|
H.T THÍCH THANH TỪ
HOAVÔ ƯU Tập 8
NHÀ XUẤT BẢN PL. 254 - 200
LỜI ĐẦU SÁCH Quyển Hoa Vô Ưu này được kết tập từ các bài giảng của Ḥa thượng Viện chủ Thiền viện Thường Chiếu Thích Thanh Từ. Trong đó, gồm một số bài Ḥa thượng giảng cho Tăng Ni, Phật tử tại các Thiền viện và một số bài giảng phổ thông cho Phật tử trong cũng như ngoài nước. Để đáp ứng nhu cầu t́m hiểu pháp thiền và hâm mộ tu thiền của Tăng Ni, Phật tử, nhưng quí vị chưa đủ điều kiện tu học trực tiếp nơi Ḥa thượng, chúng tôi tŕnh xin ư kiến của Ngài và được Ngài hoan hỷ cho biên tập lại các bài giảng trên. Tuy nhiên, v́ là văn nói nên tập sách không sao tránh khỏi sự trùng lặp tất yếu của nó. Rất mong độc giả đạt ư quên lời. Được thế, hy vọng tập sách sẽ đến tay quư vị với những lợi ích thiết thực nhất. Như vậy, chúng ta có thể t́m hiểu thâm nhập và hành tŕ pháp thiền. Đồng thời trên bước đường tu học, chúng ta có thêm bạn đồng hành luôn cảm thông với chúng ta. Thường Chiếu, ngày 01 tháng 08 năm 2002 THÍCH NHẬT QUANG ?
CON NGƯỜI BẤT TỬ Thiền viện Chân Không - 1982 Hôm nay nhân ngày tôi ra thất, quí vị đại diện Tăng Ni yêu cầu tôi chỉ cho những điều cốt yếu để ứng dụng tu hành. Tôi hoan hỷ tùy thuận. Thật ra hơn ba tháng qua, ở trong thất chúng tôi chưa được ǵ đặc biệt lắm, nhưng đại chúng yêu cầu, tôi cũng nói một vài cảm niệm của ḿnh trong khi nhập thất. Ở trong thất, một hôm tôi có cảm niệm xót thương. Xót thương ai? Một là xót thương tôi. Bởi trên đường tu đă hai phần ba cuộc đời rồi, tôi mới nhận ra nơi ḿnh có con người bất tử, tức ngay nơi thân sanh tử này có con người không sanh tử. Khi nhận được như vậy, tôi có tật xấu hay khoe nên rồi cứ khoe với người này người nọ, gặp ai cũng khoe rằng ngay nơi thân sanh tử có con người bất tử. Khoe măi không chán, cho đến gần đây nhờ nhân duyên bệnh, tôi mới được ngồi yên chuyên nhập con người bất tử ấy. Bấy giờ nh́n lại th́ tuổi thọ đă cao. V́ vậy thời gian c̣n lại quá ít, dù nỗ lực chuyên ṛng nhập con người bất tử cho đến ngày nhắm mắt cũng chưa xong. Tại sao? Bởi v́ muốn nhập con người bất tử, trước hết chúng ta phải rũ sạch duyên sanh tử, mà duyên sanh tử bao bọc muôn ṿng ngàn lớp, muốn rũ sạch nó không phải là chuyện dễ dàng. Chúng ta phải hằng tỉnh hằng giác với thời gian dài lâu mới có thể rũ sạch được. Thiền sư Triệu Châu sau khi ngộ nơi Tổ Nam Tuyền c̣n phải ba mươi năm ở trong ṭng lâm mới thành một khối. Thiền sư Đại An ngộ nơi Tổ Bá Trượng, sau này về núi Quy chăn trâu trong ba mươi năm, từ con trâu đen trở thành con trâu trắng sờ sờ trước mặt đuổi cũng không đi. Như vậy, các Thiền sư đều đă ngộ rồi, c̣n phải qua ba mươi năm mới thành một khối hoặc trâu đen mới thành trâu trắng. Đối với chúng ta bây giờ, như tôi chẳng hạn không đủ điều kiện đó nữa. Ví như có gă phiêu linh lăng tử cùng một số bạn bè từ thuở thiếu thời cất bước phiêu lưu, chàng ta đi lang thang tha phương viễn xứ, măi cho tới