LỜI ĐẦU SÁCH

Quyển Hoa Vô Ưu này được kết tập từ các bài giảng của Ḥa thượng Viện chủ Thiền viện Thường Chiếu Thích Thanh Từ.

Trong đó, gồm một số bài Ḥa thượng được thỉnh giảng cho sinh viên một số trường Đại học ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh. Ngoài ra, một số bài Ḥa thượng thường giảng cho Tăng Ni, Phật tử các nơi và tại các Thiền viện.

Để đáp ứng nhu cầu t́m hiểu pháp thiền và hâm mộ tu thiền của Tăng Ni, Phật tử nhưng chưa đủ điều kiện tu học trực tiếp nơi Ḥa thượng, chúng tôi tŕnh xin ư kiến của Ngài và được Ngài hoan hỉ cho biên tập lại các bài giảng trên.

Tuy nhiên, v́ là văn nói nên tập sách không sao tránh khỏi sự trùng lặp tất yếu của nó. Rất mong độc giả đạt ư quên lời. Được thế, hi vọng tập sách sẽ đến tay quí vị với những lợi ích thiết thực nhất.

Như vậy, chúng ta có thể t́m hiểu thâm nhập và hành tŕ pháp thiền. Đồng thời trên bước đường tu học, chúng ta có thêm bạn đồng hành luôn cảm thông với chúng ta.

Mùa Hạ năm Canh Th́n

Thường Chiếu, ngày 24-06-2000.

THÍCH NHẬT QUANG


 

ĐẠO PHẬT LÀ ĐẠO GIÁC NGỘ

Giảng tại San Diego - Hoa Kỳ

tháng 11 - 2000

Hôm nay chúng tôi đủ duyên sang đây và được quí vị trong ban tổ chức mời giảng. Có nhiều Phật tử chưa từng gặp tôi, chưa từng trực tiếp nghe tôi giảng pháp nhưng đă nghe băng, xem video. Hôm nay quí vị muốn được gặp chúng tôi, nên đây là cơ hội tốt để chúng ta gặp nhau, thăm viếng và nhắc nhở tu hành.

Chúng ta là đệ tử Phật, tu theo Phật, trước nhất phải xác định rơ ràng đạo Phật dạy chúng ta tu thế nào, để không bị lầm lẫn. V́ vậy hôm nay tôi sẽ giảng đề tài Đạo Phật là đạo giác ngộ, nhằm giúp quí Phật tử không c̣n tí nghi ngờ nào trên đường tu hành của ḿnh.

Trước tiên, chúng tôi tạm định nghĩa "Phật" là một đấng giác ngộ. Tất cả chúng ta ai cũng biết đức Thích-ca Mâu-ni được giác ngộ thành Phật. Nhưng có người gọi Ngài là "Phật", có người gọi là "Bụt". Tại sao như vậy? Ở đây tôi sẽ giải rơ.

Nước Việt Nam chúng ta trước kia có những vị Sư Ấn Độ theo các nhà buôn đến truyền bá đạo Phật. Các ngài nói bằng tiếng Ấn Độ và được dịch ra tiếng Việt. Ngày xưa chúng ta không gọi danh từ Phật mà gọi là Bụt. Sau này, dần dần mới gọi Phật. Như vậy, gọi Phật đúng hay gọi Bụt đúng?

Chữ Phật nói đủ là Phật-đà, do người Trung Hoa dịch âm từ tiếng Phạn "Buddha". Người Ấn gọi nguyên âm là Buddha, nghe dài nên người Việt Nam gọi gọn lại thành Bụt. "Phật-đà" hai âm nghe cũng dài, nên chúng ta gọi gọn lại thành Phật. Như vậy, gọi Bụt tương đối gần hơn Phật. Nhưng Buddha hay Phật-đà cũng chỉ là âm thôi, c̣n nghĩa của nó như thế nào, đó mới là điều quan trọng.

Nghĩa chữ Phật-đà, Trung Hoa dịch là Giác giả tức người giác ngộ. Chữ Giác giả để nói lên sau khi đức Phật thành đạo rồi được mọi người gọi là đấng giác ngộ toàn vẹn. Đó là từ do mọi người đặt cho khi Phật được giác ngộ. Thế th́ đức Phật giác ngộ cái ǵ, giác ngộ thế nào? Đó là những điểm chánh chúng ta cần phải truy t́m. Muốn truy t́m việc này, trước hết chúng ta phải phăng tận nguyên nhân tại sao Ngài t́m đạo và được giác ngộ thành Phật. Đó chính là trọng tâm việc đức Phật đi t́m đạo.

Tăng Ni, Phật tử ai cũng thuộc ḷng lịch sử t́m đạo của đức Phật. Chúng ta không nghi ngờ ǵ về chuyện Ngài dạo qua bốn cửa thành, thấy cảnh già, bệnh, chết, một người tu và sau đó Ngài phát tâm xuất gia. Như vậy, nguyên nhân khiến Ngài đi tu là do Ngài xúc động, thắc mắc và băn khoăn trước cảnh già, bệnh, chết của con người. Nếu chúng ta truy nguyên tường tận nữa th́ sẽ thấy ư nghĩa Ngài đi tu mang theo những tâm niệm, hoài băo riêng và chung cho Ngài cũng như nhân loại.

Nh́n thấy cảnh đau khổ của con người phải chịu từ trước, hiện tại và cả mai sau liên tục không dừng, sanh rồi già bệnh chết. Ngài xúc động, băn khoăn trong ḷng, muốn t́m ra một lối thoát những khổ đau đó. Qua đó, chúng ta có thể gom gọn ư nghĩa đi tu của Ngài trong ba câu hỏi:

1.Con người từ đâu đến đây?

2.Sau khi chết sẽ đi đâu?

3.Nếu không muốn sanh tử nữa th́ phải làm sao?

Ba câu hỏi đó là ba vấn đề xoáy mạnh vào kiếp con người. Ngài muốn t́m, muốn giải quyết kiếp sống của con người, chớ không có vấn đề nào khác hơn. Con người có mặt ở đây là từ đâu đến mà không ai biết ǵ cả. Rồi khi chết chúng ta sẽ về đâu, cũng không biết. Muốn ra khỏi ṿng chết sống đó cũng không biết phải làm sao. Đa số chỉ thắc mắc hai câu đầu thôi, không biết ḿnh từ đâu đến, chết sẽ về đâu. C̣n câu thứ ba, làm sao ra khỏi sanh tử dường như quá sức của chúng ta.

Đức Phật đi tu v́ Ngài không biết ǵ về thân phận của ḿnh, cho nên phải cố gắng phăng t́m cho được manh mối đó, gọi là t́m đạo. Trong thời gian t́m đạo, trước tiên Ngài đến học với những vị tiên đương thời. Vị ban đầu dạy pháp quán Tứ thiền tức Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền và Tứ thiền. Ngài tu pháp này được kết quả trọn vẹn nhưng chưa hài ḷng. V́ kết quả không đúng với mục tiêu ban đầu Ngài muốn biết. V́ vậy đức Phật từ giă ra đi.

Kế đó Ngài gặp một vị khác dạy tu Tứ không tức Không vô biên xứ, Thức vô biên xứ, Vô sở hữu xứ và Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Đây là bốn thứ định tối cao của pháp quán Tứ không. Bốn định này Ngài cũng tu thành công nhưng vẫn chưa giải quyết được mục đích ban đầu của Ngài, nên Ngài cũng từ giă ra đi.

Đức Phật có mục đích rơ ràng, tu để t́m cho ra manh mối sanh tử và chấm dứt sanh tử. Cho nên ai dạy Ngài không đạt đến mục đích đó th́ Ngài đều từ bỏ cả. Chúng ta ngày nay không có mục đích rơ ràng như vậy, nên ai nói ǵ hay lạ ḿnh cũng nghe theo, rồi đi lạc tứ tung. Đó là điểm sai lầm của chúng ta.

Sau khi không chấp nhận hai vị thầy ban đầu, một ḿnh Ngài tự nghĩ làm sao thanh lọc được thân tâm này trong sạch, vứt bỏ tất cả những nhơ nhớp để tâm trí được sáng suốt, mới có thể thấy được chân lư. Từ đó Ngài bắt đầu tu khổ hạnh, bớt ăn bớt ngủ, đến nỗi thân thể gầy c̣m, không đủ sức đi đứng nữa. Lúc đó Ngài nhận ra rằng hành xác để t́m giác ngộ là điều không đúng lẽ thật, nên Ngài từ bỏ lối tu khổ hạnh.

Sau khi từ bỏ lối tu khổ hạnh, đức Phật đến cội bồ-đề quyết tâm cầu giác ngộ giải thoát cho viên măn mới thôi. Dưới cội bồ-đề, Ngài lượm cỏ gom lại thành ṭa, rồi chỉ ṭa cỏ thề rằng: "Ta nguyện ngồi nơi đây, nếu không thành đạo th́ dầu xương tan, thịt nát cũng không rời khỏi gốc cây này. " Chính tâm cương quyết liều chết đó, nên trải qua bốn mươi chín ngày đêm tọa thiền, Ngài được giác ngộ viên măn, thành tựu đạo quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.

Khi giác ngộ, Ngài chứng được Tam minh, Lục thông, Tứ vô sở úy, Thập bát bất cộng pháp, v. v… rất nhiều. Nhưng ở đây tôi rút gọn, chỉ kể Tam minh thôi để chúng ta thấy chỗ giác ngộ của đức Phật có những nét rất kỳ đặc.

Đức Phật tọa thiền tới đêm thứ bốn mươi chín, vào canh hai Ngài chứng được Túc mạng minh, nhớ lại vô số kiếp về trước một cách rơ ràng như nhớ chuyện hôm qua. Thế là câu hỏi thứ nhất "Ta từ đâu đến? " đă được trả lời, đức Phật thấy rơ qua vô số kiếp đă từng ở đâu, cho tới bây giờ đến đây. Hiện nay ta có mặt là nối tiếp một ḍng sanh tử từ vô số kiếp. Chứng được Túc mạng minh, Ngài mới thấy rơ luân hồi là một lẽ thật, không phải ḿnh chỉ có mặt trong một đời, mà đă có mặt trong nhiều kiếp, sanh ra tử đi, cứ như vậy măi cho tới ngày nay.

Không dừng lại ở Túc mạng minh, Phật cố gắng tu tiếp đến canh ba, chứng được Thiên nhăn minh. Ngài thấy suốt được tất cả, thế là câu hỏi thứ hai "Sau khi chết, ta sẽ về đâu? " được trả lời. Do chứng Thiên nhăn minh Ngài thấy chúng sanh luân hồi trong lục đạo là do nghiệp dẫn, đi đâu về đâu một cách rất rơ ràng. Trong kinh diễn tả rằng đức Phật nh́n thấy chúng sanh đi trong lục đạo như người đứng trên lầu cao nh́n xuống ngă tư đường, thấy kẻ đi qua người lại một cách rơ ràng, không nghi ngờ ǵ hết.

Như vậy, nhờ chứng được Thiên nhăn minh, Ngài biết rơ rằng sau khi chết không phải là hết, mà chúng ta theo nghiệp dẫn đi trong lục đạo luân hồi. Nếu nghiệp ác th́ bị dẫn vào địa ngục, ngạ quỉ, súc sanh. Nếu nghiệp thiện th́ sanh vào cơi người, cơi trời. V́ vậy Phật mới dạy chúng ta tu nhân quả, tu nhân lành để được đi đường lành, đừng tạo nhân ác để khỏi đọa trong ba đường ác.

Chứng được Thiên nhăn minh rồi, Ngài tiếp tục nỗ lực tiến tu, đến khi sao Mai vừa mọc, Ngài liền chứng Lậu tận minh. "Lậu tận" tức sạch hết những chủng nhân khiến chúng ta rơi rớt lại trong tam giới là Dục giới, Sắc giới và Vô sắc giới. Chứng Lậu tận minh, Ngài giải quyết được câu hỏi thứ ba "Muốn thoát khỏi sanh tử ta phải làm sao? " Rơ được nguyên nhân nào khiến chúng sanh ra vào trong sanh tử và làm sao để dứt được những nguyên nhân đó là giải thoát sanh tử.

Như vậy, ba nghi ngờ trọng tâm khiến Ngài phát nguyện đi tu, đến đây đă được giải quyết xong. Không do suy lư, cũng không do ai chỉ dạy, chính Ngài tự sáng, tự nhận thấy tường tận lẽ thật ấy, nên Ngài tuyên bố "Ta giác ngộ không thầy". Điều này khiến nhiều người hoang mang, không ai dạy làm sao Ngài giác ngộ? Đó cũng là điều mà sau này đức Phật thường tuyên bố "Ta là Phật đă thành, các ngươi là Phật sẽ thành".

Như vậy, chỉ căn cứ trên phần chứng ngộ Tam minh của Phật, chúng ta thấy công phu Ngài cũng đă viên măn rồi. Bởi Ngài đă nghi ngờ về thân phận con người, muốn làm sao đừng tiếp nối sanh tử nữa. V́ chứng kiến cảnh già, bệnh, chết là khổ đau nên Ngài muốn thoát ra khỏi những thứ đó. Khi chứng được Lậu tận minh, thấy được nguyên nhân và kết quả con đường đi vào sanh tử và con đường thoát ly sanh tử, nên bài thuyết pháp đầu tiên của Ngài ở vườn Lộc Uyển là bài pháp Tứ đế: Khổ đế, Tập đế, Diệt đế, Đạo đế. Tập đế là nhân, Khổ đế là quả trong luân hồi sanh tử. Diệt đế là quả, Đạo đế là nhân để thoát ly sanh tử.

Như vậy, những ǵ thấy được Ngài đều đem ra dạy ngay từ buổi đầu. Đó là chân lư mà chính Ngài chứng nghiệm, chớ không phải do suy luận, cũng không do nghe ai nói. V́ vậy gọi là giác ngộ, tức thấy đúng như thật. Chúng ta ngày nay tu theo đạo Phật là t́m cái ǵ? Tu để cầu đời sau sướng hơn đời này phải không? Hầu hết đều muốn như vậy, chớ ít ai nghĩ tu để giải thoát sanh tử. Thậm chí có nhiều vị xuất gia mà cũng chưa muốn giải thoát nữa.

Tất cả chúng ta hầu hết muốn nghiên cứu, t́m hiểu, đều nhắm ra ngoài mà quên ḿnh. Nên có câu "Con mắt ngó ra! " Bởi ngó ra nên thích t́m, thích biết những cái ở ngoài, c̣n ngay bản thân ḿnh ta lại không biết ǵ. Đó là điều hết sức thiếu sót. Đức Phật bắt buộc chúng ta quay lại ḿnh, t́m cho rơ về ḿnh. Sau khi biết rơ về ḿnh rồi th́ chúng ta sẽ biết tất cả những thứ khác ở ngoài. Điều đó mới nghe thấy lạ, nhưng sự thật là như thế.

Sau khi chứng được Thiên nhăn minh rồi, ngoài việc thấy được nghiệp dẫn chúng sanh đi trong luân hồi sanh tử, đức Phật c̣n thấy nơi thân này có vô số vi trùng. Cho nên trong kinh nói "Nhân thân chi nội hữu vô số vi trùng tại trung nhi trú", nghĩa là thân người có vô số vi trùng ẩn ở trong. Bây giờ chúng ta gọi là những "tế bào lạ", chúng cũng sanh hoạt trong thân nên ta nghe đau nhức.

Ngài nh́n vô bát nước thấy vô số vi trùng, nên dạy người xuất gia trước khi uống nước phải đọc bài chú: "Phật quán nhất bát thủy, bát vạn tứ thiên trùng, nhược bất tŕ thử chú, như thực chúng sanh nhục. " Nghĩa là Phật nh́n thấy trong một bát nước, có tám muôn bốn ngàn vi trùng, nếu không tŕ chú này, như ăn thịt chúng sanh, để quán niệm cho những chúng sanh ấy không bị thiệt hại.

Hơn hai ngàn năm về trước, Phật thấy và dạy như vậy; bây giờ khoa học mới t́m hiểu và tin điều ấy. Như vậy, lời Phật dạy không phải là lư luận, mà là lẽ thật do Ngài thấy được. Bởi thấy lẽ thật nên Ngài không nghi ngờ, không cần thảo luận với ai hết. Đó là thấy gần, c̣n xa hơn nữa Phật thấy ngoài thế giới chúng ta đang ở đây, c̣n vô số thế giới nữa. Cho nên trong kinh thường dùng từ "hằng hà sa số thế giới", thế giới nhiều như cát sông Hằng. Chúng ta thử tưởng tượng sông Hằng có chừng bao nhiêu cát? Không thể đếm nổi. Vậy mà ngày xưa, Ngài nói trong bầu vũ trụ này có vô số thế giới như vậy. Thời đó không ai tin nổi. Nhưng bây giờ chúng ta có thể tin được phần nào.

Những nhà thiên văn học t́m thấy những thiên hà, những hành tinh trong vũ trụ cũng nhiều như vậy. Phật nói số ấy nhiều đến không thể lường, không thể tính nổi, cho nên mới dùng từ "hằng hà sa số. " Rơ ràng những điều Phật thấy được không do nghiên cứu bên ngoài, mà chỉ trở về nội tâm thôi. Một khi sáng được tâm rồi th́ tất cả việc bên ngoài đều sáng theo.

Nói tới con người, Phật thấy tường tận bốn giai đoạn sanh, già, bệnh, chết. Nói tới thế giới, Ngài cũng biết rơ bốn giai đoạn thành, trụ, hoại, không. Ngài nói thân này có được là do bốn chất lớn đất, nước, gió, lửa hợp lại; thế giới có được là do bốn thứ địa luân, thủy luân, hỏa luân và không luân hợp thành. Ngày xưa, đối với những điều này, chúng tôi học là học, chớ không hiểu nổi. Làm sao dưới đất có nhiều thứ quá vậy?

Khi được hỏi con người ở thế giới này từ đâu có, trong một bài kinh Phật trả lời: Có những vị trời sắp hết phước, họ nh́n xuống thế giới này thấy có ánh sáng liền t́m đến. Tới nơi, họ ăn thử trái cây nơi đây thấy ngon, liền mất thần thông nên ở lại luôn, làm tổ tiên loài người. Ngày xưa tôi cũng không tin điều này. Tại sao trái đất lại có ánh sáng? Rồi tại sao chư thiên dùng thần thông xuống được nhưng về lại không được? Bây giờ tôi gẫm lại thấy có lư.

Như các nhà khoa học nh́n ra những hành tinh gần trái đất, thấy có ánh sáng nên mới t́m mọi cách, như tạo phi thuyền để khám phá những hành tinh đó. Giai đoạn đầu khám phá nếu yên ổn th́ sau này sẽ đưa phi thuyền, đưa người lên đó. Nếu phi thuyền hư, số người trên ấy phải ở lại th́ bắt buộc họ phải t́m cách để sanh sống thôi. Ngày nay chúng ta nói máy móc, nhưng hồi xưa gọi thần thông, cũng gần nhau vậy. Thế th́ chuyện đức Phật nói có lư rồi, phải không?

Thế giới từ đâu mà thành? Phật dạy do gió bụi tụ lại, khắn chặt nhau lần lần thành thế giới. Sau khi thế giới thành rồi mới có chúng sanh và các thứ. Đến lúc thế giới hoại tiến tŕnh trải qua bốn giai đoạn. Giai đoạn thứ nhất đất sụp đổ, nứt nẻ, tan ră. Giai đoạn thứ hai nước tràn khắp. Giai đoạn thứ ba lửa bốc cháy, đến nỗi nước biển ban đầu cao khoảng mấy chục thước lần lần chỉ c̣n mười thước, năm thước, cho đến cạn hết. Khi nước biển cạn hết th́ trái đất cháy. Cháy tới không c̣n ǵ, chỉ có muội than, chợt một cơn gió mạnh thổi qua, tất cả biến thành bụi hết. Đó cũng chính là giai đoạn thứ tư, trái đất trở về không.

