng vào chùa lo tu hành để được giải thoát sinh tử, không bận bịu chuyện thế gian với t́nh cảm tầm thường đó. Như vậy là rất phi thường. Chúng ta đă là người làm việc phi thường th́ luôn luôn lúc nào cũng phải là người đi đầu, hướng dẫn cho huynh đệ, cho mọi người noi theo. Muốn đi đầu, muốn hướng dẫn mọi người th́ trong tâm quư vị c̣n tham, sân, si được không? Nếu nội tâm c̣n tham, sân, si th́ đó là một điều khổ. Bởi v́ trong kinh Phật dạy: - Này các Tỳ-kheo, nếu trong thất của các ông có ba con rắn độc chui vào, lúc đó các ông ngủ có ngon không? - Bạch Thế Tôn, chúng con ngủ không ngon. Phật hỏi: - Làm sao các ông ngủ mới ngon? Các thầy Tỳ-kheo bạch: - Chừng nào chúng con đuổi được ba con rắn độc ra khỏi nhà, chừng đó chúng con ngủ mới ngon. Phật nói: - Đúng vậy, ba con rắn độc ở trong nhà nên các ông ngủ không ngon. Nhưng ba con rắn độc đó chưa độc bằng ba thứ độc tham, sân, si. V́ tham, sân, si không những hại chúng ta trong đời này mà c̣n xúi giục chúng ta tạo nghiệp luân hồi trong vô lượng kiếp nữa. Như vậy, rắn độc chỉ cắn chúng ta chết trong một thân; c̣n tham, sân, si sẽ dẫn, sẽ kéo, sẽ lôi chúng ta đi trong luân hồi vô lượng kiếp. Vậy thứ nào đáng sợ hơn? Nói thực tế hơn, hôm nào trong thất của quư vị có rắn độc chui vô, đêm đó quư vị ngủ được không? Cũng thế, trong nội tâm quư vị nếu c̣n ba thứ độc, quư vị có ngủ được không? Chắc ngủ vẫn ngon như thường! Thế mới thấy, cái mà Phật cho rằng đáng sợ chúng ta chưa thật sợ, c̣n những cái không đáng sợ chúng ta lại sợ. Đó là v́ chúng ta không sáng suốt, chúng ta yếu đuối. V́ vậy tôi khuyên, nhắc quư vị phải nhớ đuổi ba con rắn độc ra trước, đó là điều thiết yếu. Nhiều vị sống trong tập thể v́ ba con rắn độc mà bị tổn hết công đức, sự tu hành cũng bị chướng ngại. Chẳng hạn đối với con rắn sân, người tu niệm Phật mà nổi sân th́ tối hôm đó niệm Phật được yên không? C̣n người tọa thiền mà nổi sân với thiên hạ th́ tối tọa thiền được yên không? Như vậy, sân là cái chướng làm trở ngại sự tu của tất cả chúng ta. Nên tôi mong rằng tất cả Ni chúng đă quyết tâm tu hạnh giải thoát để cứu ḿnh, cứu chúng sanh th́ quư vị cố gắng phải dẹp trừ ba thứ độc trước. Trừ nó rồi th́ tu pháp nào cũng thành công, tu pháp nào cũng có kết quả. Ngược lại, nếu quư vị không dẹp trừ ba thứ độc, dù quư vị cố gắng tu pháp ǵ cũng khó có kết quả được. Như vậy trọng tâm tu cho thành công, đạt được kết quả là trước phải diệt trừ tam độc, đó là cái gốc. Trên đường tu, sự thành công là phần của quư vị, thầy bạn chỉ nhắc nhở thôi. Làm sao để năm nay tôi tới thăm, quư vị đuổi ba con rắn độc ra được phân nửa. Sang năm tới, tôi tới thăm th́ ba con rắn độc đă ra khỏi nhà, là quư vị tu tiến đó. Không phải chúng ta ngồi thiền nhiều giờ, niệm Phật nhiều mà tiến. Thêm giờ ngồi thiền, thêm chuỗi niệm Phật, nhưng ba con rắn độc không đuổi ra th́ tu vẫn không tiến như thường. Ḿnh tu nhất tâm niệm Phật, quyết chí ngồi thiền rất là nghiêm chỉnh, nhưng ra ngoài ai nói trái ư liền nổi giận đùng đùng, th́ người ta sẽ kết luận cô ấy giả bộ niệm Phật, giả bộ ngồi thiền chớ không phải tu thật. Như vậy, trọng tâm của người xuất gia là phải dẹp tham, sân, si. Đó là bước đầu trên đường tu. Tôi mong tất cả Ni chúng đều cố gắng thực hiện cho được. Đây là lời nhắc nhở của tôi với Ni chúng. Tiếp đến tôi có vài lời nhắc nhở quư Phật tử có mặt hôm nay. Quư vị hiện giờ làm ra tiền của, vậy quư vị có sợ trộm cướp không? Tôi xin chỉ quư vị một phương pháp ǵn giữ sự nghiệp của ḿnh không bị trộm cướp, không bị ai lấy hết. Trong nhà Phật luôn luôn dạy người Phật tử làm thế nào cho công đức của ḿnh được tăng trưởng, được lâu dài, được bền vững đừng để tiêu mất. Quư vị xét ở thế gian nếu chúng ta có tiền nhiều, có của nhiều th́ chúng ta sợ trộm, sợ cướp, sợ đủ thứ. Có của th́ sợ mất của; có danh vọng th́ sợ mất danh vọng; danh vọng cao chừng nào càng sợ mất nhiều chừng ấy. Thế nhưng, đức Phật dạy cái chúng ta tạo ra, không bao giờ mất đó là nghiệp. Nghiệp theo chúng ta như bóng với h́nh không tách rời được, đời này, đời sau và nhiều đời không bao giờ mất. Vậy nghiệp là ǵ? Nghiệp là thói quen, là hành động do chúng ta chăm chú vào một việc, tiếp tục làm việc đó măi th́ thành thói quen. Đó gọi là nghiệp. Thí dụ cô A dạy học, cô B cũng dạy học, họ gọi nhau là bạn đồng nghiệp. Đồng nghiệp tức là cùng làm một nghề dạy học. Hoặc chú A hút thuốc, chú B cũng hút thuốc hay chú A uống rượu, chú B cũng uống rượu th́ gọi là bạn nhậu, bạn hút. Như vậy hút thuốc, uống rượu lâu th́ thành nghiệp thuốc, nghiệp rượu. Bởi vậy người đă quen làm việc ǵ th́ việc đó trở thành nghiệp của ḿnh. Quư vị thấy chúng ta ở ngành nào, nghề nào cũng nh́n sự vật theo con mắt của nghiệp đó. Thí dụ ở chùa có trồng cây bách lớn. Người thợ mộc nói cây bách là một loại gỗ rất cứng, dùng để đóng đồ chắc lắm. Người dược sĩ th́ thấy cây bách này có vị thuốc trị được bệnh, v. v… Cũng một cây bách mà người nói gỗ tốt, người nói thuốc hay. Lại có người nói nếu cây bách này khéo uốn th́ sẽ trở thành con rồng, con phụng ǵ đó v. v… Như vậy, tùy theo cặp mắt của mỗi người mà sự vật được nh́n theo nhiều công dụng riêng biệt không giống nhau. Đó là nh́n theo nghiệp. Vậy nghiệp có h́nh tướng không? Tôi thí dụ có một ông thầy giáo, một ông bác sĩ và một ông thợ hồ. Cả ba cùng đi chung một chuyến đ̣, sang sông với nhiều đồ đạc. Ra tới giữa ḍng bỗng đ̣ ch́m. Mỗi người đều lo bơi vào bờ quên hết đồ đạc. Tới bờ rồi nh́n lại người nào cũng tay không, tất cả đồ nghề mang theo đều bị nước cuốn trôi hết nhưng nghề thầy giáo, nghề bác sĩ, nghề thợ mộc có bị cuốn trôi không? Thế nên nghiệp là cái không ai có thể lấy đi được hết. Dù nước trôi, lửa cháy, trộm cướp cũng không ai lấy được nghiệp của ḿnh. Phật dạy nghiệp được chia ra làm hai thứ: nghiệp lành và nghiệp dữ. Nếu chúng ta tạo nghiệp lành th́ điều thiện, điều lành ngày càng tăng trưởng. Nếu chúng ta tạo nghiệp ác th́ càng ngày càng gặp nguy hiểm, càng gặp nhiều tai họa. Nhà Nho xưa hay nói đó là âm đức. Nhà Phật gọi đó là nghiệp lành. Âm đức th́ không ai ăn cắp được; c̣n của cải tài sản th́ rất dễ mất. Nên nói "tích âm đức dĩ vi tử tôn", để âm đức cho con cháu th́ con cháu được hưởng, c̣n để tiền của chắc ǵ con cháu hưởng được. Trong nhà Phật nói để nghiệp lành lại cho con cháu th́ con cháu hưởng phước, để nghiệp ác th́ con cháu thọ khổ. Nếu quư vị thương con cháu th́ gieo nghiệp lành. Song nghiệp của ai người đó hưởng chứ người khác không hưởng được, vậy tại sao ta phải tạo nghiệp lành cho con cháu? Đó là v́ muốn cho con cháu chúng ta trở thành người tốt, người hiền, có tài, có đức nên chúng ta phải lo cho nó học. Học được rồi quư vị khéo hướng dẫn cho nó biết đạo đức, biết làm lành, biết tạo những điều phước th́ đó là tạo cho nó nghiệp lành, nghiệp tốt rồi. Nó có nghiệp lành tốt, giả sử cha mẹ mất đi th́ nó cũng không khổ. C̣n nếu cưng con, muốn cái ǵ cho cái ấy, sung sướng ăn chơi tự do th́ tới chừng cha mẹ trăm tuổi nó sẽ khổ. Đó là không biết gây dựng nghiệp tốt cho con cháu. Lại nữa, có nhiều người làm ăn được nên cứ lo cặm cụi làm ăn hoài, không nghĩ tới việc học hành của con, không lo đạo đức cho con. Cứ làm ăn cho có nhiều tiền, nhiều của v́ nghĩ khi chết, của đó sẽ để lại cho con. Nhưng của cải ấy chắc ǵ con cháu hưởng được, nói chi đến giữ. Những ǵ ḿnh làm đổ mồ hôi xót con mắt, thức khuya dậy sớm, nhưng nếu con cháu không có đạo đức, không có tâm lương thiện th́ tiền của để lại chưa chắc ǵ chúng hưởng được. Thế nên người cha, người mẹ khôn ngoan là phải hướng dẫn cho con tạo nghiệp tốt. Nghiệp tốt là nghiệp thầy giáo, nghiệp bác sĩ, nghiệp ǵ chuyên môn cho ích nước lợi dân là được. Đồng thời hướng dẫn cho con tâm lương thiện, biết thương người, biết giúp đỡ kẻ khổ v. v… Đó là quư vị biết lo xa, biết thương con thật ḷng. C̣n phần ḿnh th́ quư vị nhớ, nhất là những vị tuổi đă cao, đă mấy mươi năm nhọc nhằn với cuộc sống lắm rồi, tuổi già kề cận, ráng làm sao ngày nào c̣n có mặt ở trên đời th́ hăy tạo những nghiệp lành, những phước thiện để khi ḿnh nhắm mắt, nghiệp đó theo ḿnh không mất. Nếu quư vị tạo được một triệu điều lành, quư vị không cần tủ, không cần nhà chắc, vẫn không ai lẻn vô lấy cắp được một triệu việc lành của quư vị. C̣n nếu quư vị có một triệu lượng vàng, dù nhà cao cửa sắt, cũng chưa chắc ǵ giữ được. Chúng ta giành danh, giành lợi với thế gian, nếu ḿnh được, người mất th́ họ đố kỵ ganh ghét. C̣n chúng ta tạo nghiệp lành, dù bao nhiêu điều họ thấy họ cũng mừng giùm, không ai đố kỵ hết. Như vậy, chúng ta làm những điều tốt mà không ai đố kỵ với chúng ta, đó là cách yên ổn nhất. Lại nữa, chúng ta làm nghề ǵ phát tài th́ có người cạnh tranh, đua chen với chúng ta. Mà cạnh tranh th́ ai cũng giành phần hơn. Đó là nguyên nhân dẫn tới đấu tranh với nhau. Bây giờ chúng ta làm việc lành nếu có ai cạnh tranh với chúng ta th́ càng tốt. Tôi làm mười điều lành, người đó tranh với tôi cũng làm mười điều hoặc mười lăm điều th́ càng tốt hơn, càng cạnh tranh càng tốt. Như vậy quư vị thấy cái nào đem lại sự an ổn cho chúng ta, đem cái hay, cái đẹp cho mọi người chung quanh. Chỉ có nghiệp lành là quư nhất. Đó là chuyện hiện tại. C̣n mai sau nếu chúng ta đă tạo nghiệp lành, sau khi mất nghiệp ấy có sức mạnh lôi dẫn chúng ta đi tới những chỗ lành. Như vậy hiện tại chúng ta được an vui và mai sau chúng ta cũng được an vui. Nếu chúng ta không cố gắng làm lành, không cố gắng tạo nghiệp lành th́ hiện tại chúng ta chưa chắc vui mà mai kia lại càng khổ hơn nữa. Đó là chúng ta biết lo xa. Vậy quư vị đem hết tâm tư gây dựng sự nghiệp th́ nên gây dựng cho ḿnh một sự nghiệp xứng đáng, lâu dài. Đó là nghiệp thiện, nghiệp lành. Quư vị nghĩ nghiệp thiện, nghiệp lành xuất phát từ đâu? Nhà Phật gọi tam nghiệp: thân nghiệp, khẩu nghiệp, và ư nghiệp. Thân ḿnh làm tất cả điều lợi cho chúng sanh, đó là tạo nghiệp lành; thân ḿnh làm tất cả điều đau khổ cho chúng sanh, đó là tạo nghiệp ác. Miệng ḿnh nói tất cả điều lành cho mọi người được vui, mọi người hết khổ, đó là nghiệp lành; nói lời dữ cho người phải buồn, phải giận, phải tức tối là tạo nghiệp dữ. Ư nghĩ xấu, nghĩ bậy, nghĩ hại người là tạo nghiệp dữ; ư nghĩ cứu giúp, nghĩ thương yêu người là tạo nghiệp lành. Như vậy ba nghiệp thân, miệng, ư cố gắng làm lành th́ thành người hiền. Phật tử chúng ta tu có hiền chưa? Đó là điều mà tôi xin nhắc. Vô chùa lạy tha thiết vô cùng, lạy Phật, cầu Phật đủ thứ, nhưng ra ngoài ai chọc tức, nói thôi không chừa lời nào. Như vậy là ḿnh chưa hiền, chưa biết tu. Nếu gia đ́nh, vợ chồng, con cái đều biết tu ba nghiệp th́ có đầm ấm không? Thế nên, biết tu th́ trở thành người tốt, gia đ́nh hạnh phúc. Nếu trong xóm, trong làng ai cũng biết tu ba nghiệp th́ xóm làng đó có b́nh yên không? Qua đó quư vị mới thấy giá trị của người tu Phật là phải làm sao đem lại cho ḿnh sự an lành, đem lại cho gia đ́nh hạnh phúc, đem lại cho xă hội vui tươi thái b́nh, gầy dựng cuộc đời tốt đẹp. Chớ không phải đi chùa mới gọi là tu c̣n về nhà không chịu tu. Tôi kể một câu chuyện của Nhật Bản. Có bà cụ chuyên niệm Phật. Ngày nào bà cũng niệm mấy chuỗi. Một hôm bà đang ngồi niệm Phật, bỗng có thằng cháu nội làm rớt bể cái bát kiểu. Bà quăng xâu chuỗi xuống rồi chửi đứa cháu. Người con thấy vậy nói: "Mẹ à, mẹ tu sao mẹ c̣n chửi? " Bà quát: "Tao tu với Phật chứ không phải tu với tụi bây! " Quư vị nghĩ sao? Chúng ta tu với Phật hay tu với chúng sanh? Chúng sanh nhiều buồn khổ, nhiều xấu xa th́ ḿnh phải tu với họ chớ! C̣n Phật ngồi im ĺm có nói lời nào đâu, khen Ngài cũng không gật đầu, chê Ngài cũng không lắc đầu. Ngài lặng yên tự tại, chỉ có chúng sanh mới đa sự. Cho nên chúng ta tu là tu với chúng sanh. Chúng sanh nhiều khổ năo, nhiều cuồng loạn, nhiều si mê nên ta phải ráng tu với họ, để làm sao chúng ta đi trước làm người gương mẫu cho họ bắt chước. Gia đ́nh ta biết tu nên đầm ấm an vui, hạnh phúc th́ những người chung quanh mới noi theo. V́ vậy chúng ta tu không chỉ cho ḿnh mà tu cho cả gia đ́nh, cho cả xă hội nữa. Đó mới là người Phật tử biết tu, là người Phật tử chân chính. Chớ lạy Phật nhiều, cúng Phật lắm nhưng ra đường không chịu nhịn ai hết th́ đó chưa phải là tu. Tới đây quư vị biết để dành của quư chưa? Quư vị có hứa với tôi từ nay về sau sẽ gửi ngân hàng công đức mỗi ngày mỗi nhiều không? Tôi đảm bảo ngân hàng đó không mất, gửi bao nhiêu cũng không mất hết, nên phải ráng tu. Hôm nay tôi đến thăm và nhắc nhở Ni chúng cũng như tất cả Phật tử biết cách tu. Tu thiết thực chớ không phải tu bằng tưởng tượng, bằng lư thuyết, tu phải thực hành. Được vậy quư vị mới xứng đáng là đệ tử của Phật, xứng đáng là người dân tốt, biết xây dựng cuộc đời và đạo pháp ngày càng tươi đẹp hơn. NHỮNG TRỞ NGẠI LÀ CHƯỚNG DUYÊN HAY THẮNG DUYÊN? Chùa Giác Nguyên – 1998
Hôm nay chúng tôi đủ duyên về đây, trước hết là thăm Tổ đ́nh Giác Nguyên, kế thăm tất cả chư Tăng đang an cư và sau nữa là thăm quư Phật tử. Tôi đến đâu cũng mong sao cho tất cả Tăng Ni, Phật tử đều thấm nhuần chánh pháp của Phật để chúng ta cùng nhau tu hành. V́ vậy hôm nay tôi có ít lời cho chư Tăng Ni cũng như quư Phật tử trên đường tu luôn luôn tiến, chớ không bao giờ thoái chuyển. Muốn thế chúng ta phải có cái nh́n đúng với lẽ thật. Nên đề tài chúng tôi nói hôm nay là Những trở ngại là chướng duyên hay thắng duyên? Đa số chư Tăng, Ni cũng như Phật tử khi tu hay than rằng: "Sao con gặp nhiều chướng duyên quá. Khi xưa chưa biết tu th́ ai cũng xử sự tốt, tử tế với ḿnh. Bây giờ biết tu rồi, sao thấy ai cũng lạt lẽo với ḿnh, không được đầm ấm như xưa! " Do đó, nên nói là chướng duyên. V́ nghĩ gặp chướng duyên nên chúng ta có ư buồn. Tu mà sao không được người nâng đỡ, không được người hưởng ứng, phụ giúp với ḿnh, lại c̣n bị ngăn trở. Hay có lẽ tu không có phước? Hầu hết Phật tử chúng ta đi chùa, lễ Phật, cầu chư Tăng tụng niệm, chú nguyện cho ḿnh th́ đều nghĩ rằng như vậy có phước hơn hồi chưa tu. Nhưng sao hồi chưa tu không gặp chướng mà bây giờ tu lại gặp chướng? Rồi than rằng ḿnh đi chùa không có phước nên trở ngại. Thậm chí có người nói ngày xưa không tụng kinh Pháp Hoa th́ không sao, bây giờ tụng kinh Pháp Hoa lại đổ nghiệp, nào con cái bệnh hoạn, gia đ́nh rối ren. Như vậy chướng hay không chướng? Tôi nêu lên những vấn đề trên và sẽ giải thích cho chư Tăng, Ni cũng như quư Phật tử hiểu để đường tu của chúng ta lúc nào cũng vui vẻ, cũng tiến lên, không thoái lui, không chán nản. Người vào chùa tu không có thí chủ cúng dường, lâu lâu muốn mua bộ sách, bộ kinh mà không có tiền nên than thân trách phận: "Ḿnh tu sao chướng quá, huynh đệ chung quanh có tiền mua kinh sách học, c̣n ḿnh không có ǵ hết. " Đó là chướng thứ nhất. Thứ hai, có người cho rằng lúc c̣n là cư sĩ ở thế gian, ai cũng kính nể, đến khi tu sao thấy mọi người khi dể quá nên đâm ra bực, nghĩ ḿnh tu không có phước bị người ta khinh bạc, thành ra thối tâm. V́ trước khi đi tu, chúng ta hay nghĩ rằng ḿnh vào chùa làm thầy tu, huynh đệ cũng thầy tu, chắc ai cũng thương cũng bảo bọc ḿnh trăm phần. Nhưng khi vào chùa rồi thấy mọi người lơ là, không chú ư tới ḿnh nên cảm thấy bị người khinh bạc. Lại nữa, khi c̣n là Phật tử đến chùa, được thầy trụ tŕ hay cô trụ tŕ tiếp đón nồng hậu, vui vẻ th́ thích. Nhưng gặp thầy, cô lơ là lạnh nhạt liền không muốn đi chùa nữa. Đó là chướng thứ hai. Thứ ba, khi được xuất gia vào đạo, chúng ta thường nghĩ rằng thầy sẽ thương, sẽ tin, sẽ dễ dàng với ḿnh. Không ngờ thầy lại rầy quở, răn đe đủ điều. Thấy vậy liền cho là thầy khó khăn, rồi muốn t́m chùa khác ở hoặc muốn trở về với ba má, để được cưng chiều hơn. Đó là chướng thứ ba. Thứ tư, Phật tử ở thế gian nghĩ rằng đi chùa, làm phước, biết tu; như vậy là có phước, sao lâu lâu lại bị bệnh. Trong khi lúc chưa tu th́ không bệnh, nghĩ như vậy nên hết muốn tu. C̣n chư Tăng bệnh, nếu được thầy trụ tŕ hay huynh đệ tới lui thăm viếng th́ vui. Nếu thầy bạn không để ư, huynh đệ cũng lơ là th́ buồn, sanh ra chán nản. Nhớ lại lúc ở nhà khi có bệnh, ba má săn sóc kỹ lưỡng, ăn uống đầy đủ. C̣n vô chùa bệnh, quư thầy không ngó ngàng tới, từ đó thối Bồ-đề tâm. Đó là chướng thứ tư. Tóm lại, khi tu chúng ta thường gặp nhiều điều trở ngại sanh chướng như thế. Vậy tôi xin hỏi, những việc ấy là chướng duyên hay thắng duyên? Tất cả những khó khăn trở ngại đối với người tu, nếu chúng ta không hiểu đạo th́ đó là chướng duyên. Ngược lại, nếu chúng ta hiểu đạo th́ đó là thắng duyên. Tôi thí dụ mấy đứa nhỏ chơi tập nhảy cao. Ban đầu chúng gác cây khoảng năm tấc th́ nhảy qua. Nếu muốn nhảy cao hơn nữa phải nâng lên sáu tấc, rồi bảy tấc, lần lần cây càng cao th́ nhảy càng cao. Cao nhiều là chướng nhiều, mà chướng nhiều th́ nhảy mới giỏi. Cũng như vậy, muốn trở thành người tu hành đầy đủ công đức, đầy đủ nguyện lực và đầy đủ trí tuệ th́ những trở ngại là những thắng duyên. Trong kinh Pháp Hoa, đức Phật tuyên bố: "Đề Bà Đạt Đa là thiện hữu tri thức bậc nhất của ta. Nhờ Đề Bà Đạt Đa mà ta chóng thành đạo quả. " Đức Phật kể trong vô số kiếp đời trước cho tới đời hiện tại của Ngài, Đề Bà Đạt Đa luôn phá Ngài, hại Ngài, đời nào cũng làm cho Ngài điêu đứng. Kết thúc lại, Ngài nói nhờ Đề Bà Đạt Đa mà Ngài chóng thành đạo. Trên đường tu, nếu ai trợ duyên cho ḿnh mau thành Phật th́ người đó là người giúp ḿnh. Như vậy Đề Bà Đạt Đa là người giúp Phật. Vậy, những thứ chướng duyên vừa kể là duyên tốt để giúp chúng ta tu hành mau có kết quả. Thế nên biết không có cái chướng thật, mà chướng là v́ chúng ta yếu đuối, chúng ta nghĩ tưởng sai lầm. Sự thật, người tu gặp trở ngại là gặp được một cơ hội tốt để vươn lên, chớ không phải để thối lui. Phật kể Đề Bà Đạt Đa trong đời hiện tại nào là phá ḥa hợp Tăng, nào là lăn đá đè Phật, nào là xúi vua thả voi giày Phật v. v… Chúng ta nghe qua có thương Ngài không? Nhưng Phật nói Đề Bà Đạt Đa là thiện tri thức, là người giúp Phật chóng thành đạo quả. Câu chuyện thứ hai cũng trong kinh Pháp Hoa, nói về Bồ-tát Thường Bất Khinh. Khi thấy ai Ngài đều chắp tay nói: "Tôi không dám khinh các Ngài v́ các Ngài đều sẽ thành Phật! " Vậy đó, mà có người cho rằng Ngài dám nói bướng, nói bậy rồi vác gậy đuổi đập. Phật bảo thuở xưa Bồ-tát Thường Bất Khinh thành Phật là do bị người mắng chửi, đánh đập nhưng không thối chí, cố gắng nỗ lực hơn lên, gặp ai cũng tuyên bố "các Ngài sẽ thành Phật. " Như vậy việc đánh đập, mắng chửi của người là chướng duyên hay thắng duyên giúp Bồ-tát thành Phật? Tất cả những chướng ngại ấy đều là duyên tốt giúp Ngài sớm thành Phật. Chúng ta nh́n lại từ đức Phật cho tới Bồ-tát, ngày xưa các Ngài tu hành có được mọi người tin yêu quư kính luôn hay cũng có những người gây khổ đau, làm trở ngại cho quư Ngài. V́ vậy, trên đường tu chúng ta không nên mong cầu mọi việc đều như ư. Chúng ta tu mà cầu tất cả mọi việc đều như ư th́ có gọi là tu không? Có ǵ trở ngại đâu mà tu. Tu là phải có tham sân si hiện ra rồi chúng ta tiêu diệt nó. Đó chính là cơ hội để chúng ta tiến lên, chớ không phải lùi. Như vậy muốn tu được tốt đẹp, thành công th́ chúng ta phải chấp nhận những chướng ngại. Những chướng ngại ấy nhà Phật gọi là thắng duyên. Tăng, Ni và Phật tử tu mà sợ nhiều chướng ngại th́ rất yếu đuối, rất kém cỏi. Người tu như vậy dễ bị thiệt tḥi. Quư vị nhớ tu là chuyển hóa những tâm niệm xấu xa, yếu đuối, hèn nhát trở thành dũng mănh, tốt đẹp. Nếu chúng ta muốn cái ǵ được cái ấy, chỉ có một chiều đi lên th́ quá thỏa măn, c̣n ǵ đâu để tu. Như thế càng tu chỉ càng tăng trưởng ḷng tham, mà nếu tăng trưởng ḷng tham th́ chưa thật biết tu. Phật tử chúng ta tu muốn cái ǵ cũng tốt đẹp hết. Đi chùa th́ xin Phật cho con được b́nh an, được ít bệnh, gia đ́nh được khỏe mạnh, làm ăn đâu được đấy. Như vậy quư vị đi chùa để tu hay đi chùa để xin? Nếu xin th́ khỏi tu, mà tu th́ khỏi xin. Trong kinh Phật nói bố thí, cúng dường phước vô lượng. Nhưng Phật tử chúng ta bố thí th́ đ̣i hỏi phải được phước, cúng dường th́ phải được cái ǵ. Thí dụ như gần rằm tháng bảy, Phật tử muốn phóng sanh cho có phước nên mua chim, chờ tới ngày rằm đem vô chùa nhờ quư thầy tụng kinh cầu nguyện rồi thả ra. Nhưng cầu nguyện cho ai? Cầu nguyện cho ḿnh được sống dai, gia đ́nh được khỏe mạnh v. v… Như vậy thả chim v́ ḷng từ bi hay v́ ḷng ích kỷ? Sao chúng ta tu mà ích kỷ quá chừng. Bắt chim đem thả để ḿnh được sống dai, chớ không nghĩ thương con chim đang bị nhốt khổ sở, ḿnh thả cho nó tự do, bay khắp tứ phương kiếm ăn thong thả. Rơ ràng nói tu chớ thật ra không tu ǵ hết. Có khi quư thầy bận, để lồng chim từ sáng tới chiều tối mới rảnh tụng kinh, chim bị chết lên chết xuống trong lồng trông thật tội nghiệp. Chúng ta tham được sống lâu, được mạnh khỏe mà thả chim chứ không phải v́ thương con chim. Phật tử kiểm lại xem sẽ thấy việc làm của ḿnh trái với đạo lư mà chúng ta lầm tưởng là đúng đạo lư. Chúng ta tu th́ phải khởi ḷng từ bi thương chúng sanh bị khổ, bị nhốt, chúng ta mua để thả nó được tự do. Một giờ tự do là một giờ tốt, nếu thả sớm th́ được nhiều giờ tốt. Đằng này chờ cho nó đuối hoặc có khi chết mà vẫn chưa được thả v́ c̣n chờ cầu nguyện cho ḿnh. Đó là điều hết sức sai lầm. V́ tu là phát tâm từ bi rộng lớn, tu là có trí huệ sáng suốt, chớ đâu phải tu là ích kỷ. Lại một chuyện nữa, Phật tử chúng ta đi chùa, cúng chùa và cho đó là tu. Đi chùa, cúng chùa là làm phước chớ không phải tu. Tu là sửa đổi thói hư tật xấu của ḿnh trở thành tốt. Cúng chùa, cúng Tam Bảo là tu phước, chớ không phải tu sửa lại chính ḿnh. V́ ḷng kính trọng Tam Bảo nên chúng ta đi chùa lễ Phật, cúng dường Tam Bảo cho chư Tăng có phương tiện tu học, và xây dựng chùa chiền làm nơi tín ngưỡng cho mọi người. Chúng ta cúng dường để Tam Bảo thường c̣n ở thế gian, đem lại lợi ích cho chúng sanh, chớ không phải cúng dường Tam Bảo để cầu cho ḿnh được mạnh giỏi, cho ḿnh làm ăn được phát tài. Vậy mà Phật tử đi chùa đốt ba cây hương nguyện vái tứ tung, xin đủ thứ hết. Lễ vật dâng cúng chừng vài mươi ngàn mà nguyện xin Phật ít nhất cũng vài trăm ngàn! Đổi chác như vậy xem ra nặng lăi quá phải không? Thêm trường hợp này nữa, có Phật tử đến chùa thường mà gia đ́nh có người bệnh hoạn, nếu thầy không tới thăm th́ buồn liền, v́ nghĩ ḿnh lo cho Tam Bảo quá mà thầy không lo lại cho ḿnh. Quư vị thấy chúng ta làm việc ǵ cũng nặng về bản ngă, chớ không phải thật ḷng v́ Tam Bảo. Nếu thật ḷng v́ Tam Bảo th́ cứ làm để Tam Bảo được trang nghiêm, được thường c̣n là đủ rồi. Chuyện bệnh hoạn riêng tư của gia đ́nh ḿnh, thầy rảnh đi thăm cũng tốt hoặc thầy bận chưa đi thăm được cũng vui vẻ. Đó là Phật tử hiểu biết chữ tu trong nhà Phật. Đến đây tôi nhắc chư Tăng, Ni và quư Phật tử về hạnh bố thí. Chúng ta nguyện tu hạnh bố thí mà cả năm không ai đến xin ḿnh đồng xu nào hết th́ có gọi tu hạnh bố thí được không? Nếu nguyện tu hạnh bố thí th́ được người đến xin, chúng ta nên mừng v́ có đủ duyên để làm tṛn hạnh nguyện của ḿnh. Bố thí là buông xả của ḿnh ra giúp cho người. Xả được ḷng tham th́ xóa hết tâm tham lam của ḿnh. Nên giúp cho người th́ ta phải mang ơn người, v́ nhờ người mà ta xóa được ḷng tham của chính ḿnh. Thế nên chư Tăng, Ni cũng như quư Phật tử khi cho ai vật ǵ, người đó không vái chào, không cám ơn, chúng ta có trách họ không? Phải hiểu rằng chúng ta tu hạnh bố thí th́ người đến xin là người giúp ḿnh thực hành hạnh bố thí, phá trừ thói xấu tham lam, thêm một bước tiến trên đường tu, nên người xin là người ḿnh phải mang ơn. Có thế mới thật là tâm đạo đức, biết hành hạnh bố thí. Nếu nói tu hạnh bố thí mà nay người này xin, mai người kia xin, mốt người nọ xin, ḿnh phát cáu lên th́ hạnh bố thí vừa mới mở cửa đă bị đóng lại rồi. Chúng ta muốn tṛn hạnh nguyện bố thí th́ gặp mọi người đến xin đều mừng vui cho hết. Trong kinh Đại Bát Nhă kể các vị Bồ-tát tu hạnh bố thí, khi có người đến xin mà các Ngài không có ǵ cho liền tủi khóc. Như vậy mới gọi là ḷng từ bi bố thí. C̣n chúng ta nếu hứa cho ai mười ngàn, người ta tới mà chúng ta hết tiền, không có mười ngàn liền nổi quạu lên. Như vậy có ḷng từ bi không? Tất cả chúng ta tu phải có cái nh́n đúng với lẽ thật. Nếu tu hạnh bố thí là v́ khởi ḷng từ bi để dẹp trừ ḷng tham lam, th́ khi có người tới xin chúng ta phải thấy xót xa, giúp được hay không được cũng thương họ chớ không giận, không buồn. Như vậy mới là người tu chân chính. Giờ nói đến tu hạnh nhẫn nhục. Giả sử có chư Tăng, Ni hay Phật tử nào phát nguyện tu hạnh nhẫn nhục mà đi ra ai cũng khen ngợi ḿnh, th́ quư vị có nhẫn được không? Nếu không th́ tu hạnh nhẫn nhục chừng nào mới thành công. Khi chúng ta tu hạnh nhẫn nhục, phải có người tới t́m cách này, cách nọ, nói xấu hoặc nhục mạ, chửi bới chúng ta đủ điều để thử sức nhẫn của ḿnh. Đó là những người thân của ḿnh, v́ họ muốn thành tựu công đức nhẫn nhục cho ḿnh nên họ mới làm như vậy. Trong kinh Phật dạy: "Người tu hành chân chính, có ai đến phá phách làm trở ngại th́ người đó bị tội phải đọa địa ngục. " Như vậy chúng ta tu hành chân chính mà có người lại chửi bới phá phách ḿnh th́ người đó hết sức v́ ḿnh, hết sức thương ḿnh họ mới dám làm, v́ biết phải đọa địa ngục. Nên chúng ta phải quư kính người đó hơn. Người ấy đă gan dạ dám vào địa ngục để giúp cho ḿnh tiến lên, th́ c̣n ǵ hơn nữa! Nếu nghĩ như vậy th́ quư Phật tử c̣n ghét ai không? Cho nên tất cả Phật tử khi phát tâm tu, cũng như chư Tăng, chư Ni khi phát tâm xuất gia vào đạo, nếu có ai bị khinh chê, bị mắng chửi, bị hủy nhục th́ cứ cười: "Tôi rất mang ơn quư vị đă giúp tôi nhiều! " Cứ một câu đó nói hoài, không buồn, không giận, đó là người thứ thiệt. Ngược lại, vừa bị nói nặng một chút, liền giận năm bảy ngày, t́m cách này cách kia trả thù lại, th́ đó là thứ giả rồi. Chúng ta xét cho thật kỹ mới thấy trên đường tu thật ra trở ngại nhiều chừng nào th́ đạo đức tăng trưởng nhiều chừng ấy. Thí dụ có thầy nào đó quen nói: "Tôi nóng lắm, đừng có chọc tôi! " nếu lỡ có huynh đệ làm giận liền tát tai người ta hoặc la ầm lên, huynh đệ sợ quá bỏ chạy. Như vậy, càng thắng người bao nhiêu th́ cái dở càng đậm, càng nhiều bấy nhiêu. Chỉ khi nào bị người ta chửi ḿnh hoặc làm nhục ḿnh mà ḿnh vẫn cười, đó mới thắng. Thế nhưng Phật tử chúng ta cứ nói nhịn là nhục nên không chịu nhịn v́ sợ nhục. Tôi thường nói sự nóng nảy của ḿnh là một tật xấu. Khi ư dấy lên, chúng ta không thắng được nó là đă xấu rồi, huống nữa miệng nói thân làm để người khác phải giận, phải buồn th́ càng khổ thêm. Chúng ta tu phải làm sao thắng được sự nóng giận. Thắng được mới thấy sức nhẫn nại mạnh mẽ của chúng ta. Bởi vậy đức Phật đă dạy trong kinh Pháp Cú: "Thắng một vạn quân không bằng thắng ḿnh. Thắng ḿnh mới là chiến công oanh liệt nhất. " Thiên hạ cứ ưa thắng người ngoài mà không chịu thắng ḿnh. Thắng người ngoài th́ thêm hờn thêm oán, c̣n thắng được ḿnh mới là thành công trên đường tu. Như vậy chúng ta tu cần phải chấp nhận những điều xấu, những điều không hay để thấy được tâm niệm ḿnh. Thí dụ ở thế gian, nếu chúng ta làm ăn năm nay phát tài, năm tới phát tài, năm nào cũng phát tài hết th́ càng tăng trưởng thêm ḷng tham. Nhiều tiền là sung sướng hay cực khổ? Tôi thấy nhiều tiền không phải là sung sướng đâu. Nhiều tiền cứ lo sợ mất, lo ǵn giữ, càng thêm khổ. Chúng ta tu dù ở trong cảnh ngộ nào chúng ta cũng hằng biết rơ cái được, cái mất là vô thường. Được cũng không mừng nhiều, mất cũng không buồn nhiều. Đó là ḿnh tu tiến. Vậy chúng ta muốn tiến tu phải dùng trí tuệ thấy rơ được những điều hay, không nên dùng t́nh cảm nh́n theo thói quen. Bởi theo thói quen nên khi gặp trở ngại gọi là chướng. Ngược lại, dùng trí tuệ th́ trở ngại là thắng duyên giúp ḿnh vươn lên, đạt được đạo đức tốt, không có ǵ phải buồn. Đến tu hạnh tinh tấn. Nếu người tu hạnh tinh tấn phát nguyện: "Đêm nay con tụng kinh hoặc con ngồi thiền ba thời, " nhưng mới hành được một hai đêm liền phát bệnh. Như vậy có chướng không? Nếu người không biết th́ nói bị chướng. Hiểu như vậy là sai. Nếu ḿnh mạnh th́ ngồi thiền, tụng kinh; c̣n đau th́ nằm đó tu. Quư vị nghĩ khi bệnh tu không được sao? Nếu bệnh chúng ta nằm nh́n từ đầu đến chân, rơ ràng Phật nói thân này đau khổ, đủ thứ đau, nhức chỗ này, mỏi chỗ kia. Phật nói thân này vô thường ta thấy rơ: mới hôm qua mạnh, bữa nay yếu, mai kia sẽ hoại. Quán chiếu soi xét đúng như lời Phật dạy như vậy là tu rồi. Không phải v́ bệnh mà chướng. Nếu thấy bệnh chướng là do chấp tu phải tụng kinh, ngồi thiền, c̣n nằm trên giường không tu được, đó là cố chấp chứ không phải tu. Khi có người phát tâm tinh tấn tu hành nhưng gặp thời tiết nóng quá hoặc lạnh quá, ngồi thiền không nổi, như vậy th́ sao? Khi chúng ta đă quyết tâm tu, dù nóng hay lạnh cũng không nản chí. Nóng th́ tu theo nóng, lạnh th́ tu theo lạnh. Chúng ta khéo ứng dụng tu tùy theo thời tiết, chứ không bỏ, không thối lui. Có như vậy mới tṛn hạnh tinh tấn. Người tu bây giờ có bệnh, mặc dù ham tu, nhưng thấy trong người uể oải nên tới giờ tụng kinh xin nghỉ, viện lư do bữa nay nhức đầu quá, ngồi thiền không được. Cứ hẹn mai, hẹn mốt như vậy hoài, người đó gọi là tinh tấn không hay là giải đăi. Tôi nhớ lúc tôi ở Thiền Duyệt Thất, hôm đó mới cạo tóc mà cạnh thất có một tổ ong ṿ vẽ. Thấy cái đầu tôi trắng bóng, nó chích cho một cái đau chảy nước mắt. Khi đó chẳng lẽ ngồi chịu đau, tôi vô lấy bồ đoàn ngồi thiền. Ngồi một hồi quên mất, hết đau hồi nào không hay. Nên chúng ta phải can đảm một chút th́ cái đau nó sẽ qua. Nếu ḿnh cứ sợ đau nhức rồi nằm đó rên th́ có hết nhức không? Thôi th́ đi ngồi thiền xem thử nó thắng ḿnh hay ḿnh thắng nó. Vượt qua được, hết đau là ḿnh thắng nó. Quư vị tu thiền, sắp tới giờ tọa thiền, thấy trong người khó chịu như nhảy mũi, ho, v. v… nếu làm biếng th́ đổ thừa bệnh rồi nghỉ. Người tinh tấn vẫn cứ ngồi. Nhờ ngồi nên trong người nóng lên, toát mồ hôi, hết bệnh. Như vậy người ấy thắng được bệnh. Vậy tinh thần tinh tấn là sức mạnh để thắng sự yếu đuối, hèn nhát của chính ḿnh, do đó thắng được tất cả những cơn bệnh. Người tu hành tinh tấn ít sợ bệnh hoạn, v́ có thể vượt qua nó, không bị nó làm chủ ḿnh. Muốn vượt qua tất cả th́ phải gan, dám ngồi chết trên bồ đoàn mới có thể vượt qua được, bằng không dám th́ không thể vượt qua nổi. Tóm lại, chúng ta tu hành muốn đầy đủ hạnh từ bi, đầy đủ hạnh nhẫn nhục, th́ tất cả những trở ngại, tất cả những nghịch duyên ở bên ngoài đối với chúng ta đều là cơ hội tốt, không có chi là xấu hết. Những người gây trở ngại cho ḿnh mới thật đáng mang ơn, chớ không phải người thù oán. Hiểu được như vậy trên đường tu mới không thối chuyển, mà c̣n chuyển được tất cả những chướng duyên trở thành thắng duyên. Quư vị dù xuất gia hay tại gia, nếu đă quyết tu rồi th́ phải can đảm, phải thấy đúng như thật để chúng ta không bị các duyên làm trở ngại phải thối tâm, lùi bước trên đường tu. Lúc nào ta cũng hăng hái, nỗ lực tiến lên cho tới ngày thành tựu đạo quả Bồ-đề mới tṛn sở nguyện của ḿnh. Được như vậy mới là người cầu giải thoát sinh tử. Tất cả Phật tử nghe hiểu rồi phải mạnh mẽ nh́n đúng như thật, th́ tôi bảo đảm quư vị trên đường tu càng ngày càng tiến, càng ngày càng cao thượng, ngày càng gần các bậc Thánh hiền, chớ không xa nữa. C̣n ngược lại th́ xa lắc. Tôi nói bao nhiêu đó cũng quá đủ rồi. Mong quư vị thực hành đạt được nhiều kết quả tốt đẹp. ĐẠO PHẬT LÀ ĐẠO NHƯ THẬT Giảng tại Long An Ngày 19-7-2000 - Canh Th́n
Buổi giảng hôm nay, chúng tôi nói về đề tài Đạo Phật là đạo như thật. Quư vị nghe hiểu và ứng dụng tu hành, để mỗi ngày mỗi tiến hơn trên đường giác ngộ giải thoát. Đức Thế Tôn sau khi giác ngộ thành Phật, Ngài v́ thương tất cả chúng sanh, nên những ǵ thấy biết, Ngài muốn đem chỉ dạy lại hết cho tất cả mọi người đều thấy, biết và được giải thoát sinh tử như Ngài. V́ vậy giáo lư Phật nói là giáo lư chuyên dạy tu hành để thoát ly sanh tử. Sau khi thành đạo, đức Phật nh́n lại kiếp sống của con người thật là đau khổ. Nỗi đau khổ đó không chỉ đói cơm, rách áo mà là nỗi khổ trầm luân sinh tử muôn đời muôn kiếp, không ra khỏi được. Trong kinh A Hàm, đức Phật dạy rất rơ: "Nước mắt chúng sanh nhiều hơn nước bể cả"û. Hoặc có khi Phật nói: "Ở trong địa ngục bị thiêu đốt chưa phải là khổ, làm trâu ngựa kéo cày bị đ̣n bị đánh chưa phải là khổ, làm ngạ quỷ đói khát lang thang chưa phải là khổ. Chỉ người si mê không biết lối đi mới thật là khổ". Nghe những câu này, nhiều người đánh giá đạo Phật là đạo bi quan. Chúng ta thử nghiệm lại ư nghĩa Phật nói qua hai câu trên như thế nào? "Nước mắt chúng sanh nhiều hơn nước bể cả", Phật nói như vậy có quá đáng không? Bởi tất cả chúng ta mang thân thể này, h́nh vóc này, chúng ta tự hào ḿnh đẹp, khỏe mạnh, vui tươi v. v… Ngỡ ḿnh là như vậy. Nhưng với con mắt giác ngộ của Phật th́ thấy thân chúng ta hiện mang đây là thân tạm bợ, giả dối mà chúng ta lầm tưởng thật và quư. Tại sao vậy? Như tôi thường nói, thân của chúng ta hiện giờ là do tứ đại, đất nước gió lửa kết hợp mà thành. Chất cứng trong người là đất, chất ướt trong người là nước, chất động trong người là gió, chất ấm trong người là lửa. Thiếu một trong bốn thứ đó th́ chúng ta chết ngay. Như vậy sống là do tứ đại bên trong kết hợp với tứ đại bên ngoài phụ trợ hằng giờ hằng phút. Như hiện giờ quư vị cứ ngỡ ḿnh đang ngồi thảnh thơi, không làm ǵ hết. Nhưng thật ra quư vị đang làm việc đó chứ. Lỗ mũi hít vô thở ra, hít vô thở ra, có khi nào không thở đâu. Nếu thở ra mà không hít vô th́ chết mất. Vậy chúng ta ngồi tưởng là thảnh thơi, tưởng là vui sướng, nhưng thực sự vừa ngồi vừa mượn không khí đem vô trả ra, đem vô trả ra. Cứ mượn trả đều đều như vậy. Một lát chúng ta phải uống tách nước. Uống vô chừng vài ba tiếng lại phải trả ra. Chúng ta dùng cơm, dùng các thức ăn có chất bột là mượn đất. Đem vô rồi cũng phải trả ra. Đó là máy tốt, chớ nếu máy xấu, đem vô mà không trả ra được cũng khổ. Cho nên chúng ta đang làm việc liên tục mà không biết. Sự sống của chúng ta là sự sống vay mượn. Sự sinh tử của chúng ta cũng đều là sự sinh tử vay mượn. Mượn đất, mượn nước, mượn gió, mượn lửa để nuôi dưỡng thân này. C̣n mượn c̣n trả là c̣n sống. Nếu trả ra mà không mượn lại là chết. Như vậy do vay mượn tứ đại để có sự sống, th́ cái ǵ là thậät ḿnh. Không thậät mà tưởng là thậät, đó là ảo tưởng. Phật nói thân ngũ uẩn do duyên hợp hư giả nên không có ngă. Đó là thuyết vô ngă. Nhiều người không hiểu nghe nói thân này vô ngă, liền nghĩ vô ngă là không có ta. Nếu không có ta th́ cái ǵ biết đau khi ḿnh bị va chạm. Cho nên vô ngă là không có một chủ thể cố định. Những ǵ do duyên hợp th́ không có chủ thể, không cố định. Ví như cái đồng hồ, nếu chịu khó mở ra th́ thấy chỉ là một nhóm các thứ ráp lại, tạm gọi là đồng hồ. Đồng hồ chỉ là giả hợp chứ không có chủ thể. Nếu có chủ thể th́ nó phải nguyên vẹn, không đợi duyên hợp. Thân chúng ta cũng vậy, duyên hợp tạm có khi duyên tan th́ thân này cũng ră ra. Như vậy nói thật được không, cái ǵ là chủ thể? Chữ ngă tức là thừa nhận có một chủ thể nguyên vẹn. Không có chủ thể nguyên vẹn th́ gọi là vô ngă. Nên biết vô ngă là không có chủ thể, chứ không phải không có giả tướng duyên hợp. Trong kinh Niết Bàn đức Phật dùng ví dụ tứ xà đồng nhiếp, tức là bốn con rắn ở chung trong một cái giỏ. Có người chủ đem bốn con rắn độc nhốt chung ở trong một cái giỏ. Ông cứ đem thức ăn đến nuôi nó. Đứa nào chống cự th́ ông t́m cách can khuyên, giải ḥa cho nó không c̣n chống cự nhau. Thế nhưng bốn con rắn đó cứ chống cự nhau hoài, không lúc nào chịu yên, nên người chủ nuôi rắn rất cực. Phải săn sóc cho nó ăn uống, rồi phải điều ḥa cho nó không có chống cự nhau. Nhưng một ngày nào cái giỏ lủng, bốn con rắn mạnh đứa nào đứa nấy chạy đi. Phật thí dụ thân tứ đại của chúng ta: đất, nước, gió, lửa hợp thành như cái giỏ chứa bốn con rắn. Bốn chất này ḥa nhau hay luôn luôn chống đối mâu thuẫn nhau. Lửa với nước, gió với đất luôn nghịch nhau. Nước nhiều th́ lửa tắt, lửa nhiều th́ nước khô… Cho nên trong người nóng quá th́ phải kiếm đồ mát uống vô mới yên. C̣n trong người nước nhiều quá, th́ phải ăn đồ ấm cho ḥa lại. Mỗi khi trúng gió rêm đau cả người, phải cạo gió cho nó giăn nhẹ lại. Như vậy trong cuộc sống hiện giờ, chúng ta là một anh thợ nuôi rắn với hai công việc, cho ăn và điều ḥa nó. Một người lo điều ḥa bốn con rắn nghịch nhau th́ sung sướng hay cực khổ? Thế mà giỏ lủng, mấy con rắn chạy đi th́ tiếc, lại kiếm bốn con rắn khác nuôi nữa. Cứ như thế, đời này đời nọ liên tục, cộng lại khổ chừng bao nhiêu. Nên cuộc sống của chúng ta thật giống như con dă tràng xe cát biển đông. Nuôi thân này, lo cho thân này đủ thứ, như vậy đă cực rồi nhưng tới chừng hết duyên, thân ră rồi lại thương tiếc, muốn t́m thân khác. Cứ mỗi lần được thân, lo cho thân ta khổ. Mỗi lần mất thân ta cũng khổ. Mỗi lần khổ như vậy th́ chúng ta rơi nước mắt. Nước mắt rơi một đời, hai đời cho tới vô số đời cộng lại th́ bằng nước bể cả. Cho nên Phật nói nước mắt chúng sanh nhiều như bể cả. Chúng ta cứ ngỡ Phật nói quá đáng, làm sao một đời người mà nước mắt như bể cả được. Chẳng qua đức Phật muốn chỉ nỗi khổ trầm luân muôn kiếp của chúng sanh không biết đâu là cùng tận. Cho nên mục đích của chúng ta là giải thoát sanh tử, để giải khổ trầm luân chứ không phải tu để giải quyết việc ăn mặc. Như vậy giải thoát khỏi nghiệp không phải là chuyện tưởng tượng mà là sự thực. Muốn cứu khổ chúng sanh đức Phật dạy chúng ta phương pháp tu, để không c̣n cố chấp thân năm uẩn này là ta. Có thế khi thân này ră rời mới không tiếc giữ, không c̣n tiếp tục sinh thân khác nữa. Đó là giải thoát sinh tử. Muốn được vậy chúng ta phải biết lối đi, phải biết pháp tu chứ không chỉ tưởng tượng. Cho nên đức Phật nói: "Ở trong địa ngục bị thiêu đốt chưa phải là khổ, làm trâu ngựa kéo cày bị đ̣n bị đánh chưa phải là khổ, làm ngạ quỷ đói khát lang thang chưa phải là khổ. Chỉ người si mê không biết lối đi mới thật là khổ". Gốc của khổ là si mê. Do si mê nên chấp thân thật, v́ vậy thân này mất liền chụp thân khác. Cứ thế đời đời đi trong sanh tử không cùng. Chúng ta tu Phật, ai ai cũng đều mong được giải thoát sanh tử. Nhưng muốn giải thoát trước phải giác ngộ. Giác ngộ là thấy, biết đúng như thật về con người và mọi sự vật chung quanh. Như biết các pháp vô ngă, do duyên hợp không có chủ thể. Thân này cũng vậy, không thật. Nếu thấy biết đúng như vậy th́ không đắm luyến, chạy theo ngoại cảnh và chấp giữ thân. Ngược lại, nếu không thấy đúng như thật, chúng ta cứ tạo nghiệp sanh tử không có ngày cùng. V́ vậy Phật thương xót, muốn cho chúng ta thức tỉnh, thấy đúng như thật, để không bị nhiễm nhơ, không bị khổ trong luân hồi sanh tử nữa. Đó là giải thoát sanh tử. Muốn thấy đúng như thật chúng ta phải có trí tuệ. Mỗi tối quư vị tụng Tâm kinh Bát-nhă, trong đó câu "Quán Tự Tại Bồ-tát, hành thâm Bát-nhă ba-la-mật-đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách". Nghĩa là Bồ-tát Quán Tự Tại khi thực hành sâu trí tuệ Bát-nhă rồi, Ngài xem thấy năm uẩn là không, cho nên vượt qua hết khổ nạn. Bây giờ quư vị đọc thuộc ḷng, nhưng đă hết khổ nạn chưa? Chẳng lẽ Phật nói không thật, tại sao chúng ta lại không hết khổ? Đó là điều tôi muốn chỉ cho quư vị thấy. Phật dạy là chân lư, là lẽ thật nhưng v́ chúng ta hiểu, làm chưa đúng nên không hết khổ. Khi xưa tôi đọc bài giảng về Bát-nhă của ngài Thái Hư, tôi thấy Ngài dùng thí dụ thật hay. Bát-nhă có chia làm ba phần: Văn tự Bát-nhă, Quán chiếu Bát-nhă, Thật tướng Bát-nhă. Văn tự là bước đầu, Quán chiếu là bước thứ hai, Thật tướng là bước thứ ba tức chỗ cứu kính. Như vậy học Bát-nhă phải biết từng thứ bậc. Nhưng chúng ta thường chỉ hài ḷng ở chỗ Văn tự thôi. Đọc thuộc đủ rồi, bỏ hai giai đoạn sau. Trong kinh Bát-nhă nói phải chiếu kiến năm uẩn đều không mới qua hết khổ nạn. Chúng ta chỉ có văn tự, không quán chiếu th́ làm sao hết khổ nạn. Như vậy lỗi tại ai? Lỗi tại chúng ta chưa làm đến nơi đến chốn, chưa nhận đủ ư nghĩa Phật dạy. Nên ngài Thái Hư dùng thí dụ, như có người muốn qua sông gấp, khi xuống thuyền sẵn chèo sẵn dầm, mà không chịu bơi, không chịu chèo. Cứ ngồi đợi măi th́ qua sông được không? Chiếc thuyền dụ cho Văn tự Bát-nhă, chèo dầm là dụ cho Quán chiếu Bát-nhă, tới bờ kia là dụ cho Thật tướng Bát-nhă. Chúng ta chỉ tụng thuộc ḷng bao nhiêu đó cho là đủ rồi. Năm này tới năm khác, tu hoài mà vẫn không hết khổ nạn. Bởi v́ có chèo thuyền đâu mà đến được bờ kia. Bây giờ nếu chịu khó chiếu kiến, tức là soi kỹ năm uẩn: sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Xem thấy những thứ đó duyên hợp, hư dối không có chủ thể, nên tuy nó hiện có nhưng chỉ là thân tạm bợ giả dối. Thấy thân tạm bợ giả dối th́ có ai chửi ḿnh không giận, ai khinh ḿnh không buồn. Bởi thân c̣n không thật th́ lời chửi lời khinh kia có nghĩa ǵ đâu. Chúng ta tu mà không quán chiếu, cứ hài ḷng trong việc tụng đọc hàng tháng hàng năm. Rồi nói tôi tu mấy chục năm mà mù mù, mịt mịt không giải thoát tí nào cả. Tại chúng ta tu không đúng với lời Phật dạy, làm sao giải thoát được. Phật bảo chỉ cần soi thấy năm uẩn đều không, th́ hết đau khổ. Đó là thấy bằng trí tuệ, trí tuệ biết rơ các pháp duyên hợp không có thực thể. Do không có thực thể, duyên hợp tạm có, chứ không phải là không. Ví như bên hồ nước trong vào đêm rằm. Đứng trên bờ ta nh́n thấy bóng mặt trăng dưới đáy hồ. Có người hỏi mặt trăng dưới đáy hồ là thật có hay thật không, chúng ta trả lời làm sao? Nếu nói thật có, tại sao đưa tay vớt không được. Nếu nói thật không, tại sao mắt thấy mặt trăng rơ ràng dưới đáy hồ. V́ vậy chúng ta không khẳng định thật có hay thật không. Đó chỉ là bóng mặt trăng hư giả, tạm có, không thật. Mặt trăng thật ở trên. Thấy như vậy là thấy đúng lẽ thật. Cho nên tánh Không của Bát-nhă không phải là không ngơ. Đó là tánh duyên khởi của các pháp. Khi quán chiếu thấy thân tạm bợ giả dối, không thật th́ qua hết các khổ. Chứ không phải tụng kinh mà hết khổ được. Tụng kinh là dùng văn tự để quán chiếu. Quán chiếu thấu đáo rồi chúng ta mới hết khổ. Như vậy người muốn qua sông th́ phải chèo thuyền. Chừng nào tới bờ rồi, tức là đă đạt được mục đích, mới gọi là đến được chỗ Thật tướng. Chúng sanh luôn vui trong cái giả tạm, mà không ngờ nỗi khổ đă ngấm ngầm ở bên trong. Dù cho của có chất bằng núi, nhưng khi bệnh chết chúng ta có đổi được không? Đó là một lẽ thật. Phật chỉ cho chúng ta muốn thấy lẽ thật ấy phải dùng con mắt trí tuệ. Bát-nhă chính là trí tuệ. Mỗi đêm chúng ta tụng Bát-nhă mà không có trí tuệ ǵ hết v́ đó chỉ là Văn tự Bát-nhă thôi. Cần phải tiến sang bước thứ hai là Quán chiếu Bát-nhă. Có quán chiếu mới đi đến Thật tướng Bát-nhă. Cho nên người đă hành thâm Bát-nhă rồi th́ khi chết, các Ngài xem như tṛ chơi, vui vẻ cười ra đi. C̣n chúng ta gần chết th́ khổ sở, rên la đủ hết. Đó là do thấy thân thật nên sắp mất sợ hăi, khổ đau v́ tiếc thân. Đây chính là lư do để có thân đời sau. Như vậy để thấy si mê của con người thật đáng thương! Lời Phật dạy không phải là lời nói suông mà là lời nói như thật. Chỉ v́ chúng ta hiểu sai, làm sai nên tu không có kết quả, chứ lời Phật dạy không bao giờ sai. Người thấy đúng như thật là người trí tuệ. Người thấy sai lầm là người si mê. Trên đường tu, chúng ta phải mở sáng con mắt trí tuệ th́ mới hết đau khổ. Đó là điều tất yếu. Trong nhà Phật thường nói lư nhân quả. Như gieo nhân nào th́ được quả nấy. Song thật ra nhân quả cũng không thật có cố định. Đứng về mặt thời gian th́ có quá khứ, hiện tại, vị lai. Đứng về mặt không gian, tức là nhân duyên th́ có các duyên tụ hợp lớn, nhỏ… Đức Phật nói tất cả sự việc xảy ra đều đi từ nhân đến quả, chứ không có cái ngẫu nhiên. Nhân quả có nhiều mặt, từ cạn đến sâu. Thí dụ anh nông phu lựa giống tốt, anh cứ ngỡ gieo giống tốt sẽ gặt được quả tốt. Nhưng đến mùa, anh gặt kết quả rất ít oi. Như vậy nhân quả không giống nhau. Đó là v́ anh không hiểu nhân quả có nhiều mặt, thuận nhân, nghịch nhân, chánh nhân, trợ nhân. Hạt giống tốt là chánh nhân; khi gieo xuống đất, chúng ta c̣n phải săn sóc đàng hoàng, cộng thêm có phân bón, có nước, nhổ cỏ, bắt sâu rầy… Những trợ nhân đó đầy đủ th́ thu hoạch mới đúng như ḿnh mong muốn. Có chánh nhân mà thiếu trợ nhân th́ không được kết quả tốt hoàn toàn. Rồi c̣n thuận nhân nghịch nhân. Thuận nhân là mưa thuận gió ḥa. Ngược lại, cây lúa gieo xuống mà bị sâu bị rầy đục phá là nghịch nhân. Nếu gặp nghịch nhân mà ḿnh không trừ được th́ kết quả cũng không có ǵ. Như vậy gieo nhân rồi, c̣n phải có chánh trợ thuận nghịch nữa, chứ không phải gieo nhân là được quả liền. Người ta hay nói gieo nhân nào th́ gặt quả nấy. Tuy nhiên, nếu gieo nhân mà không đủ các duyên phụ trợ th́ không được kết quả như ư đâu. Có trợ mà bị nghịch duyên th́ cũng không có kết quả như ư. Nên biết nhân quả rất đa dạng, chứ không phải chỉ có một chiều. Nếu một người làm ruộng cứ nghĩ rằng ḿnh làm ăn được mùa là nhờ trời Phật gia hộ, chứ ḿnh không có tài cán ǵ. Nếu nghĩ thế th́ không nhổ cỏ, không vô nước, không bón phân v. v… thử xem trời Phật có cho trúng không? Nên phần nhiều người ta hiểu nhân quả thật nông nổi. Trên thế gian này có sự vật nào tự nó thành h́nh mà không cần nhân quả không? Cuộc sống của chúng ta cũng vậy. Không phải bỗng dưng có chuyện khổ hoặc bỗng dưng có chuyện vui đến với chúng ta. Cái khổ cái vui đến với chúng ta đều từ nhân thành quả. Như chúng ta thấy một người gặp cơn hoạn nạn khó khổ, chúng ta thương muốn giúp đỡ họ. Người được giúp đỡ qua cơn hoạn nạn rồi th́ họ quư mến chúng ta. Sự quư mến biết ơn đó là quả tốt. Vậy quả tốt đó từ đâu ra, từ ḿnh biết gieo nhân tốt, giúp đỡ người gặp hoạn nạn. Nếu ḿnh xử sự xấu tệ với mọi người, th́ có ai thương quư ḿnh không? Hẳn là không. Nên nhân xấu không thể đem lại quả tốt. Nhưng có nhiều người đến hỏi tôi: "Thưa thầy con là Phật tử, con rất tin nhân quả. Từ khi bắt đầu lớn khôn con biết sợ quả ác nên không dám tạo nhân dữ, luôn tạo nhân lành. Nhưng sao tới bây giờ, con đă già mà thấy phần nhiều quả xấu, không thấy quả lành. Như vậy nhân quả có đúng không? " Tôi đáp: "Đạo hữu nói như vậy là chưa hiểu nhân quả. Nếu hiểu nhân quả th́ phải hiểu nhân quả có trong ba thời quá khứ, hiện tại, vị lai. Ví như có một chủ phố vừa bán căn nhà trong dăy phố. Người mua căn nhà ấy mở tiệm làm ăn ngày càng phát đạt. Đến cuối năm, hàng xóm lại hỏi: "Năm nay anh làm ăn dư giả nhiều không? " Người chủ tiệm nói: "Tôi làm suốt năm nay mà c̣n thiếu nợ một ít". Tại sao làm ăn phấn phát mà lại nói thiếu nợ? Bởi v́ hồi mua căn phố này, người ấy đă vay nợ. Cho nên bây giờ làm có tiền nhưng trả chưa hết th́ vẫn c̣n thiếu nợ". Nhân ví dụ này, người Phật tử ấy hiểu ra. Chúng ta không thể định đoạt nhân quả trong một đời mà phải liên hệ tới quá khứ, vị lai. Ngày nay chúng ta làm lành mà vẫn gặp tai nạn, gặp khó khăn th́ biết nợ đời trước ḿnh trả chưa hết. Do đó không nên trách trời trách đất, mà phải can đảm nhận lấy trách nhiệm cũ của ḿnh. Quả đến th́ chịu, trả hết đừng vay thêm. Hiện tại ḿnh cứ gieo nhân tốt, không bận ḷng v́ những quả xấu. Trả hết quả xấu rồi th́ quả tốt nó sẽ đến thôi. Cũng như anh vay tiền mua nhà, làm cả năm mà trả chưa hết nợ, nhưng cứ hoan hỉ trả. Năm nay trả chưa rồi th́ năm tới trả, trả măi cũng sẽ hết. Nhân quả liên hệ tới ba đời, nên có những oan trái chúng ta không gây trong đời này mà nó vẫn đến với chúng ta. Chúng ta phải hiểu và can đảm nhận trách nhiệm của ḿnh. Như vậy là chúng ta tin sâu lư nhân quả, sống được với lư nhân quả. Đó là điều hết sức rơ ràng. Ngày nay chúng ta làm những điều hay, điều tốt mà không hưởng được ǵ cũng đừng sợ. Nó sẽ không mất đâu. Khi trả hết nợ cũ, quả tốt sẽ đến với ḿnh. V́ nhân quả đời này chưa hưởng th́ đời sau sẽ hưởng. Ba thời luôn liên hệ chặt chẽ với nhau. Hiểu như vậy, chúng ta trở thành con người can đảm, gan dạ. Ḿnh gây nhân th́ chịu quả, chứ không trốn tránh sợ sệt. Những ǵ đến với ḿnh, ḿnh sẵn sàng chấp nhận, không giận không hờn ai hết. Đó là tu, là chuyển nghiệp. Chúng ta có bệnh, tin nhân quả th́ tin nhưng giúp đỡ ai một thời gian, người đó làm trái ư ḿnh th́ ḿnh giận, thù, đủ thứ hết. Ḿnh cho người đó là kẻ xấu xa, tội lỗi. Không ngờ đó là nợ cũ ḿnh phải trả. Nếu hiểu được lư nhân quả th́ chúng ta sẽ có cách xử sự tốt trong cuộc sống. Bằng ngược lại, chúng ta tự chuốc lấy đau khổ. Không hiểu lư nhân quả th́ cũng không hiểu được thuyết luân hồi. Người ta cứ cho rằng luân hồi là sự tưởng tượng, không phải lẽ thật. Làm sao biết đời này ḿnh làm lành, làm dữ th́ đời sau trở lại lănh thọ quả báo ấy. Nhưng thuyết luân hồi trong đạo Phật nói là một lẽ thật. Luân là bánh xe, hồi là xoay tṛn. Luân hồi là bánh xe xoay tṛn. Trong con người, máu từ tim chạy ra khắp châu thân rồi trở lại tim. Tim lại đưa máu ra khắp châu thân… Cứ như vậy mà tuần hoàn, đó có phải là luân hồi không? Quả địa cầu chúng ta sống đây, nó đứng yên hay cứ xoay? Chẳng những nó xoay quanh mặt trời, mà nó c̣n tự xoay quanh nó nữa. Như vậy thuyết luân hồi không phải là sự tưởng tượng mà nó là một lẽ thật. Từ con người cho tới quả địa cầu đều luân hồi. Đó là luân hồi vật chất. Đến luân hồi về tinh thần. Chúng ta chết đi có phải là mất không? Người ta nói sau khi chết ḿnh c̣n linh hồn. Nói linh hồn là chưa hiểu đạo Phật. Tại sao? Bởi người ta cho rằng linh hồn anh A th́ từ thủy chí chung nó vẫn như vậy thôi, không bao giờ thay đổi. A là A, nó như vậy. Đời này chết, đời sau trở lại cũng là A luôn. Nghĩa là từ đời này qua đời kia linh hồn luôn nguyên vẹn. Nếu nguyên vẹn như vậy th́ người măi là người, chó măi là chó, không thể nào đổi khác được. Đă không đổi khác th́ cần ǵ phải tu, cần ǵ làm lành tránh ác. Cho nên hiểu như vậy thật là một nguy hại lớn. V́ vậy trong nhà Phật không dùng từ linh hồn, mà dùng từ nghiệp thức. Nghiệp thức là những phân biệt, hiểu biết do nghiệp vận chuyển. Ví dụ một đứa bé khi ở với cha mẹ hiền lành th́ nó là đứa bé tốt. Chẳng may cha mẹ mất sớm, nó phải ở với những người khác hung dữ tàn bạo, th́ lần lần nó cũng bắt chước hung dữ tàn bạo. Như vậy sự hiểu biết của nó khi c̣n ở chung với cha mẹ khác với sự hiểu biết khi ở với người hung dữ. Nó luôn luôn thay đổi như vậy nên đâu c̣n nguyên vẹn nữa. Bản thân của chúng ta cũng vậy, sự hiểu biết của ḿnh lúc c̣n bé khác với sự hiểu biết khi lớn lên cho đến lúc già. Nó luôn luôn đổi thay tùy theo duyên tùy theo cảnh. Như chúng ta chưa đi tu th́ chúng ta theo quan niệm người đời tranh hơn, tranh thua đủ thứ. Nhưng khi đi tu rồi chúng ta biết làm sao cho có đạo đức, làm sao cho mọi người được vui… V́ vậy mà không tranh hơn thua nữa. Cho nên sự hiểu biết đó là do nghiệp huân tập của chính ḿnh. Huân tập nghiệp tốt th́ hiểu biết chuyển theo hướng tốt. Huân tập nghiệp xấu th́ hiểu biết chuyển theo hướng xấu. Không có cái nguyên vẹn như thuyết linh hồn. Phật bảo trong thế gian có chia ra làm lục đạo luân hồi: địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh; đó là ba đường dữ. Trời, người, A-tu-la; đó là ba đường lành. Đường lành đường dữ là do chúng ta huân tập nghiệp mà ra. Nghiệp dẫn thần thức đi thọ sanh cho nên gọi nó là nghiệp thức uẩn. Thọ sanh đời này đời kia, có khi lên, có khi xuống đủ thứ hết. Nhà Phật gọi đó là nghiệp thức chứ không phải linh hồn. V́ thức là cái đổi thay do sự huân tập của ḿnh tốt hay xấu. Chúng ta tu là tạo nghiệp tốt nên thần thức sẽ dẫn chúng ta thọ sanh chỗ tốt. Như vậy muốn tránh khổ ở ngày mai th́ ngay đời này chúng