tuổi sắp già. Một hôm bỗng dưng nhớ lại cố hương, ḷng yêu quê thôi thúc, anh nhất định t́m về. Nhưng bấy giờ đường về đă quên mất, nên anh cứ loanh quanh, luẩn quẩn măi. Trải qua nhiều năm như vậy, bỗng dưng một hôm anh t́m được lối cũ, rơ ràng không nghi ngờ. Nhưng anh vẫn chưa về được, v́ nhớ lại bạn bè đang lưu lạc khắp nơi. Anh phải đi t́m họ để rủ nhau cùng về. Khi rủ được một số bạn bè đồng chí đồng nguyện, anh bắt đầu cất bước lên đường trở về th́ sức đă kiệt, hơi đă tàn. Trên đường về, cố gắng lắm anh cũng chỉ có thể đi chừng một phần ba hoặc một phần tư đoạn đường thôi sẽ ngă quỵ. Chàng lăng tử kia chết trên đường về chớ chưa tới nhà, như vậy có đáng xót thương không? Cũng thế, trên đường tu cho tới ngày nhắm mắt, tôi biết ḿnh chưa viên măn bản nguyện, cho nên tôi xót thương tôi. Hai là tôi xót thương cho bạn bè tôi. Những ai đă nghe tôi nhắc về con người bất tử, hoặc tin trọn vẹn hoặc tin hai phần ba, họ quyết chí nhận cho ra con người bất tử ấy, nhưng lại gặp khó khăn, rắc rối trong lúc tu hành. Nếu không được thiện tri thức phụ giúp, tháo gỡ những gút mắc, có lẽ trên đường tu nhiều chướng ngại, đôi khi họ phải thoái tâm và không đi trọn con đường, cho nên tôi thương xót họ. Ba là xót thương những người trên đường tu nửa tin, nửa ngờ về con người bất tử. Với những vị này nếu có thầy lành bạn tốt, thiện hữu tri thức hằng nhắc nhở th́ tiến, ngược lại buông xuôi th́ lùi. Với những người này nếu để mặc t́nh ra sao th́ ra, chắc rằng đường tu khó tiến, nên tôi xót thương họ. Bốn là xót thương những người rất nhiệt t́nh khi nghe đến con người bất tử. Họ muốn làm sao nhận cho ra, sống cho được nhưng không có ai hướng dẫn, chỉ bảo. Họ phải nhọc nhằn leo núi này, trèo non nọ để t́m thiện tri thức, nhưng t́m tới nơi rồi họ cũng thấy bất măn, không được như ư. Những người nhiệt t́nh như thế nếu nông nổi sẽ dễ đi lạc vào đường tà. C̣n người chín chắn, cẩn thận nhưng lâu ngày không t́m kiếm được thiện tri thức, họ cũng chùn chân thối bước, cho nên thật đáng xót thương. Năm là xót thương những ai có con người bất tử ngay trong thân sanh tử mà không bao giờ nghĩ, không bao giờ đoái hoài đến. Suốt ngày hay suốt đời, họ hài ḷng với thân sanh tử này. Hạng người này chẳng khác nào như kẻ có ḥn ngọc quư trong túi mà cam đành sống kiếp lang thang đói nghèo, lại rất hài ḷng như vậy. V́ vậy tôi xót thương họ. Đó là những cảm niệm xót thương của tôi trong thời gian nhập thất. Như trước tôi đă nói về con người bất tử. Đến đây tôi muốn nêu lên ba điểm xung quanh vấn đề này. Điểm thứ nhất là con người bất tử. Điểm thứ hai là nhận ra con người bất tử. Điểm thứ ba là nhập con người bất tử. Ba điểm đó chính là điều tôi muốn nói với quư vị hôm nay. Thế nào là con người bất tử? Nhận ra con người bất tử có lợi ích ǵ và làm sao nhập được con người bất tử ? Đó là ba điểm thật hệ trọng đối với người tu chúng ta. Ở đây, điểm thứ nhất và thứ hai tôi giải quyết được, c̣n điểm thứ ba tôi dẫn chứng qua việc tu hành của các Thiền sư, chứ bản thân chưa làm xong. Điểm thứ nhất, thế nào là con người bất tử? Trong kinh c̣n gọi “Con người bất tử” là Pháp thân, Chơn tâm, Niết-bàn v.v… Đó là cái bất tử sẵn nơi chúng ta, nhập được cái đó gọi là Như Lai, là Phật. Đây là tôi tạm định nghĩa trên mặt danh từ. Khi nhận ra được con người bất tử rồi, có lợi ích ǵ? Quí vị từng tụng kinh Pháp Hoa, phẩm thứ mười sáu Như Lai Thọ Lượng, nói về tuổi thọ của chư Phật. Trong kinh Phật kể tuổi thọ của chư Phật bao nhiêu? Ai có thể chứng được? Phật bảo giả sử như đem thế giới tam thiên đại thiên nghiền nát thành bụi, mỗi hạt bụi đem mài làm mực. Có người dùng thần thông bay qua trăm ngàn muôn ức thế giới, chấm một hột mực xuống rồi bay qua trăm ngàn muôn ức thế giới khác chấm một hột mực xuống nữa. Như thế mà chấm hết số mực thế giới tam thiên nghiền nát đó, rồi bay qua những thế giới chấm mực và không chấm mực, gom lại một lần nữa, nghiền nát thành bụi. Mỗi hột bụi là một kiếp, th́ tuổi thọ của chư Phật c̣n hơn số bụi đó nữa. Quư vị có thể nghĩ được bao nhiêu không? Bởi bất tử là không chết, không chết nên tuổi thọ không làm sao tính được. Tại sao tôi không nói theo kinh là Niết-bàn, là vô sanh mà nói “Con người bất tử”? Bởi người thế gian luôn luôn thích sanh sợ tử nên nói bất sanh họ buồn mà nói bất tử người ta chịu. V́ vậy tôi nói con người bất tử, chớ thật ra có sanh mới có tử, c̣n không sanh th́ lấy đâu mà tử? Kinh nói Niết-bàn, vô sanh là chỉ thẳng vào cái nhân. Nhân không có th́ quả làm sao có. Như vậy nếu nhận ra được con người bất tử đó là Như Lai, nên nói tuổi thọ Như Lai không thể tính, không thể đếm, không làm sao biết được hết. Đến phẩm thứ mười bảy là Phân Biệt Công Đức. Phân biệt là so sánh, so sánh công đức của người nhận hiểu về tuổi thọ chư Phật khác với công đức của những người làm việc bố thí, tŕ giới, tinh tấn, nhẫn nhục v.v… Có một đoạn Phật nói, nếu người nào khởi một niệm tin hiểu thọ mạng dài lâu của Như Lai th́ công đức người ấy không thể tính lường. Một đoạn khác Phật nói, nếu người thiện nam, người thiện nữ nào đối với thọ mạng của Như Lai tin hiểu, không nghi ngờ; người đó sẽ thấy Phật đang ở núi Kỳ Xà Quật v́ các vị Bồ-tát lớn và hàng Thanh văn vây quanh nói pháp. Như vậy ai đối với thọ mạng dài lâu của Phật tin nhận được, người đó sẽ thấy Phật đang ở hội Linh Sơn. Tại sao? Bởi v́ thấy được con người bất tử là thấy Phật. Phật không phải là đức Thích Ca bằng thân xác thịt, mà Phật là Phật pháp thân. Nơi đức Phật Thích-ca có con người bất tử, nơi chúng ta cũng có con người bất tử, nhận ra được như vậy gọi là thấy Phật. Trong kinh Lăng Nghiêm, ngài A-nan sau khi nghe đức Phật chỉ cho thấy trong thân sanh diệt có cái không sanh diệt, Ngài liền tỉnh ngộ. Sau khi tỉnh ngộ Ngài làm bài kệ tán thán Phật, đồng thời nói lên chí nguyện của