Hồi xưa tôi cũng không tin trái đất cháy, nhưng bây giờ rơ ràng những túi dầu, những túi khí đốt trong ḷng đất đă có sẵn cả rồi, chỉ cần hỏa luân chọc thủng lớp ngăn giữa hai túi đó th́ trái đất sẽ bừng cháy. Rơ ràng Phật nói không sai. Ngày xưa Ngài đă nh́n thấy tường tận về con người và quả địa cầu như vậy, mà không vận dụng công phu t́m kiếm bên ngoài, chỉ quay lại ḿnh, dẹp sạch hết loạn tưởng, để tâm trong lặng tự nó sáng suốt. Tâm đă sáng suốt th́ biết ḿnh và biết tất cả mọi thứ một cách rơ ràng như thế.

Đức Phật nói chúng sanh không phải chỉ có mặt trong cơi Dục giới này, mà c̣n có mặt trong cơi Sắc giới, Vô sắc giới tức những thế giới không có h́nh sắc. Với những cái thấy này, khoa học c̣n xa tít, chưa thể bắt kịp đức Phật.

Chúng ta học Phật là t́m sự giác ngộ. Giác ngộ ngay nơi bản thân ḿnh trước, rồi mới tới những thứ bên ngoài. V́ trong nhà Phật gọi thân này là Chánh báo, c̣n cảnh và thế giới ḿnh đang sống là Y báo. Chánh báo là chủ, Y báo là bạn. Nếu hiểu Chánh báo tường tận th́ thấy Y báo rơ ràng. Cho nên Phật học khác với khoa học ở chỗ khoa học t́m bên ngoài, Phật học quay vô trong, xoay lại ḿnh. Xoay lại ḿnh đến khi giác ngộ rồi sẽ thấy những thứ bên ngoài. Giác ngộ tức biết rơ, biết đúng như thật mọi sự xung quanh nên gọi là có trí tuệ.

Nhưng trí tuệ trong nhà Phật không phải là trí tuệ thường, mà bao gồm hai phần, trí tuệ hữu sư và trí tuệ vô sư. Chúng ta đi học, nhờ thầy bạn mà ḿnh hiểu được nhiều điều trong cuộc đời gọi là trí tuệ hữu sư. C̣n trí tuệ vô sư là trí tuệ do ḿnh tự phát ra từ tâm thanh tịnh như đức Phật nhờ thiền định mà được giác ngộ vậy. Ngài bảo "Ta học đạo không thầy", không thầy mà sáng, đó là trí tuệ vô sư.

Làm sao đạt được trí tuệ vô sư? Khi tâm lặng lẽ sáng suốt th́ chúng ta thấy được những điều trước kia ḿnh chưa thấy, biết được những điều trước kia ḿnh chưa biết. Cái thấy biết đó là thấy biết của Trí vô sư. Tất cả chúng ta đều có Trí vô sư. V́ Trí vô sư chính là Phật tánh của tất cả chúng sanh. Ḿnh có Phật tánh sẵn nhưng v́ quên nên không thấy. Đức Phật biết quay trở lại ḿnh bằng cách thiền định để lóng lặng thân tâm. Từ tâm lóng lặng trong sáng đó phát ra Trí vô sư.

Nếu chúng ta để ư một chút sẽ mừng rằng ḿnh có Trí vô sư. Như một quyển kinh, một lời giảng lúc mới đọc mới nghe, ta không hiểu ǵ hết. Nhưng từ từ tâm hồn yên tĩnh, đem ra đọc lại ta chợt hiểu ngay. Như vậy, cái hiểu ấy do ai dạy? Đó là một phần nhỏ của Trí vô sư hiện ra. Cũng như các nhà bác học, khi nghiên cứu một chương tŕnh nào th́ đặt hết tâm trí vào đó, đến lúc vấn đề nghiên cứu bừng sáng, gọi là phát minh.

Như vậy, ai cũng có Trí vô sư mà không chịu nhận, không chịu tạo điều kiện cho nó phát ra, nên có mà như không. V́ vậy Phật nói: "Ta là Phật đă thành, các ngươi là Phật sẽ thành. " Đó là Ngài xác nhận rằng tất cả chúng ta đều có sẵn Trí vô sư. Đă sẵn có Trí vô sư th́ chúng ta có thể giác ngộ được. Đức Phật giác ngộ trước, chúng ta khéo tu sẽ giác ngộ sau, nên Như Lai nói Ngài là Phật đă thành, c̣n chúng ta là Phật sẽ thành.

Như vậy Trí hữu sư là do học mà được, c̣n Trí vô sư do tu mà được. Đức Phật nhập định được giác ngộ, ngày nay chúng ta tu tâm được an định cũng sẽ giác ngộ. Hiện giờ tâm chúng ta đang lăng xăng lộn xộn nên không thấy, không biết Trí vô sư. Khi nào tâm yên tĩnh, trong sáng th́ Trí vô sư sẽ hiện ra.

Trong nhà thiền thường ví dụ: Như có một khạp nước, ta múc nước dưới hồ đổ vào. Ban đầu nước đục, chúng ta nh́n vào khạp không thấy mặt ḿnh hiện trong đó. Nhưng nếu lóng trong từ từ, đến khi nước thật trong, ta đứng bên khạp nh́n sẽ thấy mặt ḿnh. Chẳng những mặt chúng ta hiện ra, mà tất cả cảnh đối diện với mặt nước cũng đều hiện ra trong khạp. Khi cặn bă, đất cát ḥa tan trong nước khiến nó đục, nếu ta để cho nó lặng yên, cặn bă lóng xuống th́ nước sẽ trong.

Như vậy từ nước đục thành nước trong là tại chúng ta đổi nước cũ thay nước mới hay cũng chỉ bao nhiêu nước đó thôi? Thật ra nước trong đă có sẵn trong nước đục nên khéo lóng th́ nước đục thành nước trong. Chúng ta hiện giờ tâm không sáng, mờ đục là v́ vọng tưởng lẫn lộn che khuất. Ngày nào ta lọc được những vọng tưởng đó lặng yên, gọi là định, th́ trí sáng sẽ hiện ra. Nó sẵn rồi, chớ không phải chưa có, chỉ v́ cái này che khuất nên cái kia không hiện được.

Nên nói tới Trí vô sư là nói tới trí do tu, do thiền định mà được, chớ không phải do học mà được. Trí hữu sư th́ do học mà được. Hai bên rơ ràng như vậy. Trí hữu sư học tới đâu biết tới đó, c̣n Trí vô sư khi phát ra th́ đối với tất cả những ǵ trước đây ta không biết, bây giờ biết hết, biết một cách rơ ràng không cần t́m kiếm. Đó là điểm đặc biệt của Trí vô sư.

Chúng ta tu theo Phật th́ phải khéo ứng dụng như Ngài, nhất định sẽ có trí tuệ sáng suốt. Phật được một trăm phần trăm th́ ít ra ḿnh cũng được mười phần trăm. Như vậy mới gọi là tu theo Phật. Nhưng gần đây Phật tử ít chịu trở về với trí tuệ của ḿnh mà chỉ muốn xin Phật. Nếu gặp thuận tốt, đúng sở nguyện th́ khen Phật linh quá. C̣n không được như ư th́ "Thôi, Phật không linh" hoặc "Phật không thương ḿnh" rồi lơ là, lười không muốn đi chùa nữa. Đó là sai lầm mà Phật tử hiện giờ mắc phải rất nhiều.

Nếu chúng ta chưa giác ngộ bằng Trí vô sư th́ trước phải giác ngộ bằng Trí hữu sư. Nghe quí thầy giảng dạy, đọc kinh sách để mở sáng trí tuệ hữu sư, rồi nỗ lực tiến tu để đạt được Trí vô sư. Đó mới đúng là mục đích của người tu Phật. Chớ nếu tu mà không thấy, không nắm vững điều này th́ rất đáng tiếc. Hồi nhỏ, tôi học lớp Sơ đẳng Phật giáo, được dạy học thuộc ḷng bài kinh Bát Đại Nhân Giác, tức là Tám Điều Giác Ngộ của bậc Đại Nhân. Điều thứ nhất hết sức đơn giản:

Đệ nhất giác ngộ

Thế gian vô thường

Quốc độ nguy thúy

Tứ đại khổ không

Ngũ ấm vô ngă.

Lúc đó tôi thấy những câu này giống như thần chú, không biết ǵ hết. Tại sao thế gian vô thường? Tại sao quốc độ nguy thúy? Bởi v́ Phật thấy một cách tường tận rằng trên thế gian này, mọi pháp, mọi sanh vật đều là ḍng chuyển biến không dừng, nên nói thế gian vô thường. Kế đó "Quốc độ nguy thúy, " tức cơi nước ḍn bở. Ḿnh thấy cơi nước bền lâu vững chắc quá, mà Ngài lại nói ḍn bở, làm sao tin được? Nhưng bây giờ những trận động đất, lũ lụt… đủ để chứng minh điều đức Phật đă nói.

Tới con người, Phật nói tứ đại khổ, không. Mang thân tứ đại đất, nước, gió, lửa là khổ. Người ta cứ tưởng khổ là nghèo đói, nhưng Phật dạy khổ không phải như vậy; mà già, bệnh, chết là khổ. Già, bệnh, chết, không ai chạy khỏi. Đă mang thân này th́ trước sau ǵ cũng phải tới đó. Cho nên có thân là có khổ, khổ tới cuối cùng nó hoại thành không. V́ vậy Phật nói "Tứ đại khổ không".

"Ngũ ấm vô ngă, " tức là thân năm ấm này không có chủ thể, không chân thật. Ngày nay ḿnh c̣n thấy nó, nhưng ngày mai chưa chắc c̣n. Như vậy thân không có chủ mà chúng ta cứ tưởng có chủ. Duyên hợp thành thân này, th́ cái ǵ là chủ của nó? Có người cho rằng tâm là chủ. Nhưng tâm nào? Tâm từ bi hay tâm sân hận? Tâm thương hay tâm ghét v. v… rối loạn, không biết được.

Đức Phật dạy ngũ ấm là vô ngă, tức không có chủ. Tôi chỉ tạm mượn sắc ấm để phân tích thôi. Trong thân này, chất cứng thuộc về đất, chất ướt thuộc về nước, chất động thuộc về gió, chất ấm thuộc về lửa. Bốn chất đó kết tụ lại thành thân, thiếu một là thân hoại mất. Nhưng khi thân thành rồi, nó tự tồn tại hay phải được bồi bổ, được nuôi dưỡng mới c̣n. Tôi thường nói nó phải vay mượn.