ta phải tạo nghiệp lành, tránh nghiệp dữ. Nói như vậy quư vị sẽ có thắc mắc. Như người tu Tịnh độ niệm Phật cho tới nhất tâm bất loạn. Hoặc tu thiền đến chỗ định tâm, không c̣n khởi nghĩ tốt xấu, thiện ác, như vậy khi lâm chung đi đâu? C̣n nghĩ là c̣n theo nghiệp. Hết nghĩ th́ hết nghiệp. Không nghĩ thiện, không nghĩ ác; đó là chỗ Lục Tổ được tâm ấn nơi Ngũ Tổ rồi. Tôi xin nhắc lại tích truyện này một chút. Khi được y bát ở Ngũ Tổ rồi, Lục Tổ đi về phương nam. Dọc đường có một đoàn người đuổi theo, trong đó người đi đầu là Thượng tọa Minh ở chùa Huỳnh Mai. Hồi xưa ông là một tướng cưỡi ngựa giỏi nên đuổi theo kịp. Tổ thấy rồi, Ngài để y bát ở trên bàn đá, chun vào bụi cỏ ẩn. Thượng tọa Minh đến nơi, thấy y bát mừng quá vội ôm lên nhưng ôm không nổi. Lúc đó ông biết đây là vật cao siêu, không phải lấy tâm tầm thường mà giành được, nên ông vội quỳ xuống thưa: "Hành giả, hành giả! Tôi đến đây v́ pháp, chứ không phải v́ y bát". Lục Tổ ẩn trong bụi liền đi ra nói: "Nếu như v́ pháp th́ ngươi hăy đứng yên lặng một chút, ta sẽ nói cho". Thượng tọa Minh đứng yên lặng giây lâu, Lục tổ bảo: "Không nghĩ thiện, không nghĩ ác; cái ǵ là bản lai diện mục của Thượng tọa Minh? " Nghe câu này, Thượng tọa Minh liền ngộ đạo. Thiện ác đă dứt th́ hai đường lành dữ cũng dứt. Bấy giờ chân tâm Phật tánh hiện bày, như vậy là giải thoát sanh tử rồi, c̣n thọ sanh ở đâu nữa. Cho nên người mới tu, Phật dạy bỏ nghiệp ác, làm nghiệp lành để sau khi chết, được sanh cơi lành tu tiếp. Nhưng đối với người đă có chủng tử tu thuần thục rồi, Phật dạy phải buông cả hai bên, tâm thanh tịnh trong lặng. Tâm thanh tịnh trong lặng rồi th́ dứt sạch các nghiệp. Đă hết nghiệp th́ đâu c̣n bị nghiệp dẫn đi trong luân hồi sanh tử nữa, mà hỏi đi đâu. Chừng đó tùy duyên, mặc t́nh theo nguyện mà thọ sanh hoặc không thọ sanh. Cho nên người tu thiền th́ phải định, người niệm Phật th́ phải nhất tâm, người tŕ chú th́ phải được tam mật: thân khẩu ư đều mật. V́ mật mới đi tới chỗ tâm thanh tịnh. Tâm thanh tịnh th́ không c̣n nghiệp nữa, không c̣n nghiệp là giải thoát sanh tử. Song có nhiều người lại luyến tiếc. Nếu được sanh trong nhà giàu, đẹp đẽ, nhiều tiền của th́ sướng quá sao không chịu sanh, bỏ đi chi uổng. Hoặc giả được sanh lên cơi trời, muốn ǵ được nấy sướng biết mấy, sao không sanh lên đó. Cho nên chúng ta phải hiểu thật tường tận ư Phật muốn chỉ dạy cho chúng ta. Trong kinh Phật dạy, nếu chưa thể giải thoát sanh tử, chúng ta nên nguyện đời sau trở lại làm người, tiếp tục tu hành, đừng cầu sanh lên cơi trời. Tại sao? Bởi v́ lên cơi trời muốn ǵ được nấy th́ không bao giờ nghĩ đến việc tu. Lại tuổi thọ ở cơi trời quá dài, khi trở lại làm người đă mất một thời gian lâu nên không tu được ǵ. Chỉ ở cơi người khổ vui lẫn lộn nên dễ thức tỉnh, dễ tu. V́ vậy chúng ta dễ tiến trên đường đạo. Ngay trong đời này, những người được sanh ra trong gia đ́nh giàu sang, được nuông chiều đủ thứ hết, cũng đă khó tu rồi, huống ǵ sanh cơi trời. Chúng ta muốn tu là phải ở trong cảnh có khổ có vui. Nhờ cảnh khổ nên ta thức tỉnh mau, mới lo tu hành. Nhờ cảnh vui, tinh thần ta không bị bức bách ép ngặt nên có thể an sống tu hành. Tuy nhiên, trên đường tu chúng ta không chỉ hài ḷng ở chỗ được sanh cơi lành, mà phải đi tới chỗ dứt sạch nghiệp. Chỉ c̣n một tâm thanh tịnh thôi, đó mới là chỗ cứu kính giải thoát sinh tử. Nếu chúng ta c̣n kẹt một chút ham muốn cũng chưa hết ḍng sanh tử. Như vậy đức Phật dạy khác hơn người đời. Người đời cứ ngỡ rằng nơi con người có hai phần vật chất và tinh thần. Vật chất là thân và tinh thần là linh hồn. Linh hồn phải nguyên vẹn từ đời này qua đời khác. Với Phật, Ngài không chấp nhận linh hồn, bởi v́ nó chỉ là một thần thức theo nghiệp dẫn đi, chuyển biến trong sanh tử. Nếu chúng ta chịu nghiền ngẫm thấu đáo lời Phật dạy th́ mới thấy được lẽ thật. Thấy được lẽ thật là mở sáng con mắt trí tuệ. Nếu chúng ta cứ nghe rồi tin, không nghiền ngẫm quán chiếu th́ không có trí tuệ. Không có trí tuệ th́ chúng ta khó đi trên con đường giải thoát đến nơi đến chốn được. Trí tuệ đó không phải từ đâu đến với chúng ta, mà nó nằm sẵn ngay nơi ḿnh. Trong kinh Phật dạy: "Các ngươi nên tự thắp đuốc lên mà đi. Thắp lên với chánh pháp". Nếu chúng ta chưa có trí tuệ thấy đúng như thật, th́ phải nương theo chánh pháp để phát triển trí tuệ của ḿnh. Cũng như cây đuốc của ḿnh chưa cháy, th́ phải mồi với ngọn đuốc đă cháy. Ngọn đuốc đó là chánh pháp. Trí tuệ chúng ta c̣n mù mịt tối tăm, nên phải nhờ ánh sáng trí tuệ của Phật. Mồi với chánh pháp th́ ngọn đuốc trí tuệ của ḿnh mới sáng. Có trí tuệ thấy đúng như thật bản thân ḿnh và tất cả sự vật bên ngoài, chúng ta không c̣n lầm, không c̣n mê. Mê lầm không c̣n th́ khổ đau theo đó hết. Như vậy trí tuệ đưa chúng ta tới chỗ an lành tự tại giải thoát. Đó là chỗ cứu kính mà chúng ta hằng mong mỏi. Hàng xuất gia cũng như tại gia đều phải nắm vững yếu chỉ đó để tu hành, th́ mới thấy giá trị của đạo Phật. Nếu chúng ta hiểu không tới, nhận không rơ th́ việc tu mù mờ, rồi hướng dẫn cho người khác cũng sai lầm, không hết khổ đau được. Cho nên có nhiều người tu càng lâu càng thấy khổ, chứ không được lợi ích ǵ hết. Người biết dùng trí tuệ th́ dụng công ít mà kết quả lại nhiều. Ví dụ nếu dùng con mắt trí tuệ nh́n cái đồng hồ th́ thấy nó không có chủ thể cố định, là giả tạm. Giả sử nó được mạ vàng ḿnh cũng xem nó là giả. Do giả nên không tham luyến. Ngược lại, nếu cứ chấp đồng hồ là thật, lại được tô điểm thêm màu mè nữa th́ thấy nó càng đẹp. Do thấy đẹp nên sanh ḷng tham muốn. Tham muốn nên giữ ǵn sợ mất, theo đó mà bao nhiêu thứ khổ phát sinh. Như vậy tất cả tội lỗi chúng ta gây ra gốc từ mê lầm. Cho nên người học Phật phải giác, phải có trí tuệ. Nếu chưa giác ngộ được như đức Phật th́ ít ra phải có trí tuệ thấy đúng như thật về những lời Phật dạy. Chúng ta thường tán tụng lời Phật là lời vàng lời ngọc. Nếu đă là lời vàng ngọc th́ không thể dối gạt chúng sanh. Vậy tại sao Phật nói tu hết khổ mà chúng ta tu hoài khổ vẫn c̣n khổ? Cho nên nếu không hiểu tường tận, không áp dụng đúng lời Phật dạy, chẳng những chúng ta tự hại ḿnh mà c̣n làm mất giá trị giáo lư của đức Phật nữa. Hàng Phật tử tại gia biết tu th́ chính ḿnh trở thành người đức hạnh trong gia đ́nh, một công dân tốt ngoài xă hội. Đời này, đời sau đều đi theo con đường lành. Hàng xuất gia biết rơ Phật pháp, nh́n sự vật và con người bằng con mắt trí tuệ, th́ cuộc sống của chúng ta mỗi ngày mỗi an lành. Sống một ngày là vui một ngày. Khi sắp lâm chung cũng cười v́ được xả bỏ thân giả tạm, thoát khỏi đăy da nhơ thối này. Vậy tu là đem lại nguồn an lành, hạnh phúc miên viễn cho chúng ta và mọi người. Người biết tu th́ cuộc sống của ḿnh là cuộc sống có ư nghĩa, cuộc sống của người sáng suốt, người thức tỉnh chứ không phải của kẻ mê lầm nữa. Sống trong cuộc đời đau khổ, trong giành giựt hơn thua mà chúng ta vẫn an lành tự tại, đó là giá trị chân thật của đạo đức, của người tu. Tất cả chúng ta đă có phúc duyên đời này và đời trước, nên bây giờ mới gặp nhau trong hội Phật. Nhưng nếu tu mà không đi đúng chánh pháp th́ thật là đáng tiếc. Mong rằng quư vị nghe hiểu rồi khéo ứng dụng tu để xứng đáng là con Phật, là trưởng tử của Như Lai, là người đi trước để nhắc nhở người sau đi đúng đường chư Phật đă dạy. Đó là trách nhiệm và bổn phận của chúng ta vậy. CHO NGƯỜI GIÀ BỆNH Nói chuyện tại Thường Chiếu – 1996
Hôm nay tôi có bài thuyết pháp ngắn về đề tài cho người già bệnh. Lư do có bài pháp này là v́ một Phật tử đến yêu cầu chúng tôi rằng có cha mẹ già bệnh nặng, nên muốn khi cha mẹ lâm chung được tỉnh táo sáng suốt, không bị hôn mê hoảng sợ. V́ t́nh của người Phật tử hiếu thảo nên tôi hứa, đồng thời cũng nghĩ thương người già bệnh trong khi mệt mỏi đau đớn, nên chúng tôi nói bài pháp này. Trước hết nói về cái chết không đáng sợ. Mọi người đều có quan niệm sanh là vui, chết là khổ; sanh là mừng, chết là sợ. V́ vậy ngày sinh nhật gọi là ngày ăn mừng sinh nhật, c̣n ngày chết con cháu cúng giỗ gọi là ngày cúng kỵ, tức ngày sợ sệt. Quư Phật tử hiểu đạo th́ ngày chết là ngày đáng sợ hay không đáng sợ? Thật t́nh cái chết không đáng sợ. Già, bệnh là hai thứ khổ trong bốn thứ khổ Phật nói: sinh, lăo, bệnh, tử. Đă mang hai thứ khổ này vào ḿnh là một gánh nặng đau khổ. Nếu gánh nặng đau khổ được quăng đi th́ nó được nhẹ nhàng. Vậy chết là quăng được gánh nặng của già và bệnh. Lúc đó chúng ta thảnh thơi nhẹ nhàng, có ǵ đâu mà phải sợ. Nên chúng tôi nói chết là không đáng sợ. Điểm thứ hai, như kinh Phật thường nói, có sanh là có tử. Có sanh ra th́ phải có chết, đây là chuyện thường, không ai tránh khỏi. Như đức Phật tu hành rốt cuộc tám mươi tuổi Ngài cũng chết. Các ông tiên mà chúng ta đọc được trong truyện Tàu như Bát tiên v. v… nói trường sinh bất tử, nhưng sự thật tám chín trăm năm rồi cũng mất, cũng chết. Do đó tám ông tiên mà bây giờ t́m một ông cũng không ra. Nên biết dù cho tu đắc đạo như Phật, thân này tới khi hoại cũng phải hoại. Dù luyện được thuốc trường sinh bất tử như thần tiên, thân này đến lúc hoại cũng phải hoại, chớ không bao giờ giữ được măi măi. V́ vậy chết là lẽ thường, là việc chung cho tất cả, không ai tránh khỏi. Cái không tránh khỏi mà ḿnh sợ là chuyện vô ích, nếu không nói đó là chuyện khờ khạo. Chúng ta là người hiểu đạo rồi biết rằng có sanh là phải có tử. Ngày chết là ngày sẽ đến, bất cứ người nào cũng phải nhận. Chết là chuyện thường, đă là thường th́ không sợ. Tôi nhớ Ngài Tuệ Trung Thượng Sĩ khi sắp tịch nằm trên bộ ngựa, nghiêng bên phải nhắm mắt để tịch. Bấy giờ những người hầu thiếp khóc rống lên, Ngài liền ngồi dậy, súc miệng, rửa mặt, rồi nói: "Sanh tử là lẽ thường, sao lại buồn thảm luyến tiếc như thế, làm năo hại chân tánh ta! " Nghe xong, các vị kia mới yên lặng. Ngài nằm nghiêng bên phải mà tịch. Chúng ta thấy rằng đối với Ngài sanh tử là việc thường. Đă là việc thường th́ không có ǵ quan trọng hết. Do đó Ngài tự tại ra đi. C̣n chúng ta cho cái chết là lớn lao đáng sợ, nên tới đó chúng ta kinh hoàng. Kinh hoàng là đau khổ. V́ vậy người Phật tử chân chính lúc nào cũng biết rằng chuyện chết sống không thể tránh được. Không tránh được th́ chúng ta chuẩn bị ngay những cái ǵ cần sau khi chết, đừng để tới đó rồi sợ hăi chỉ là chuyện vô ích thôi. Điểm thứ ba, người Phật tử hiểu đạo khi tu ít nhất cũng giữ năm giới, nhiều hơn th́ Thập thiện. Biết giữ năm giới, biết tu Thập thiện th́ khi chết chúng ta sẽ sanh về đâu? Nếu giữ năm giới trọn vẹn th́ sau khi chết chúng ta sẽ trở lại làm người đầy đủ phước đức. Tức là do giữ giới không sát sanh nên được tuổi thọ; giữ giới không trộm cướp nên được nhiều của cải; giữ giới không tà dâm nên được đẹp đẽ oai nghi; giữ giới không nói dối nên lời nói thanh tao, được mọi người tín nhiệm; giữ giới không uống rượu nên có trí tuệ sáng suốt. Thế nên sinh làm người được đầy đủ phần tốt đẹp của con người, không có ǵ thiếu thốn hết. Như vậy thân này hoại rồi được thân kế tốt đẹp hơn, phước đức hơn, có ǵ mà chúng ta phải sợ. C̣n nếu tu Thập thiện khi bỏ thân này sẽ được sanh lên cơi trời, hưởng phước đức thù thắng nhiều hơn cơi này, tức là đẹp đẽ hơn gấp bao nhiêu phần. Chúng tôi thường nói chết như đổi chiếc xe cũ lấy chiếc xe mới. Chiếc xe cũ xấu hư, chúng ta lấy chiếc xe mới tốt đẹp, hoàn hảo hơn. Cho nên chúng ta hoan hỷ bỏ thân này, v́ biết rằng khi bỏ thân này chúng ta sẽ được thân sau tốt đẹp hơn, có ǵ đâu phải lo buồn. Thật ra chết không đáng sợ, chỉ sợ ḿnh không biết tu. Đó là điều tôi muốn nhắc tất cả quư vị đang ở trong hoàn cảnh bệnh hoạn đau ốm, không thể tin tưởng rằng ḿnh c̣n sống lâu, ráng nhớ mà tu hành. Trong nhà Phật có nói đến cận tử nghiệp. Cận tử nghiệp này rất mạnh, có công năng đưa chúng ta tới chỗ tốt hay chỗ xấu khi chúng ta sắp lâm chung. Trước hết nói cận tử nghiệp của người làm ác. Nếu người khi gần chết khởi tâm ác liền chuyển cả sự tu hành hay công đức trước của ḿnh, liền sanh vào chỗ không tốt. Trong kinh có kể: Một người tu ngoại đạo đạt đến định Phi phi tưởng, nếu người đó chết sẽ được sanh về cơi trời Phi phi tưởng. Nhưng khi gần chết gặp chút nghịch duyên, ông nổi giận, bực tức lên rồi chết. Sau khi chết ông sanh làm con chó sói. Như vậy, từ quả vị cơi trời Phi phi tưởng mà chuyển làm một con vật xấu xa, đủ cho ta thấy cận tử nghiệp nguy hiểm như thế nào. Cận tử nghiệp là nghiệp gần lúc chết. Nếu khởi niệm ác th́ nó sẽ dẫn chúng ta sanh vào cơi ác, cơi dữ. Do đó chúng ta thấy trong cơi người cũng như trong các loài thú, có những người, hoặc những con thú sanh ra một thời gian ngắn liền chết. Chúng ta không hiểu tại sao. Nếu là duyên làm người hoặc làm thú th́ phải ở lâu cho măn kiếp người, kiếp thú, tại sao chỉ một thời gian ngắn th́ đi. Đó là lư do để thấy rằng những người ấy lẽ ra không phải sanh chỗ như thế, nhưng v́ cận tử nghiệp ác mạnh nên phải sanh chỗ đó. Thời gian ngắn sau chết, sanh lại chỗ kháctheo tích lũy nghiệp, tức là nghiệp chứa đựng lâu dài lúc trước của họ. V́ vậy sức mạnh của cận tử nghiệp đưa đẩy người ta sanh vào chỗ không đúng sở nguyện của ḿnh, chỉ v́ cơn nóng giận hoặc khởi những niệm ác lúc sắp lâm chung mà ra như vậy. Đó là tôi nói trường hợp cận tử nghiệp ác. Kế đến là cận tử nghiệp thiện, tức người gần chết khởi niệm lành. Lúc sắp lâm chung khởi niệm lành liền sanh về cơi lành, dù cho tích lũy nghiệp của họ ác, nhưng nhờ khi sắp chết khởi niệm thiện nên chuyển sang sanh cơi lành. Do sức mạnh của cận tử nghiệp làm cho tích lũy nghiệp mờ đi, nhưng không phải mất. Nghĩa là người ấy phải theo cận tử nghiệp một thời gian. Khi nào cận tử nghiệp hết th́ họ mới trở lại tích lũy nghiệp. Nên nhớ nghiệp tích lũy là nghiệp quan trọng mà chúng ta chứa từ thuở nhỏ cho đến lớn trong đời sống. Giả sử chúng ta chứa điều lành, điều tốt đầy đủ, nhưng giờ chót bị cận tử nghiệp ác lôi đi th́ phải trả hết nghiệp cận tử đó rồi mới trở lại với nghiệp tích lũy lành, được quả lành, chứ không phải mất hẳn. Nên lúc sắp lâm chung chúng ta phải dè dặt tối đa, không nên khởi những tâm niệm ác. Trong kinh nói người phạm hai tội trong năm tội ngũ nghịch là ông Đề Bà Đạt Đa, đức Phật thọ kư khi chết ông phải đọa địa ngục. Do đó lúc sắp lâm chung ông hối hận hướng về Phật chắp tay xin sám hối. Sau này đức Phật kể lại cho ngài A Nan nghe rằng ông Đề Bà Đạt Đa tuy bị đọa địa ngục v́ tội ngũ nghịch, nhưng v́ sắp chết ông biết hối hận sám hối với Phật. Nên sau khi hết đọa địa ngục ông được trở lại làm người gặp Phật pháp tu hành, cuối cùng cũng chứng quả thành Phật. Chúng ta thấy rằng cả đời Đề Bà Đạt Đa đă tạo những nghiệp ác nhưng khi sắp lâm chung ông đă có tâm thức tỉnh, hối cải. V́ vậy, sau này khi nghiệp ác hết, ông sanh về cơi lành và được tu hành chớ không mất luôn chủng duyên lành. Nên biết cận tử nghiệp lành có thể giúp người bị khổ lâu dài chuyển thành khổ ngắn, không c̣n lâu dài nữa. Thêm một chuyện nữa. Có một vị tiên ở cơi trời ba mươi ba. Ông biết ḿnh hết phước sắp chết. Do có thiên nhăn, ông biết ḿnh sẽ sanh làm con của một Trưởng giả ở nhân gian và sau kiếp làm con ông Trưởng giả ông sẽ đọa địa ngục. Hoảng sợ quá, ông khóc rống lên, kêu la cầu cứu. Khi đó Trời Đế Thích đến hỏi: - V́ sao ông khóc kêu cứu như vậy? Ông tŕnh bày chỗ thấy của ḿnh. Trời Đế Thích liền khuyên ông nếu muốn được cứu phải quy y Tam Bảo. Ông hỏi: - Quy y Tam Bảo là sao? Trời Đế Thích nói: - Quy y Tam Bảo là quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng. Ông hỏi: - Bây giờ Phật ở đâu? - Hiện giờ Phật đang thuyết pháp ở Vườn Trúc tại xứ Nalanda. Ông than: - Bây giờ tôi sắp chết làm sao đến đó để quy y được. Trời Đế Thích bảo: - Không sao, chỉ cần ông chắp tay hướng về chỗ Phật đang thuyết pháp nói to lên thế này: "Con tên …… xin quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng. Xin Phật cứu con, xin Phật độ con", như vậy ba lần. Nghe vậy ông liền quỳ gối chắp tay hướng về Vườn Trúc Nalanda, nói ba lần: "Con xin quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng. Xin Phật độ con. " Sau khi nói ba lần như vậy rồi, ông liền chết. Quả thực sanh xuống trần gian ông làm con Trưởng giả. Khi con ông Trưởng giả lớn lên, một hôm gặp đức Phật khất thực ngang qua nhà. Thấy Phật, ông liền phát tâm muốn đi tu. Sau đó ông được Phật độ tu hành chứng quả A La Hán. Qua đó, chúng ta thấy chỉ cần cận tử nghiệp hướng về Tam Bảo mà sau này khỏi đọa địa ngục, c̣n được xuất gia và tu hành giải thoát. Như vậy cận tử nghiệp rất là quan trọng. Nếu chúng ta không biết, để cận tử nghiệp chuyển thành ác sẽ đưa tới cơi ác. Nếu chúng ta biết, dù trước kia có làm ác, nhưng nhờ cận tử nghiệp thiện th́ sẽ đưa tới cơi lành. Do đó người Phật tử chân chính phải nhớ, phải biết rơ tầm quan trọng của cận tử nghiệp. Tuy nhiên, nói như vậy không có nghĩa phủ nhận tích lũy nghiệp là nghiệp do chúng ta chứa chấp từ khi mới sanh ra cho tới già. Nếu chúng ta làm điều lành nhiều th́ gọi đó là tích lũy nghiệp thiện; làm điều ác nhiều th́ gọi là tích lũy nghiệp ác. Nếu tích lũy nghiệp thiện, và lúc sắp lâm chung không khởi niệm ác, th́ con đường thiện nhất định sẽ đến với chúng ta. C̣n nếu tích lũy nghiệp thiện nhưng khi sắp lâm chung khởi niệm ác th́ con đường thiện của chúng ta phải bị quanh co, có khi nó dẫn ḿnh tới chỗ dữ. Ngược lại, nếu tích lũy nghiệp ác nhưng sắp lâm chung khởi niệm thiện th́ con đường ác lư đáng chúng ta phải chịu nhưng giờ đây chuyển sang con đường lành. Nên biết cận tử nghiệp rất mạnh, rất đáng sợ. Quư vị nào tuổi đă lớn, hoặc hay bệnh hoạn nên dè dặt tối đa, không nên tạo ảnh hưởng lớn gây cho chúng ta những đau khổ sau này. Đó là tôi nói về sức mạnh của cận tử nghiệp. Tiếp theo, tôi sẽ nói những điều cấm kỵ của người khi sắp lâm chung. Những điều cấm kỵ là những điều không nên làm khi chúng ta biết đạo lư. Một là lúc sắp lâm chung cấm kỵ không nên sân giận. Dù cho có điều ǵ trái ư cũng phải bỏ qua để lo cho cái chết của ḿnh, không nên sân giận làm ǵ. Nếu sân giận th́ chúng ta sẽ đọa vào cơi dữ làm những con vật hung dữ khó thể tránh khỏi. Đó là điều thứ nhất. Thứ hai là phải dứt tâm oán thù. Nếu ôm tâm oán thù th́ khi nhắm mắt chúng ta sẽ theo nghiệp oán thù, đền đền trả trả không có ngày cùng. Nghĩa là ḿnh thù người, sanh ra gặp lại nhau rồi hại nhau, đau khổ chồng chất không biết đến đâu cho hết. V́ vậy chúng ta phải dứt tâm oán thù. Thứ ba là tâm yêu mến con cháu, tiếc của cải, v. v… Đó là mối hiểm họa, nghĩa là v́ yêu tiếc mà đôi khi bị trầm luân hay là trở lại làm những con vật không tốt. Trong sử ba mươi ba vị Tổ có kể về một vị tăng Ấn Độ tôi không nhớ rơ tên. Một hôm Ngài đi khất thực ngang qua nhà ông Trưởng giả. Nhưng ông Trưởng giả đi khỏi. Trong nhà có con chó chạy ra sủa rất to. Ngài nh́n nó và quở: "Ngươi v́ bệnh tiếc của mà trở lại làm chó, đă không biết c̣n sủa om ṣm! " Nghe nói như vậy con chó buồn bỏ ăn. Ông Trưởng giả về, thấy con chó cưng của ḿnh bỏ ăn. Ông liền hỏi lư do và được người nhà kể lại rằng hồi sớm mai có một vị Sa môn đi ngang, nó thấy liền sủa. Rồi không biết ông ấy nói ǵ với nó, từ đó nó buồn, bỏ ăn. Ông hỏi vị Sa môn ấy ở đâu và t́m gặp được Ngài. Với tâm rất sân hận, ông hỏi: - Hồi sáng ông nói ǵ mà con chó của tôi nó buồn đến bỏ ăn? Ngài bảo: - Ông đừng nóng, để tôi nói cho ông nghe. Con chó đó là cha của ông. Ông càng tức hơn, hỏi: - Tại sao con chó đó lại là cha tôi? Ngài nói: - Nếu ông không tin ta, ông hăy về t́m ngay giữa giường nơi cha ông khi xưa ngủ mà bây giờ là chỗ con chó hay nằm đó, ông đào xuống sẽ thấy một ché vàng. V́ khi cha ông chết không kịp trối trăn lại với ông, nên bây giờ tiếc của mới sanh trở lại làm chó để giữ của. Nếu không tin ta, ông hăy về đào lên sẽ thấy! Khi ấy vị Trưởng giả không c̣n lớn tiếng với Tổ nữa, mà trở về đào chỗ Tổ chỉ. Quả nhiên ông thấy có một ché vàng. Ông liền chạy tới xin Tổ cứu cha ông. Tổ khuyên Trưởng giả nên đem của đó bố thí để cha ông hết nghiệp. Trưởng giả nghe lời Tổ dạy liền đem ché vàng bố thí. Sau đó con chó chết. Như vậy, v́ yêu tiếc của nên trở lại làm chó để giữ của. Đó là điều đáng sợ. Nên ở đây tôi nhắc ba điều cấm kỵ trước khi lâm chung, Phật tử phải nhớ đừng bao giờ để xảy ra. Tôi lặp lại, điều thứ nhất là tâm sân giận; điều thứ hai là tâm oán thù; và điều thứ ba là tâm yêu tiếc, tức yêu con tiếc của. Nhớ, đừng có ba tâm đó mới khỏi đọa vào con đường khổ. Có ba tâm đó là nguy hiểm. Nếu khi sắp lâm chung mà khởi tâm thiện th́ sẽ được điều lành, điều tốt. Tâm thiện là tâm ǵ? Điều thứ nhất, khi sắp lâm chung phát tâm bố thí, giúp đỡ người nghèo kẻ bệnh. Ḿnh có phương tiện tới đâu phát tâm tới đó. Điều thứ hai đối với người quy y rồi th́ phát tâm cúng dường Tam Bảo; c̣n chưa quy y th́ phát tâm quy y Tam Bảo để tâm thiện tăng trưởng. Làm như vậy là đă hướng về điều thiện và sẽ đi theo con đường thiện. Ba là phát tâm phóng sanh, nghĩa là cứu những con vật bị người ta bắt và sẽ bị giết. Ḿnh cứu nó bằng cách mua lại đem thả, hoặc t́m cách nào cứu cho con vật không bị chết. Đó là phát tâm phóng sanh. Bố thí, cúng dường, phát tâm phóng sanh là tâm lành. Nhờ phát tâm lành, tự nhiên lần lần chúng ta sẽ đi theo con đường lành. Đó là những điều tâm nên khởi khi sắp lâm chung. Người Phật tử biết tu, khi sắp lâm chung, cần biết ứng dụng pháp Phật dạy, ǵn giữ tâm ḿnh luôn luôn đi đúng đường, không bị lệch lạc. Đối với người tu Tịnh độ, lâu nay chuyên niệm Phật, khi bệnh nhiều phải ráng nhớ niệm Phật, không quên. Lúc nào tâm ḿnh cũng hướng về Phật không lơi lỏng, không nghĩ tới con, không nghĩ tới cháu, cũng không nghĩ tới tài sản ǵ hết. Được như vậy th́ nhất định sẽ đi theo Phật không nghi ngờ. Đó là điều thứ nhất. Thứ hai, đối với người không chuyên niệm Phật mà thường hay xem kinh sách th́ phải nhớ một bài kệ. Chẳng hạn, nếu quư vị thường tụng kinh Kim Cang, th́ phải nhớ một bài kệ, tức là nhớ tới Pháp giống như nhớ tới Phật, niệm Phật vậy. Chúng ta nghiên cứu kinh điển, học pháp của Phật th́ phải nhớ pháp, như tụng bài kệ sau đây trong kinh Kim Cang: Nhất thiết hữu vi pháp Như mộng huyễn bào ảnh Như lộ diệc như điện Ưng tác như thị quán. Nghĩa là tất cả pháp hữu vi như mộng, như huyễn, như bọt, như bóng, như sương mai, như điện chớp, phải luôn quán như thế. Chúng ta tụng măi bài kệ này th́ tâm chúng ta được trong sáng, không kinh hoàng khi sắp lâm chung. Đó là trường hợp thứ hai. Trường hợp thứ ba, nếu người biết tu thiền, tâm được yên tĩnh phần nào th́ nhớ lúc sắp lâm chung, ḿnh hằng sống với tâm thanh tịnh, đừng chạy theo tâm vọng tưởng điên đảo. Nghĩa là nhớ ngay trong thân người bại hoại này có cái không bại hoại. Nhờ vậy chúng ta không kinh hoàng, không sợ sệt mà hằng sống với tâm bất sinh bất diệt của ḿnh. Thân này chẳng qua là tướng hư ảo, có đó rồi mất đó, chớ không bền. Chỉ cái thể chân thật của ḿnh là thanh tịnh, không sanh, không diệt muôn đời. Đó là chúng ta biết tu. Trong ba trường hợp tôi kể ở trên, người tu niệm Phật th́ chuyên niệm Phật, không nhớ chuyện đời. Người chuyên nghiên cứu Pháp th́ nhớ một bài kệ. Người tu Thiền th́ nhớ ngay nơi ḿnh có cái chẳng sanh diệt, hằng thanh tịnh, không có ǵ đáng sợ, không có ǵ đáng lo. Người biết tu nhớ được những điều này th́ không bị mê muội, không có ǵ sợ hăi, ra đi êm ái nhẹ nhàng. Đó là những điều tôi nhắc cho quư vị khi sắp lâm chung. Bây giờ tôi nói tới hậu sự, tức là việc sau khi ḿnh chết. Nhiều vị nghĩ rằng khi ḿnh chết phải trối trăn lại với con cháu làm thế này, làm thế kia cho ḿnh. Điều đó dư. Tại sao? Bởi v́ thân này do tứ đại ḥa hợp mà thành, chúng ta sống cũng mượn tứ đại mà sống: uống nước giúp cho thủy đại, ăn giúp cho địa đại, thở giúp cho phong đại, v. v… Như vậy bốn đại đó nhờ vay mượn bên ngoài mới tồn tại. Đến khi chết là không vay mượn nữa th́ trả về cho tứ đại. Tứ đại trả về tứ đại th́ chỗ nào cũng là tứ đại hết. Tại xứ người, tứ đại cũng là tứ đại; ở quê hương ḿnh th́ tứ đại cũng là tứ đại. Đừng nghĩ bỏ thân ở xứ người là thiệt tḥi. Thiệt tḥi nhất là cái tâm, tinh thần của ḿnh ra đi mà không sáng suốt, đó mới thật thiệt tḥi. C̣n thân tứ đại này bỏ ở đâu cũng được hết. Người ta hay nói thân này là thân cát bụi cho nên khi chết trả về cho cát bụi, chứ không phải trả về xứ ḿnh, thành vàng thành ngọc ǵ, cho nên đừng quan trọng nó. Thân này để cho con cháu giải quyết bằng cách nào thuận lợi nhất th́ tốt, ḿnh khỏi cần dặn ḍ ǵ hết, khỏi cần bắt buộc ǵ hết. Dặn ḍ bắt buộc nhiều khi làm cho con cháu càng thêm lúng túng. Thí dụ nơi đó không có ḷ thiêu mà bảo phải thiêu, trong khi có đất chôn mà không chịu chôn. Hay ngược lại, chỗ đó không có đất chôn mà có ḷ thiêu, ḿnh lại không chịu, nói thiêu nóng lắm, phải t́m đất chôn. Như vậy con cháu lo sợ không biết t́m đất đâu mà chôn, càng làm cực khổ cho người sống chớ không có ích lợi ǵ. Đă là thân tứ đại hoại rồi th́ c̣n biết ǵ nữa mà sợ nóng, c̣n biết ǵ nữa mà đ̣i đem về quê hương. Biết chăng là cái tinh thần, cái tâm của ḿnh. Do đó quư vị đừng có lầm lẫn thân này phải trở về quê ḿnh mới tốt. Nghĩ như vậy là sai lầm. Chính cái tâm của chúng ta, tâm sáng th́ đi tới chỗ tốt, điều đó mới quan trọng. Đó là những lời nhắc nhở để quư vị biết sau khi chúng ta có trăm tuổi, không làm phiền hà cho con cháu. Tôi chỉ nói một phần ngắn cho quư vị biết khi đau, bệnh và già sắp lâm chung. Theo đó, quư vị có hướng chọn lựa, đừng bị tâm phàm tục làm cho ḿnh đau khổ ngay hiện tại và kéo dài sau khi lâm chung. Đó là những điều thiết yếu. Mong rằng tất cả quí Phật tử nghe rồi, khéo ứng dụng để tự cứu ḿnh, đó cũng là lời Phật dạy cho chúng ta thoát khổ. ĐỨC PHẬT LÀ BẬC VÔ THƯỢNG Y VƯƠNG Chùa Bửu Quang - Cao Lănh - 2000.