ḿnh. Bốn câu đầu của bài kệ ấy thế này: Diệu trạm tổng tŕ bất động tôn, Thủ Lăng Nghiêm vương thế hy hữu. Tiêu ngă ức kiếp điên đảo tưởng, Bất lịch tăng kỳ hoạch Pháp thân. Bốn câu đó cho chúng ta thấy khi nhận được con người bất tử rồi được lợi ích ǵ. Câu đầu Ngài tán thán Phật “Diệu trạm tổng tŕ bất động tôn”, nghĩa là đức Phật là vị đă đạt được chỗ chánh định, lặng lẽ ở chỗ bất động, đầy đủ vô lượng công đức. Câu thứ hai Ngài tán thán pháp Phật nói là kinh Thủ Lăng Nghiêm, nhờ nghe pháp ấy Ngài tiêu hết các tưởng điên đảo trong muôn ức kiếp, ngộ được Pháp thân. Tưởng điên đảo là tưởng ǵ? Tưởng điên đảo là giả mà tưởng là thật, thật mà tưởng là không. Bây giờ Ngài mới thấy giả là giả, thật là thật có, chớ không phải không. Rơ ràng khi ngộ được Pháp thân th́ các tưởng điên đảo liền tiêu tan hết. “Bất lịch tăng kỳ hoạch Pháp thân”, nghĩa là không trải qua vô số kiếp mà được Pháp thân. Tại sao? Bởi v́ theo kinh nói người tu Đại thừa trải qua các thứ lớp từ sơ phát tâm đến thập tín, thập trụ, thập hạnh, thập hồi hướng. Đó là hàng Tam hiền trải qua vô số kiếp thứ nhất. Từ Sơ địa cho đến Bát địa là vô số kiếp thứ hai, từ bát địa cho tới diệu giác là vô số kiếp thứ ba. Như vậy, người tu Đại thừa theo tiệm thứ chứng Sơ địa mới thấy được Pháp thân, nên từ Sơ địa Bồ-tát trở lên phá một phần vô minh, chứng được một phần Pháp thân, gọi là phần giác. Ngài A-nan không cần trải qua vô số kiếp tu thập tín, thập trụ, thập hạnh, thập hồi hướng mà ngay nơi đây thấy được Pháp thân. V́ vậy nói đốn ngộ, thấy một cách mau chóng không cần thứ lớp. Khi nhận ra nơi ḿnh có con người bất tử rồi, làm sao nhập được sống được với con người ấy? Cũng trong kinh Lăng Nghiêm, ngài A-nan bạch với Phật rằng: Như một gă lang thang được nhà vua tặng cho ngôi nhà đẹp, nhưng gă không biết làm sao vô nhà, cúi xin đức Phật chỉ cho cửa vào nhà. Nhân đó Phật bảo hai mươi lăm vị Thánh đệ tử thay nhau tŕnh sở ngộ của ḿnh, để chọn ra căn viên thông làm cửa tiến vào ngôi nhà ấy. Thế nên biết khi ngộ rồi, có được ḥn ngọc báu, có ngôi nhà đẹp nhưng c̣n phải nhập, tức là biết cách vào nhà nữa. Trong kinh Pháp Hoa nói “Khai thị ngộ nhập” cũng cùng một ư nghĩa này. Ngộ là nhận ra, nhập là vào thẳng bên trong chớ không phải ngộ rồi hài ḷng ở ngoài cửa, đây mới là thật sống với con người bất tử. Người ngộ rồi bớt được điên đảo nhưng phần phiền năo vi tế vẫn c̣n. Ba thứ độc si, tham, sân chưa sạch hết, chừng nào nhập được con người bất tử mới sạch hết phiền năo vi tế. V́ vậy người tu muốn nhập tri kiến Phật hay con người bất tử th́ công phu phải rất chín chắn, rất cẩn mật chớ không phải thường. Làm thế nào để nhập con người bất tử? Như tôi đă nói, suốt đời ḿnh chưa chắc tôi đă nhập xong, làm sao dám nói chuyện nhập cho quư vị nghe. Nên ở đây tôi chỉ dẫn lại trong kinh những đoạn Phật nói về nhập Pháp thân, tuy chúng ta chưa nhập nhưng biết rơ con đường về nhà như