Như tất cả chúng ta hiện giờ, lỗ mũi đang làm ǵ? Ai cũng tưởng ḿnh ngồi chơi thảnh thơi, nhưng không ngờ đang mượn không khí, hít vô là mượn, thở ra là trả. Cứ mượn trả mượn trả như vậy hoài, tới khi nào lười biếng trả mà không mượn lại th́ chết. Mượn nước, mượn cơm… mượn rồi trả. Như vậy cuộc sống chẳng qua chỉ là sự vay mượn thôi. Vay mượn tức là giả dối, nhưng chúng ta lại thấy thân này thật. Thân giả mà ngỡ thật là đang mê. Nhưng ai nói mê ḿnh không chịu đâu. Đức Phật chỉ cho chúng ta giác mà lại không chịu, cứ ôm giữ mê lầm rồi than khổ.

Kinh nói thân năm uẩn này không có chủ thể, tức là vô ngă. Vô ngă nên không thật, nhưng ta cứ chấp thân thật, rồi bao nhiêu chuyện hơn thua phải quấy từ đó mà ra, gây phiền lụy cho nhau. Đó là chúng ta đang sống trong mê lầm, nên bây giờ mới tu. Tu th́ phải làm sao? Phải tỉnh, phải giác. Nếu không chịu tỉnh giác th́ đi măi trong mê lầm muôn đời muôn kiếp. Chỉ có tỉnh giác, chúng ta mới thoát khỏi trầm luân. Cho nên học Phật là học giác ngộ. Nhờ giác ngộ, thấy đúng như thật chúng ta mới không mê lầm nữa, mới giải thoát sanh tử.

Trong mười hai nhân duyên, đức Phật nói vô minh dẫn đầu, khiến chúng ta sanh đi tử lại không biết bao nhiêu lần. Muốn nhổ được gốc sanh tử th́ chúng ta phải đập tan vô minh. Vô minh là không sáng, không sáng tức tối. Muốn hết tối th́ phải thắp sáng ngọn đuốc trí tuệ. Cũng như trong nhà tối, chỉ cần mở đèn th́ nó sẽ sáng. Chúng ta đang mê lầm nên nhiều đau khổ, chỉ giác ngộ mới hết đau khổ.

Đạo Phật dạy chúng ta tu là để giác ngộ, chớ không phải tu để măi đi trong mê lầm. Thế mà đa số Phật tử ngày nay tu mà ưng đi trong mê lầm, không chịu giác ngộ, nên mới cầu xin Phật đủ điều. Muốn được giác ngộ, không ǵ khác hơn là chúng ta phải định tâm. Trong bất cứ pháp môn nào Phật cũng đều nhắm thẳng chỗ cứu kính đó. Niệm Phật cho tới nhất tâm bất loạn th́ nhắm mắt mới thấy Phật. Tu thiền được định th́ mới giải thoát sanh tử. Như vậy chúng ta tu, dù theo pháp nào, cứu kính cũng không hai.

Thế nên Phật tử không được lơ là, yếu đuối, phải cố gắng, phải tiến lên. Nghe nói tới giác ngộ xem như chuyện đó dành cho Phật, c̣n ḿnh phàm phu nên vô phần. Cam phận tối ṃ tối mịt, miễn đời sau sanh ra được tốt hơn một chút thôi, chớ không cầu giác ngộ. Đó là suy nghĩ sai lầm, không đúng lẽ thật.

Chúng ta là đệ tử Phật phải đi đúng đường, đúng hướng Phật dạy. Đạo Phật là đạo giác ngộ, chớ không phải đạo mê lầm. Cho nên ḿnh tu là để được giác ngộ giải thoát, chớ không cầu ǵ khác hơn. Đó là mục tiêu trọng yếu của người Phật tử.

Mong tất cả Tăng Ni, Phật tử hiểu rơ điều này, làm sao trên đường tu mỗi ngày chúng ta thêm sức tỉnh giác, lần lần bỏ hết mê lầm để được giác ngộ giải thoát như đức Phật.


 

TÙY DUYÊN NHI BẤT BIẾN

Giảng tại chùa Việt Nam - Hoa Kỳ - 2000

Đến chùa Việt Nam lần này, nh́n thấy chùa khang trang, chúng tôi rất vui mừng. Người Việt Nam chúng ta đă xa quê hương đi nơi khác, mà biết chung lưng đấu cật để gầy dựng nền đạo pháp ở nước người được tốt đẹp, đó là điều rất đáng tán thán.

Đề tài tôi giảng hôm nay là Tùy duyên nhi bất biến, hoặc ngược lại Bất biến nhi tùy duyên.

Trên phương diện truyền bá chánh pháp, chư Tổ rất sáng suốt. Các ngài thấy được từng tŕnh độ, từng tâm tư của mọi người, nên sự truyền bá của các ngài hết sức linh động. Nh́n theo chiều dài lịch sử của Phật giáo, chúng ta thấy trên hai mươi lăm thế kỷ qua, đạo Phật đă đi từ Ấn Độ dần dần sang đến Việt Nam. Nh́n theo chiều rộng không gian, Phật giáo đă truyền bá gần như khắp cả năm châu. Như vậy, trên phương diện truyền bá, đạo Phật có bị va chạm với những tập tục, tư tưởng, hoặc ư niệm khác nhau không? Nếu va chạm với những điều đó th́ đạo Phật sẽ linh động như thế nào? Thiết nghĩ hàng tăng sĩ chúng ta cần phải biết và có bổn phận nói rơ cho quí Phật tử hiểu về những điều này. Nếu không th́ chúng ta không hiểu ǵ về đạo Phật.

Trước hết tôi nói về sự truyền bá của đạo Phật. Đạo Phật khi truyền bá trên thế giới, không thể nào tránh khỏi những va chạm trên. Từ đó mà chúng ta phát hiện ra hoặc khuyết điểm, hoặc ưu điểm trên bước đường hoằng pháp các nhà truyền giáo.

Về khuyết điểm, từ khi đức Phật ra đời, truyền đạo, cho tới sau Phật nhập Niết-bàn một hai thế kỷ đầu, kinh điển được kiết qua hai lần, đều đi thẳng vào đường lối chánh yếu của đức Phật dạy. Đức Phật luôn luôn nhắc mọi người đến với đạo Phật để thấy, chớ không phải đến để tin. Nhưng đáng buồn thay, ngày nay Phật tử đến với đạo Phật để tin, chớ không chịu đến để thấy. Đó là điều đáng buồn.

Phật là bậc giác ngộ viên măn. Sự giác ngộ của Ngài là do tu hành mà được. Tự giác ngộ rồi, Ngài đem đạo giác ngộ ấy truyền bá cho mọi người, nên mới có đạo Phật. Như vậy nói đến đạo Phật là nói đến trí tuệ. Nếu là trí tuệ th́ đến với đạo Phật để thấy, để hiểu, chớ không phải đến để tin. Nhưng ngày nay Phật tử lại quên điều đó, chỉ tin Phật, lạy Phật, cầu Phật ban cho đủ thứ hết.

Khi hỏi đến giáo lư Phật dạy, chúng ta không hiểu, chỉ biết rằng lạy Phật có phước. Như vậy th́ rơ ràng chúng ta đến với đạo Phật bằng ḷng tin. Nếu đến bằng ḷng tin là đă ngược lại với đạo Phật rồi. Phật tử qui y Phật, là đệ tử Phật, đệ tử của bậc giác ngộ; mà con cháu không giác chút nào hết. Thật là đáng buồn!

Chính v́ đạo Phật là đạo trí tuệ, nên việc truyền bá đạo Phật trong thời đức Phật c̣n tại thế và sau khi Ngài nhập diệt rất dễ. V́ sao? V́ nhờ dùng trí tuệ cho nên từ đức Phật cho đến các vị Thánh đệ tử đều lấy giác ngộ làm đầu. Rồi cũng từ trí tuệ đức Phật nh́n thấy, biết rơ căn cơ của mọi người, nên Ngài giáo hóa rất thích hợp. Các vị đệ tử của Ngài cũng vậy, do chứng được A-la-hán nên biết được tâm tư nguyện vọng của người, đến đâu các ngài dạy cũng đúng, nên Phật pháp hưng thạnh. Chỉ có về sau này, người tu ít chứng đạo, không đủ phương tiện để giáo hóa chúng sanh, nên sự cao siêu của đạo Phật ít người thấy được. V́ thế đạo Phật cũng không được phổ cập trong mọi giới.

Như trong kinh Bát Đại Nhân Giác, tức Tám điều giác ngộ của bậc đại nhân, những câu đầu là:

Đệ nhất giác ngộ

Thế gian vô thường

Quốc độ nguy thúy

Tứ đại khổ không

Ngũ ấm vô ngă

Làm sao đầu óc trẻ hiểu nổi! Thế gian vô thường là sao? Lớp trẻ năm mười tuổi nghe nói những chuyện đâu đâu trên trời trên mây, như vậy chúng có chịu đi chùa không? Rồi người già, người dốt cũng không hiểu biết ǵ cả. Đó là khuyết điểm lớn của những vị mang trách nhiệm truyền giáo của đạo Phật. Ḿnh truyền bá mà người ta không hiểu th́ làm sao truyền được?

Đến thế kỷ thứ sáu, kinh Di-đà ra đời rất thích hợp với căn cơ của những tầng lớp trên. V́ tu Tịnh độ đơn giản, dễ tu. Chỉ cần chí tâm niệm Nam-mô A-di-đà Phật th́ được Phật đón về Cực lạc, khỏi cần hiểu biết ǵ hết. Do đó người già trẻ con dễ hiểu dễ tu. Từ đó đạo Phật đến gần với mọi người dễ dàng. Nếu nói cao quá người ta không hiểu tới, mà ngay cả bản thân vị thầy cũng chưa giác ngộ, đâu biết tŕnh độ của người mà chỉ dạy. Thế nên Phật pháp chỉ được giảng chung chung, đâu cũng không tới đâu. Nhưng dù sao, tinh thần Tịnh độ ra đời đă bổ khuyết lại được những điểm khó khăn của Phật giáo ở giai đoạn trước.