Nhớ lại năm 1964 tôi đă có về Đồng Tháp giảng mấy lần, đến nay ba mươi sáu năm, tôi mới trở lại thăm Tăng Ni và quư Phật tử. Cho nên gặp lại người cũ th́ ít mà người mới th́ nhiều. Vậy tôi xin có lời thăm tất cả quư vị. Đề tài chúng tôi giảng hôm nay: Đức Phật là bậc Vô Thượng Y Vương. Vô Thượng Y Vương là sao? Nghĩa là Phật là vua thầy thuốc, không ai hơn. Hồi xưa lúc làm tăng ở Phật học đường Ấn Quang, nghe từ này tôi hơi ngại, không biết người sau có quá tôn trọng chăng? Vô Thượng Y Vương là vua thầy thuốc không ai hơn, nhưng Phật có hốt thuốc lần nào đâu mà gọi là vua thầy thuốc. Sau này khi được học và tu rồi, tôi mới thấy lời tán thán đó chân thật, chớ không phải lời tán thán suông. Tại sao? Bởi thầy thuốc cứu chữa cho người, nếu là bệnh thập tử nhất sanh mà chữa được lành, th́ gọi là thầy thuốc giỏi. Như vậy thầy thuốc giỏi có thể cứu được bệnh nhân sắp chết sống trở lại. Nhưng sống thêm dài lắm chừng mười năm, hai mươi năm thôi. Như vậy mà người ta đă tán thán vị đó rồi. C̣n đức Phật cứu sống chúng sanh được bao nhiêu? Chúng ta tu Phật, ai cũng biết ḿnh đang mang chiếc thân vô thường, tạm bợ. Nhưng nếu biết nương nó, khéo tu th́ chúng ta sẽ đi đến chỗ giải thoát sanh tử. Mà giải thoát sanh tử th́ sống chừng bao lâu? Sống măi không có ngày cùng, sống hoài không chết. Như vậy Phật pháp là những phương thuốc trị tâm bệnh. Khi lành rồi, chúng ta không c̣n bị vô thường chi phối, v́ vậy sống măi không cùng tận. Bậc đem phương thuốc đó chỉ dạy cho người, không phải vua thầy thuốc th́ là ǵ? Gọi vua thầy thuốc được rồi, tại sao nói không ai hơn? Không ai hơn nghĩa là có người bằng. Tại sao có người bằng? V́ nếu chúng sanh chịu khó tu hành đến khi công đức viên măn th́ sẽ thành Phật. Như vậy Phật là Phật đă thành, chúng ta là Phật sẽ thành. Khi thành Phật rồi th́ có thua Phật bậc nào đâu. Nếu thành Phật th́ Phật hồi xưa đến đâu chúng ta đến đó, ngang bằng Phật mới gọi là Phật, nếu thấp hơn Phật th́ không gọi là Phật được. Như vậy để hiểu rằng chúng ta tu theo Phật là cốt thành Phật, mà cốt thành Phật th́ sau này sẽ bằng Phật. Đó là ư nghĩa của Vô Thượng Y Vương. Hiểu rơ được ư nghĩa đó, chúng ta biết có quả vị ngang bằng Phật, chớ không có người hơn Phật nên gọi Vô thượng. V́ đến đó là giác ngộ viên măn rồi. Đức Phật là bậc Vô Thượng Y Vương nên Ngài dạy chúng ta trị bệnh để hết sinh tử khổ đau. Vậy bệnh đó là bệnh ǵ? Ở đây, tôi sẽ lần lượt nêu ra. Như trong kinh thường nói, chúng sanh có bệnh ǵ th́ Phật có pháp ấy để đối trị. Nên từ chữ Hán gọi "Tùy bệnh dữ dược", nghĩa là theo bệnh cho thuốc. Người ta bị bệnh ǵ th́ ḿnh cho thuốc ấy để trị lành bệnh. Thầy thuốc ở thế gian khi chẩn mạch biết bệnh rồi th́ phải t́m, phải chọn thuốc đúng với bệnh đó. Trị đúng th́ bệnh mới lành. Ở đây Phật cũng xét kỹ chúng sanh có bệnh ǵ, Phật cho thuốc ấy. Nhưng bệnh của chúng sanh là tâm bệnh. Thầy thuốc thế gian th́ trị thân bệnh, c̣n Phật th́ trị tâm bệnh. Trong kinh Phật thường nói chúng sanh có tám muôn bốn ngàn phiền năo th́ Phật có tám mươi bốn ngàn pháp môn. Hiện giờ trong chúng ta có ai không bệnh không? Tâm chúng ta hoàn toàn tốt, hoàn toàn tỉnh giác hay vẫn đầy đủ tham, sân, si. Như vậy mỗi khi chúng ta sanh một niệm xấu, một niệm ác, là đă có một bệnh. Có bệnh th́ phải lấy thuốc Phật uống vô cho lành bệnh. Quư Phật tử tu theo Phật phải biết thuốc ǵ để trị bệnh ḿnh? Có nhiều vị tu cũng đă lâu mà hỏi dùng thuốc ǵ trị bệnh th́ lắc đầu không biết. Chỉ tụng kinh niệm Phật vậy thôi. Đó là v́ chưa hiểu chính xác đường lối tu của Phật dạy. Tu theo Phật năm mười năm mà phiền năo vẫn c̣n nguyên, bệnh nào tật nấy không thay đổi. Rồi nói thuốc của Phật không có giá trị, không hết bệnh. Thế là bỏ thuốc luôn. Như vậy Phật tử mới thấy rằng, chúng ta tu mà chưa nắm vững được đường lối, th́ không biết ḿnh tu cái ǵ, không biết ḿnh bị bệnh ǵ, không biết dùng thuốc ǵ để trị… lỗi tại không rành, không hiểu. Đó là một yếu điểm mà chúng ta cần phải biết. Nói pháp Phật là thuốc trị bệnh mà người ta hỏi trị bệnh ǵ và dùng pháp ǵ để trị th́ không biết, như vậy làm sao hết bệnh được. Thường thường chúng ta có bệnh về thân, th́ bác sĩ chẩn mạch xong cho thuốc trị. Nếu cho thuốc mà chúng ta không uống th́ có lành không? Chắc chắn là không rồi. Vậy mà vẫn có người đến xin bác sĩ cho tôi khỏi bệnh, chớ không cần chẩn mạch. Quư vị nghĩ người đó có thể trị lành bệnh không? Bởi v́ bác sĩ chẩn bệnh cho thuốc để trị bệnh mà bệnh nhân chỉ cầu xin bác sĩ cho hết bệnh, chớ không cần cho thuốc, không chịu uống thuốc th́ bệnh làm sao lành được. Phật tử chúng ta cũng giống như những bệnh nhân đó vậy. Phật dạy tu, nghĩa là ḿnh có bệnh ǵ th́ dùng pháp đó để trị. Thế nhưng Phật tử chỉ chấp tay cầu Phật gia hộ cho con được b́nh yên, Phật gia hộ cho con mạnh khỏe, chớ không chịu tu. Nghĩa là không chịu uống thuốc, không chịu trị bệnh mà xin Phật cho mạnh khỏe, b́nh yên thôi. Phật đă từng tuyên bố rằng: "Ta không có quyền ban phước giáng họa cho ai". Nếu Phật ban phước giáng họa được th́ Phật không dạy chúng ta tu nhân quả. Tạo nhân lành th́ hưởng quả lành, tạo nhân ác th́ hưởng quả ác. Chúng ta tạo chúng ta hưởng, Phật không có can thiệp chút nào hết. Phật chỉ dạy chúng ta biết đường lối tu để dẹp phiền năo, hết khổ đau. Nhưng chúng ta không chịu tu, cứ xin Phật cho hết phiền năo, hết khổ đau th́ xin chừng nào mới được? Thêm một hạng người nữa, như bác sĩ chẩn mạch cho toa xong, bảo mua thuốc đó uống sẽ lành bệnh. Nhưng người ấy đem toa về nhà đọc hoài, đọc thuộc ḷng mà không chịu mua thuốc uống. Người này có hết bệnh không? Phật tử có giống như vậy không? Chắc cũng như vậy. Phật dạy những bài pháp cho ḿnh tu, nhưng chúng ta cứ lấy kinh ra đọc tới, đọc lui cho Phật nghe, như vậy là tu rồi đó. Đêm nào cũng đem đọc cho Phật nghe, mà bệnh vẫn c̣n nguyên. Mới thấy chúng ta từ lầm lẫn này sang lầm lẫn khác, nên tu không có kết quả. Chúng ta phải tu cách nào cho đúng lời Phật dạy? Đó là điều mà tôi nói ở đây. Phật là vua thầy thuốc, có những toa thuốc hay trị tất cả bệnh của chúng sanh. Chúng ta bệnh phải dùng những toa thuốc đó th́ bệnh mới lành. Muốn lành bệnh chúng ta phải chịu uống thuốc, chớ không thể đọc toa thuốc, hoặc chấp tay xin thầy thuốc cho lành bệnh. Đó là hai điểm tôi nhắc cho quư vị nhớ rơ. Quư vị có biết ḿnh bao nhiêu bệnh, đă lành hết chưa? Về thân th́ nay yếu mai đau, về tâm th́ sao vẫn cứ phiền năo hoài. Chừng nào ở trong chúng, trong gia đ́nh mà cả tháng chúng ta cứ cười vui, không buồn không giận ai hết, không một chút than thở ǵ, đó mới là ít bệnh. Nếu lại có người chỉ mang một ít bệnh, nhưng những bệnh đó là bệnh quan trọng th́ thế nào? Trong kinh Phật có kể lại: Một hôm Phật hỏi các vị Tỳ-kheo: - Nếu các ông nhốt ba con rắn độc chung một nhà th́ thế nào? Các thầy Tỳ-kheo bạch rằng: - Chúng con ngủ không yên. Phật hỏi: - Làm thế nào các ông ngủ mới yên? Các thầy Tỳ-kheo bạch rằng: - Chúng con phải đuổi mấy con rắn độc ra khỏi nhà th́ ngủ mới yên. Phật nói: - Cũng vậy, nếu các ông c̣n tham sân si trong tâm th́ các ông ngủ không yên. V́ tham sân si c̣n hại hơn rắn độc nữa. Rắn độc cắn chỉ chết một thân này, tham sân si tạo nghiệp chịu khổ không biết khi nào mới hết. Như vậy hiện giờ nội tâm của chúng ta đă hết tham sân si chưa hay c̣n đủ? Nếu c̣n đủ chúng ta có yên ḷng ngủ không? Nó độc hơn rắn độc mà chứa nó, th́ làm sao chúng ta yên được? Vậy mà Phật tử không biết đuổi rắn độc ra, lại đi xin Phật cho con b́nh yên. Thử hỏi làm sao b́nh yên được? Chúng ta tu là mong hết khổ, để đi tới an lạc giải thoát. Nếu c̣n tham sân si là c̣n đau khổ. Cho nên dù tu năm mười năm, mà tham sân si không hết th́ việc tu đó vô hiệu rồi. Hiện nay, chẳng những người tại gia cư sĩ mà cả hàng xuất gia, có ai hết tham sân si chưa? Chưa ai hết. Như vậy th́ chúng ta chưa có b́nh an, phải không? Bởi v́ trong nhà c̣n rắn độc th́ làm sao b́nh an được. Đó là một lẽ thật. Thế nên, muốn được b́nh an phải đuổi ba con rắn độc ấy đi. Phật dạy phương pháp đuổi nó, chúng ta phải khéo nghe và khéo tu th́ sẽ đuổi được bọn chúng ra khỏi nhà. Trước tiên, tôi nói về con rắn tham. Muốn đuổi rắn tham ra khỏi nhà th́ phải dùng thuốc ǵ? Trước khi nói cách đuổi, tôi giải thích rơ tham có nhiều loại. Thông thường có năm thứ: tham tài, tham sắc, tham danh, tham thực, tham thùy. Đó là năm thứ tham. Năm thứ tham này phải trị bằng thuốc ǵ? 1- Người tham tiền của nhiều th́ dùng thuốc bố thí để trị. Tại sao bố thí lại trị được bệnh tham tiền của? Bởi v́ tham nên được ít muốn nhiều, được nhiều muốn nhiều hơn nữa. Như gia đ́nh ḿnh mỗi tháng có một triệu bạc th́ sống thoải mái, nếu tháng đó có được triệu rưỡi th́ sao? Dư năm trăm phải không? Người tham khi dư năm trăm, liền muốn kiếm thêm năm trăm nữa cho được hai triệu. Do đó để trị bệnh tham, Phật dạy phải bố thí. Khi dư năm trăm, chúng ta xem ai nghèo thiếu, ai khổ hơn ḿnh th́ giúp cho họ. Bố thí như vậy vừa được việc lợi ích cho người, vừa hết ḷng tham cho ḿnh. Có dư liền cho th́ đâu c̣n tham, dư mà tích lũy hoài th́ đó là tham. Nên trong kinh Phật thường dạy, ḷng tham như túi không đáy, bỏ bao nhiêu nó cũng tuột hết, không biết tới đâu là đầy, tới đâu là đủ. V́ vậy chúng ta có dư nên giúp người nghèo thiếu, đó là biết trị bệnh tham tài. 2- Tham sắc dùng thuốc ǵ để trị? Nếu người tham sắc phải dùng thuốc quán bất tịnh để trị. Quán bất tịnh có hai cách: Một là quán nơi thân ḿnh có ba mươi sáu vật nhơ nhớp. Hai là quán thân người chết, từ khi mới tắt thở lần lần tới śnh thối v.v... quán như vậy sẽ hết tham sắc. Tại sao? V́ thấy thân này nhơ nhớp, bẩn thỉu đáng gớm th́ thân người khác cũng nhơ nhớp, bẩn thỉu như thế, có ǵ để yêu thích. Nói tóm lại thân ḿnh, thân người chỉ là một cái bô đậy kỹ vậy thôi. Quư vị nghĩ trong nhà có một cái bô đă khó chịu rồi, huống là thêm hai, ba cái nữa th́ đáng gớm không? Khi đức Phật gần thành đạo dưới cội Bồ-đề, Ma vương đến phá Ngài bằng cách hiện h́nh những thiếu nữ kiều diễm ca múa, để Ngài nhớ trở về hoàng cung. Ngài liền quở: "Đi, các ngươi là đăy da hôi thúi. Ta không có dùng". Chúng hổ thẹn rút lui hết. Sau đó, chúng hiện ra một đám đầu trâu mặt ngựa hung dữ, cầm gươm giáo bao vây muốn khiến cho Ngài run sợ. Nhưng đức Phật chỉ an ở trong chánh định, không thèm nghĩ, không thèm thấy nó. Lát sau, bọn chúng cũng bỏ đi. Nên trong kinh nói rằng, đức Phật dùng cung Thiền định, kiếm trí tuệ mà dẹp tan ma quân. Chúng ta tu là dùng thiền định, trí tuệ để dẹp sạch ma quân. Nhưng bây giờ có nhiều người ngồi Thiền hoặc niệm Phật bắt ấn, đọc chú hoặc vẽ bùa để trấn ma. Đó là đă đi lệch hướng rồi. Chúng ta phải dùng Thiền định, dùng trí tuệ để dẹp ma chớ không phải dùng bùa, dùng chú. Bùa chú như vậy là lạc vào ngoại đạo rồi. Quư vị nhớ phải thật kỹ. Nói thân này nhơ nhớp, có người không bằng ḷng, v́ họ cho rằng ḿnh vệ sinh sạch sẽ th́ làm sao nhơ nhớp được? Tôi nói một thí dụ rất đơn giản để minh chứng điều này. Nếu thân này sạch th́ nó luôn toát ra mùi thơm như hoa sen rồi, chúng ta đâu cần phải dùng xà bông thơm. Nhưng v́ nó hôi quá nên phải dùng xà bông thơm, dùng nước hoa cho bớt hôi. V́ biết ḿnh nhơ nhưng muốn giấu, không cho người ta biết nên dùng cái này cái kia để khỏa lấp đi. Đó là chúng ta chưa thấy lẽ thật. Thêm một điều nữa, biết rơ thân ḿnh nhớp nhúa, nhưng nghe ai nói: "Chị này hôi quá" th́ buồn liền. Sự thật ḿnh nhớp nhưng nghe người ta chê lại buồn. Như vậy rơ ràng chúng ta không dám nh́n nhận sự thật. Chúng ta chỉ tưởng tượng chứ không thấy đúng lẽ thật. Người biết tu rồi phải nh́n thấu đáo sự thật. Thân này nhớp nhúa, chúng ta nhận là nhớp nhúa nên nghe ai chê, ḿnh chấp nhận đúng như vậy. Chúng ta kiểm lại từ đầu đến chân có cái ǵ không nhớp đâu. Như quư nhất là con mắt, nhưng khi ghèn cháo đổ ra có gớm không? Rồi đến lỗ mũi, nước mũi chảy ra có gớm không? Kế là miệng, miệng khi khạc nhổ ra rồi, có can đảm liếm lại không? Như vậy tất cả từ đầu đến chân toàn là nhơ nhớp, mà chúng ta cứ tưởng nó sạch. Tưởng tượng th́ không phải lẽ thật. Đó là cái thấy sai lầm, không có trí tuệ. Chúng ta biết rơ thân này nhớp nhúa, mà đă nhớp nhúa th́ tại sao lại mê đuổi theo nó? Đó là điểm thứ nhất. Thứ hai, nếu người bệnh tham ái trầm trọng, thấy ai cũng dễ thương hết, th́ Phật dạy quán thây chết. Từ lúc mới tắt thở cho đến một giờ, hai giờ, tới bầm xanh rồi śnh lên v.v... Bây giờ nói gần nhất như người thân của ḿnh, hoặc anh em cha mẹ, khi tắt thở chừng vài chục tiếng đồng hồ, ḿnh dám lại gần không? Đó, lúc sống là cha, là mẹ, là anh, là em mà chết liền thành thây ma, gớm sợ đủ thứ hết. Như vậy mới thấy rằng thân đó không thậät quư. Nếu thật quư th́ chúng ta đâu có sợ. Phật bảo ai bệnh nặng về sắc, th́ phải luôn luôn quán thân là nhớp nhúa. Từ tóc, lông, răng, móng, da, thịt, gân, xương, ba mươi sáu vật xét cho thật kỹ, vật nào cũng nhớp hết. Quán như vậy mà không hết bệnh th́ phải quán thây chết. Đó là cách trị bệnh tham sắc. Lâu nay quư vị có trị bệnh đó chưa? Tu mà không chịu trị bệnh, nên bệnh c̣n hoài. Rồi than sao tôi tu lâu quá mà những thói xấu không chịu hết. V́ có chịu quán đâu, không chịu uống thuốc mà cứ đọc toa thuốc của Phật suốt ngày th́ làm sao hết bệnh được. Đó là bệnh thứ hai. 3- Bệnh tham danh. Tham danh tức là muốn được chức phận cao, muốn được người ta khen ngợi v.v... Phật dạy bệnh tham danh lấy thuốc vô thường để trị. Giả sử người ra ứng cử Tổng thống được đắc cử, người đó hưởng địa vị ấy bao lâu? Bốn năm, tám năm rồi cũng hết. Sau đó cũng thành thường dân trở lại, đâu có bền, đâu có lâu dài mà phải chịu bao nhiêu thứ khổ sở. Đó là dùng thuốc vô thường để trị bệnh tham danh. Song muốn uống cho hết gốc th́ phải thêm thang thuốc quán "khổ" nữa. Bởi v́ người cầu danh trước khi được cũng khổ, sau khi được cũng khổ. Như trước khi được làm Tổng thống phải vận động, chạy ngược chạy xuôi cầu mong người ta bỏ phiếu cho ḿnh, vận động là khổ rồi. Đến khi đắc cử Tổng thống có vui không? Phải lo đủ thứ việc, rồi lại sợ người ta đoạt mất ghế nữa. Đó, được và ǵn giữ cho đừng mất cũng khổ. Đến khi lỡ rớt xuống có khổ không? Khổ. Như vậy quán ba thời đều là khổ: trước khổ, giữa khổ, sau cũng khổ. Một cái vô thường mà muốn được, phải khổ như vậy th́ muốn làm ǵ? Muốn được khen ngợi làm ǵ, muốn chức tước cao làm ǵ? Nhờ quán như thế, tự nhiên ḿnh hết tham danh vọng chức tước cao. Đó là phương thuốc trị bệnh tham danh. 4- Bệnh tham ăn. Bệnh tham ăn này ai cũng có hết. Ăn th́ muốn ăn thật ngon, cho vừa với cái lưỡi tham vị ngon. Bệnh tham ăn này phải dùng thuốc ǵ để trị? Phải dùng hai thứ thuốc trị mới lành. Thuốc thứ nhất là quán thức ăn nhơ nhớp, không sạch. Khi c̣n ở trên mâm, nó thơm tho hấp dẫn, nhưng nhai nuốt rồi nó mất. Sau khi mất, tới hồi trả ra rất ghê gớm. Như vậy nó có thậät ngon không? Nếu thật ngon th́ trước sau đều ngon. Khi đem vô ngon, lúc trả ra cũng phải ngon. Nhưng đằng này đem vô th́ ưa, mà đem ra th́ gớm. Như vậy đâu phải thậät ngon. Đó là nói tiêu hóa được, c̣n như không tiêu hóa, ăn vô khỏi cổ mà bao tử không chịu chứa, bắt ụa ra th́ có gớm không? Như vậy ngon chỗ nào? Chúng ta xét thức ăn nhơ nhớp không có ǵ quan trọng, ăn để sống chớ không phải ăn để t́m vị ngon. Mà không t́m vị ngon th́ bớt tham ăn. Thuốc thứ hai, chúng ta xét thức ăn ngon chỉ có mấy phút ở lưỡi thôi, khi nuốt vô rồi liền hết ngon. Cái ngon đó là cảm giác tạm bợ, vô thường, không lâu bền. V́ vô thường nên không quan trọng. Lại thêm nữa, nếu người có tiền của dư dả, muốn ăn ǵ đều được nấy. Ăn đủ thức ăn ngon sẽ dẫn đến kết quả mập ph́, bị bệnh cao huyết áp, bệnh tiểu đường, bệnh tim mạch, đủ thứ bệnh v. v… Như vậy ăn càng ngon th́ càng khổ, càng bệnh chớ có lợi ǵ đâu. Tóm lại, cái mà chúng ta nói ngon đó không phải là lẽ thực, không phải là kế lâu dài, chỉ là tạm bợ. Nếu chúng ta lệ thuộc nó th́ phải khổ thôi. Quán cái ngon là vô thường, là nhơ nhớp th́ lần lần hết tham muốn ăn ngon. Như vậy dùng thuốc quán vô thường, quán bất tịnh để trị bệnh tham ăn. 5- Bệnh tham ngủ. Bệnh này trong chùa dễ mắc lắm. V́ phải thức khuya dậy sớm, nên người nào tham ngủ nhiều sẽ khó thức lắm. Hồi tôi c̣n ở trường, có mấy huynh đệ thường dặn: "Khuya nhớ kêu tôi dậy đi công phu nghe". Tới khuya đánh kẻng tôi kêu, lắc qua lắc lại một hồi, huynh ấy nói đau đầu quá, rồi ngủ ót không thèm dậy công phu luôn. Đó là bệnh tham ngủ. Bởi tham ngủ nên mất hết th́ giờ tu hành của ḿnh. Làm sao để trị bệnh tham ngủ? Muốn trị bệnh này, cũng có hai thứ thuốc. Một là thuốc vô thường. Hồi xưa, mỗi khi tụng kinh thường nghe câu: "Thị nhựt dĩ quá, mạng diệc tùy giảm, như thiểu thủy ngư... " nghĩa là ngày nay đă qua, mạng cũng theo đó mà giảm, như cá cạn nước… Như vậy cuộc sống thật ngắn ngủi, thật tạm bợ mà ḿnh cứ lo ngủ, tức là giết hết th́ giờ quư báu rồi. Cho nên phải siêng năng thức dậy tu. Hai là lấy roi tinh tấn để đánh ma ngủ. Nghe tiếng kẻng, chưa chịu dậy th́ phải rầy cho nó trỗi dậy liền. Tu hành mà lười biếng là cái nhân đọa vào đường ác. Nên phải mạnh mẽ, phải tinh tấn, nhắc như vậy cho ḿnh cố gắng lên. Đó là dùng thuốc tinh tấn và thuốc quán vô thường để trị bệnh lười biếng. Nhờ thế ma ngủ lui mất. Tóm lại, để trị năm thứ bệnh tham đó, chúng ta phải biết và dùng các toa thuốc như sau: - Tham tài dùng thuốc bố thí. - Tham sắc dùng thuốc quán bất tịnh. - Tham danh dùng thuốc quán vô thường và quán khổ. - Tham ăn dùng thuốc quán bất tịnh và quán vô thường. - Tham ngủ dùng thuốc quán vô thường và roi tinh tấn. Trong năm thứ tham này không ai giống ai, kẻ tham thứ này, người tham thứ kia, không giống nhau. Cho nên mỗi thứ đều có thuốc để trị. Như vậy là trị được bệnh tham. Trị được bệnh tham là đuổi con rắn tham ra rồi. Đến con rắn sân. Người bị bệnh sân lấy thuốc ǵ để trị? Phật dạy dùng hai thứ thuốc để trị. Một là nhẫn nhục, hai là từ bi. Khi người ta nói trái ư hoặc làm thương tổn đến danh dự của ḿnh, lúc cơn giận bừng bừng nổi lên. Chúng ta liền dùng thuốc nhẫn nhục. Nhẫn làm sao, uống bằng cách nào? Khi nóng giận phừng phừng nổi lên th́ nó sẽ phát ra lời nói, phát ra hành động. V́ vậy lửa sân vừa dấy lên th́ chúng ta liền phải trị bằng thang thuốc nhẫn nhục. Song nhẫn bằng cách nào, làm sao nhẫn? Nói nhịn là được, nhưng sự thực nói nhịn không th́ chưa đủ sức để nhịn. Chúng ta phải nói rơ rằng: "Nhịn là khôn, nói là dại", nhắc tới nhắc lui câu đó chừng chục lần th́ hết giận. Bởi khi giận nói ra liền nói bậy. Có khi nào ḿnh nổi nóng mà nói đàng hoàng đâu. Nổi nóng th́ toàn là nói bậy, nói lời không hay, nói lời thô tục v.v... V́ vậy mà phải tự nhắc "nhịn là khôn, nói là dại". Chúng ta muốn khôn, không muốn dại th́ nhịn, làm thinh bỏ qua. Nhưng bỏ qua một lát th́ dễ, đến chừng nhớ lại cũng nổi nóng nữa. Bây giờ phải làm sao trị cho dứt tận gốc mới được? Nên phải dùng thuốc quán từ bi để trừ căn. Quán từ bi là quán thế nào? Như khi ta nổi giận lên, lúc đó thấy người làm cho ḿnh giận dễ thương hay dễ ghét? Rất dễ ghét, chẳng những ghét mà c̣n muốn chửi, muốn đánh họ cho đă giận. Nên phải dùng thuốc quán từ bi. Nhưng quán từ bi bằng cách nào? Họ chửi ḿnh làm sao quán từ bi được? Tôi sẽ chỉ cho quư vị cách quán từ bi không khó. Ví dụ chúng ta vào bệnh viện tâm thần thăm một người