vậy, về sau trong công phu không sợ lầm. Kinh Niết bàn có bài kệ đơn giản thế này: Chư hành vô thường, Thị sanh diệt pháp. Sanh diệt diệt dĩ, Tịch diệt vi lạc. Chư hành là các hành nghiệp, tất cả đều vô thường, thuộc pháp sanh diệt. Vọng tưởng của chúng ta có phải là hành nghiệp không? Một niệm dấy lên là hành nghiệp rồi, cho nên vọng tưởng là hành nghiệp. V́ vậy nó thuộc về vô thường, v́ dấy niệm là sanh diệt, mà sanh diệt là vô thường. Nếu chúng ta bám vào vô thường th́ muôn đời không bao giờ nhập được con người bất tử. Bởi con người bất tử là chân thường, bám vào vô thường làm sao nhận được. V́ vậy phải buông, rũ sạch duyên sanh tử vô thường ấy rồi, mới nhập được con người bất tử. “Sanh diệt diệt dĩ”, chừng nào mầm sanh diệt hết sạch th́ tịch diệt hiện tiền. Tịch diệt hiện tiền đó mới là vui, nên nói “Tịch diệt vi lạc”. Trong kinh Di Đà, Phật nói: “Nhược hữu thiện nam tử, thiện nữ nhơn chuyên tŕ danh hiệu A Di Đà Phật, nhược nhất nhậït, nhược nhị nhật, nhược tam nhật, nhược tứ nhật, nhược ngũ nhật, nhược lục nhật, nhược thất nhật, nhất tâm bất loạn; kỳ nhơn lâm mạng chung thời, A Di Đà Phật dữ chư Thánh chúng hiện tại kỳ tiền”, nghĩa là nếu có người thiện nam hay thiện nữ chuyên tŕ danh hiệu Phật A Di Đà hoặc một ngày, hai ngày, ba ngày, bốn ngày, năm ngày, sáu ngày cho tới bảy ngày nhất tâm bất loạn; người ấy khi lâm chung đức Phật A Di Đà cùng chư Thánh chúng sẽ hiện ra ở trước tiếp dẫn. Loạn là ǵ? Là duyên sanh tử, là niệm, là động. C̣n niệm, c̣n động là c̣n dấy, c̣n loạn, c̣n sanh tử. Nếu nhất tâm là như như bất động, ấy là được con người bất tử. Trong kinh Niết-bàn gọi Nhất tâm là tịch diệt, tịch diệt là vui. Ở đây nói khi nhất tâm th́ thấy Phật Di Đà và Thánh chúng rước về Cực Lạc rất vui. Rơ ràng muốn đi đến chỗ tịch diệt là phải dứt mầm sanh tử, mới hiện tướng tịch diệt chân thật. Như vậy cái vui của người tu là thoát ly sanh tử. Tại sao vậy? V́ theo Tứ đế vô thường là khổ, nên c̣n bị vô thường là c̣n bị khổ. Do đó tứ khổ, bát khổ… đều căn cứ trên lư vô thường mà nói. Bây giờ muốn hết khổ phải dứt hết mầm sanh diệt, sanh diệt hết rồi th́ tịch diệt hiện tiền, đó mới là vui. Cái vui này theo Thiền tông gọi là nhập con người bất tử. Chúng ta thấy đức Phật khéo tùy duyên, thuận theo cái hiểu, cái nhận của chúng sanh mà Ngài dùng những phương pháp, những ngôn ngữ khác nhau để độ họ. Chúng ta không hiểu, cứ nghĩ rằng tu theo pháp môn này được Phật rước, hưởng sự vui thích tùy ư, c̣n nói sanh diệt diệt rồi, tịch diệt là vui th́ thấy buồn quá. Bởi tịch diệt là vắng lặng làm sao vui được. Đó là do chúng ta mê mờ chưa hiểu thôi, chớ Phật dạy cứu kính không hai, không khác. Như vậy để thấy rằng người tu nếu muốn nhập con người bất tử th́ phải dứt mầm sanh diệt mới nhập được. Trở lại kinh Lăng Nghiêm, phần Phật hỏi các vị Thánh đệ tử về cách chọn căn viên thông. Bồ-tát Quán Thế Âm kể lại hạnh tu của Ngài