Đạo Phật không dạy chúng ta ban ân giáng họa cho ai, bởi v́ đức Phật không bao giờ ban ân giáng họa. Thế nên Ngài đă dạy giáo lư nhân quả, chúng ta tạo nhân thế nào th́ hưởng quả thế ấy. Người tạo nhân lành sẽ hưởng quả lành, tạo nhân ác sẽ chịu quả ác. Lành dữ đều do ḿnh cả, chớ không ai khác có thể thế được. Nhưng nghe như vậy, người học đạo thấy nhọc quá, phải chi Phật ban cho ḿnh đỡ một chút.

Hơn nữa, về sau có những tôn giáo khác ra đời, chỉ dạy hết sức giản đơn: Nếu tin vào một Đấng tối cao th́ Đấng tối cao ấy sẽ ban ơn cho; c̣n không tin th́ bị giáng họa. Nghe thế những người quen yếu đuối, ỷ lại liền chạy theo để được bảo vệ yên ổn. C̣n theo Phật, Phật bảo ḿnh tự làm lấy, không cho ǵ hết nên không thích.

Để bổ khuyết cho phần này, kinh Địa Tạng ra đời, ai lôi thôi th́ rớt xuống địa ngục, bị cắt lưỡi bị thiêu đốt, bị vào vạc dầu sôi… C̣n đến với Phật, làm lành lánh dữ th́ sẽ được an nhàn, được sanh lên cơi trời hưởng quả vui thù thắng. Từ khi kinh Địa Tạng ra đời, nhiều chùa vẽ tranh Thập điện Diêm vương, h́nh ảnh thật là ghê rợn, ai thấy cũng rởn óc nên ráng tu, không lôi thôi được. Đó là đạo Phật tùy căn cơ chúng sanh mà có tinh thần răn đe như thế, nhằm giáo hóa họ trở về với chánh pháp. Như vậy đạo Phật mới có thể tồn tại được. Cho nên trên phương diện truyền bá, có những điểm cần phải linh động mới được.

Lại, đạo Phật không quan trọng về thần thông. Tại sao? Bởi v́ đức Phật dạy chư Tăng tu, khi chứng quả A-la-hán, được Lục thông nhưng cấm không được tự ư dùng thần thông, trừ khi Phật cho phép. Nếu Phật nhập Niết-bàn rồi, th́ phải xin phép những vị trưởng lăo. Các vị này cho phép mới được dùng. Do đó ai tự tiện dùng thần thông xem như phạm giới cấm.

Một hôm, vua Ba-tư-nặc đến bạch với Phật: "Bạch Thế Tôn, trong nước con có một vùng dân chúng thích thần thông mà không chịu nghe đạo lư. Xin Thế Tôn vận dụng thần thông khiến cho họ hoảng sợ mới có thể dạy họ được. " Phật bảo: "Ta trọng đạo thông chớ không trọng thần thông. " Thế là Ngài đem chánh pháp đúng lẽ thật chỉ cho mọi người ở đó, kết quả họ đều được Phật cảm hóa.

Chánh pháp dạy đúng lẽ thật là chân lư; mà chân lư là trí tuệ. Nên đức Phật chỉ chú trọng trí tuệ, chớ không chú trọng thần thông. V́ vậy những người thích thần thông, thích huyền bí, họ không muốn đi chùa, không muốn đến với đạo Phật. Mà thường ở thế gian, số người hiếu kỳ như vậy lại là phần nhiều. Như hiện giờ tôi đang giảng kinh một cách b́nh thường, chợt ngoài sân chùa có ai bay lên hư không, ngồi kiết-già th́ chắc rằng nơi đây chẳng c̣n ai ngồi nghe tôi giảng nữa. Rơ ràng tâm con người thích những ǵ kỳ lạ, c̣n lẽ thật b́nh dị th́ coi thường lắm.

V́ vậy, nếu đạo Phật không dùng tới thần thông, sẽ không làm sao đưa đạo Phật vào cuộc đời. Cho nên có những trường hợp đặc biệt, Phật chế cho dùng thần thông, tuy nhiên Ngài luôn khuyến cáo thần thông không phải là mục đích cứu kính của người tu Phật. Do đó, sau này đến đời Tổ Long Thọ, phát sanh ra Mật tông nghiêng về tŕ chú, sử dụng thần thông huyền bí. Đó là để đáp ứng cho số người hiếu kỳ muốn đến với đạo Phật.

Hiện nay Phật giáo Việt Nam, cũng như Phật giáo ở các nơi có nhiều tông phái. Nguyên nhân có các tông phái là v́ chư Tổ tùy căn cơ, tùy hoàn cảnh mà lập ra. Làm sao mọi người đến với đạo Phật đều không gặp trở ngại, đều có thể tu tập và đạt được lợi ích cả. Đó là điểm đặc biệt của đạo Phật. Điểm đặc biệt đó gọi là "Tùy duyên".

Kế đến, tôi nói về những ưu điểm của đạo Phật. Đạo Phật đặt nặng phần trí tuệ, người tu cần phải đạt được đạo, tức đạt được chân lư. Có trí tuệ mới thấy được lẽ thật, kẻ ngu si không thấy lẽ thật được. Như vậy trí tuệ là căn bản của đạo Phật. Nhờ có trí tuệ nên chúng ta nhận chân được lẽ thật, sống đúng với lẽ thật và truyền bá lẽ thật ấy. Do đó đạo Phật ngày càng lan rộng và trường tồn dài lâu. Hơn hai mươi lăm thế kỷ nh́n lại, kinh điển Phật được đối chiếu với nền văn minh hiện đại của con người, có lạc hậu không? Hoàn toàn không, mà ngược lại khoa học c̣n phải nể phục. Đó là điểm ưu thứ nhất của đạo Phật.

Đạo Phật tôn trọng tự do nên thích hợp với thời đại văn minh dân chủ này. Đạo Phật lúc nào cũng tôn trọng quyền tự do của mọi người. Đức Phật từng tuyên bố rằng Ngài là một vị Đạo sư. Đạo sư nghĩa là vị thầy dẫn đường cho mọi người. Ngài thấy đây là con đường ác nên tránh, kia là con đường thiện nên đi. Ngài chỉ rồi, mọi người tự đi, tự tránh, chớ Phật không đem ai lên đường thiện, cũng không xô ai vào đường ác. Như vậy có tự do không? Đó là tự do. Cho đến tất cả giới luật lẽ ra mang tính cách bắt buộc, nhưng Ngài lại bảo nếu v́ điều kiện nào đó chúng ta chưa giữ được trọn vẹn, th́ có thể giữ khiếm khuyết một hai giới cũng được. Chúng ta tự nguyện giữ, chớ Phật không bắt buộc, Ngài giải thích rơ giữ giới là v́ lợi ích của ḿnh, chớ không phải lợi ích của đức Phật. Ngài v́ thương mà chế giới, chớ không phải v́ sự ép buộc mà chế giới. Đó là tinh thần tự do triệt để của đạo Phật.

Gần hơn, đến ngày rằm hoặc ba mươi, Phật tử nào rảnh th́ đi chùa sám hối; không rảnh th́ ở nhà tự tu cũng được. Thầy Trụ tŕ không kiểm từng người, cũng không phạt ai hết. Đi th́ tốt, không đi th́ thôi, không bắt buộc. Bởi tu là tu cho ḿnh, chớ không phải tu cho quí thầy. Phật tử đến th́ quí thầy hướng dẫn, không đến th́ thôi. Như vậy đạo Phật rất tự do.

Song cũng v́ thế, nếu tinh thần tu của người Phật tử không cao sẽ dễ rơi vào t́nh trạng chểnh mảng. Chùa có một ngàn đệ tử, mà sám hối chỉ có chừng một trăm người. Đó là tại chểnh mảng. Tuy vậy, nhà Phật vẫn tôn trọng quyền tự do của mỗi con người. Ai hiểu được, họ tự cố gắng phấn đấu tu tập để có sự lợi ích thiết thực cho bản thân. Đó là điểm ưu thứ hai của đạo Phật.

Đạo Phật chỉ dạy cho chúng ta hiểu biết, rồi chúng ta tự tu. Thế nên sự tự do của đạo Phật rất kỳ đặc, không phải đ̣i tự do với chính phủ hay với những người có quyền, mà là đ̣i tự do với chính ḿnh. Ḿnh phải làm chủ được ḿnh. Làm chủ được ḿnh mới có tự do; chưa làm chủ được ḿnh th́ không có tự do. Tại sao? Ví như người chưa làm chủ được ḿnh, khi lâm cảnh nghèo nàn túng thiếu, thấy ai để rơi tiền của, liền lượm bỏ túi ngay. Khi đó nếu người ta phát giác th́ bị trói, bị đánh hay vào khám. Vào khám tức là bị gông cùm xiềng xích rồi, đâu c̣n tự do nữa. Ngược lại, người làm chủ được ḿnh, trong bụng vừa dấy niệm tham th́ dẹp ngay, không để cho ḷng tham lôi cuốn, như thế đâu có ngồi tù. Đó không phải tự do là ǵ?

Cho nên tự do trong đạo Phật là thắng được ḿnh, đ̣i hỏi nơi ḿnh chớ không đ̣i hỏi ở người khác. Tự do ấy mới nghe như dễ nhưng nghiệm lại th́ khó. Nhưng đó là sự thật. Bởi con người cứ đ̣i hỏi bên ngoài phải thế này, thế nọ nhưng không bao giờ biết thỏa măn. Như mấy đứa bé đ̣i cha mẹ nó đồ chơi, hễ được cái này th́ đ̣i cái khác, cứ đ̣i hoài, cha mẹ không thể lo nổi.

Tại sao chúng ta đ̣i tự do nơi ḿnh? Bởi v́ nếu không làm chủ được ḿnh th́ mắt đối với sắc nhiễm sắc, tai đối với thanh nhiễm thanh, mũi đối với hương nhiễm hương, lưỡi đối với vị nhiễm vị, thân đối với xúc nhiễm xúc, chỗ nào cũng mắc kẹt. Đ̣i tự do mà mắt tai mũi lưỡi thân đều bị dính nhiễm, bị trói buộc hết.