quen. Vừa bước vào cửa rào, gặp một người điên chỉ vô mặt ḿnh chửi, lúc đó chúng ta xử trí ra sao? Họ chửi ḿnh không có duyên cớ ǵ hết, không động phạm ǵ hết, như vậy đáng giận không. Nếu giận, ḿnh chửi ḿnh đánh lại th́ người ngoài cuộc sẽ nói ḿnh thế nào? Kẻ đánh lộn với người điên là kẻ điên luôn rồi, chứ c̣n ǵ nữa. Như vậy để phân biệt ai là kẻ điên, ai là người tỉnh th́ khi gặp kẻ điên loạn làm bậy, nói bậy, ḿnh phải tỉnh không cự lại họ. Người ta điên nên người ta bậy, người ta sai. C̣n ḿnh b́nh tĩnh th́ phải sáng suốt mới đúng chứ. Nên khi người vô cớ chửi ḿnh, làm nhục ḿnh, chúng ta phải nghĩ người đó không được minh mẫn nên họ mới nói bậy, làm bậy. Người đó đáng thương chớ không đáng giận. Xét như vậy chúng ta thương họ, tội nghiệp họ nên không giận. Nhờ thế trị hết gốc giận luôn. Quư Phật tử phải khéo tu mới hết nóng giận. Nhiều vị nói tánh tôi nóng quá, nên mỗi bữa đốt hương nguyện Phật cho con hết nóng. Phật cho được không? Phật không thể cho ḿnh hết nóng mà Phật chỉ dạy pháp tu, chúng ta ứng dụng theo đó tu tập th́ sẽ hết nóng giận. Phương pháp trị nóng giận là hành hạnh nhẫn nhục và quán từ bi. Trong kinh Phật có kể lại một câu chuyện: Hôm đó, Ngài khất thực tại một khu làng của các vị Bà-la-môn. Bổn đạo Bà-la-môn thấy Phật oai nghi nghiêm trang tề chỉnh, tướng mạo rất đẹp, nên họ vây quanh chiêm ngưỡng Phật. Sau khi thọ trai xong, Phật nói pháp cho họ nghe. Nghe xong, họ phát tâm quy y Phật. Đôi ba lần như vậy nên xóm Bà-la-môn đó theo Phật hết. Bấy giờ, vị thầy của họ tức quá, ông đợi đức Phật đến, rồi lẽo đẽo theo sau kêu tên của Phật chửi. Chửi một hồi, ông thấy Phật vẫn cứ ung dung đi, không để ư ǵ cả, ông bèn chận đường Phật, hỏi: - Cù Đàm, thua tôi chưa? Phật trải tọa cụ ngồi xuống, đọc bài kệ: Kẻ hơn th́ thêm oán Người thua ngủ chẳng yên Hơn thua hai đều xả Ấy được an ổn ngủ. Phật im lặng, ngoại đạo tưởng Phật thua. Nhưng sự thực ai c̣n chê người, c̣n giành phần hơn th́ kẻ đó là người bất an. Như vậy mới thấy nhịn là khôn, chửi là dại. Chúng ta thấy ngay cả đức Phật ngày xưa, đâu phải ai cũng cung kính hết, vẫn có người chửi như thường. Nếu gặp người chửi, Ngài cũng chửi lại th́ bây giờ chúng ta có lạy Phật không? Cũng vậy, giới tu sĩ chúng ta nếu bị người mắng chửi, liền nổi tức lên cự lộn với người ta, rốt cuộc lỗi hết về ḿnh. V́ sao? V́ đă là tu sĩ mà c̣n nóng giận sân si như vậy, th́ đâu thể gọi là kẻ tu hành được. Làm sao dạy dỗ hàng Phật tử? Chửi càng hơn, càng thắng th́ càng bị người ta coi thường. Nên người tu hành phải lấy hạnh nhẫn nhục làm đầu. Lúc nào, hoàn cảnh nào dù thuận hay nghịch, ḿnh cũng phải hoan hỷ, cũng phải bỏ qua hết. Như vậy mới gọi là tu, tu th́ mới trị hết các bệnh. Nên nhớ chúng ta muốn tu th́ phải cố gắng trị bệnh của ḿnh cho lành. Đó là thuốc trị bệnh sân. Đến bệnh si. Si mê là điều rất nguy hiểm. Bởi si mê nên chúng ta chấp những cái không thật cho là thật, tưởng tượng những điều không đúng chân lư, không đúng với lẽ thật. V́ si mê nên sanh ra tham, v́ si mê nên sanh ra nóng giận. Nên nói si mê là nguy hiểm nhất. Vậy dùng thuốc ǵ để trị bệnh si mê? Phật dạy dùng trí tuệ để trị bệnh si mê. Si mê là bóng tối mà trí tuệ là ngọn đèn, là ánh sáng. Có đèn th́ không tối, c̣n tối là không có đèn. Kẻ si mê th́ không có trí tuệ, người có trí tuệ th́ hết si mê. Do si mê nên có những bệnh như ngă ái, ngă mạn… Ngă ái là ǵ? Là thương là quư thân này. Ngă mạn là ǵ? Là cho ḿnh hơn thiên hạ, ḿnh trên hết. Bởi thấy hơn nên khinh người này, chê người kia. Như vậy từ si mê thấy thân này là quư, là thiệt nên thương nó, đó là ngă ái. Thấy thân ḿnh là quan trọng, là cao hơn người nên sanh ngă mạn. Người si mê sanh ngă ái, ngă mạn phải dùng thuốc ǵ để trị? Mỗi tối, chúng ta từ cư sĩ cho đến xuất gia đều tụng Bát-nhă hết phải không? Bây giờ tôi chỉ nhắc lại một câu thôi: "Quán Tự Tại Bồ-tát hành thâm Bát-nhă ba-la-mật-đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách". Chiếu kiến ngũ uẩn giai không là sao? Là soi thấy thân năm uẩn này không thiệt, nhờ soi thấy thân năm uẩn không thiệt nên qua hết khổ nạn. Chúng ta tụng kinh Bát-nhă bao nhiêu năm rồi, có chiếu kiến ngũ uẩn hay là đọc trả bài cho Phật? Phật dạy phải soi thấy năm uẩn này không thiệt. Đă không thiệt th́ c̣n ǵ yêu mến nó, c̣n ǵ quư trọng nó. Nhưng v́ chúng ta tụng mà không chịu chiếu, không chịu soi nên tụng hoài mà cái ngă vẫn y nguyên, không mất chút nào hết. Năm uẩn có chia ra làm hai: một là vật chất, hai là tinh thần. - Vật chất: Sắc uẩn do đất, nước, gió, lửa, bốn chất hợp thành nên không thiệt, nó là giả dối. - Tinh thần: Thọ uẩn là những cảm giác, khổ, vui hoặc không khổ không vui… Những cảm giác ấy có một chút rồi qua, đâu c̣n hoài nên nói không thiệt. Tưởng uẩn, là những bóng dáng tưởng tượng, không có thiệt. Hành uẩn là những suy tư, suy tư là một ḍng sinh diệt. Thức uẩn là ư thức phân biệt sanh diệt liên tục, nên cũng không thiệt. Xét kỹ ngũ uẩn về hai mặt tinh thần và vật chất đều là duyên hợp, hư giả không thiệt. Biết rơ nó không thiệt, tánh nó là không th́ khổ nạn nào cũng qua. Phật dạy kỹ quá, bắt đọc mỗi đêm mà khổ nạn nào chúng ta cũng cứ chịu chứ qua không nổi. Nếu thấy thân này không thiệt, năm uẩn không thiệt th́ giả sử có ai chửi, ḿnh có quan trọng không? Thân đă không thiệt th́ lời chửi có thiệt đâu, có nghĩa ǵ đâu mà buồn. Thấy rơ như vậy th́ ngă ái, ngă mạn theo đó nó hết. Đó là tu Bát-nhă, là trí tuệ. Bát-nhă có chia ra ba phần: một là Văn tự Bát-nhă, hai là Quán chiếu Bát-nhă, ba là Thật tướng Bát-nhă. Ngài Thái Hư (Trung Quốc) dùng một ví dụ rất hay về ba thứ Bát-nhă này. Ngài nói như có người cần qua sông, họ bước xuống thuyền, được ngồi trên thuyền, đó là Văn tự Bát-nhă. Xuống thuyền rồi th́ quay chèo, cầm dầm bơi, đó là Quán chiếu Bát-nhă. Bơi cho thuyền cập bến sang sông rồi ḿnh lên bờ, đó là Thật tướng Bát-nhă. Như vậy chúng ta đang tu là tu Bát-nhă nào? Văn tự Bát-nhă. Nhưng xuống thuyền rồi, cứ ngồi yên đó không chịu bơi chèo ǵ hết, th́ chừng nào mới qua tới bên kia sông? Nên biết chúng ta tu chưa đúng với những ǵ Phật dạy. Chiếu kiến là quán, quán rồi mới đi tới Thật tướng. Nếu chúng ta không chịu quán, chẳng khác nào xuống thuyền muốn qua sông, mà không chịu bơi chèo, cứ ngồi ́ đó hoài th́ bao lâu mới qua được bờ bên kia? Chắc tới thuyền mục cũng không qua được. Cứ dùng văn tự cho đó là đủ, không chịu quán chiếu. Bởi không quán chiếu nên không thể tiến lên, không dẹp được phiền năo. V́ vậy tu mười năm, hai mươi năm mà phiền năo vẫn y nguyên. Đó là lỗi lầm lâu nay chúng ta mắc phải. Do quán chiếu, soi rọi thấy thân này tạm bợ, hư giả nên chúng ta không ái nó. Không ái nó th́ không ngă mạn. Như vậy tu là để diệt trừ bệnh cho ḿnh. Muốn trừ bệnh th́ phải dùng thuốc. Nếu được toa thuốc mà ḿnh không mua thuốc uống th́ cái toa cũng trở thành vô nghĩa. Phật dạy phải quán chiếu để thấy rơ năm uẩn không thiệt mà ḿnh cứ đọc cho Phật nghe hoài th́ chừng nào mới hết bệnh? Tu như vậy th́ chừng nào mới thành Phật? Ở đây, tôi chỉ nói những bệnh căn bản là tham sân si, để quư vị biết từng thứ thuốc mà trị bệnh. Bây giờ có thứ thuốc nào trị bá bệnh không? Cũng có thuốc trị bá bệnh, nhưng trị bá bệnh th́ chậm lành hơn. Thuốc nào bệnh nấy th́ mau lành, c̣n thuốc trị bá bệnh chỉ có tác dụng nhè nhẹ thôi. Thuốc trị bá bệnh là ǵ? Nếu người tu Tịnh độ th́ dùng "Lục tự Di Đà" làm thuốc trị bá bệnh. Khi vừa nổi sân, chúng ta cứ nhớ niệm "Nam Mô A Di Đà Phật", niệm một hồi quên sân phải không? Vừa có việc ǵ buồn, niệm Phật một hồi quên buồn, đó là thuốc trị bá bệnh. Thuốc bá bệnh th́ yếu hơn một chút, phải siêng năng cần mẫn trị mới lành, nếu không th́ không lành. Đó là thuốc trị bá bệnh của người tu Tịnh độ. Nếu người tu Thiền th́ thuốc trị bá bệnh là ǵ? Khi nào vừa dấy niệm chạy theo cảnh, chúng ta liền buông, v́ sao phải dùng thuốc đó? V́ tất cả buồn, thương, giận, ghét đều từ ư niệm dấy lên. Do khởi niệm nên mới tới buồn, thương, giận, ghét. Nếu vừa khởi niệm liền buông bỏ không theo, như vậy là vừa trị, vừa ngừa bệnh. Khi nó mới dấy chưa thành bệnh th́ không gọi là trị? Vừa dấy lên ḿnh liền buông tức là ngừa bệnh. Buông hết, đến một lúc nào đó tâm không c̣n buồn giận, tức là hết đau khổ. Đó là thuốc trị bá bệnh trong nhà Thiền. Nhưng có người mới tập tu Thiền một năm hai năm, niệm cứ khởi hoài nên than sao tu mà niệm không lặng. Vậy phải làm sao cho có kết quả. Chỗ này, tôi dẫn lời của Lục tổ Huệ Năng dạy trong kinh Pháp Bảo Đàn: "Bất phạ niệm khởi, duy khủng giác tŕ", nghĩa là không sợ niệm khởi, chỉ sợ giác chậm. Dấy niệm là mê, biết nó hư dối không theo, đó là giác. Giả sử một ngày dấy lên một trăm lần niệm, tức một trăm lần mê th́ sẽ có một trăm lần giác. Như vậy đâu có thiệt tḥi ǵ, chỉ sợ mê mà ḿnh không giác, đó mới là thiệt tḥi. Như vậy người tu Tịnh độ th́ niệm danh hiệu Phật để tiêu ṃn các bệnh. C̣n người tu Thiền th́ nh́n lại ḿnh, tức là phản chiếu bằng trí tuệ. Vừa thấy niệm liền buông đi, lần lần niệm dứt sạch, bệnh được lành. Đó là dùng trí tuệ phá tan các mầm bệnh. Như vậy tu Tịnh độ cũng có thuốc trị bá bệnh, tu Thiền cũng có thuốc trị bá bệnh. Song pháp nào cũng phải thực hành đến nơi đến chốn mới có kết quả, chớ c̣n thực hành nửa chừng hay chút ít th́ không bao giờ có kết quả. Người học Phật mà không biết pháp, không biết bệnh th́ khó trị lành. Hôm nay tôi hướng dẫn quư vị ba căn bệnh ngặt nghèo là tham sân si. Quư vị cố gắng dùng thuốc, chớ không nên học thuộc ḷng toa thuốc, cũng không nên chắp tay xin thầy thuốc cho con hết bệnh. Được vậy, chúng ta tu sẽ có kết quả, không nghi. Chúc tất cả đều trị lành bệnh của ḿnh. VÔ MINH
Giảng tại trường hạ Phổ Đà TP. HCM
Hôm nay tôi được mời về giảng cho Ni chúng cũng như quư Phật tử một thời pháp. Tôi thường nói, làm sao cho tất cả người phát tâm tu đều biết được chánh pháp và thực hành đúng chánh pháp, đó là nguyện vọng của tôi. Đề tài của thời pháp này là Vô minh. Khi biết rơ vô minh rồi, chúng ta mới có thể t́m cách tiêu diệt nó. Tiêu diệt được vô minh rồi, chúng ta sẽ giải thoát sanh tử. Chúng ta ai cũng biết trong mười hai nhân duyên, đức Phật nói cái đầu là vô minh. Từ vô minh duyên hành, hành duyên thức, thức duyên danh sắc, danh sắc duyên lục nhập, lục nhập duyên xúc, xúc duyên thọ, thọ duyên ái, ái duyên thủ, thủ duyên hữu, hữu duyên sanh, sanh duyên lăo tử ưu bi khổ năo. Như vậy đau khổ cuối cùng của sanh già bệnh chết gốc từ vô minh mà ra. V́ vậy chúng ta muốn tu cho được kết quả, tu đến giải thoát sanh tử th́ gốc vô minh chúng ta phải biết rơ. Biết rơ rồi chúng ta trừ diệt nó. Như vậy mới là người biết cội gốc tu hành. Trước tiên, tôi định nghĩa vô minh là ǵ? Vô là không, minh là sáng. Vô minh tức là không sáng. Cái khổ của sanh tử gốc từ vô minh mà ra. Vô minh hiểu theo nghĩa mê lầm, đen tối là nghĩa đen. Vô minh c̣n có nghĩa khác mà trong kinh đức Phật giải thích rất rơ ràng. Nghĩa khác thế nào? Như đức Phật dạy trong các kinh A Hàm: "Thấy các pháp, không biết đúng như thật gọi đó là vô minh". Nghĩa là chúng ta thấy mọi sự vật ở trên đời mà không biết đúng như thật, chỉ biết bằng cách tưởng tượng sai lầm, đó là vô minh. Cho nên trong các bộ kinh A Hàm luôn luôn nói "vô minh là không thấy, không biết đúng như thật". Nói rơ hơn không biết, không thấy đúng như thật pháp Tứ đế: khổ đế, tập đế, diệt đế, đạo đế, gọi là vô minh. Đó là lời giải thích trong kinh A Hàm. Kinh Viên Giác giải nghĩa khác, có một vị Bồ-tát hỏi: "Bạch Thế Tôn, thế nào là vô minh? ". Phật dạy: "Vô minh nghĩa là đối với thân tứ đại duyên hợp tưởng lầm là thật, là quí. Đối với tâm duyên theo bóng dáng sáu trần cho đó là tâm thật. Như vậy là vô minh". Chấp thân tứ đại là thật, chấp tâm duyên theo bóng dáng sáu trần là thật, đó là vô minh. Tôi xin hỏi Ni chúng và Phật tử ở đây, quư vị có vô minh không? Chắc ai cũng đồng ư có vô minh. Tại v́ tất cả đều thấy thân ḿnh là thật, thấy tâm nghĩ tưởng việc này, việc nọ là tâm ḿnh thật. Thấy hai cái đó thật là vô minh. Chúng ta v́ vô minh lôi dẫn mà sanh tử đến ngày nay không dừng. Người tu Phật là người cầu được phước lên cơi trời, hay cầu đời sau sang giàu? Người tu Phật là người cầu giải thoát sanh tử. Muốn giải thoát sanh tử th́ phải dẹp sạch vô minh. Nếu không hết vô minh th́ không làm sao ra khỏi sanh tử được. V́ vậy tất cả chúng ta đều phải cố gắng, đều phải nhận định cho chín chắn, rơ ràng về vô minh. Nếu không biết nó, không dẹp nó th́ muôn kiếp tu là tu, chớ không ra khỏi sanh tử được. Nên bài giảng này rất quan trọng đối với việc tu hành của chúng ta. Quư vị cố gắng nghe thật kỹ, nhớ thật rơ để ứng dụng tu th́ sẽ có lợi lạc lớn. Nhà Phật chia vô minh làm hai phần: Căn bản vô minh và chi mạt vô minh. Căn bản là cội gốc, chi mạt là ngọn ngành hay nhánh nhóc. Trong mười hai nhân duyên cái ǵ là căn bản vô minh, cái ǵ là chi mạt vô minh? Thường ai cũng biết Phật nói vô minh duyên hành. Tức từ vô minh phát ra nghiệp, nghiệp dẫn thần thức đi thọ sanh v. v… Vậy vô minh ban đầu là gốc của sanh tử, nên gọi là căn bản vô minh. Kế đến cái ǵ là chi mạt vô minh? Chúng ta thử ôn lại: vô minh duyên hành, hành duyên thức, thức duyên danh sắc, danh sắc duyên lục nhập, lục nhập duyên xúc, xúc duyên thọ, thọ duyên ái, ái duyên thủ… Ái và thủ chính là chi mạt vô minh. Bây giờ chúng ta tu, không thể diệt được căn bản vô minh v́ căn bản vô minh là vô minh ban đầu, nó thuộc về quá khứ đă qua rồi. Nên hiện tại chúng ta tu là làm sao tiêu diệt được chi mạt vô minh. Phá được chi mạt vô minh rồi th́ chúng ta sẽ dứt được sanh tử. C̣n nếu chưa phá được nó th́ chúng ta đi măi trong sanh tử. Trở lại căn bản vô minh. Như trong kinh A Hàm nói: "Biết không đúng như thật về khổ đế, tập đế, diệt đế, đạo đế gọi là vô minh". Tất cả quư vị đối với Tứ đế đă biết đúng như thật chưa? Nếu biết đúng như thật về Tứ đế th́ chúng ta đă ngộ, đă nhận được giáo lư giải thoát của pháp Tứ đế dạy rồi. Nhưng bây giờ chúng ta c̣n mơ màng, chưa nhận chân sự thật nên chưa hiểu thấu được lư Tứ đế. Trong Tứ đế, đế đầu tiên là Khổ đế. Chúng ta thấy cuộc đời này khổ hay vui? Khổ. Nhưng chỉ khổ lúc có người làm phiền, làm cho ta tức giận thôi. C̣n lúc được người tâng tiu, khen ngợi đâu có khổ. Nghĩa là chỉ khổ lúc buồn tủi, c̣n khi được tán thán khen ngợi th́ quên khổ. Phật nói Khổ đế v́ tất cả con người sanh ra trên thế gian này có tám thứ khổ, gồm bốn phần thuộc vật chất: sanh, lăo, bệnh, tử và bốn phần thuộc tinh thần: ái biệt ly, oán tắng hội, cầu bất đắc, ngũ ấm xí thạnh. Trong tám khổ, chúng ta có ai qua khỏi không? Xét về thân th́ ai rồi cũng già, cũng bệnh, cũng chết. Quư vị thấy già khổ không? Khổ. Bệnh khổ không? Khổ. Chết khổ không? Khổ. Nhưng sao tôi già, tôi không khổ. Già khổ nếu ḿnh không biết tu. Bởi không biết tu nên thấy thân hơi mỏi ṃn, bệnh yếu, rồi đi đứng lọng cọng… đủ thứ hết nên thấy khổ. Nếu biết tu th́ già là một lẽ thật, nó phải tới tự nhiên thôi, không ai trốn tránh được, kể cả Phật cũng không trốn được. Nếu Phật trốn được th́ thân tứ đại của Ngài đâu có mất. Ai có thân th́ cũng phải già bệnh chết. V́ đó là qui luật của thế gian, chúng ta không ai chối căi được. Đă là qui luật th́ sợ có khỏi được không? Nếu không khỏi được th́ sợ chi cho vô ích. Thay v́ sợ ḿnh cười chơi cho vui, khoẻ hơn không. Như vậy th́ đâu có ǵ khổ. Tại chúng ta sợ nó cho nên khổ. Nên biết già chỉ khổ đối với những người không biết tu thôi. Đến bệnh khổ, tại sao bệnh khổ? Ví dụ như đau bụng có khổ không? Khổ toàn thân hay chỉ cái bụng khổ? Đau chỗ nào th́ khổ chỗ đó thôi. Lâu nay chúng ta hay hiểu lầm, cứ nghĩ đau cái chân th́ cả thân đều đau nên rên rỉ "đau quá chịu không nổi". Nếu hỏi cái ǵ đau th́ nói "tôi đau". Nhưng thật ra tôi đau hay cái chân đau? Chân đau th́ chỉ đau một chút dưới chân, c̣n các một bộ phận khác đâu có đau. Nếu bụng đau th́ chỉ một chút ở bụng, c̣n các chỗ khác đâu có đau, tại sao phải khổ dữ vậy? Chúng ta có bệnh đồng hóa khi chân đau nghĩ là ḿnh đau, nên quằn quại rên xiết. Cái đau chỉ ở một nơi, một chốn chớ không phải ḿnh. Ḿnh là cái ǵ quư vị biết không? Nếu ḿnh là tứ đại th́ mai mốt tứ đại hết thở, ḿnh đi đâu, có c̣n không? Tứ đại là ḿnh th́ tứ đại ră, ḿnh cũng phải ră theo chứ. Nhưng tứ đại này ră không phải là hết, ḿnh vẫn c̣n. Cho nên tứ đại đau chớ ḿnh đâu có đau. Có một Thiền sư khi bệnh, thầy Tri sự vô thăm hỏi: - Hoà thượng bệnh, có cái không bệnh chăng? Thiền sư trả lời: - Có. Thầy Tri sự hỏi tiếp: - Cái ǵ không bệnh? Thiền sư kêu lên: - Ui da, ui da. Như vậy là sao? Bệnh chỉ là thân thôi, cái biết rên "ui da" đó không có bệnh. Chúng ta bệnh, chúng ta khổ nhưng c̣n có cái không bệnh không khổ mà ḿnh không biết. V́ vậy chúng ta cứ lầm lẫn một bộ phận đau coi như toàn thân đau, rồi khổâ sở, lăn lóc rên rỉ. Nếu bộ phận nào đau, chúng ta cứ nh́n xem nó đau ra sao. Ví dụ chân đau, nh́n xem nó đau ra sao. Nh́n một hồi nó quên đau. C̣n nếu ḿnh quằn quại rên rỉ th́ đau cả người. Chúng ta tu phải có nhận định đúng đắn không sai lầm th́ hết khổ. Nhiều người hay nói, mấy cô c̣n nhỏ đau, th́ bệnh chừng năm mà thêm cái nhơng nhẽo nữa. Bệnh chừng năm mà rên quá nên thành mười. Đó là không can đảm, không sáng suốt. Chúng ta bệnh phải nh́n lại, xem nó hành làm sao, đau nhức thế nào. Phải luôn luôn can đảm thấy rằng đau là một bộ phận đau, chớ ḿnh không đau, như vậy sẽ bớt đau. Được thế th́ đau không c̣n khổ nữa. Ngược lại, nếu thấy đau là ḿnh th́ khổ liên miên. Nay nhức đầu, mai đau bụng, lúc nào cũng thấy khổ. Như vậy bệnh là khổ. Đến chết có khổ không? Phật nói chết là khổ, đó là nói theo con mắt của thế gian. Bởi v́ người phàm tục rất quí thân, lúc nào cũng muốn sống mà bây giờ phải chết th́ khổ. Vậy chết khổ là đối với người quí chuộng thân, muốn giữ nó măi. C̣n người tu đạt đạo rồi, chết không có khổ. Cho nên người thế gian gần chết th́ khóc rên giăy giụa, c̣n các Thiền sư chết th́ cười. Vậy chết nhất định là khổ chăng? Không hẳn thế. Người nào nhận chân được lẽ thật, thấy được chân lư rồi th́ không khổ. Người nghĩ thân này là ḿnh, mất rồi không c̣n nữa th́ người đó sẽ khổ. Thân này giả dối, tạm bợ, đủ duyên nó tụ, hết duyên nó tan, c̣n cái chân thật của ḿnh không tan không mất bao giờ. Nên khi thân sắp tan, nh́n nó cười thôi không có ǵ sợ hết. Phật nói Khổ đế là căn cứ trên người mê lầm. Nếu chúng ta khéo tu, vượt qua không c̣n chấp thân nữa th́ không c̣n khổ. Cho nên người tu là người không khổ. Nhưng bây giờ người tu c̣n khổ hay hết khổ? Chắc là c̣n khổ. Sao dở vậy? Tu là để giải khổ hết khổ, mà ḿnh tu lại khổ. Tại sao? Tại tu mà chưa lănh hội được nguồn cội của Phật dạy cho nên thấy khổ. Người hiểu thấu đạo lư rồi, mỗi ngày tu là mỗi ngày vui. Đi đâu cũng cười hoài v́ được tu là chuyện hy hữu. Ở thế gian bao nhiêu thứ trói buộc, vô chùa đâu có ǵ trói buộc. Thảnh thơi tự tại quá, mà khổ là sao? Khổ là tại v́ thấy người này được thầy thương, c̣n ḿnh không được thương nên buồn giận sanh khổ. Thấy người kia được Phật tử cúng dường, c̣n ḿnh không ai cúng hết nên khổ. Khổ này là do bỉ thử nhân ngă mà sanh. Chúng ta nhớ người xuất gia là hành hạnh siêu thoát, kẻ trần tục không làm được. Phật tử ham tu, nhưng vẫn c̣n bị gia đ́nh trói buộc, không tự do. Nh́n lại quí thầy quí