cho đức Phật và đại chúng nghe thế này: “Sơ ư văn trung, nhập lưu vong sở. Sở nhập kư tịch, động tịnh nhị tướng, liễu nhiên bất sanh. Như thị tiệm tăng, văn sở văn tận, tận văn bất trụ, giác sở giác không. Không giác cực viên, không sở không diệt. Sanh diệt kư diệt, tịch diệt hiện tiền. Hốt nhiên siêu việt thế xuất thế gian, thập phương viên minh, đắc nhị thù thắng. Nhất giả thượng hợp thập phương chư Phật bản diệu giác tâm, dữ Phật Như Lai đồng nhất từ lực. Nhị giả hạ hợp thập phương nhất thiết lục đạo chúng sanh, dữ chư chúng sanh đồng nhất bi ngưỡng”. Nghĩa là ban đầu ở trong tánh nghe, vào được ḍng viên thông, không c̣n tướng sở văn nữa. Chỗ nhập đă sâu, đă lặng lẽ th́ hai tướng động tịnh không c̣n, không sanh. Cứ thế lần lần tiến lên, các tướng năng văn, sở văn đều hết tức cái hay nghe và bị nghe đều hết. Cái hay nghe, bị nghe hết rồi, không dừng ở đó phải tiến lên giác sở giác không, tức năng giác và sở giác cũng lặng. Năng giác và sở giác lặng rồi, không giác viên măn tức cái năng không và sở không cũng diệt. Sanh diệt đă diệt, tịch diệt hiện tiền. Bỗng nhiên vượt ngoài thế gian và xuất thế gian, sáng suốt cùng khắp mười phương, được hai thứ thù thắng: Một là trên hợp với tâm diệu giác sẵn có của mười phương chư Phật, tức ḿnh và Phật đồng một tâm, đồng một từ lực. Hai là dưới hợp với tất cả chúng sanh trong sáu đường mười phương, cùng với chúng sanh một ḷng bi ngưỡng. Chúng ta thấy rơ tới chỗ cứu kính sanh diệt hết rồi, tịch diệt hiện tiền, không phải hết mà chừng đó thấy ḿnh siêu xuất thế gian và xuất thế gian. Bấy giờ trên hợp với chư Phật, đồng một ḷng từ, dưới hợp với chúng sanh, đồng một ḷng bi. Có ḷng từ nên muốn ban vui cho tất cả chúng sanh, có ḷng bi nên muốn nhổ hết gốc khổ của chúng sanh. Đó là công hạnh của Bồ-tát Quan Thế Âm. Công hạnh này chúng ta có thể đối chiếu với mười mục tranh chăn trâu của người tu Thiền. Trong nhà thiền có vẽ mười mục chăn trâu để hành giả thấy được sự tiến từ thô đến tế của ḿnh. Ngay chỗ “sơ ư văn trung, nhập lưu vong sở” nghĩa là ở trong tánh nghe, nhập được rồi th́ quên các tiếng bên ngoài. Đây dụ như con trâu khi ta đă làm chủ được, nắm mũi dẫn đi th́ nó quên cỏ, quên lúa mạ bên ngoài, theo ông chủ xoay trở về. Tới “văn sở văn tận”, tức năng văn và sở văn hết, hai tướng động tịnh chẳng sanh. Đây dụ như con trâu đă thuần thục, người chăn thổi sáo trên cây c̣n trâu nằm ́ trên cỏ, không c̣n phá phách nữa. Đến chỗ năng sở đều hết là chỉ cho không c̣n trâu, chỉ c̣n người chăn. Tới “năng giác sở giác không” th́ người chăn cũng mất luôn. Rồi “không sở không diệt” là tới ṿng tṛn, qua được không và sở không rồi mới tịch diệt hiện tiền. Tịch diệt hiện tiền rồi, lúc đó mới qua bức tranh thứ chín là lá rụng về cội, chim bay về tổ, nghĩa là trên hợp với tâm diệu giác của chư Phật. Đến bức tranh thứ mười thỏng tay vào chợ, tay xách con cá chép tay cầm bầu rượu, nghĩa là