Muốn tự do, trước hết đừng cho năm căn dính với năm trần. Đối với năm trần sắc, thanh, hương, vị, xúc, chúng ta làm chủ được, không dính, không kẹt, đó là tự do. Như vậy có hợp đạo lư không? Phật dạy người muốn tự do th́ phải giữ năm căn đừng dính với năm trần. Đó là tự do tự tại. Ở một mức độ cao hơn nữa, tự do chính là giải thoát, không c̣n bị bất cứ ǵ trói buộc. Thế gian đ̣i tự do mà trái lại bị trói buộc đủ thứ hết, v́ vậy càng tự do càng khổ.

Tiến thêm một bước nữa, người tu chẳng những đ̣i tự do ở năm căn, mà c̣n đ̣i tự do ở căn thứ sáu, đó là ư căn. Ư đừng dính với pháp trần. Pháp trần tức là bóng dáng của năm trần trước. Bởi v́ năm căn mắt, tai, mũi, lưỡi, thân khi xúc chạm với năm trần sắc, thanh, hương, vị, xúc dễ biết, dễ thấy; c̣n ư căn khi xúc chạm với pháp trần, chúng ta khó thấy. Muốn thấy nó, khi ngồi thiền hoặc niệm Phật sẽ dễ thấy hơn.

Như ngồi niệm Phật lẽ ra chỉ nhớ câu niệm Phật thôi, nhưng niệm một lát bỗng nhớ chuyện đâu đâu. Chuyện đâu đâu đó chính là pháp trần. Thí dụ như lỗ tai tiếp xúc với thanh trần, những tiếng hay ḿnh thích nên nhớ hoài, bởi v́ nó đă rớt vào trong tâm thức rồi. Hoặc những lời lẽ chửi bới nặng nề, ḿnh không thích cũng nhớ hoài, v́ nó cũng được in vào tâm thức. Những ǵ chúng ta thích hoặc không thích, th́ ưa kể với người này, người kia, lặp tới lặp lui măi nên vô t́nh học thuộc ḷng, cho nên nhớ sâu vô cùng. Nhớ sâu trong tâm khảm tức là nó đă được huân vào tàng thức của ḿnh, chôn sẵn trong đó, khi nào đủ duyên hoặc yên tịnh nó sẽ trồi lên. Đó là lư do tại sao chúng ta niệm Phật hoặc tọa thiền mà các tạp niệm cứ trồi lên hoài. Nhiều khi nó trồi lên đến nỗi ḿnh phải bực bội. Bực bội mà rầy nó không được, mới thấy pháp trần rất là quan trọng.

Bởi sự tích lũy của pháp trần sâu đậm như vậy, nên ḿnh thù ai, oán ai th́ tới chết vẫn chưa hết oán thù. V́ vậy những thứ đó sẽ theo ḿnh đến lúc nhắm mắt và sẽ gặp lại ở đời sau. Cho nên c̣n oán thù, c̣n thương yêu th́ c̣n gặp lại măi để đền trả. Ghê gớm như vậy đó. Người ta cứ sợ đời sau khổ, nhưng lại ôm ấp oán thù không nguôi. Thật là mâu thuẫn.

Biết như vậy rồi, chúng ta tu là xả bỏ hết những sự giận hờn hay thương yêu trong trói buộc. Mạng người sống không bao lâu, ôm ấp làm ǵ để đời sau khổ nữa. Vậy đó, mà có nhiều cô nhiều bà nói: "Tôi giận người đó suốt đời không quên. " Có nhiều người c̣n dám thề không đội trời chung nữa chứ! Nếu không đội trời chung th́ đi đâu, xuống địa ngục sao? Chúng ta rất tự mâu thuẫn mà không hay. Muốn một đường lại làm một ngả.

Chúng ta muốn đời này tự do, đời sau càng tự do hơn, th́ trong tâm phải loại trừ tất cả những mầm mống xấu đang tích lũy trong đó. Nhà Phật gọi là loại bỏ hạt giống xấu hay chủng tử xấu. Dẹp bỏ được nó, là chúng ta dành được quyền tự do. Nếu không dẹp bỏ được, th́ nó sẽ dẫn chúng ta đi trong các con đường tăm tối, không biết đến bao giờ mới cùng.

Nhà Phật nói tu là để giải thoát. Giải thoát tức gỡ bỏ những sự trói buộc. Gỡ bỏ được những trói buộc là tự do. Tự do đó mới thật là chân chánh tự do. Đó là sự tự do của đạo Phật.

Đạo Phật chủ trương "Từ bi b́nh đẳng" và "Nghiệp báo b́nh đẳng". Thế gian hiện giờ luôn ca tụng tự do, ca tụng b́nh đẳng nhưng thật sự họ lại mất tự do, mất b́nh đẳng. C̣n đạo Phật dạy rằng từ bi là b́nh đẳng, nghiệp báo cũng là b́nh đẳng.

Về nghiệp báo, có nhiều tôn giáo cho rằng ḿnh làm tội lỗi ǵ chỉ cần xin bề trên tha là hết. Nhưng đối với đạo Phật, điều đó không thể có. Dù là Phật tử hay không phải Phật tử khi làm ác, cũng phải gánh chịu hậu quả như nhau; không có chuyện Phật tử th́ được đức Phật bảo hộ. Tất cả đều b́nh đẳng trong việc trả quả. Đó là một lẽ thật. Bởi v́ chúng ta tạo nghiệp ác tức là làm cho người khác khổ. Làm cho người khác khổ th́ chúng ta phải đền bù lại, chớ không thể nào trốn được. Đă làm cho người khổ th́ cái khổ đó chúng ta phải trả. Bất cứ người nào gây khổ cho kẻ khác cũng phải trả như nhau. Đó là b́nh đẳng trên nghiệp báo. Điều này có thích hợp với thời đại văn ḿnh hiện nay không?

Thời đại văn minh này người ta thường đề xướng câu: "Mọi người đều b́nh đẳng trước pháp luật. " Dù cho người đó là quan hay dân, hễ phạm tội th́ phải chịu tội như nhau. Hồi xưa khác, nếu con vua phạm tội th́ không bị xử phạt. Ngày nay dân chủ, đ̣i hỏi mọi người đều b́nh đẳng trước pháp luật. Như vậy rất đúng với tinh thần của đạo Phật.

Đạo Phật nói "Từ bi b́nh đẳng", tức là sự thương yêu b́nh đẳng. Xét lại chúng ta xử sự với mọi người có được b́nh đẳng chưa? Đa số người tu thời nay đều phát tâm tu, nguyện giúp cho những người nghèo khổ, chớ những người giàu, người có quyền tước, chúng ta không cứu. Đó chưa phải là từ bi của đạo Phật. Đạo Phật chủ trương từ bi là thương tất cả, cứu tất cả, không chỉ riêng một cá nhân nào.

Từ bi đó căn cứ ở đâu mà được như vậy? Tôi xin hỏi quí vị, chúng ta mang thân này là thân chân thật hay tạm bợ? Ḿnh có thương nó không? Tạm bợ mà rất thương. Thân này ai cũng biết nó tạm bợ, một ngày nào đó sẽ tan hoại. Biết th́ biết nhưng vẫn quí thương nó, ai đụng tới là bất an liền. Bởi thật ḷng chúng ta ngầm tưởng nó thật. Ngầm tưởng như thế là si mê.

Đạo Phật là đạo giác ngộ, nên c̣n một chúng sanh mê là Phật đều thương hết. Trong kinh A-hàm Phật nói: "Bị thiêu đốt trong địa ngục chưa phải là khổ, bị đói khát lang thang làm ngạ quỉ cũng chưa phải là khổ, bị kéo cày kéo xe, làm kiếp trâu ngựa cũng chưa phải là khổ, chỉ si mê không biết lối đi, đó mới là khổ. " Đạo Phật cứu khổ là cứu cái si mê. Cho nên ai c̣n si mê Phật đều thương hết, dù người ấy giàu hay nghèo, quan quyền hay b́nh dân. Đó là t́nh thương b́nh đẳng.

Nói tới truyền bá đạo Phật là nói tới giác ngộ, nói tới trí tuệ để đánh tan gốc si mê nơi mọi người. Cho nên kinh Pháp Cú dạy: "Các ngươi phải tự thắp đuốc lên mà đi, thắp lên với chánh pháp. " Thắp đuốc chính là thắp sáng trí tuệ. Chúng ta phải mở sáng con mắt trí tuệ của ḿnh, nếu tự mở chưa được th́ phải mồi với ngọn đuốc chánh pháp. Hết si mê mới hết đau khổ, c̣n si mê là c̣n đau khổ. Do đó nói đạo Phật từ bi b́nh đẳng. Qua đó đủ thấy đạo Phật siêu vượt hơn thế gian rồi. Đây là điểm ưu thứ ba của đạo Phật.

Nói đạo Phật tùy duyên bất biến, tức là tùy theo duyên, theo tŕnh độ căn cơ của chúng sanh mà chỉ dạy, không hạn chế ở bậc này hay bậc khác, cũng không hạn chế nơi chốn nào. Thế nào là tùy duyên, thế nào là bất biến, chúng ta cần hiểu cho rơ chỗ này. Tùy duyên tức là linh động, làm sao khế hợp với tŕnh độ căn cơ của mỗi người mà giáo hóa. Bất biến tức là mục tiêu chủ yếu không bao giờ lệch, không bao giờ sai. Tùy duyên bất biến nghĩa là tùy theo căn cơ của mỗi người mỗi nơi, mà ta có các phương tiện giáo hóa khác nhau, nhưng luôn luôn giữ đúng mục tiêu giữ đúng chánh pháp, không để sai lệch.

Như người tu Tịnh độ, niệm hoài câu Nam-mô A-di-đà Phật, không cần suy nghĩ ǵ khác. Niệm tới nhất tâm bất loạn, từ một ngày hai ngày cho tới bảy ngày. Được thế, khi lâm chung Phật và Thánh chúng mới hiện ra, đón về Cực lạc. Mục đích cuối cùng của pháp tu Tịnh độ là niệm Phật tới chỗ nhất tâm bất loạn. Niệm đến vô niệm.