cô thảnh thơi quá, họ khen thầy cô thật là phước lớn. Được khen mà quư vị lại than khổ. Người ta mơ ước như ḿnh, mà ḿnh được rồi lại khổ là chuyện vô lư quá. Là người tu, chúng ta phải biết lư do ǵ ḿnh đi tu. Tu để tiến tới đâu, cầu cái ǵ? Thấy cho rơ như vậy th́ sự tu hành mới tới nơi tới chốn, mới giải thoát sanh tử được. Nếu cứ nh́n theo tâm phàm tục thương ghét v. v… th́ quư vị sẽ khổ hoài, không bao giờ hết khổ. Như vậy Khổ đế là do chúng ta chưa thấy được như thật. Đó là tôi nói căn bản vô minh để quư vị nắm đại khái. Kế đến tôi nói về chi mạt vô minh. Tất cả chúng ta đă bị vô minh thúc đẩy tạo thành hành nghiệp dẫn đi trong sanh tử nhiều đời. Bây giờ đă có thân th́ đối với cái vô minh ban đầu không thể dẹp v́ nó thuộc về quá khứ. Cho nên dẹp là dẹp chi mạt vô minh, tức cái ngọn ngành trong hiện đời. Vậy ngọn ngành của vô minh là ǵ? Là ái, thủ. Ái là ái cái ǵ? Thường trong nhà Phật nói ái nặng nhất, nguy hiểm nhất là ái ngă. Ái ngă tức là thương ḿnh, thương ḿnh là số một. Trong truyện xưa, vua Ba Tư Nặc hỏi Mạt Lợi phu nhân: "Trên thế gian này ái khanh thương ai nhiều nhất? " Vua nghĩ hỏi vậy, phi sẽ trả lời: "Thương Bệ hạ nhiều nhất". Nhưng ngược lại bà nói: "Thiếp thương ḿnh nhiều nhất". Vua thất vọng hỏi: "Tại sao ái khanh thương ḿnh nhiều nhất? ". Bà giải thích: V́ thương ḿnh nhiều nhất nên thiếp mới quí trọng Bệ hạ, bởi Bệ hạ làm cho thiếp được sung sướng, giàu sang". Vua nghe thấy có lư, nên gật đầu khen phải. Rơ ràng như bà phi đă nói, bà thương vua là v́ bà, chớ không phải v́ vua. Quư vị ở đây có ai thương người khác nhiều hơn thương ḿnh không? Chắc là không. Ví dụ ḿnh bệnh, có huynh đệ chăm sóc chu đáo. Ḿnh thấy huynh đệ đó tốt nên thương. Do người đó săn sóc ḿnh trong lúc bệnh nên ḿnh mới thương, chớ đâu phải bỗng dưng mà thương. Vậy thương người đó là qua ḿnh, chớ đâu phải tự người đó được thương. Xét kỹ tất cả cái thương người khác đều là qua ḿnh hết, không bao giờ người ta chửi ḿnh mà ḿnh thương họ. Dầu người đó tu hay cũng mặc, hễ họ mắng nhiếc ḿnh th́ ḿnh vẫn không thương như thường. Vậy thương mọi người đều qua cái ngă của ḿnh. Cho nên nói ái ngă là số một. Bởi thương ḿnh nhiều, nên thân này sắp hoại ḿnh khổ, khổ v́ sợ mất nó. Do đó khi nó hoại rồi, ḿnh hoảng t́m thân khác để tựa vào, vô minh sanh hành là như thế. Từ vô minh chi mạt là ái ngă, nên t́m thân khác để tựa vô rồi sanh ra ngă kế tiếp, v́ vậy nó dẫn ḿnh đi trong sanh tử. Do ái ngă mà sanh tử tiếp nối không cùng. Dẹp được ái ngă th́ ṿng sanh tử đời sau không c̣n. Nếu dẹp không được th́ khó mà đi trên đường giải thoát. Tuy nhiên dẹp ái ngă là chuyện rất cay đắng. Mặc dù nó không ra ǵ nhưng dẹp nó rất khó, bởi v́ ai cũng thương ḿnh hết. Thương mà muốn dẹp th́ làm sao dẹp được? Phải không thương mới có thể dẹp chứ. Do đó Phật dạy phương pháp để chúng ta không thương ngă nữa. Phật dạy thân này vô ngă, tức không có cái ta thật. Nếu biết thân này không có cái ta thật th́ bớt thương nó. C̣n thấy thân này là ta th́ nhất định phải thương, không nghi ngờ. V́ vậy Phật dạy phải quán các pháp vô ngă. Các pháp vô ngă th́ thân này cũng vô ngă. Không có cái thật ta th́ thương cái ǵ. Nhờ thế phá trừ được ngă chấp. Do ái ngă nên tất cả vật chung quanh ngă, ḿnh cũng ái theo. Ái ngă nên ái luôn sở hữu của ngă. Ḿnh thương ḿnh nên mới thích đồ ăn ngon, nếu không thương ḿnh th́ ăn cái ǵ cũng được. Thương ḿnh nên mới thích mặc đồ đẹp. Tóm lại tất cả những ǵ đáp ứng cho ngă sử dụng được tốt, được vừa ư th́ ḿnh thương hết. Cho nên nói ái ngă th́ ái pháp. Nếu không ái ngă th́ có ái pháp không? Ví dụ ḿnh coi ḿnh không ra ǵ, khi thấy người ta có món ăn ngon ḿnh đâu cần xin. C̣n thấy thân này quí, nên người ta có món ăn ngon ḿnh cũng thèm, thèm th́ muốn xin. V́ quí ngă nên phải t́m những vật dụng bổ túc cho ngă được sung măn. Cho nên thương ḿnh th́ sẽ thương tất cả sự vật chung quanh ḿnh, đó gọi là ái ngă và ái pháp. Đây chính là nhân để đi trong sanh tử luân hồi. Phật dạy muốn dứt sanh tử phải phá trừ ngă. Ngă hết th́ sanh tử theo đó mà dứt. Ngă c̣n th́ sanh tử không bao giờ hết được. Đó là một lẽ thật. Tôi nói qua về vô minh căn bản và vô minh chi mạt rồi. Từ vô minh ban đầu đưa đẩy chúng ta đi vào ṿng sanh tử. Đă đi trong sanh tử rồi th́ phải chịu đau khổ. V́ vậy chúng ta tu là làm sao biết rơ gốc vô minh, để chuyển từ mê lầm sanh tử trở về giải thoát an lạc, đó là minh. Trong kinh Pháp Hoa có nói: Chàng cùng tử bỏ cha mẹ đi lang thang, đi măi. Càng đi th́ càng khổ sở, càng nghèo túng. Đến lúc anh ta cảm thấy xa cha mẹ khổ quá muốn quay đầu trở về. Trở về và được cha trao cho gia tài rồi th́ trở thành ông trưởng giả giàu có, sang trọng. Như vậy do đâu mà chàng cùng tử bỏ cha mẹ ra đi? Do niệm sai lầm ban đầu tức là vô minh. Từ niệm sai lầm ban đầu dẫn chúng ta đi trong đau khổ không cùng. Khi biết lang thang lăn lộn là khổ, muốn trở về t́m cha cho bớt khổ. Xoay trở về t́m cha là hơi minh một chút rồi đó. Bỏ cha mẹ ra đi là vô minh. Khi thức tỉnh, giật ḿnh xoay về t́m cha là minh. Vậy minh là nhân đưa ḿnh đến chỗ hết khổ đau, vô minh là nhân dẫn ḿnh đi tới khổ đau. Người tu phải tiêu diệt vô minh để trở về với minh. Vô minh sạch rồi th́ đau khổ theo đó hết, vô minh càng nhiều th́ đau khổ càng đậm. Nên chúng ta phải thức tỉnh, phải trở về được với cái minh. Muốn trở về với cái minh phải làm sao? Ngày trước chàng cùng tử bỏ cha đi càng xa càng khổ, bây giờ trở về gặp cha th́ càng về gần càng ít khổ. Tới chừng gặp được cha rồi, được trao gia tài th́ hoàn toàn hết khổ. Chúng ta do vô minh lôi dẫn, đưa đẩy đi trong sanh tử triền miên, không có ngày cùng. Cho nên khi thức tỉnh được trở về, là đi trên con đường minh, con đường ánh sáng rồi đó. Ni chúng đang tu hành như vầy là đang từ bỏ vô minh để hướng về minh. Biết trở về và trở về đến nơi đến chốn th́ quư vị hết khổ. Đó là điều hết sức rơ ràng. Nếu chúng ta mê th́ cứ thả trôi muôn đời muôn kiếp trong sanh tử. Một khi tỉnh t́m về đường giải thoát rồi th́ hết mê. Tôi dẫn lời đức Phật dạy về vô minh trong kinh Viên Giác: "Cái ǵ là vô minh? Thấy thân tứ đại là thật, tâm duyên theo bóng dáng sáu trần là thật, đó là vô minh". Thân là do tứ đại hợp mà thấy là ḿnh thật, tâm duyên theo bóng dáng sáu trần mà cho là tâm ḿnh thật. Hai thứ chấp đó là vô minh. Bây giờ muốn minh phải làm sao? Phải xả. Xả thế nào? Chẳng lẽ tự tử. Không phải vậy. Biết như thế rồi, ta quán chiếu thấy rơ thân tâm này không thật, nên không đắm luyến, không sợ mất nó. Như vậy là minh. Người mê với người tỉnh khác nhau chỗ nào? Ví dụ trong nhà có đèn sáng, bên ngoài trời tối. Nếu mở cửa th́ ánh đèn chiếu sáng ra ngoài. Một người đứng ở cửa nh́n ra ngoài thấy tối, nh́n ngược vô trong thấy sáng. Nếu nh́n ra ngoài rồi cứ phóng đi măi th́ càng đi càng tối. Tối măi cho đến chừng nào thấy sợ th́ quay trở lại ánh sáng. Càng về gần th́ càng sáng nhiều, đến khi bước vô cửa nh́n thấy trong nhà đèn sáng choang. Cũng vậy ai thả trôi thân ḿnh, tâm ḿnh theo ṿng sanh tử th́ cứ ch́m đắm măi không cùng. Ai biết xoay trở lại t́m về ánh sáng ban đầu sẽ được sáng. Người đứng ở cửa nh́n ra th́ tối, xoay vô th́ sáng, vậy tối sáng cách nhau bao xa? Chỉ là biết xoay đầu. Xoay đầu lại th́ sáng, nh́n ra th́ tối. Người xưa thường nói: "hồi đầu thị ngạn", tức xoay đầu lại là bờ giác, nh́n ra ngoài là bến mê. Mê và giác chỉ là một cái xoay đầu. Thả trôi theo ḍng tối th́ tối măi, biết xoay ngược trở lại t́m về ánh sáng th́ sẽ được sáng. Tất cả chúng ta tu là phải làm sao chính ḿnh thức tỉnh, chính ḿnh giác ngộ. Thức tỉnh, giác ngộ là không c̣n mê mà trở về giác. Chúng ta cạo tóc vào chùa tu là đă thức tỉnh, bỏ lối mê quay về con đường sáng. Đă về đường sáng th́ c̣n muốn quay lại lối mê nữa không? Chắc không bao giờ dám quay lại. Mà phải cắm đầu đi thẳng cho đến bao giờ về đến nơi, thấy và sống trong ngôi nhà sáng sủa ấy mới yên ḷng. Đó là mục đích của người tu. Muốn trở về con đường sáng phải làm sao? Tôi nói lại Phật dạy: "Chấp thân năm uẩn này là ta, đó là vô minh. Chấp tâm duyên theo bóng dáng sáu trần là tâm, đó là vô minh". Do đó, muốn trở về con đường sáng chúng ta phải phá hai thứ chấp này. Phá chấp bằng cách tu theo Bát-nhă. Bát-nhă là trí tuệ, trí tuệ là sáng. Bát-nhă chia làm ba phần: Văn tự Bát-nhă, Quán chiếu Bát-nhă và Thật tướng Bát-nhă. Ví dụ người muốn qua sông nên phải xuống thuyền. Mục đích xuống thuyền là để qua sông. Nhưng xuống thuyền rồi cứ ngồi ỳ trên đó hoài, không chèo không bơi th́ chừng nào qua tới bờ bên kia? Xuống thuyền rồi kế đó phải chèo, phải cầm dầm bơi th́ mới đưa thuyền đến bờ kia được. Chiếc thuyền dụ cho Văn tự Bát-nhă, chèo dầm dụ cho Quán chiếu Bát-nhă, đến bờ bên kia là Thật tướng Bát-nhă, tức cái thể chân thật. Ngồi trên thuyền không cựa quậy chắc tới thuyền mục qua cũng không được, đó là điều hết sức rơ. Nếu quư vị chỉ tụng kinh chứ không quán chiếu ǵ hết, chỉ là Văn tự Bát-nhă. Trong Bát-nhă chỉ nơi câu này mà khéo tu th́ sẽ hết khổ: "Quán Tự Tại Bồ-tát hành thâm Bát-nhă ba la mật đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhứt thiết khổ ách". Chúng ta đọc thuộc làu mà chưa bao giờ chiếu kiến, chưa chiếu kiến làm sao hết khổ ách, nên tu mà không hết khổ. Muốn hết khổ phải chiếu kiến năm uẩn: sắc uẩn, thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn, thức uẩn. Năm uẩn có hai phần: phần vật chất là sắc; phần tâm là thọ, tưởng, hành, thức. Thân do tứ đại ḥa hợp không có tánh thật, đó là chiếu kiến sắc uẩn giai không. Sắc uẩn này không thật tánh nên nói nó là không. Không nhưng do duyên hợp giả có. Cái ǵ giả th́ không quí, thật mới quí. Soi thấy thân tứ đại này tánh không, duyên hợp giả có nên không phải quí. Thọ uẩn, thọ là những cảm giác nhậân được. Nếu ở lưỡi th́ thọ vị, thức ăn ngon dở hay không ngon không dở. Thọ có là do thức ăn để vào lưỡi. Lưỡi là căn, thức ăn là trần. Căn trần gặp nhau mới sanh cảm giác ngon, dở, không ngon, không dở. Vậy cảm giác ngon dở không thật. V́ trước khi đưa thức ăn vào lưỡi, ta có cảm giác ǵ đâu. Nhờ có thức ăn, nhờ có lưỡi nên ta mới có cảm giác ngon dở, nên cảm giác ngon dở ấy không thật. Vậy mà chúng ta ăn món ǵ ngon th́ khen, dở th́ chê, rơ ràng chúng ta lầm thọ uẩn là thật. Nếu dùng trí tuệ nhận thấy thọ uẩn do căn trần hợp lại nên có cảm giác. Cảm giác ngon dở nuốt qua liền hết, đâu phải là thật. Nên quán thọ không thật chỉ là giả tướng. Tưởng uẩn là tưởng những chuyện đă qua hay chưa tới. Do nghĩ chuyện quá khứ, chuyện vị lai rồi tưởng tượng nên h́nh ảnh dấy khởi. Quá khứ đă qua là đă mất, vị lai chưa đến là không có. Quá khứ đă qua là không, vị lai chưa đến cũng là không, mà tưởng tượng có thật. Nên chiếu kiến tưởng uẩn tánh không, duyên hợp giả có, chỉ bóng chớ có thật đâu. Hiểu như vậy mới biết tưởng uẩn không thật. Hành uẩn là nghĩ suy của ḿnh. Ví dụ trước khi đi chợ, quư vị tính ra chợ mua hành, mua hẹ, mua rau cải ǵ đó… tính rồi đến chợ mới mua. Vậy suy tính nghĩ cái này tới cái kia, giống như từng bước từng bước đi của ḿnh, không có thật. Hành uẩn là những suy tư, nghĩ tính của ḿnh. Sự suy tư, nghĩ tính đó khi gặp duyên th́ nó phát ra, hết duyên nó mất. Như vậy hành uẩn sanh diệt như ḍng nước chảy không thật. Đó là quán hành uẩn. Thức uẩn là phân biệt như phân biệt đẹp xấu, trắng đen v. v… Thức uẩn tự nó phân biệt hay phải có duyên tác động mới phân biệt? Trong là mắt, ngoài là sắc trần, sắc trần tiếp xúc với nhăn căn sinh ra nhăn thức phân biệt. Nhĩ thức, thiệt thức v. v… cũng đều như vậy. Nên thức tự nó không có mà phải do căn, trần tiếp xúc mới có nên nó cũng không thật. Rơ ràng thọ, tưởng, hành, thức là tâm không thật. Sắc do tứ đại hợp cũng không thật. Thấy rơ thân không thật, tâm không thật như trong kinh Viên Giác nói: nếu chấp thân thật, tâm thật là vô minh. Nếu thấy thân không thật, tâm không thật th́ hết vô minh. Vô minh hết nên trong kinh nói: "chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách", nghĩa là soi thấy năm uẩn đều không liền qua hết tất cả khổ nạn. Chúng ta tu mà không chiếu kiến nên tuy tu nhưng vẫn c̣n khổ nạn. Đọc thuộc ḷng Bát-nhă mỗi đêm mà khổ không hết. Bây giờ chúng ta phải khéo dùng trí tuệ chiếu soi năm uẩn không thật, thấy rơ tường tận như vậy th́ phá được vô minh, liền thoát khỏi sanh tử. Không biết phá vô minh th́ minh không bao giờ có. Tụng Bát-nhă là học trí tuệ mà tự ḿnh không có trí tuệ th́ chừng nào ra khỏi sanh tử? Đó là điều chúng ta cần phải biết cho thật rơ. Người tu phải làm sao soi sáng được chính ḿnh, chớ không phải chỉ đọc suông lời của Phật được. Nếu thấy thân năm uẩn là thật th́ mê, nếu thấy thân năm uẩn do duyên hợp hư giả là tỉnh. Giả sử có ai chửi, chúng ta thấy lời chửi của họ cũng không thật nên nhịn được. Thân hư giả mà người chấp cho là quí th́ ḿnh thương, chớ không giận. V́ vậy Phật thương chúng sanh, thương là thương cái ǵ? Thương chúng sanh ngu si, cái không thật tưởng là thật, cái không quí tưởng là quí. Cứ như vậây mà trôi măi trong luân hồi sanh tử. Khi nào chúng ta tu thấy rơ thân năm uẩn không thật th́ qua hết khổ ách. Qua rồi nh́n lại thấy ai c̣n trong khổ ách ḿnh thương. Thương th́ tất nhiên phải độ họ. Lúc đó t́nh thương khác với thương v́ ḿnh hay thương của ái ngă. Thương ái ngă là thương có điều kiện. Khi nào người khác giúp ḿnh, ḿnh mới thương v́ thấy thân ḿnh thật. Nếu tỉnh giác rồi, thấy ai mê ḿnh thương đó là ḷng thương của từ bi. Từ bi là thương b́nh đẳng, không có điều kiện. Nên biết ái ngă làm cho chúng ta có nhiều xấu dở. Thứ nhất, v́ ái ngă nên ai giúp cho ngă th́ thương. Thứ hai, v́ ái ngă nên ai chọc phá ngă th́ giận ghét. Thứ ba, v́ ái ngă mà cứ nối tiếp luân hồi, mất thân này chụp thân kia, không có ngày cùng. Nếu chiếu kiến năm uẩn không thật, biết rơ không lầm không mê. Lúc nào cũng thấy thân này không thật, hư dối th́ tất cả những ǵ đến với ḿnh, ḿnh đều không khổ. Già không khổ, chết không khổ. Bởi cái hư giả hoại đi đâu có ǵ tiếc, c̣n thấy thân thật th́ tất cả khổ theo đó mà c̣n. Như vậy tu theo Bát-nhă là chấp không chăng? Ví dụ cái đồng hồ là thật có hay thật không? Thật không th́ sao nó có ở đây, nên nói thật không không được. Nếu nói thật có th́ khi mở từng phần ra, t́m cái đồng hồ không được. Nên nói thật có không được. Chỉ khi nào duyên hợp th́ tạm có, duyên hết hoàn không. Nên nói bản tánh của đồng hồ là không. Nếu đồng hồ có sẵn th́ đâu cần đợi duyên hợp. V́ đồng hồ không có sẵn nên nói tánh không. Chữ không là tánh không. Tôi ví dụ thêm như chỗ này có cái khay là có, chỗ không có khay gọi là trống rỗng. Chỗ này không, chỗ kia có là do mắt thấy. Mắt thấy có không, đó là có không đối đăi. C̣n đồng hồ đang có mà nói tánh không, th́ biết rơ tánh nó là không, đó là thấy bằng trí tuệ. Tánh không là ngay trong có mà thấy không, chớ không phải đợi không mới thấy không. V́ vậy kinh Bát-nhă nói: "sắc tức thị không". Từ không, do duyên hợp mới có là: "không tức thị sắc". Hiểu như vậy mới hiểu Bát-nhă. Nói không mà không phải thật không, chỉ là không "thể tánh", chớ giả tướng vẫn có. Nói có nhưng là giả tướng nên chẳng phải thật có. Thân này tánh không hay tánh hữu? Tánh không mà có là v́ duyên hợp giả có. Người thấy rơ ràng như vậy tức là có trí tuệ Bát-nhă, có trí tuệ Bát-nhă là hết khổ. Vậy tu rất dễ, không tốn công bao nhiêu, cũng không phải trèo núi qua sông, lặn lội vô rừng t́m mới có, mà ngay nơi thân này dùng trí tuệ chiếu soi năm uẩn không thật th́ qua hết khổ nạn. Qua hết khổ nạn là giải thoát sanh tử. Cho nên tụng Bát-nhă là để quán chiếu, để thấy rơ thân này từ thể xác đến tinh thần là duyên hợp hư giả không thật. Hiểu không thật rồi, chúng ta mới xem thường, không quí trọng thân nữa. Do không quí trọng thân nên hết ái ngă. Hết ái ngă mới dứt được luân hồi sanh tử. Như vậy người muốn tiến tới giải thoát sanh tử phải thấy rơ năm uẩn đều không. Thấy được tánh không th́ không c̣n đối đăi. Không đối đăi mới là nghĩa trung đạo, là chân lư. C̣n không đối với có là thấy một bên, gọi là biên kiến. V́ vậy nhiều người tu không biết, nên nói tụng Bát-nhă, Kim Cang là chấp không, đó là sai lầm. Chúng ta tu hành phải sáng suốt, nhận cho kỹ, thấy được sự vật hiện có, biết tánh của nó là không, duyên hợp hư giả tạm có thôi. Thấy như vậy là người trí tuệ, trí tuệ là sáng suốt. Ngược lại, không thật mà tưởng thật là si mê, si mê là vô minh. Muốn phá vô minh phải dùng minh. Trong kinh nói: "căn nhà tối cả ngàn năm, muốn hết tối th́ phải thắp đèn lên. Nhà dù tối ngàn năm mà thắp đèn lên th́ sáng liền". Cũng vậy chúng ta mê vô lượng kiếp rồi, nhưng bây giờ tỉnh, th́ ngay đó là giác, là hết vô minh. Nhà Phật cũng thường nói câu "hồi đầu thị ngạn", tức xoay đầu lại là bờ giác chớ không đâu xa. V́ vậy mê th́ dẫn đi trong luân hồi sanh tử, giác th́ trở lại bờ Niết-bàn. Tu là hồi đầu, xoay đầu lại. Từ lâu chúng ta mê nên đi trong đau khổ tử sanh, khi tỉnh chúng ta trở lại th́ hết đau khổ. Nên tu là giải khổ cho ḿnh, cứu khổ cho chúng sanh. Nếu ḿnh c̣n khổ th́ làm sao cứu khổ cho người được. Nếu hiểu tu là chỉ lo cứu khổ cho chúng sanh nên ai mời làm ǵ, rước đi đâu cũng nghe theo, đó là họa. Ví dụ cầu an là cứu khổ cho người sống, cầu siêu là cứu khổ cho người chết v. v… nhưng ḿnh chưa hết khổ th́ làm sao cứu họ hết khổ được. Muốn cứu khổ cho người trước phải giải khổ cho ḿnh. Ḿnh hết khổ rồi mới cứu khổ cho người được. Nhiều Phật tử có chuyện buồn, nhờ thầy an ủi khuyên lơn cho bớt buồn bớt khổ. Rồi mai chiều thầy có chuyện buồn Phật tử thấy thương an ủi lại. Như vậy chỉ là sự an ủi lẫn cho nhau chớ không ai hết khổ cả. Cho nên chúng ta tu là phải giải khổ cho ḿnh, giải khổ cho ḿnh rồi mới cứu khổ cho người. C̣n chưa tự giải khổ được, mà đi cứu khổ cho người là chuyện không có thật. Phản chiếu lại để thấy năm uẩn đều không, gọi là "phản quan tự kỷ", nghĩa là soi sáng lại chính ḿnh. Soi sáng để thấy rơ ḿnh, nên không lầâm không chấp. Khi đă sáng rồi, mới chỉ lại cho người khác không lầm không chấp. Ngồi soi sáng lại chính ḿnh là ngồi thiền. Bởi vậy nói thiền quán là ngồi lại để soi sáng chính ḿnh, thấy rơ ḿnh thực hay giả, thấy rơ ḿnh thanh tịnh hay ô uế v.v... Thấy rơ ḿnh như vậy th́ ḿnh mới không lầm, không lầm ḿnh th́ ḿnh mới chỉ cho người khác tu không lầm. Nếu ḿnh không chiếu soi ḿnh, không biết rơ ḿnh th́ dạy người là dạy cái ǵ. Cho nên nhà Phật nói phải luôn quán chiếu, phải soi sáng chính ḿnh hay phản quan tự kỷ. Đó là hướng tu trong nhà Phật thường chỉ dạy. Cho nên Tăng Ni ở các Thiền viện mỗi đêm phải ngồi thiền để quán chiếu lại ḿnh. Thấy rơ từng tâm niệm của ḿnh không thật, mới dẹp được nó. C̣n tưởng nó là đúng, là thật th́ không bao giờ dẹp phá được. Không dẹp phá nó được th́ phải chịu đi trong luân hồi sanh tử thôi. Như vậy minh là trí tuệ, vô minh là si mê. Trí tuệ là sáng, si mê là tối. Có trí tuệ th́ hết si mê. Nhà tối chỉ thắp đèn mới trừ được tối. Chúng ta v́ vô minh nên phải sanh tử, muốn hết sanh tử phải phá vô minh. Phá vô minh th́ phải dùng trí tuệ. Khi đă nắm vững đường lối, phương pháp tu chúng ta phải cố gắng tu. Tu cho được giải thoát để cứu độ chúng sanh đó là bản nguyện của tất cả người xuất gia theo Phật vậy. TU LÀ DỪNG, CHUYỂN VÀ SẠCH NGHIỆP Giảng tại chùa Phong Ḥa Sa Đéc - 2000.