dưới hợp với tất cả chúng sanh trong lục đạo đồng ḷng bi ngưỡng. Trong nhà thiền thường nói “ông mới vào Phật giới mà chưa vào Ma giới”. Phật giới là chỗ hợp với mười phương chư Phật, ma giới là chỗ hợp với tất cả chúng sanh. Để thấy người tu muốn đến nơi đến chốn th́ phải trải qua các quá tŕnh như vậy, chớ không phải đơn giản. Ngày nay có một số người nghe hiểu sơ sài rồi cho rằng cái hiểu của ḿnh đă tột, mặc t́nh uống trà, ngâm thơ, đó là bệnh chẳng phải là thiền. Tu hành như thế trọn đời cùng kiếp cũng chẳng tới đâu hết, sanh tử cũng vẫn c̣n nguyên, huống là những người chưa biết ǵ. Tóm lại có mấy điểm then chốt chúng ta cần nhớ. Điểm thứ nhất nghiêng về Tăng Ni, nếu chúng ta tu chưa ngộ đạo, chưa sáng đạo th́ phải nhiệt tâm, tinh tấn tu hành, đem hết sức ḿnh miệt mài nghiền ngẫm giáo lư, làm sao phát minh cho được việc lớn. Nếu phát minh được rồi cũng đừng hài ḷng ngang đó, mà phải nỗ lực hằng tỉnh, hằng giác để nhập con người bất tử. Có thế chúng ta mới khả dĩ thoát ly sanh tử được. Điểm thứ hai với Phật tử, quư vị cũng nên nhớ tuy rằng chuyện thoát ly sanh tử đối với người tại gia khó thực hiện, nhưng nếu có thiện chí, nỗ lực tiến tu nhận cho ra được nơi ḿnh có con người bất tử, như vậy cũng rất tốt, rất nhiều công đức. Chính Bồ-tát Thường Bất Khinh suốt đời Ngài chỉ làm có một việc là chuyên gieo niềm tin cho mọi người biết nơi ḿnh có con người bất tử. Ngài nói: “Tôi không dám khinh các Ngài v́ các Ngài đều sẽ thành Phật”. Thành Phật nghĩa là đều sẽ tiến vào chỗ bất tử. Mọi người có niềm tin đó là đă có lợi ích lớn rồi, nếu nhập được nữa th́ lợi ích kia vô kể. Chúng ta đừng tưởng tu tới hết vọng tưởng, ở chỗ yên lặng rồi ḿnh trở thành ngu muội. Chính từ chỗ đó mới siêu xuất thế gian và xuất thế gian, chớ không phải thường. V́ vậy trên đường tu không đơn giản, không b́nh dị như người ta tưởng, mà phải hết sức nỗ lực, hết sức cố gắng mới được. Nếu chúng ta quyết chí tu, phải vận dụng hết khả năng của ḿnh, nhà Thiền gọi là can đảm tột độ, giết người không nh́n lại, khả dĩ mới tiến. Chúng ta vừa nhắc nhở ai đă sợ họ buồn, liền ḍm lại coi mặt mũi làm sao, đừng nói tới giết người không nh́n lại. Cái ǵ cũng muốn bỏ nhưng bỏ th́ tiếc nên ngó đi ngó lại măi, không bao giờ dám dứt khoát. Bởi không dứt khoát nên không tiến được. Có thể nói, đường trước của người tu là hoa thơm cỏ lạ nhưng cũng lắm gai gốc chớ chẳng phải thường. Chúng ta không đi vào ngơ bí, vào lối cùng mà đi tới chỗ đẹp đẽ vô cùng vô tận. “Sơn cùng thủy tận nghi vô lộ, liễu ám hoa minh biệt nhất thôn”, nghĩa là ta cứ ngỡ rằng cuối non tận nước không c̣n con đường nào, ngờ đâu riêng có một thôn toàn là liễu đẹp hoa xinh rực rỡ vô cùng. Khi biết rơ như vậy, chúng ta sẽ hăng hái tiến lên, đạp trên gai gốc mà đi, không ngại khó khăn, chẳng sợ sầy da rách thịt. Điểm thứ ba, đă biết rơ ḿnh có con người bất tử rồi, mỗi vị phải ráng nỗ lực, nhưng nỗ lực