Người tu Mật tông th́ tŕ thần chú. Đọc một câu thần chú phải tin sự mầu nhiệm của câu thần chú đó. Hành giả ngồi kiết-già, tay bắt ấn, miệng tụng chú, ư duyên theo câu chú không cho nghĩ ǵ hết. Thí dụ câu Án ma-ni bát-di hồng, không có nghĩa ǵ hết, cốt cho tâm không c̣n chỗ gá nương. Niệm hoài cho tới khi nào ba nghiệp thân khẩu ư đều mật, gọi là tam mật, tức ba nghiệp ấy thầm hợp với nhau th́ đức Đại Nhật Như Lai sẽ hiện ra, phóng quang xoa đảnh và thọ kư cho người ấy. Như vậy dù tu Tịnh độ hay tu Mật tông, tâm đều phải chuyên nhất, không c̣n một niệm nào khác th́ mới đạt được kết quả mong muốn. Đó là nói về tu Tịnh và tu Mật.

Đến người tu Thiền. Tu thiền theo Nguyên thủy, kinh Đại Tứ Niệm Xứ dạy rằng: "Người tu thiền, quán Tứ niệm xứ từ một ngày, hai ngày cho tới bảy ngày không dời đổi, sẽ chứng từ Tam quả cho tới Tứ quả A-la-hán. " Quán Tứ niệm xứ từ một ngày đến bảy ngày không dời đổi sẽ chứng quả A-la-hán, như vậy đâu có khác với niệm Phật tới nhất tâm bất loạn, hay tŕ chú tới tam mật.

Đến Thiền tông, như Tổ Đạo Tín thứ tư của Trung Hoa lúc c̣n Sa-di, Ngài gặp Tổ Tăng Xán đảnh lễ và thưa: "Xin Ḥa thượng dạy cho con pháp môn giải thoát. " Tổ Tăng Xán nh́n thẳng vô mặt ngài Đạo Tín, hỏi: "Ai trói buộc ngươi? " Ngài liền nh́n lại thấy không ai trói buộc ḿnh, liền thưa: "Bạch Ḥa thượng, không ai trói buộc con. " Tổ bảo: "Vậy cầu giải thoát làm ǵ? " Ngay đó ngài Đạo Tín ngộ đạo.

Câu "cầu giải thoát làm ǵ", có giáo lư trong đó không? Không có ǵ hết. Tổ chỉ muốn đánh thức kẻ cầu đạo đừng chạy theo những niệm nghĩ tưởng thôi. Lắng dừng được những niệm tưởng đó rồi là yên tĩnh, là giải thoát.

Thiền sư Hương Nghiêm Trí Nhàn, một học tṛ thông minh của ngài Qui Sơn, hỏi một đáp mười. Tổ Qui Sơn gọi lên bảo: "Ông rất thông minh, vậy thử nói cho ta nghe một câu trước khi cha mẹ chưa sanh ra xem. " Ngài Trí Nhàn bí luôn, không biết nói ǵ, nên cuốn gói lên núi ở. Cho tới một hôm, nhân cuốc đất nghe tiếng ḥn sỏi chạm vào bụi tre một tiếng "cốc", ngay đó liền ngộ đạo.

"Nói một câu trước khi cha mẹ chưa sanh" giống câu thần chú, ở đó không cho ḿnh nghĩ ǵ hết. Những câu khác như "ba cân gai" của ngài Động Sơn hay "tiếng vỗ của một bàn tay" của Thiền sư Bạch Ẩn, đại loại đều như thế cả. Tại sao các ngài lại nói kỳ quái như vậy? Bởi v́ chúng ta tu theo đạo Phật, muốn đến chỗ cứu kính chân thật, th́ phải dẹp hết mọi suy lư, mọi nghĩ tưởng. Như câu thoại đầu "Trước khi cha mẹ chưa sanh, ta là ǵ? " Cứ đọc đi đọc lại câu đó hoài cho tới thành khối. Thành khối rồi bỗng lúc nào đó nó bung ra th́ hành giả ngộ đạo. Đó là một cách dồn ḿnh đi tới chỗ bặt hết những nghĩ suy. Điểm đặc biệt nữa trong nhà thiền là khi được hỏi, nếu chúng ta đáp một câu có ư nghĩa, tức có thể suy gẫm được, th́ câu đó gọi là "tử ngữ" tức câu chết. Nếu đáp một câu không thể suy luận được, th́ câu đó gọi là "hoạt ngữ" tức câu sống. Nên các câu "tiếng vỗ của một bàn tay" hay "ba cân gai" là những câu sống, rất được nhà thiền quí trọng. V́ nó khiến cho hành giả bặt hết các nghĩ tưởng, tâm thanh tịnh, chừng ấy mới có thể nhận ra được cái chân thật hằng hữu nơi ḿnh.

Ở đây, tôi đặt thêm một vấn đề nữa. Ngay nơi thân tứ đại của chúng ta có cái chân thật không? Thân này là hư giả phải bại hoại, không nghi ngờ. Tâm phân biệt suy nghĩ được mất, tốt xấu cũng vô thường không thật. Điều này chúng ta đă biết rồi. Thế nhưng trong kinh Pháp Hoa nói chúng ta có sẵn ḥn ngọc nhưng lại bỏ quên. Vậy cái ǵ là ḥn ngọc của ḿnh? Thân này bại hoại không phải là ḥn ngọc.

Tâm lăng xăng cũng không phải ḥn ngọc luôn. Vậy cái ǵ là ḥn ngọc?

Chính chỗ này là chỗ niệm tới vô niệm của người tu Tịnh độ. Phật Di-đà hiện chính là ḥn ngọc hiện. Nghĩa là Phật tánh sẵn có của ḿnh bất sanh bất diệt hằng sáng suốt, v́ Phật Di-đà là Vô lượng thọ, Vô lượng quang tức tuổi thọ vô lượng, ánh sáng vô lượng. Tánh ḿnh là sáng, tánh ḿnh là bất sanh bất diệt. Đó chính là ḥn ngọc của ḿnh. Ai cũng có ḥn ngọc đó hết, chớ không riêng người nào. Đức Phật đă tuyên bố: "Ta là Phật đă thành, các ngươi là Phật sẽ thành", ai cũng sẵn có tánh Phật, chỉ khác nhau ở chỗ người quên kẻ nhớ thôi.

Ngày nay chúng ta tu, nh́n lại tất cả đều bám vào hai phần thân tạm bợ và tâm tạm bợ cho là ḿnh, cứ thế mà điên đảo. Phật thương nên dạy chúng ta làm sao đừng chấp về hai thứ này nữa, th́ sẽ được giải thoát sanh tử. Niệm Phật đến nhất tâm bất loạn là không c̣n cái "tôi" nữa. Tu thiền tới chỗ không c̣n một niệm, đó chính là chỗ chân thật không sanh không diệt.

Chúng ta nhớ Lục tổ Huệ Năng khi được truyền y bát, Ngài trở về phương Nam. Trên đường có nhiều người đuổi theo giành lại. Trong số đó có Thượng tọa Minh chạy giỏi nên đuổi kịp. Thấy thế, Tổ Huệ Năng để y bát trên bàn thạch rồi chui vô lùm ẩn. Thượng tọa Minh đến thấy y bát, mừng rỡ ôm lên nhưng ôm không nổi. Ông ngạc nhiên v́ cứ ngỡ đó là vật thường, nhưng bây giờ mới biết đó là vật linh thiêng phi thường nên không dám giành lấy nữa. Ông liền kêu: "Hành giả, hành giả! Tôi tới đây v́ pháp, chớ không phải v́ y bát. " Ngài Huệ Năng ở trong bụi chui ra, bảo: "Nếu ông cầu pháp th́ hăy lặng yên một lát, ta sẽ nói cho. " Huệ Minh liền đứng yên lặng. Câu nói pháp đầu tiên của Tổ Huệ Năng là: "Không nghĩ thiện, không nghĩ ác, cái ǵ là Bản lai diện mục của Thượng tọa Minh? " Ngay câu đó Thượng tọa Minh liền ngộ đạo.

Nghĩ thiện, nghĩ ác là tâm sanh diệt. Nếu hai thứ đó không c̣n th́ cái thật của chính ḿnh hiện ra. Điều đó quá rơ ràng. V́ vậy các Thiền sư thường nói cho chúng ta không c̣n nghĩ ǵ được. Không nghĩ ǵ được th́ tâm sẽ lặng. Tâm lặng, cái chân thật mới hiện ra. Các ngài chỉ thẳng chỗ chân thật đó mà ḿnh lại không biết, bảo các ngài nói nghe điếc lỗ tai. Cho nên những câu nói trong nhà thiền thường là những câu phi nghĩa. Đó là những câu sống, bởi nó làm cho ḿnh bặt dứt tâm lăng xăng. Hiểu vậy mới thấy giá trị của đạo Phật.

Nhiều Phật tử cho rằng nghĩ ác mới có tội chớ nghĩ thiện đâu có tội. Bước đầu tu th́ như vậy. Nghĩ ác sẽ đọa vào ba đường địa ngục, ngạ quỉ, súc sanh. Nghĩ thiện được đi trong ba đường lành trời, người, a-tu-la. Như vậy vẫn c̣n luân hồi, bởi c̣n đi trong các đường, c̣n lên c̣n xuống măi. Được lên trời sống lâu, hưởng phước nhiều, nhưng hết phước cũng tuột xuống như thường, chưa phải là giải thoát.

Chỉ khi nào niệm thiện, niệm ác hay nói chung là những niệm đối đăi đều lặng hết th́ chừng đó tâm chân thật bất sanh bất diệt mới hiển bày. Tâm đó mới không dẫn chúng ta đi trong các đường, chừng đó mới giải thoát sanh tử. Nói như vậy, quí vị không biết cái chân thật ấy ở đâu, hiện giờ nó có không, ra sao? Tôi sẽ nói hết sức đơn giản, nếu quí vị lắng ḷng có thể nhận biết.