Đề tài tôi giảng hôm nay: Tu là dừng nghiệp, chuyển nghiệp, và sạch nghiệp. Trước khi đi vào đề tài, tôi xin đặt một câu hỏi: "Tại sao chúng ta phải tu? " Quư Phật tử thường đi chùa, lễ Phật, ăn chay, chắc rằng ai cũng nói ḿnh biết tu rồi, phải không? Vậy nếu có người hỏi tại sao phải tu, th́ quư vị trả lời thế nào? Ởû đây tôi sẽ giải thích về điều này. Chúng ta đều ư thức rằng người biết tu là người cầu tiến, là người vươn lên. Tại sao? Thí dụ có người trước kia say rượu lè nhè, nhưng bây giờ người đó biết tu theo Phật, giữ năm giới. Do giữ giới nên không uống rượu say nữa, đó là đă tiến hơn xưa. Hoặc như người chuyên đi ăn trộm, người đó bị xă hội đánh giá là hạng bất lương. Bây giờ người đó biết tu, thọ giới của Phật. Phật cấm không được trộm cướp. Khi không c̣n trộm cướp nữa, th́ người đó có tiến bộ chưa? Thường thường thế gian thấy ai hư hỏng, rồi thức tỉnh lại, làm lành th́ người ta bảo người đó giác ngộ. Đó là một bước tiến. Như vậy v́ cầu tiến mà chúng ta tu. Người biết tu là lúc nào cũng sửa đổi hành vi xấu, ngôn ngữ xấu, ư niệm xấu của ḿnh trở thành hay, trở thành tốt. Như vậy có phải là tiến bộ không? Cho nên nói biết tu là có tiến. V́ vậy muốn cầu tiến, người Phật tử phải tập tu. Đó là lư do thứ nhất. Lư do thứ hai, chúng ta tu là v́ muốn đem lại sự an lạc cho bản thân ḿnh trong hiện tại và vị lai. Tại sao? Thí dụ như một Phật tử trước kia chưa biết tu, ở gia đ́nh vợ chồng nghi ngờ nhau không ḥa thuận. Bây giờ nếu hai vợ chồng biết tu, giữ ngũ giới tức không tà dâm, không ngoại t́nh với kẻ khác, th́ vợ chồng hết nghi nhau. Hết nghi nhau th́ b́nh an, hạnh phúc. Như vậy nhờ tu mà đem lại sự b́nh an cho gia đ́nh, sự tốt đẹp cho xă hội. Nên người biết tu là người tiến lên, chuẩn bị cho cuộc sống luôn được an lạc. Thế mới thấy tu là việc thiết yếu. Phật tử khi hiểu được lợi ích đó rồi ai cũng phát tâm tu. Đó là lư do thứ hai. Khi đă phát tâm tu theo Phật, th́ điều đầu tiên Phật dạy chúng ta tu là để dừng nghiệp. Tại sao tu để dừng nghiệp? Trước khi trả lời câu này, tôi xin ôn lại lịch sử đức Phật một chút. Chúng ta nhớ đức Phật Thích Ca Mâu Ni khi ngồi dưới cội Bồ-đề suốt bốn mươi chín ngày đêm, đến đêm thứ bốn mươi chín, từ đầu hôm đến canh hai Ngài chứng được Túc mạng minh. Túc mạng minh tức là trí sáng suốt, thấu rơ hết bao nhiêu kiếp về trước của ḿnh, đă từng làm ǵ, ở đâu, cha mẹ anh em tên ǵ… đều biết rơ hết. Chẳng những một đời mà vô số đời cũng đều biết rơ. Nên gọi là Túc mạng minh, tức trí sáng suốt, biết vô số mạng kiếp về trước. Sau này đi giảng đạo, Ngài nhắc lại đời trước Ngài đă từng làm ǵ, ở đâu, lợi ích cho ai v. v… Những sự việc như thế được kết tập lại gọi là kinh Bản Sanh và Bản Sự, hiện giờ vẫn c̣n. Từ canh hai đến canh ba, Ngài chứng được Thiên nhăn minh. Thiên nhăn minh là tất cả những ǵ gần xa, nhỏ nhiệm nhất Ngài đều thấy được. Cho nên khi đức Phật chứng được Thiên nhăn minh rồi, Ngài nh́n thấy trong bát nước có vô số vi trùng. Ngày xưa nói trong nước có vi trùng người ta không tin. Nhưng bây giờ nhờ khoa học chế ra kính hiển vi, người ta mới thấy vi trùng. Như vậy đức Phật đă thấy hơn hai ngàn năm rồi, bây giờ chúng ta mới biết. Bằng Thiên nhăn minh Ngài nh́n rất xa, thấy ngoài thế giới này, c̣n có vô số thế giới khác, tính không hết. Danh từ chuyên môn trong nhà Phật gọi là Hằng hà sa số. Hằng hà đó là sông Hằng ở Ấn Độ, sa số là số cát. Sông Hằng ở Ấn Độ dài tới mấy ngàn cây số, th́ cát sông Hằng chừng bao nhiêu? Vô số kể. Phật nói thế giới trong hư không nhiều như số cát sông Hằng vậy. Ngày xưa không ai tin điều này cả. Nhưng bây giờ nhờ các nhà thiên văn, người ta t́m thấy rơ ràng ngoài thiên hà của chúng ta, c̣n vô số thiên hà nữa. Cho nên biết trong vũ trụ không biết bao nhiêu là thế giới. Như vậy Phật nói không sai, v́ đó là cái thấy thật. Kế đó, Ngài nh́n thấy con người khi chết rồi lại tái sanh vào các loài. Người ta cứ nghĩ chết rồi là hết, hoặc bảo chết rồi trở lại làm người. Nhưng Phật thấy rơ ràng, khi chúng ta chết rồi, do nghiệp của ḿnh tạo hàng ngày, hoặc lành hoặc dữ; nếu lành th́ nó dẫn chúng ta sanh trong cơi lành, nếu dữ nó dẫn chúng ta sanh vào cơi dữ. Cho nên trong kinh có một đoạn Phật nói: "Ta nh́n thấy chúng sanh do nghiệp dẫn đi luân hồi trong lục đạo như người đứng trên lầu cao nh́n xuống ngă tư đường, thấy rơ ràng ai nghiệp ǵ, đi đường nào, không có nghi ngờ. " V́ vậy Phật dạy chúng ta tu, bước đầu là dừng nghiệp. Dừng nghiệp để làm ǵ? Để khi chết chúng ta không bị nghiệp ác dẫn đi vào đường ác. Nếu cứ tạo nghiệp ác, th́ khi chết chúng ta bị nghiệp dẫn trong địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Cho nên người Phật tử tu là làm sao trong hiện tại, dừng những hành động xấu ác, để bản thân là một người tốt, có lợi ích cho xă hội, chết đi ḿnh lại được nghiệp lành dẫn sanh vào cơi lành. Như vậy có phải tu là để cho chúng ta an ổn trong đời này và đời sau không? V́ tầm quan trọng như vậy cho nên chúng ta mới tu. Như hàng Tăng Ni xuất gia, lẽ ra các vị ở ngoài đời hưởng những lạc thú thế gian, tại sao lại cạo đầu vào chùa ăn chay, mặc áo nhuộm cho khổ vậy? Có cái ǵ cần, cái ǵ quư, ḿnh mới làm điều đó chứ. V́ thấy rơ được lợi ích việc tu tập rồi, nên chúng ta mới đi tu. Đến canh năm, khi sao mai vừa mọc, Ngài liền chứng được Lậu tận minh, tức là trí sáng suốt thấy rơ nguyên nhân v́ sao con người phải luân hồi sanh tử. Ngài thấy rơ ràng, không nghi ngờ ǵ hết. Nên sau đó Ngài đến vườn Lộc Uyển, giảng bài pháp đầu tiên cho năm anh em ông Kiều Trần Như nghe. Đó là bài pháp Tứ Diệu Đế. Ngài chỉ rơ quả đau khổ và nhân gây ra đau khổ; chỉ cho quả giải thoát và nhân tu sẽ được giải thoát. Đó là do Phật tu chứng được nên Ngài nói ra, chớ không phải như các triết gia suy luận rồi nói. V́ vậy Phật dạy chúng ta trên đường tu, phải làm sao đạt được kết quả tốt đẹp, làm sao tu cho cuộc đời của ḿnh hiện tại an vui, hạnh phúc, lợi ích cho chúng sinh. Khi chết đi sinh trở lại, được làm người tốt đẹp hơn, cao quư hơn. Tu là như vậy. Ở đây, điểm quan trọng tôi muốn nhấn mạnh: Tu là dừng nghiệp, là chuyển nghiệp và sạch nghiệp. Dừng nghiệp, tức là dừng những nghiệp ác, chúng ta không tạo những tội lỗi phải chịu khổ đau nữa. Vậy tu dừng nghiệp bằng cách nào? Trong nhà Phật dạy, dù tại gia hay xuất gia, khi bước chân vào đạo, trước tiên phải ǵn giữ giới luật. Ǵn giữ giới luật là tu dừng nghiệp. Tại sao? Bởi v́ đức Phật thấy rơ ràng, con người khi nóng giận hay tham lam rất là cuồng loạn. Điều tội ác nào người ta cũng có thể làm được. Mà tạo tội ác th́ phải đọa, phải chuốc quả đau khổ. V́ vậy Phật dạy phải giữ những điều giới, đừng tạo ác. Không tạo ác th́ khỏi đọa. Như hàng Phật tử tại gia, đức Phật dạy phải giữ năm giới: 1- Không được sát sanh. 2- Không được trộm cướp. 3- Không được tà dâm. 4- Không được nói dối. 5- Không được uống rượu, không được hút á phiện, x́ ke, ma túy. Năm điều đó cần phải ǵn giữ cho đúng. Như người nam khi chưa biết tu, có ai rủ uống rượu th́ sao? Tuy ban đầu chưa biết uống, nhưng bạn bè rủ th́ vị t́nh, uống rồi thành ghiền. Ghiền rồi thành say. Đối với á phiện, x́ ke, ma túy cũng vậy. Trước đâu có, cha mẹ sanh ra đâu có ghiền. Do bị bạn bè rủ rê mà không biết tu mới nhào theo. Nhào theo rồi th́ hư một đời, hại gia đ́nh, hại xă hội. Nên Phật cấm những điều đó là thương hay làm khó khăn ḿnh? Đó là Phật thương. Bởi rượu, á phiện, x́ ke, ma túy là hố sâu nguy hiểm, Phật muốn cho chúng ta không rớt vào hố đó, nên mới dùng hàng rào giới luật để chặn. Thí dụ Phật tử đă thọ ngũ giới rồi, nếu bạn bè tới rủ uống rượu, liền nói: "Tôi đă thọ giới Phật rồi, không được uống rượu. Thôi, tôi xin không uống". Như vậy là ngăn chặn ḿnh tạo tội. Nếu không thọ, không giữ giới th́ bạn bè rủ cứ ngồi uống có sợ ǵ đâu. Rồi tới ăn trộm, ăn cướp, cho đến giết người… trong những việc đó có ǵ b́nh an không hay việc nào cũng khổ. Ḿnh làm cho ḿnh khổ, ḿnh làm cho người khác cũng khổ, cứ khổ lây với nhau. Bây giờ Phật cấm không được giết người, dù giận bao nhiêu đi nữa, cũng không dám động đến sinh mạng của người khác, đó là tu. Tu là giữ giới. Cho nên bước đầu vào đạo, Phật bảo phải giữ năm giới. Chúng ta hứa giữ để trong ḷng lúc nào cũng nhớ không được làm các việc đó. Nhờ hứa với Phật, hứa với quư thầy như vậy, không dám quên nên không tạo tội. Đây gọi là dừng nghiệp. Chúng ta đối nơi thân, nơi miệng, nơi ư thường hay buông lung tạo tội. Thí dụ nơi thân, trẻ nhỏ thấy con chim đậu trên cành cây, nó làm sao? Nó muốn bắn. Nhiều khi con chim nhỏ xíu không đáng ǵ hết, không được một miếng ăn nữa, mà cũng cứ bắn. Thấy con cóc, con nhái, muốn lấy đá chọi v. v… Bây giờ ḿnh biết tu th́ việc ǵ không có lợi cho ḿnh, cho người mà làm đau khổ chúng sanh th́ đừng làm. Nhờ không làm nên không khổ cho những con vật nhỏ, không khổ cho người. Như vậy nhờ biết ǵn giữ giới, không làm việc ác, đó là chúng ta tu. Đến miệng, chúng ta toàn nói lành hay cũng có khi nói dữ? Có người nào nói lành suốt đời chưa, hay khi vui th́ nói lành, khi giận th́ nói dữ. Bây giờ chúng ta biết tu rồi, vui nói lành mà giận th́ thôi, làm thinh, đừng nói ǵ cả. Bởi v́ nếu nói th́ sẽ nói bậy, nói tội lỗi. Cho nên khi giận, làm thinh bỏ qua, một hồi sẽ hết. Chúng ta giữ thân không làm đau khổ cho chúng sanh, miệng không nói lời dữ, lời ác khiến người khinh miệt ḿnh. Đó là bảo vệ giá trị tinh thần đạo đức của ḿnh. Quư Phật tử thấy khi giận lời nói có giá trị thật không? Thí dụ khi giận người ta nói "Mày là con chó", nói thế mà ḿnh có thành con chó đâu. Nếu tỉnh táo, ḿnh sẽ trả lời: "Tôi đâu có bốn chân đâu mà thành con chó". Nhưng đằng này, nghe nói con chó liền muốn tát tai người ta, như vậy vô t́nh ḿnh nhận là chó rồi. Bởi vừa nói chó là ḿnh cắn liền, phải không? Khi nóng giận người ta dễ điên cuồng, không có chút ǵ khôn ngoan, sáng suốt cả. Cho nên khi nóng giận cần phải im lặng, đó là người khôn, người khéo tu. Như vậy chúng ta tu thân, tu miệng và tu luôn cả ư nữa. Ư của quư vị nghĩ tốt nhiều hay nghĩ xấu nhiều? Có khi xấu nhiều tốt ít, có khi tốt nhiều xấu ít, tốt xấu lẫn lộn. Bây giờ tu rồi khi nghĩ một điều ǵ xấu, chúng ta biết đó là bậy, là tội lỗi nên không nghĩ nữa, cấm nó như vậy lâu dần thành quen. Nghĩ tốt th́ cho nghĩ, nghĩ xấu th́ dừng. Đó là chúng ta tu. Nếu người thân không làm những điều xấu ác, miệng không nói những lời dữ, ư không nghĩ những điều bậy xấu, th́ người đó là người tốt. Người ta nói tu hiền, nhưng hiện nay có nhiều người tu mà chưa hiền. Ăn chay th́ ăn mà không hiền chút nào cả. Bởi tu không phải chỉ ăn chay mà tu là sửa thân đừng làm tội lỗi, miệng đừng nói tội lỗi, ư đừng nghĩ tội lỗi. C̣n ăn chay, ăn mặn chỉ là phần phụ thôi. Người ăn mặn mà nói năng đàng hoàng hiền lành, c̣n người ăn chay mà la lối bậy bạ th́ ai hơn ai? Hiểu vậy quư vị mới thấy lẽ thật của sự tu. Ngay trong đời sống này phải tạo cho ḿnh một cuộc sống có giá trị. Nếu trong gia đ́nh hai vợ chồng đều biết tu. Chồng không làm bậy, không nói bậy, không nghĩ bậy, vợ cũng vậy th́ gia đ́nh đó đầm ấm, hạnh phúc không? Sở dĩ ngày nay gia đ́nh chia ly, đau khổ, là v́ người ta không biết tu. Tu dừng nghiệp là đừng làm bậy, đừng nói bậy, đừng nghĩ bậy thôi, chứ chưa làm ǵ hay tốt. Bao nhiêu đó cũng khó rồi. Lâu nay người ta quen buông lung, bây giờ chặn lại nên khó, chớ việc đó đâu phải khó. Nếu giận người ta mà ḿnh làm thinh, không la lối ǵ hết. Một hồi cơn giận sẽ nguôi, và từ từ ḿnh quên hết. Quên hết th́ có thiệt tḥi ǵ cho ḿnh đâu. C̣n nóng chửi người ta, người ta đánh lại ḿnh th́ sẽ sinh ra bao nhiêu chuyện rắc rối, bao nhiêu phiền năo và tội lỗi khác nữa. Tất cả chúng ta ai cũng cần phải tu để trở thành người hay tốt. Đó là người khôn ngoan, sáng suốt. Nếu để thân miệng ư lăng xăng lộn xộn hoài, đó là người xấu, người dở. Tôi đă nói phần tu là dừng nghiệp. Kế đến phần tu là chuyển nghiệp. Chuyển là đổi. Chuyển nghiệp là chuyển đổi nghiệp của ḿnh. Tôi thường hay nói, Phật tử chúng ta hiểu nghĩa chữ tu dở hơn cả mấy chú sửa xe honda nữa. Tại sao vậy? V́ mấy chú đó gọi sửa xe hư ít là "tiểu tu", xe hư nhiều hơn là "trung tu", xe hư thật nhiều là "đại tu". Có khi nào ḿnh đem chiếc xe cũ hư đi sửa, tới ngày lấy nó y nguyên như cũ mà ḿnh vẫn chịu không? Đâu có. Phải sửa tốt hơn ngày ḿnh giao xe mới được. Như vậy tu là sửa từ cái hư, cái xấu trở thành cái tốt, cái hay. Người biết sửa là người biết tu. Quư Phật tử tu bao nhiêu năm rồi, có biết sửa chưa hay chỉ xin Phật thôi. Có ǵ buồn, lạy Phật: "Phật cứu độ con", "Phật cho con hết bệnh hoạn", "cho con hết tai nạn" v. v… Nếu tu như vậy chắc Phật cũng lắc đầu, không biết nói sao. Bởi đức Phật từng bảo rằng: "Ta không có quyền ban phước, xuống họa cho ai". Nếu Ngài ban phước xuống họa cho người, th́ Ngài không dạy ḿnh tu dừng nghiệp, chuyển nghiệp, không dạy tu nhân quả. Nhân tạo lành th́ được hưởng quả lành; nhân tạo ác th́ phải chịu quả ác. Phật chỉ dạy chúng ta biết thế nào là tội phải tránh, thế nào là phước nên làm, đó là dạy chúng ta tu. Phật tử bây giờ không chịu tu, có việc ǵ liền chạy xin Phật cho nhanh. Chỉ tốn có một dĩa quả, một bó nhang là xong. Phật tử xin th́ xin, chứ Phật đâu có cho được. Lâu nay Phật tử chúng ta cứ tu như vậy, không cần biết đúng hay sai với ư nghĩa chữ tu trong nhà Phật ǵ cả. Bởi tu không đúng ư nghĩa, nên càng tu càng thấy lung tung. Trong nhà sanh chuyện phiền năo với nhau; ra phố đi đâu đụng đó. Nếu biết tu đúng với những lời Phật dạy th́ càng tu gia đ́nh càng hạnh phúc, càng tu láng giềng càng mừng vui, được gần người hiền, người lành. Như vậy chuyển nghiệp là chuyển thế nào? Từ nghiệp xấu ngày xưa đă làm, bây giờ đổi thành nghiệp tốt. Như khi xưa ḿnh tạo những hành động xấu xa, làm đau khổ cho người, bây giờ ḿnh dừng không làm việc ấy nữa. Ngang đó ḿnh khỏi tội lỗi, nhưng chưa được bao nhiêu phước. Nên bây giờ không làm khổ người, mà c̣n làm lợi ích, giúp đỡ cho người được vui vẻ. Đó là chuyển nghiệp xấu thành nghiệp tốt. Chuyển được thân nghiệp là làm các việc lành, giúp người này cứu kẻ kia. Mọi người được an vui th́ người đó trở thành người tốt, đáng khen. Đó là tu chuyển nghiệp về thân. Miệng chúng ta ngày xưa nói dữ nói dối, bây giờ biết tu rồi không nói dữ, không nói dối, mà c̣n nói lời hiền ḥa, dễ thương, nói lời chân thật. Gặp người buồn khổ, nói lời an ủi cho người bớt khổ. Người không hiểu đúng lẽ thật, nói cho người hiểu đúng lẽ thật, đó là tu. Chuyển nghiệp xấu của thân thành nghiệp tốt của thân; chuyển nghiệp xấu của miệng thành nghiệp tốt của miệng; chuyển nghiệp xấu của ư thành nghiệp tốt của ư. Nếu có ǵ phiền hà làm cho ḿnh khó chịu, vừa muốn giận liền tự nhắc "không được giận", "giận là xấu, bỏ". Nên nghĩ người làm sai là người đáng thương, chứ không đáng giận. Như vậy chuyển từ ghét giận trở thành thương mến, tâm hung dữ trở thành tâm từ bi. Như vậy là tu. Tu là từ nghiệp xấu chuyển thành nghiệp tốt. Việc này dễ làm hay khó làm? Dừng nghiệp đă là khó rồi, huống nữa phải làm cái tốt. Chính v́ vậy người tu mới được thế gian kính phục. Nếu trong xă hội, trong gia đ́nh, ai cũng biết chuyển nghiệp xấu thành nghiệp tốt hết th́ gia đ́nh đó thế nào? Gia đ́nh đó hoàn toàn được hạnh phúc, xă hội cũng tốt đẹp theo. Nên biết chúng ta tu là đem lại sự an vui, hạnh phúc cho ḿnh, cho mọi người. Trong kinh Phật dạy rất rơ: "Chúng sanh tạo nghiệp từ thân, miệng, ư". Cho nên sau khi giữ năm giới rồi, Phật tử phải tu thêm Thập thiện. Giữ năm giới là dừng được nghiệp ác, tu Thập thiện là chuyển nghiệp ác thành nghiệp lành. Hồi xưa, ḿnh thường hay giết hại th́ ngày nay thương chúng sanh. Thấy chúng sanh nào bị bắt, sắp bị giết hại, ḿnh mua thả. Ngày xưa thay v́ giết, bây giờ lại cứu. Hồi xưa ḿnh tham lam trộm cắp của người ta, bây giờ có duyên ḿnh bố thí. Hồi xưa ḿnh có những hạnh xấu không trinh bạch, bây giờ tập tu hạnh trinh bạch. Như vậy thay v́ thân có ba nghiệp sát sanh, trộm cắp, tà dâm; bây giờ ḿnh chuyển ba nghiệp đó. Sát sanh chuyển thành phóng sanh, trộm cướp chuyển thành bố thí, tà dâm chuyển thành trinh bạch. Được vậy đời ḿnh tốt đẹp vô cùng. Ngày xưa hay nói dối, hay nói hung dữ, bây giờ Phật dạy chuyển thành bốn thứ: nói lời chân thật, nói lời ḥa ái, nói lời ḥa hợp, nói lời đúng lư. Thay v́ nói dối gạt, th́ bây giờ chúng ta nói lời chân thật. Chuyển lời nặng nề ác độc thành lời ḥa nhă dễ thương. Đó là chuyển bốn nghiệp nơi miệng. Kế đến chuyển nơi ư. Ư chúng ta thường dễ sanh tham lam, khi tu dừng được tham lam rồi, chúng ta phải tập hỷ xả. Hỷ xả tức là tha thứ, là buông bỏ. Thí dụ ngày xưa, chúng ta làm một muốn được hai, làm hai muốn được ba bốn… cứ muốn chồng lên. Bây giờ chúng ta làm việc vừa phải, có đủ cho cuộc sống ḿnh b́nh an thôi. Phần dư vui vẻ đem ra giúp đỡ cho những người thiếu, đó gọi là hỷ xả. Ngày xưa chúng ta hay nóng giận. Giận người này giận người nọ, th́ ngày nay tập ḷng từ bi thương xót mọi người, để ḿnh không khổ, mà mà người cũng không khổ. Nói tới từ bi chúng ta thấy rất khó. Tại sao? V́ ở đời có người ăn nói dễ thương, có người ăn nói khó thương. Có người tư cách dễ thương, có người tư cách khó thương… nên ḿnh cũng khó thương. Bây giờ từ bi là phải thương tất cả, th́ làm sao mà thương đây? Thí dụ khi vào bệnh viện tâm thần, chúng ta bị những người điên trong đó kêu tên ḿnh chửi, hoặc nhổ nước bọt lên ḿnh v. v… lúc đó chúng ta thế nào? Cự lộn với họ hay là thương họ. Ḿnh không có lỗi lầm ǵ với họ, mà họ chửi ḿnh, rồi c̣n phun nước bọt vô ḿnh, dễ giận không? Nhưng nếu giận, ḿnh cự lộn với họ th́ người chung quanh sẽ nói sao? Đánh lộn với kẻ điên th́ chỉ có người điên mới làm thôi. Người ta điên cho nên làm bậy, c̣n ḿnh tỉnh phải thương họ, chứ đâu nên giận. Phật tử xét kỹ, những người ḿnh không làm quấy, không làm điều tội lỗi với họ, mà người ta nói ḿnh quấy, ḿnh có tội lỗi th́ ḿnh nên nghĩ: "Chuyện không có mà họ nói, đó là họ không tỉnh sáng. Người không tỉnh sáng là người đáng thương, chớ không đáng giận. Ḿnh đang tỉnh sáng th́ không nên hơn thua với người không tỉnh sáng. Nhớ như vậy chúng ta sẽ có ḷng từ bi dễ dàng, không khó. Cứ thế ḿnh tập tâm từ bi càng ngày càng lớn lên, đó là tu. Tâm chúng ta thường ngày hay si mê, nghĩ sai trật, nghĩ lầm mà chúng ta tưởng là đúng. Như Phật tử đến tháng hai tháng ba, thường lên núi Sam để vay tiền Bà về làm ăn phải không? Đó là điều không có lẽ thật, thế mà Phật tử vẫn tin làm. Nếu tới miếu Bà vay tiền về làm ăn, ai cũng giàu hết, th́ từ Long Xuyên lên Châu Đốc người ta cất nhà ngói hết. Nhưng quư vị thấy nơi đó có nhà ngói hết chưa? Kế cận miếu Bà dại ǵ không vô vay tiền làm ăn cho được giàu. Rơ ràng điều này đâu có đúng. Một việc không có lư như vậy, nhà Phật gọi là tà kiến. Tức hiểu biết sai lầm, không đúng sự thật. Thế mà Phật tử vẫn nghe theo, không phải sai lầm là ǵ? Phật tử chúng ta phải có một nhận định đúng đắn mới gọi là tu. Nếu hiểu sai lầm như vậy không phải là tu. Chúng ta tu là để đem lại an vui, đem lại lợi ích cụ thể, thiết thực cho ḿnh cho người. Phật tử tin được lư nhân quả, hiểu rơ gieo nhân th́ gặt quả, nhân lành th́ quả lành, nhân ác th́ quả ác. Ví như người nông phu phải lựa giống tốt gieo xuống ruộng, th́ tới mùa thu hoạch mới được lúa tốt, nhiều. Nếu gieo giống xấu th́ kết quả xấu, không nghi ngờ. Tuy nhiên không hẳn đơn giản giống tốt th́ được quả tốt hết. Giống tốt c̣n phải biết bón phân, nhổ cỏ, coi chừng sâu rầy, nước nôi nữa, đó là những duyên phụ. Duyên chánh là chánh nhân tức hạt giống, duyên phụ là những điều kiện trợ giúp cho chánh nhân phát triển, đi đến kết quả tốt đẹp. Nếu có người nông dân tới mùa lúa mà không chịu gieo mạ, cứ chắp tay nhờ trời Phật cho con năm nay được trúng mùa th́ có trời, Phật nào cho được không? Chúng ta cũng như vậy, chỉ cầu xin mà không chịu tạo nhân tốt th́ đ̣i quả tốt sao được. Điều đó không hợp với lẽ thật, không đúng với chánh pháp. Cho nên người Phật tử chúng ta phải thấy, phải hiểu cho đúng, đừng để sai lầm. Nếu sai lầm th́ tự ḿnh khổ và cũng làm cho người khác khổ nữa, chứ không có lợi ích ǵ. Tôi đă nói hai phần, tu là dừng nghiệp ác và tu là chuyển nghiệp ác thành nghiệp thiện rồi. Kế đến tôi sẽ nói tu là làm cho sạch nghiệp. Tất cả các nghiệp chúng ta đă tạo, ngày nay biết tu chúng ta phải gột rửa hết. Như vậy muốn tu sạch nghiệp, phải tu bằng cách nào? Về điểm này, tôi sẽ hướng dẫn từ từ. Nếu người tu Tịnh độ muốn được sạch nghiệp phải làm sao? Trong kinh Di Đà dạy chúng ta niệm Phật phải nhiếp tâm cho thanh tịnh. Do tâm thanh tịnh mới không nhớ bậy, không nghĩ bậy. Nghĩa là muốn tâm sạch th́ phải nhớ Phật, phải niệm Phật, đừng nhớ chuyện hơn thua, phải quấy của thế gian, th́ tâm dần dần trong sạch. V́ vậy muốn nghiệp sạch hoàn toàn th́ phải ráng tu cho miên mật. Phật dạy người tu đến chỗ giải thoát, hết khổ đau, hết sanh tử th́ hết nghiệp. V́ nghiệp dẫn ḿnh đi trong luân hồi, bây giờ muốn hết luân hồi th́ phải sạch nghiệp. Nên muốn sạch nghiệp th́ chúng ta phải tu đến nơi đến chốn, chứ không thể tu lơ là được. Ngày nay nhiều Phật tử hay ỷ lại ḿnh c̣n khỏe, c̣n trẻ lo làm ăn đă, chừng nào già hăy niệm Phật rút th́ Phật sẽ đón. Tu như vậy khỏe. Phật tử tưởng tượng điều đó đơn giản như thế, nhưng nó lại không có lẽ thực. Như trong kinh Di Đà nói, chúng ta niệm Phật từ một ngày, hai ngày, ba ngày cho đến bảy ngày nhất tâm bất loạn. Khi sắp chết Phật và Thánh chúng mới đón về Cực Lạc. Nếu nhất tâm từ một ngày, hai ngày, ba ngày đến bảy ngày th́ tâm có c̣n nghĩ ǵ khác Phật không? Khi đó tâm thanh tịnh tức nghiệp cũng thanh tịnh. Như vậy là sạch các nghiệp xấu rồi. Tôi thường nói trong ba nghiệp thân, miệng, ư th́ trọng tâm là ư nghiệp. Ư nghĩ xấu th́ miệng nói xấu, thân làm xấu. Ư nghĩ tốt th́ miệng nói tốt, thân làm tốt. Như vậy gốc là ư. V́ vậy Phật dạy phải nhắm thẳng vào ư. Ư hoàn toàn trong sạch th́ hết nghiệp, hết nghiệp th́ được Phật đón về Cực Lạc không nghi. Nếu niệm sơ sơ, c̣n tính làm ăn đủ thứ th́ chắc Phật không đón được đâu. Nhiều Phật tử tu, mang xâu chuỗi mà vẫn c̣n tính toán hơn thua nhiều quá th́ làm sao mà Phật rước qua bên đó được. Lại có người bảo ḿnh mang nghiệp về Tây phương, thủng thẳng tu nữa cũng được. Điều đó tôi không tin. Ví dụ một con chó ghẻ lác bị xà mâu ăn, nó nằm dưới đất. Bây giờ bảo đem nó lên lầu ba cho hết xà mâu, có được không? Muốn nó hết xà mâu th́ phải trị thuốc. Trị lành rồi th́ ở dưới đất hay trên lầu ǵ nó cũng mạnh. Chúng ta ngay đây tu cho sạch nghiệp, th́ dầu được về Cực Lạc hay ở đây, ḿnh cũng thanh tịnh, an vui như ở Cực Lạc vậy thôi. Đó là một lẽ thật. Nên trong kinh Di Đà, đức Phật dạy phải niệm Phật cho tới bảy ngày được nhiếp tâm bất loạn, khi lâm chung Phật và Thánh chúng mới hiện ở trước, rước về cơi Phật. Bây giờ tôi nói tới những vị tu Thiền. Trước tiên là tu theo thiền Nguyên thủy. Trong kinh Đại niệm xứ của bộ A Hàm, Phật có dạy rằng: Người nào quán Tứ niệm xứ: Quán thân dơ nhớp, quán cảm thọ là khổ, quán tâm vô thường, quán các pháp vô ngă. Quán như vậy suốt ngày, không nghĩ ǵ khác, từ một ngày, hai ngày, ba ngày, bốn ngày cho tới bảy ngày, người đó sẽ chứng từ quả A Na Hàm đến quả A La Hán. Như vậy Phật dạy dù tu Tịnh độ hay tu Thiền cũng phải nhiếp tâm, chuyên nhất. Một bên niệm danh hiệu Phật, một bên quán Tứ niệm xứ. Do quán nên thấy rơ trong nội tâm, buông sạch hết không nghĩ ǵ khác. Nhờ không nghĩ ǵ khác, tâm mới được trong sạch. Tâm trong sạch là nghiệp trong sạch. Nghiệp trong sạch nên chứng quả. Chứng quả là không c̣n trầm luân trong sanh tử nữa. Đó là tu theo thiền Nguyên thủy. Kế đến tôi nói tu theo Thiền tông. Chúng tôi hướng dẫn Tăng Ni và Phật tử tu thiền là xoay trở lại quán sát chính ḿnh. Khi vừa mới khởi niệm nghĩ người này, người nọ liền buông, đừng chạy theo niệm. Như vậy từ một ngày, hai ngày tới bảy ngày, đi đứng ngồi nằm đều buông hết các tạp niệm, không theo nó. Lần lần nó lặng, không khởi các niệm th́ tâm thanh tịnh. Bởi v́ khởi niệm là nghĩ tốt, nghĩ xấu, là tạo nghiệp. Bây giờ hết nghĩ, lặng lẽ trong sạch, đó là thanh tịnh. Thanh tịnh th́ nghiệp hết. Từ đó nhận ra bản tâm thanh tịnh của ḿnh. Chính bản tâm này mới không bị nghiệp dẫn đi trong luân hồi sanh tử nữa. Tôi thường hay dẫn câu chuyện vua Trần Nhân Tông khi c̣n là Thái thượng hoàng, Ngài có làm bài phú "Cư trần lạc đạo", (ở cơi trần mà vui với đạo). Kết bài phú đó, Ngài dùng bốn câu kệ chữ Hán, câu chót Ngài nói rất rơ ràng: đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền, tức là đối với cảnh mà không có một ư niệm dính mắc th́ đừng hỏi chi thiền cho dư. Tại sao? V́ khi tâm không chạy theo cảnh, không dính mắc cảnh, đó là thiền rồi. Như vậy để thấy tất cả pháp của Phật dù Tịnh độ, thiền Nguyên thủy hay Thiền tông đều dạy chúng ta tu cho sạch hết nghiệp. Mà nghiệp phát xuất từ ư cho nên ư lặng, ư được nhất tâm, đó là trong sạch. Trong sạch th́ được thấy Phật, được chứng quả, được thể nhập hoàn toàn pháp thân. Chuyện tu rơ ràng như vậy, không có ǵ nghi ngờ nữa. Tất cả chúng ta tu phải đi từ bậc. Bậc thứ nhất là dừng nghiệp, bậc thứ hai là chuyển nghiệp, bậc thứ ba là sạch nghiệp. Quư Phật tử muốn tu dừng nghiệp, trước phải phát tâm qui y, nguyện giữ năm giới, để đừng sa vào hố tội lỗi. Chặn đứng không sa vào hố tội lỗi rồi, kế đó mới tiến qua bước thứ hai là làm lợi ích cho người, tạo phước lành cho ḿnh. Đến giai đoạn thứ ba, chúng ta biết tất cả nghiệp từ ư mà sanh cho nên ḿnh dừng niệm. Thanh lọc tâm ư trong sạch là làm cho sạch nghiệp. Sạch nghiệp th́ được giải thoát sanh tử. Phật tử giữ được năm giới th́ hiện tại trong gia đ́nh ḥa vui, trong xă hội ḿnh là người lương thiện, tốt đẹp. Đời sau do không phạm giới sát sanh nên tuổi thọ dài. Không phạm giới trộm cướp nên giàu có. Không phạm giới tà dâm nên đẹp đẽ trang nghiêm. Không phạm giới nói dối nên nói năng lưu loát, ai cũng tin quư. Không phạm giới uống rượu, x́ ke ma túy nên trí tuệ minh mẫn. Tu theo pháp ấy gọi là Nhân thừa Phật giáo, tức đời này là người tốt, đời sau càng tốt hơn. Sang bước thứ hai, làm mười điều lành gọi là tu Thiên thừa Phật giáo, tức tiến thêm một bậc nữa. Công đức của ḿnh tốt đẹp hơn, xứng đáng hơn nên được sanh các cơi trời. Người chuyên làm nghiệp lành, không tạo nghiệp dữ th́ được sanh cơi trời. Đến bước thứ ba là tu sạch nghiệp. Đây là chặng đường của hàng xuất gia, tu để giải thoát sinh tử. Tuy nhiên, nói vậy không có nghĩa là pháp tu này chỉ dành riêng cho người xuất gia. Nếu người xuất gia không làm đúng như vậy th́ cũng không ra khỏi sanh tử. C̣n người tại gia tu sạch được nghiệp rồi cũng ra khỏi sanh tử như thường. Cho nên nhiều Phật tử không hiểu, cứ nghĩ rằng phải vô chùa, cạo đầu như quư Thầy, quư Cô tu mới giải thoát. Nếu ở chùa mà hay sân hay giận, hoặc c̣n tham lam th́ có giải thoát nổi không? Giải thoát là do nghiệp sạch, tâm thanh tịnh, chớ không phải vô chùa mà được giải thoát. Bởi v́ tâm là gốc tạo nghiệp, nếu tâm không thanh tịnh th́ nghiệp không sạch, nghiệp không sạch th́ làm sao giải thoát được. Chúng ta tu là phải làm sao tiến lên cho được sạch nghiệp. Mỗi khi Phật tử qui y đều được phát lá phái, trong lá phái có bài kệ: Chư ác mạc tác Chúng thiện phụng hành Tự tịnh kỳ ư Thị chư Phật giáo. Dịch: Chớ làm các điều ác Vâng làm các việc lành Giữ tâm ư trong sạch Là lời chư Phật dạy. Chớ làm các điều ác là dừng nghiệp. Giữ năm giới, không làm các điều ác là dừng nghiệp. Vâng làm các việc lành là chuyển nghiệp. Nghiệp xấu chuyển thành nghiệp tốt. Giữ tâm ư trong sạch là sạch nghiệp. Là lời chư Phật dạy, Phật Thích Ca dạy như vậy, Phật Di Đà cũng dạy như vậy. Tất cả chư Phật đều dạy như vậy hết, chứ không riêng một đức Phật nào. Như vậy quư vị thấy rằng chỉ thuộc một bài kệ đó, tu hành chân chánh cũng đủ rồi. Quư vị nhớ giữ năm giới cho trọn là dừng được các nghiệp ác. Từ giữ năm giới rồi, tập làm thêm các việc lành. Thân làm lành, miệng nói lành, ư nghĩ lành. Nhưng nói thân làm lành, có nhiều Phật tử lại hiểu là phải bố thí, làm phước mới được. Gặp trường hợp ḿnh nghèo quá làm sao bố thí. Đừng nghĩ vậy, v́ trong nhà Phật dạy bố thí có ba: Một là tài thí, tức đem tiền của giúp người. Hai là pháp thí, tức đem pháp cho người. Ba là vô úy thí, tức đem không sợ hăi đến với người. Lại trong tài thí có phân làm hai: Một là ngoại tài, hai là nội tài. Ngoại tài tức đem tiền của hoặc đồ đạc giúp người ta. Nội tài là đem công sức từ chính bản thân ḿnh ra giúp người. Ví dụ như Phật tử biết đánh gió, có người hàng xóm bên cạnh bị trúng gió, ḿnh liền hoan hỷ đánh gió, giúp cho người ta hết bệnh, đó bố thí nội tài. Như vậy người nghèo cũng có thể bố thí vậy. Hoặc khi ra đường quư Phật tử thấy một cụ già lụm cụm muốn băng qua đường, mà xe cộ nhiều quá qua không được, ḿnh cầm tay cụ đưa giùm qua đường, đó là bố thí nội tài. C̣n như người tu không có nội tài, ngoại tài th́ bố thí pháp. Đem pháp nói cho quư Phật tử nghe, giúp Phật tử nhận rơ chánh tà. Thế nào là đạo đức, thế nào là phi đạo đức, giúp quư Phật tử hiểu, sống và ứng dụng Phật pháp vào cuộc sống để thân tâm luôn được an vui, đó là bố thí pháp. Như vậy ở thế gian ai cũng có thể bố thí cả, chứ không phải chỉ giàu mới bố thí được. C̣n pháp cũng đâu chỉ hạn cuộc người tu mới có thể bố thí, quư Phật tử hiểu đạo rơ ràng rồi, thấy ai làm sai làm trật ḿnh nhắc họ, chỉ cho họ sửa đổi cũng là bố thí pháp. Như vậy tất cả chúng ta đều có quyền bố thí tài, bố thí pháp hết, chứ không phải riêng người nào. Thứ ba là bố thí vô úy. Vô úy nghĩa là sao? Là không sợ. Ví dụ có người đó bệnh trầm trọng, có thể qua không khỏi mà họ sợ chết quá. Bây giờ ḿnh giải thích cho họ hiểu con người sinh ra, có sinh ắt phải có tử, không ai thoát khỏi. Hoặc tử sớm hoặc tử muộn thôi. Bây giờ anh hay chị đi trước th́ chúng tôi cũng đi sau, chứ có ai ở lại măi được đâu. Chúng ta an ủi giúp họ bớt sợ hăi, đó là bố thí vô úy. Hoặc như có đứa bé, ban đêm đi trên những đoạn đường vắng quá, nó sợ ma th́ ḿnh đốt đuốc, nắm tay dẫn nó về nhà, đó là bố thí vô úy. Nhiều lắm, không biết bao nhiêu việc để chúng ta làm. Trong những hạnh bố thí này, ai ai cũng có thể làm được, chớ không riêng quư Thầy, quư Cô mới làm được. Cho nên người tu theo đạo Phật là phải giữ ǵn ba nghiệp thân, miệng, ư của ḿnh, chứ không phải tu chỉ biết ăn chay, chỉ biết đến chùa cúng Phật là đủ. Ngày xưa ở Trung Quốc vào đời Đường, có một Thiền sư, người ta chưa biết Ngài tên ǵ, nhưng thấy Ngài trèo lên cháng ba cây, chặt nhánh kết lại thành chỗ ngồi giống như ổ quạ. Ngài tọa thiền trên đó, nên người ta đặt tên Ngài là Ô Sào Thiền sư. Ngài tu được ngộ đạo. Ai nấy biết tin đều đồn đăi khắp. Lúc đó có một nhà thơ nổi tiếng là Bạch Cư Dị rất hâm mộ Phật pháp, nghe danh Ngài ông t́m tới. Thấy Ngài ngồi trên cháng ba, ông đứng ở dưới chắp tay hỏi: "Bạch Ḥa thượng, xin Ngài dạy cho con pháp yếu vắn tắt nhất để con tu. " Ngài liền nói bài kệ: Chư ác mạc tác Chúng thiện phụng hành Tự tịnh kỳ ư Thị chư Phật giáo. Nghe vậy ông cười: "Thưa Ngài, bài kệ này đứa con nít tám tuổi cũng thuộc nữa, nói chi con". Ngài trả lời: "Phải, con nít tám tuổi cũng thuộc, nhưng ông già tám mươi làm cũng chưa xong! ". Đó, quư Phật tử thấy chưa. Câu trả lời của Thiền sư cảnh tỉnh chúng ta rất nhiều. Chúng ta có thể không làm các điều ác lớn, chứ điều ác nhỏ vẫn phạm. Điều lành nhỏ đă làm, nhưng điều lành lớn cũng chưa làm được. Rồi tâm ư ḿnh đă thanh tịnh chưa? Điều này thật khó, chớ không phải dễ. Cho nên nghe qua th́ đơn giản, nhưng ứng dụng tu cho đến nơi, đến chốn th́ không phải là dễ. Cho nên tất cả quư Phật tử biết đạo lư rồi phải dè dặt, canh chừng tâm của ḿnh, canh chừng miệng của ḿnh, canh chừng hành động nơi thân của ḿnh. Đừng cho nó hoặc vô t́nh hoặc cố ư tạo những điều tội lỗi. Lẽ thực là như vậy. Cho nên nói tới tu là nói tới nh́n lại ḿnh nhiều hơn là nh́n kẻ khác. Phải nhớ nh́n lại xem lời nói ḿnh có ngay thẳng chưa, ư nghĩ ḿnh có chân chánh chưa. Để từ đó lo tu sửa lấy ḿnh. Như vậy mới gọi là người tu. Đa số Phật tử bây giờ nh́n ḿnh ít mà nh́n người th́ nhiều, phải không? Người ta làm quấy, làm ác, khi chết họ đọa địa ngục, chớ đâu phải ḿnh đọa địa ngục. Can dự ǵ ḿnh đâu mà cứ lo nh́n người ta hoài. Nh́n người dễ sanh ra bệnh hay phê phán. Mà phê phán chắc ǵ đă đúng? Nên tục ngữ ta có câu "suy bụng ta ra bụng người". Hễ ta không muốn th́ người cũng chẳng ưa. Điều này đúng không? Có thể đúng mà cũng có thể không đúng. Thí dụ kẻ gian tham trộm cướp, họ nghĩ những người hiền cũng như vậy. C̣n người hiền lương đức hạnh, cho rằng ai cũng hiền lương đức hạnh hết th́ đúng chưa? Đó là cái nghĩ sai lầm. Như vậy ở đời chúng ta đừng chủ quan. Phải biết rằng những ǵ ḿnh làm, ḿnh chịu trách nhiệm và cố gắng chuyển đổi nếu nó xấu, đó mới thành công. C̣n chuyện của người khác làm, người khác nghĩ th́ họ sẽ có quả riêng của họ, ḿnh bận tâm lo chuyện của họ chi cho mất th́ giờ, vô ích. Nhưng thường thường chúng ta có bệnh hay ḍm ngó chuyện của kẻ khác. Chẳng những ḍm ngó mà c̣n cố t́nh nghe lỏm chuyện của người ta nữa. Thấy ai nói rù ŕ, muốn ghé lại nghe coi họ nói cái ǵ. Nghe rồi liền nghĩ bậy, nói bậy, làm bậy. Thử hỏi làm sao ba nghiệp thanh tịnh được. Ba nghiệp không thanh tịnh th́ mong chi được giải thoát! Tôi nhắc lại câu chót trong bài kệ của vua Trần Nhân Tông: "Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền", nghĩa là đối cảnh mà tâm ḿnh không có niệm khởi, không dính mắc, đó là thiền vậy. Nên người tu thiền là người đối với mọi cảnh, không bị nhiễm, không bị dính, không bị kẹt. Cho nên quư vị thấy h́nh ảnh Phật Di Lặc có sáu đứa nhỏ vây quanh, đứa móc lỗ tai, đứa móc lỗ mũi, đứa móc miệng, đứa thọc lét, nhưng Ngài vẫn cười. Tại sao? V́ Ngài đă tự tại, không c̣n dính mắc. Mấy đứa bé đó tượng trưng cho sáu trần ở bên ngoài. Móc lỗ tai là thinh trần, móc lỗ mũi là hương trần; móc con mắt là sắc trần v. v… Nó quấy nhiễu mà Ngài không dính mắc. Bởi không dính mắc nên Ngài là Bồ-tát. Chúng ta th́ dính mắc đủ cả, nhiều nhất là lỗ tai và con mắt. Lỗ tai nếu nghe người ta chửi không thèm để ư là dễ, hay vừa nghe người ta chửi liền tức giận là dễ? Nghe chửi mà không thèm để ư là hết sức khó. C̣n nghe người ta chửi mà nổi giận lên th́ con nít cũng làm được mà. Như vậy quư Phật tử đừng sợ người ta nói nặng nói nhẹ ḿnh. Khi nghe nói nặng nói nhẹ mà ḿnh bỏ lơ không thèm vướng mắc, đó không phải là thua. Mà chính nhờ đó sau này người ta mới kính ḿnh. C̣n nếu ḿnh tranh hơn với nhau, căi cho lanh, căi cho thắng, th́ sau này người ta cười chứ không có ǵ hay hết. Nên nhớ người có đạo đức không tranh giành hơn thua. Quan trọng là ḿnh phải thắng ḿnh. Một ư niệm xấu ḿnh liền biết, chận nó lại, một ư niệm tốt ḿnh liền biết và cho nó tăng trưởng. Tu như vậy mới hay chứ không phải lắng nghe chuyện thiên hạ là hay. Chúng ta có bệnh, khi nói về ḿnh chỉ toàn nói tốt và giấu cái xấu. Tại sao giấu cái xấu? V́ không muốn bỏ, không muốn chừa nên mới giấu. Bây giờ chúng ta biết tu rồi, cái ǵ xấu, cái ǵ dở phải thấy cho tường tận để chừa bỏ. C̣n người khác ḿnh chưa đủ khả năng giáo hóa họ th́ thôi, đừng bày chuyện nói qua nói lại cho thêm phiền. Đó là quư Phật tử biết tu và khéo tu. Như vậy bài giảng hôm nay tôi chỉ cần kết thúc bằng bốn câu kệ: Đừng làm các điều ác Vâng làm các việc lành Giữ tâm ư thanh tịnh Là lời chư Phật dạy. Mong quư vị nhớ bài kệ này để việc tu có kết quả tốt đẹp. TU LÀ NGUỒN HẠNH PHÚC
Giảng tại chùa Khánh Sơn - Sóc Trăng
Hôm nay, chúng tôi thể theo lời mời của Ban trị sự Phật giáo tỉnh hội Sóc Trăng, đến đây giảng cho Tăng Ni, Phật tử một thời pháp. Chánh pháp của Phật cao siêu diệu vợi, muốn thấm nhuần được không phải là việc đơn giản. Nhưng nếu chúng ta đă có tâm quyết tu, cố gắng lắng nghe th́ sẽ lănh hội, được phần lợi ích trong sự tu hành. Bài pháp hôm nay có tên: Tu là nguồn hạnh phúc. Người xưa hay nói tu là cội phúc, t́nh là dây oan. Nhưng ở đây, tôi chỉ nói phân nửa tu là nguồn hạnh phúc thôi. Chúng ta tu là để t́m con đường an lành hạnh phúc, thảnh thơi tự tại. Không phải tu để mà tu, chẳng biết lợi ích ǵ trong cuộc sống. Cho nên chúng tôi muốn làm sao Tăng Ni, Phật tử đều thấy được lợi ích thiết thực trong việc tu hành của ḿnh. Nếu không như thế th́ lâu ngày chúng ta sẽ đâm ra chán nản trong việc tu hành. Tất cả chúng ta đă được duyên lành xuất gia, học đạo, tu theo Phật. C̣n quư Phật tử tuy chưa xuất gia, nhưng cũng có tâm hâm mộ, kính mến Phật pháp. Quư vị đến với đạo để trở thành con người hữu ích cho gia đ́nh, xă hội và làm đẹp cuộc đời cho ḿnh, cho người. Chúng ta là đệ tử Phật, tu theo Phật để chuyển một con người phàm tục trở thành con người trí tuệ. Đó là quá tŕnh tự chuyển hóa đời ḿnh từ xấu trở thành tốt, từ phàm trở thành Thánh. Như vậy tu là chuyển đổi chứ không phải tu để cầu xin ân huệ của Phật. Đa số Phật tử có ḷng tin Phật rất sâu, nhưng tin bằng cách cầu xin chứ không phải tin bằng sự cố gắng tu hành. Ví dụ chúng ta muốn được b́nh yên th́ giữ tâm luôn định tỉnh sáng suốt trong mọi lúc mọi thời. C̣n khi bị người ta chọc tức, ḿnh nổi sân lên mắng chửi đánh đập người ta, th́ làm sao Phật gia hộ được. Cũng như cha mẹ có một đứa con trai, hết mực cưng chiều. Khi nó lớn lên, cha mẹ dạy bảo không được ra đường đánh lộn chửi lộn, không được hút thuốc, uống rượu, cờ bạc hoặc chơi với những đứa du đăng. Đó là cha mẹ thương, muốn cho con được yên ổn để học hành. Nhưng khi ra đường nó ngỗ nghịch, đánh lộn với người ta. Bị người ta đập lại đau quá, nó kêu: "Ba ơi, mẹ ơi, cứu con! ". Khi đó cha mẹ cứu kịp không? Cứu không kịp. Rồi nói cha mẹ không thương, con kêu cứu mà không chịu cứu nó. Lời nói đó có căn cứ hay vô căn cứ? Cũng vậy, Phật thương chúng sanh đáo để, lúc nào cũng hết ḷng chỉ dạy, giáo hóa chúng ta. Song chúng ta không nghe theo lời Phật chỉ dạy th́ làm sao Phật cứu được. Trong kinh Tứ Thập Nhị Chương có kể lại rằng: Đức Phật đi giáo hóa trong xóm theo đạo Bà-la-môn. Dân chúng nghe pháp rồi kéo nhau theo Ngài nên bỏ đạo của họ. Khi đó vị lănh đạo Bà-la-môn tức quá, ông đón đường Phật, kêu tên Phật chửi từ đầu tới cuối xóm. Chửi đến khô cổ họng mà Phật vẫn cứ ung dung, không trả lời ǵ hết. Ông càng tức, nên chận Phật lại hỏi: - Cù Đàm! Ngài có điếc không? Phật đáp: - Ta không có điếc. - Ngài không điếc tại sao tôi chửi Ngài không trả lời? Phật liền đưa ví dụ: - Như ở nhà ông có đám giỗ, ông mời bà con đến. Khi dự tiệc xong, ra về. Ông đem tặng bà con, mỗi người một gói quà. Họ không nhận, th́ quà đó thuộc về ai? Vị Bà-la-môn trả lời: - Tôi tặng họ mà họ không nhận, th́ quà đó thuộc về tôi chớ về ai! Phật nói: - Cũng vậy, ông chửi ta mà ta không nhận, th́ những lời chửi ấy có dính dáng ǵ với ta. Phật chỉ nói một câu nhẹ nhàng như vậy. Quư vị thấy Phật thiệt tḥi hay ông Bà-la-môn thiệt tḥi? Chửi người ta mà người ta không nhận th́ phần đó thuộc về ḿnh. Nhờ vậy mà đến bây giờ chúng ta lạy Phật hoài. Nếu lúc đó Phật dừng lại, căi lộn với ông Bà-la-môn, th́ bây giờ chúng ta đâu có thờ, có lạy Ngài. Nhẫn nhịn, không chống cự, không phản đối, đó là tư cách của người tu. Cho nên dù xuất gia hay tại gia mà khéo nhẫn nhịn, đó là người có sức mạnh. Người tu phải tập, đối với những ǵ trái ư nghịch ḷng, chúng ta vẫn thản nhiên bỏ qua. Thường chúng ta nhịn không được là v́ bản ngă mà ra. Thí dụ nghe người ta nói: "Anh ngu quá" hay "Thầy ngu quá" th́ nổi nóng lên liền, cự lại để tỏ rằng ḿnh khôn. Nhưng cự với người ta để thành khôn là ngu hay khôn? Tôi thường nói nếu có ai bảo tôi ngu th́ tôi trả lời: "Phải, tôi là người ngu". Bởi v́ trong thế gian này, có vô số điều mà ḿnh chỉ biết có ít điều thôi th́ không ngu sao được? Thí dụ ḿnh học được nghề thợ hồ th́ biết trong nghề thợ hồ, chớ qua nghề điện, ḿnh đâu có biết. Trên thế gian này có trăm ngàn muôn ức nghề, trăm ngàn muôn ức môn học, ai mà học hết cho được. Như vậy làm sao dám tự xưng là khôn được. Chúng ta chỉ biết một phần trong triệu triệu phần, là khôn hay chưa khôn? Là chưa khôn. Thế nên người ta nói ḿnh ngu, ḿnh nhận là ngu, v́ ḿnh biết ít quá. Biết rơ như vậy th́ ngu hay khôn? C̣n nếu nghe ḿnh ngu liền nổi tức lên chửi lộn, đánh lộn với người ta là khôn hay ngu? Như vậy mà thế gian có ai chịu ngu đâu. Lúc nào cũng nghĩ ḿnh khôn. V́ vậy h́nh ảnh đức Phật ung dung đi khất thực, bị người ta chửi Ngài vẫn thản nhiên không giận không hờn. Đó là tấm gương sáng cho tất cả chúng ta noi theo. Như vậy chúng ta biết tu, trước những cảnh thách đố, bị người ta nhục mạ, ḿnh vẫn thản nhiên tự tại, đó là hạnh phúc. Người tu mới nh́n qua thấy như thiệt tḥi, nhưng chính sự thiệt tḥi đó lại là điều tốt. V́ qua những nghịch cảnh ấy, chúng ta mới biết được nhẫn lực của ḿnh tới đâu, việc tu tiến hay lùi. Hiểu như vậy tất cả chúng ta tu, nếu gặp cảnh không vui không thuận, chúng ta vẫn thản nhiên, cố gắng làm chủ được ḿnh, thắng được ḿnh. Đó mới thật là người tu. Ngược lại chúng ta thua giặc nóng giận, đó là chúng ta chưa khéo tu. Trong kinh, Phật dạy: "Thắng một vạn quân không bằng thắng ḿnh, thắng ḿnh mới là chiến công oanh liệt nhất! " Chúng ta vào các chùa cổ, thường thấy tấm bảng để trên điện thờ: "Đại hùng, Đại lực, Đại từ bi". Đại hùng là sức mạnh phi thường. Đại lực cũng là sức mạnh không có ǵ đương nổi. Như vậy, người có sức mạnh phi thường, không ǵ đương nổi là một vị anh hùng. Đức Phật đă cầm binh đánh giặc bao nhiêu lần mà chúng ta gọi Ngài là đấng Đại hùng? Thường ở thế gian hay nói ai thắng được kẻ địch, đó là người anh hùng. Như vậy Phật đă thắng được kẻ địch nào? Đức Phật không thắng ai bên ngoài hết, mà Ngài thắng được chính ḿnh. Ngài không bị nóng giận, tham lam, si mê chi phối, làm chủ được nó là thắng ḿnh. Thắng được ḿnh là chiến công lớn nhất. Chúng ta nhớ lại bao nhiêu vị anh hùng trên thế gian được nhân loại quư trọng, đều do sức mạnh thắng được người ngoài. Nhưng sự quư trọng đó chỉ một lúc, một thời nào thôi. C̣n đức Phật tới ngày nay, đă trên hai mươi lăm thế kỷ mà toàn thế giới đều quư trọng. Bởi Ngài đă từng thắng được ḿnh. V́ vậy mà nói Phật là đấng Đại Hùng. Muốn thắng được ḿnh phải nhờ công phu tu. Nhờ tu chúng ta thắng được tất cả tâm xấu xa, những ư niệm không tốt. Nhờ tu chúng ta dẹp bỏ được phiền năo. Nhờ tu chúng ta mới có trí tuệ sáng suốt. Như vậy tu là hạnh phúc. Cho nên người tu hành mà nóng nảy th́ không thể gọi là tu hành. Như vậy muốn cho bảo đảm trên đường tu chúng ta được an lành tự tại, th́ cần phải sáng suốt, thấy đúng lẽ thật, đừng bị ngoại cảnh lôi dẫn, đừng bị những việc thách đố nghịch ḷng làm cho chúng ta mất hết tư cách người tu. Chúng ta tu là đem lại sự an lành, tự tại cho chính ḿnh. Hàng cư sĩ tại gia nếu biết tu, sẽ có những hạnh phúc ǵ? Phật tử tại gia, sau khi quy y Tam Bảo rồi, đức Phật dạy phải giữ năm giới cấm. Tôi trở lại ví dụ trước. Như cha mẹ v́ thương con, muốn bảo vệ cho con được an lành, nên cấm không được đánh lộn chửi lộn, hút thuốc, uống rượu, hoặc chơi với mấy đứa du đăng v. v… Đó là t́nh thương của cha mẹ muốn bảo vệ con, nên mới cấm như vậy. Có nhiều người đặt câu hỏi: "Đạo Phật là đạo giải thoát, đạo tự do tại sao bước chân vào đạo, Phật bắt giữ giới. Như vậy là mất tự do rồi". Quư vị xét kỹ chúng ta giữ giới như cư sĩ th́ năm giới; xuất gia Sa di th́ mười giới, Tỳ-kheo hai trăm năm mươi giới, Tỳ-kheo Ni ba trăm bốn mươi tám giới v. v… Giữ giới là tự do hay mất tự do? Thường người ta nói tự do là không bị ràng buộc. Có ràng buộc là mất tự do. Nhưng tôi đặt trường hợp: Thí dụ như đi đường, nhất là ở thành phố, xe cộ nườm nượp. Nếu người đi đường không giữ luật đi đường, người ta đi tay phải, ḿnh đi tay trái v. v… th́ tai nạn xảy ra nhiều hay ít? Chúng ta không giữ luật đi đường, đó là chúng ta gây tai nạn cho ḿnh, cho người. C̣n nếu người giữ đúng luật đi đường, th́ không gây tai nạn cho ai cả. Như vậy ḿnh b́nh yên, người khác cũng b́nh yên. Cũng vậy, v́ chúng ta muốn b́nh yên, tự tại nên Phật bắt phải giữ những giới cấm. Nhờ giữ giới nên chúng ta an vui. Do đó giữ giới không phải là mất tự do, mà giữ giới là tôn trọng tự do. Nhờ giữ giới chúng ta không xâm phạm, không có gây phiền lụy cho ḿnh cho người. Đó là sự tự do. Ngược lại, không giữ giới mới mất tự do, v́ ḿnh và người đều bị thương tổn. Ở đây tôi dẫn năm giới cho quư Phật tử nhớ. Trong nhà Phật có chia ra Ngũ thừa Phật giáo: 1.Nhân thừa. 2.Thiên thừa. 3.Thanh văn thừa. 4.Duyên giác thừa. 5.Bồ-tát thừa. Chữ "thừa" nghĩa là cỗ xe, người Bắc đọc là "thặng". Ngũ thừa là năm cỗ xe. Tôi dùng một ví dụ cụ thể cho quư vị dễ hiểu hơn. Như bến xe của tỉnh Sóc Trăng có loại xe chạy gần, có loại xe chạy xa. Quư vị muốn đi gần th́ mua vé xe chạy gần. Muốn đi trung b́nh th́ mua vé xe trung b́nh. Muốn đi xa, th́ mua vé xe xa. Tùy theo ḿnh muốn tới đâu th́ mua vé xe tới đó. Như vậy mỗi xe có lộ tŕnh, có khả năng chuyên chở khác nhau. Cũng vậy, trên đường tu có người muốn làm Bồ-tát, có người muốn làm Thanh văn, Duyên giác; có người muốn sanh lên cơi Trời, có người muốn trở lại làm người tốt hơn v. v… Phật cũng tùy theo sở nguyện của mỗi người mà dạy các pháp tu khác nhau. Cho nên Phật giáo có Ngũ thừa là vậy. Như người tu Nhân thừa th́ đời này làm một người tốt, đời sau sanh ra lại càng tốt hơn, an lành hơn. Hiện giờ Tăng Ni chúng ta tu là đang đi trên đường nào? Nếu chúng ta tu Thanh văn thừa th́ phải giữ giới Tỳ-kheo. C̣n tu Bồ-tát thừa th́ giữ thêm giới Bồ-tát. Trở lại năm giới của hàng cư sĩ. Giới thứ nhất không được sát sanh. Trong giới này nói một cách rơ ràng là không được giết người. Nhiều người nói không sát sanh là từ các loài côn trùng vi tế cho đến con người đều không được giết. Như vậy có đúng là giới của Phật tử tại gia không? Cấm sát sanh của Phật tử tại gia trọng tâm là không được giết người. Không được giết người có chia ra ba phần: Một là thân không giết người. Hai là miệng không xúi bảo kẻ khác giết người. Ba là thấy, nghe người ta giết nhau ḿnh không vui. Nếu rộng hơn th́ thêm những con vật lớn như trâu, ḅ, heo, chó v. v… quư vị tránh được bao nhiêu tốt bấy nhiêu. Đó là giữ giới không sát sanh của hàng Phật tử tại gia. Phật tử tại gia giữ giới không giết người có lợi ích ǵ? Nếu chúng ta không giết người th́ người sẽ không giết lại ḿnh. Không giết người th́ khỏi tù tội. Nếu nóng giận giết người, đó là ḿnh gieo tai họa cho chính ḿnh v́ sẽ bị tù tội, bị người giết lại. Vả như người ta không giết lại th́ cũng oán thù không có ngày trả xong. Do đó giữ giới không sát sanh th́ chúng ta được b́nh an hạnh phúc. Ngược lại th́ suốt đời sẽ bất an, chịu khổ cả thân lẫn tâm. Phật tử không trộm cướp của người th́ không bị tù tội, khinh khi. Quư vị tưởng tượng trong xóm, trong làng có kẻ trộm, kẻ cướp th́ được người ta khen hay bị người ta phỉ nhổ, được b́nh an hay sống trong hồi hộp lo âu? Nên giữ giới không trộm cướp là chúng ta bảo vệ giá trị của ḿnh, bảo vệ sự b́nh yên của ḿnh. Đó là nền tảng để được an vui, hạnh phúc. Phật tử không được tà dâm. Giới này có nhiều người coi thường. Nhưng sự thật, nó rất quan trọng. Bởi v́ đạo Phật là đạo đem lại hạnh phúc cho mọi người. Tà dâm tức là ngoại t́nh, người chồng hoặc người vợ ngoại t́nh với kẻ khác gọi là tà dâm. Nếu trong một gia đ́nh đang b́nh an, vui vẻ, bỗng người chồng hoặc vợ ngoại t́nh với kẻ khác th́ gia đ́nh đó có c̣n b́nh an, hạnh phúc không? Gia đ́nh đó sẽ tan nát, con cái khổ sở. Như vậy, không giữ giới tà dâm là làm cho ḿnh khổ, người khổ, cha mẹ phiền hà, xă hội khinh bỉ. Nếu Phật tử khéo giữ giới này th́ chẳng những bảo vệ được hạnh phúc gia đ́nh, mà c̣n góp phần làm cho xă hội văn minh tốt đẹp hơn. Phật tử không nói dối. Giới này, có nhiều người giải thích là tất cả mọi việc đều không được nói dối. Nhưng tôi nh́n khác hơn một chút. Không nói dối là không tự ḿnh nói những lời dối trá, gạt gẫm người để thu lợi về ḿnh, làm cho người phải thiệt tḥi. Cho nên phạm tội nói dối có ba động cơ: Một là nói dối do ḷng tham. Hoặc tham tài, tham sắc, tham danh, tham lợi v. v… nói dối để gạt gẫm người, đó là phạm tội nói dối. Ví dụ có nhiều người đă lập gia đ́nh rồi, khi đi xa gặp ai vừa ư, họ nói với người ấy chưa có gia đ́nh, chưa thương ai v. v… Đến chừng sau phát giác ra đă có gia đ́nh, có con cái, th́ đủ chuyện rắc rối xảy ra phải không? Đó là do tham sắc mà nói dối. Tham tài, tham danh… mà nói dối cũng như vậy. Hai là nóng giận mà nói dối. Nóng giận mà nói dối nghe vô lư quá. Nhưng thật ra thế này, khi nổi giận lên, ḿnh biết người đối diện là anh A, anh B ǵ đó, nhưng lại gọi người ta là đồ chó, đồ trâu. Như vậy có đúng sự thật không? Người ta là người mà nói là chó là trâu, làm sao người ta không bực tức. V́ giận mà ḿnh nói những lời không đúng lẽ thật gây phiền năo cho người, gọi là phạm tội nói dối. Ba là v́ tâm ác độc, tâm oán thù muốn hại người mà nói dối. Ḿnh biết người ta không phạm luật pháp, nhưng v́ thù riêng nên làm đơn vu oan, để họ bị giam cầm khổ sở. Đó là phạm tội nói dối. Tóm lại, tội nói dối do ba động cơ: tham lam, nóng giận, ác độc. Ngược lại nếu người có ḷng từ bi thương người, thương vật, nói dối để cứu nạn th́ không có tội. Thí dụ có một người hàng xóm bệnh trầm trọng đang nằm ở bệnh viện, chúng ta lại thăm. Nghe bác sĩ nói bệnh này không qua khỏi. Chúng ta biết bệnh này thế nào cũng chết, nhưng khi bệnh nhân hỏi: "Thưa thầy (anh) bệnh tôi có qua khỏi không? " Ḿnh có nỡ khẳng định là anh phải chết không? Biết họ sẽ chết mà chúng ta không dám nói thật. Mà lại nói: "Không sao đâu, uống thuốc từ từ sẽ lành". V́ thương họ, sợ họ khổ mà ḿnh nói dối cho nên không phạm giới. Hoặc như có người thợ săn đến vườn chùa, trong vườn có thỏ chồn. Nhưng khi thợ săn hỏi: "Vườn chùa thầy có thỏ, chồn không? " Ḿnh nói: "Vườn tôi không có thỏ, chồn. " Như vậy nói dối mà không có tội. V́ thương không muốn cho chúng bị giết nên ta nói dối. Hiểu như vậy chúng ta mới thấy nói dối phạm tội hay không là do nơi tâm. Với tâm tham lam, tâm nóng giận, tâm ác độc mà nói dối th́ phạm tội. Với tâm từ bi thương người thương vật, mà nói dối th́ không phạm. Cho nên việc lợi hại tùy theo quan niệm, tùy theo tâm tư của ḿnh. Không phải bất cứ lúc nào nói dối cũng phạm tội hết. Phật tử không được uống rượu. Trong giới này chúng ta nên xét đến những trường hợp ngoại lệ. Như người Tây phương ở xứ lạnh, không uống bia họ chịu lạnh không nổi. Bây giờ kể cả rượu mạnh, rượu nhẹ đều cấm không được uống th́ họ giữ không được. Cho nên với tôi, th́ nên châm chước thế này, cấm uống rượu mạnh, cấm uống say. Trong thời đại hiện nay cần phải cấm thêm các chất nữa: không được hút á phiện, x́ ke, ma túy. Hồi xưa không có ba thứ đó, chỉ cấm rượu thôi. Nhưng bây giờ, x́ ke, ma túy, á phiện c̣n nguy hại hơn cả rượu nữa. Cho nên phải cấm hẳn, tuyệt đối không được dùng x́ ke, ma túy, á phiện dù chỉ một chút thôi. Như vậy giữ giới có giá trị, có lợi ích rất cụ thể. Phật tử không giết người, không trộm cướp, không tà dâm, không nói dối, không uống rượu, không hút á phiện, x́ ke, ma túy th́ gia đ́nh chắc chắn được hạnh phúc. Bây giờ cả xóm, cả làng đều tu theo Phật, đều giữ năm giới trọn vẹn th́ xóm làng đó có sợ ăn trộm, có nghi kỵ nhau về tà dâm hoặc căi vă không? Một xóm làng khéo tu, giữ tṛn năm giới th́ tối ngủ không cần đóng cửa. Trong sinh hoạt không sợ ai lường gạt ḿnh. Tất cả mọi người tin tưởng nhau, không nghi ngờ nhau cũng không có những tai họa như |