Khi nào chúng ta ngồi chơi yên tĩnh, không có niệm nào trong đầu hết. Lúc đó chim kêu, gió thổi, người đi qua lại ḿnh có biết không? Biết. Cái biết đó có động, có thuộc về nghĩ suy không? Không. Cho nên nhà Phật mới chia cái biết ra làm hai loại: Cái biết chân thật gọi là Chân tâm và cái biết sanh diệt gọi là vọng tâm. Thường ngày chúng ta cứ bám lấy vọng tâm cho là ḿnh, nên quên mất Chân tâm. Bây giờ thử nhớ lại những phút giây không suy nghĩ, chúng ta vẫn hiện tiền, có thiếu đâu. Vậy mà cứ cho nghĩ phải, nghĩ quấy, nghĩ hơn, nghĩ thua là ḿnh rồi chạy theo nó nên điên đảo. Chỉ cần lặng hết những thứ này th́ Chân tâm hiện tiền, khỏi cầu xin ở đâu hết. Đó là ḥn ngọc sẵn có của ḿnh. Chỉ tại chúng ta không biết, không dùng, cứ chạy theo cái tạm bợ, cái giả dối nên khổ.

Có thân nào c̣n hoài không chết đâu, vậy mà ta vẫn thương nó. Lo ăn cho ngon, mặc cho đẹp, cuối cùng nó ră rời rồi kêu khổ. Si mê như vậy nên mất cái giả này lại t́m cái giả khác, rồi giữ nữa. Thật có đáng thương không?

Nh́n lại, thế gian được mấy người không si mê? Khó t́m được người không si mê, cho nên Phật nói cả thế gian đều đáng thương xót. Biết thế rồi, chúng ta có c̣n ghét ai, giận ai nữa không? Dù họ nói bậy ǵ ḿnh cũng thương, v́ họ si mê không biết mà thôi. Nếu người nói bậy mà ḿnh căi lại với họ th́ ḿnh cũng si mê luôn. Một đám si mê với nhau, có ai hơn ai. Cho nên người biết tu là người tỉnh trong đám mê. Những ǵ vô nghĩa, không đem lại lợi ích cho ḿnh th́ không quan tâm. Phải hướng về cái chân thật của chính ḿnh, đó mới là điều chánh yếu. Tu như vậy mới thật là tu, thật cầu giải thoát sanh tử.

Tóm lại, chúng ta đă nắm vững ư nghĩa tu hành rồi, dù tu theo pháp môn nào cũng phải biết dừng bỏ các thứ thân tâm hư dối, nhận lại cái chân thật sẵn có nơi ḿnh. Đó chính là chỗ tùy duyên mà bất biến của đạo Phật vậy.


 

PHĂNG T̀M CỘI GỐC CỦA ĐẠO PHẬT

Giảng cho khóa Giảng sư

tại TP Hồ Chí Minh - 2000

Đề tài tôi nói hôm nay: Thiền là cội gốc của đạo Phật. Qua đây quí vị tự nghiệm xét, để thấy rơ đường lối tu đức Phật đă dạy từ thuở ban đầu. Nhiều vị vào chùa thấy quí thầy làm ǵ, tu thế nào th́ cứ như thế làm theo, rập khuôn "xưa bày nay làm". Người trước làm thế nào th́ người sau cũng y như thế đó thôi. Chúng tôi không có quan niệm như vậy.

Khi vào đạo chúng tôi có những thắc mắc, ưu tư, phải làm sao t́m cho ra manh mối tu hành của đức Phật và ứng dụng được đường lối ấy vào sự tu th́ tôi mới hài ḷng. Muốn thế chúng ta cần phải nghiên cứu thật rơ ràng đường lối tu của Phật như thế nào và đồ đệ Ngài tu ra sao? T́m cho tận nguồn gốc đó, chúng ta mới thấy rơ manh mối để ứng dụng tu cho ḿnh.

Chúng ta ai cũng biết, đức Phật Thích-ca ngồi dưới cội bồ-đề bốn mươi chín ngày đêm tọa thiền, sau đó được giác ngộ. Như vậy đức Phật do thiền định mà được giác ngộ. Sau khi giác ngộ viên măn đức Phật tuyên bố Ngài thành Phật. Rơ ràng đức Phật Thích-ca do tu Thiền định được thành Phật, không c̣n ai nghi ngờ nữa.

Đến các đồ đệ của Ngài, bấy giờ bên Tăng có một ngàn hai trăm năm mươi vị cũng đều tu Thiền mà chứng quả A-la-hán, bên Ni cũng như vậy. Sử ghi lại sau khi Phật tuyên bố ba tháng nữa sẽ nhập Niết-bàn th́ bà Kiều-đàm-di Mẫu, tức Ma-ha Ba-xà-ba-đề lănh đạo Ni chúng, hướng dẫn năm trăm vị đến thưa với Phật rằng: "Nghe Thế Tôn sắp nhập Niết-bàn, chúng con không cam tâm nh́n thấy Thế Tôn nhập Niết-bàn, xin Thế Tôn cho chúng con nhập Niết-bàn trước. " Phật đồng ư. Trở về trụ xứ, năm trăm vị nhập định rồi an nhiên thị tịch.

Như vậy, do tu Thiền mà chư Tăng, chư Ni chứng A-la-hán và được sanh tử tự tại. Khi cần ra đi không có ǵ trở ngại. Kiểm lại từ đức Phật cho tới các môn đồ của Ngài đều tu Thiền mà chứng ngộ giải thoát.

Đây là điều căn bản, chắc chắn không nghi.

Nói xa hơn trên đường truyền bá Phật giáo từ Ấn Độ sang Trung Hoa và từ Ấn Độ sang Việt Nam, Phật giáo được truyền bá những ǵ chúng ta cần phải hiểu, phải nắm cho vững. Ở Trung Hoa, kể từ đời vua Hán Minh Đế, các vị Sư từ Ấn Độ sang dạy tu Thiền, măi đến thế kỷ thứ VI ngài Bồ-đề-đạt-ma sang Trung Hoa truyền bá Thiền. Từ đó Thiền tông Trung Hoa ngày càng phát triển mạnh mẽ và truyền lần sang những nước khác như Việt Nam, Nhật Bản, Triều Tiên v. v… Vậy gốc của Phật giáo truyền vào Trung Hoa là Thiền.

Ở Việt Nam, từ các vị ban đầu như Khương Tăng Hội, cũng dạy tu Thiền. Một số sách sau này t́m thấy được do Ngài viết bài tựa dạy tu đếm hơi thở như là Anàpànasmrti (An-ban Thủ Ư) . Đường lối các ngài dạy đều là Thiền, nhưng tu Thiền theo tinh thần A-hàm. Hoặc có ngài dạy tu Thiền theo tinh thần Đại thừa, trong đó có Lục độ vạn hạnh.

Măi cho tới thế kỷ thứ VII, ngài Tỳ-ni-đa-lưu-chi sang, Thiền tông mới bắt đầu có mặt ở Việt Nam. Đến thế kỷ thứ IX ngài Vô Ngôn Thông truyền Thiền sang Việt Nam v. v… Tóm lại, hệ thống tu thiền đă có từ thế kỷ thứ III đến thế kỷ thứ VIII, thứ IX. Và thế kỷ thứ X, XI th́ có thêm ḍng Thảo Đường truyền vào đời Lư. Đến thế kỷ thứ XII, XIII th́ có phái thiền Trúc Lâm Yên Tử dung hợp ba hệ Tỳ-ni-đa-lưu-chi, Vô Ngôn Thông, Thảo Đường thành một phái Trúc Lâm Yên Tử do vua Trần Nhân Tông hiệu Trúc Lâm Đầu-đà khởi lập.

Qua đời Lê, Phật giáo suy vi một lúc cho tới cuối đời Lê, Phật giáo chia ra Đàng trong Đàng ngoài. Đàng ngoài th́ có Ḥa thượng Chuyết Công thuộc ḍng Lâm Tế, Đàng trong có những vị Ḥa thượng cũng thuộc hệ phái Lâm Tế hay Tào Động. Có Thiền sư Việt Nam được kế thừa các Thiền sư Trung Hoa như ngài Liễu Quán. Ngài được Thiền sư Nguyên Thiều người Trung Hoa sang truyền Thiền. Thiền sư Liễu Quán có vào cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX.

Tóm lại, hệ thống tu thiền Phật giáo Việt Nam có từ thế kỷ thứ II thứ III, măi đến thế kỷ thứ XVIII. Trải qua một thời gian dài như vậy, nhưng bây giờ các chùa Việt Nam chúng ta có mấy người biết tu thiền? Tôi muốn đặt ra vấn đề này để quí vị xem xét đường lối tu của người xưa và hiện tại khác biệt nhau như thế nào. Đó là tôi lược dẫn chứng hệ thống truyền bá thiền từ đức Phật Thích-ca cho tới măi sau này, nhất là ở Việt Nam.

Thông qua giáo lư của Phật dạy, chỉ cần xét về Tứ đế thôi, riêng phần Đạo đế chúng ta thấy có bao nhiêu pháp? Có ba mươi bảy phẩm trợ đạo. Bốn phẩm đầu là Tứ niệm xứ. Tứ niệm xứ là ǵ? Quán thân bất tịnh, Quán thọ thị khổ, Quán tâm vô thường, Quán pháp vô ngă. Bốn pháp quán đó là thiền hay là ǵ? Chính là Thiền quán mà các sư Nguyên thủy đă ứng dụng tu từ trước đến giờ. Rồi tới Tứ chánh cần, Tứ như ư túc, Ngũ căn, Ngũ lực v. v… Trong Ngũ căn có Tín, Tấn, Niệm, Định, Tuệ. Căn là gốc, năm gốc để tăng trưởng sức mạnh. Tăng trưởng sức mạnh gọi là Ngũ lực: Tín, Tấn, Niệm, Định và Tuệ lực. Trong năm thứ đó, một là tin, hai là tinh tấn, ba là chuyên niệm, bốn là định, năm là trí tuệ. Như vậy tu năm căn cũng là phương pháp tu Thiền. Kế đến Thất giác chi cũng tu thiền. Và Bát chánh đạo mà hai chi cuối cùng là Chánh niệm và Chánh định, cũng không ngoài thiền. Đó là giáo lư Nguyên thủy.

Đến giáo lư Đại thừa có pháp Lục độ là gốc của Đại thừa: Bố thí, Tŕ giới, Nh