không có nghĩa là bậm môi, trợn mắt, cả ngày giống như giận ai. Tu hành làm ǵ mà hung dữ vậy! Nỗ lực ở đây là hằng tỉnh hằng giác. Lúc nào cũng tỉnh, lúc nào cũng giác khả dĩ chúng ta rũ được các duyên sanh tử, thể nhập con người bất tử. Đó là những điểm chủ yếu chúng ta cần phải nhớ để ứng dụng tu hành. Trong giai đoạn tu mọi người đều nên tự thấy, tự hiểu, tự cố gắng chớ không mong ai khác thay cho ḿnh được. Đó là lời nhắc nhở của tôi sau một thời gian ngắn nhập thất. ] NGƯỜI LEO NÚI Thường Chiếu - 1987 Đề tài tôi nói hôm nay có tên hơi dài một chút Người t́m leo núi chỉ có bản đồ, không người hướng dẫn. Trong đây tôi chia làm sáu mục: 1. Học bản đồ: Ở đây nói người t́m leo núi v́ chưa bao giờ họ thấy núi, nên khao khát muốn thấy ngọn núi, leo tận tới đỉnh để thỏa măn sự mong muốn của ḿnh. Nhưng v́ ở đồng bằng không có núi, cũng không có người hướng dẫn, chỉ có tấm bản đồ. Nương theo bản đồ và được một người giảng cho họ biết vị trí của ngọn núi cách thành phố bao xa, ở tỉnh nào v.v… Tuy nhiên, người giảng ấy cũng chưa chắc đă leo tận đỉnh núi, nhiều khi họ học trong sách vở, bản đồ rồi giảng cho người chưa học nghe. Sự thật bản thân họ cũng chưa từng leo núi lần nào. Tôi tạm thí dụ cụ thể như một người ở miền Tây, nghe nói ở Vũng Tàu có hai ngọn núi, một là núi lớn, hai là núi nhỏ. Nghe vậy, họ ước mơ làm sao ra Vũng Tàu leo lên tận ngọn núi lớn, tận ngọn núi nhỏ để nh́n ra biển cho thỏa ḷng khao khát. Khi đó gặp người có sẵn bản đồ, họ giảng cho biết nếu ở miền Tây muốn đi ra Vũng Tàu leo núi, th́ phải đi từ miền Tây lên thành phố, rồi từ thành phố đi ra Vũng Tàu… Giảng rơ như vậy, người kia chịu khó học, nhưng khi đi nếu không có người hướng dẫn th́ phải đem theo tấm bản đồ. Vừa đi vừa dọ dẫm, đó là chặng thứ nhất của người leo núi. 2. Nhắm đúng hướng: Người leo núi tuy có sẵn bản đồ trong tay, nhưng không có người hướng dẫn, nếu biết nhắm đúng hướng th́ không sợ lạc đường. Ví dụ từ miền Tây lên thành phố, tới cầu B́nh Điền lên dốc cao nh́n về hướng Đông Nam, thấy có những ngọn núi xanh xanh xa tí mù, họ bảo đó là núi Vũng Tàu. Khi xe xuống dốc hết thấy núi, lại phải chạy vô thành phố, qua bao nhiêu ngă ba ngă tư, nếu không khéo họ sẽ bị lạc. Cho nên tuy có một lần thấy núi nhưng chưa chắc đi được tới núi. 3. Kiên nhẫn: Khi ra khỏi thành phố đi thẳng về Vũng Tàu mà không lạc, đó là có duyên phúc lắm. Tới khoảng gần Bà Rịa th́ thấy rơ núi Vũng Tàu, không c̣n nghi ngờ ǵ nữa. Tuy thấy rơ núi nhưng với vị trí của họ c̣n cách mấy chục cây số nữa mới tới, chớ không phải thấy là tới liền. Thấy rơ mà c̣n phải qua mấy chục cây số nữa mới tới núi, đó là chặng thứ ba. 4. Tới chân núi: Xe chạy tới chân núi rồi, khi đó họ phải xuống xe, đi bộ thẳng tới chân núi. Lúc này tuy đă đứng dưới chân núi, nhưng vẫn chưa leo lên núi. Cho nên chuyện tới đỉnh c̣n phải qua nhiều giai đoạn, đ̣i hỏi sự cố gắng của người leo núi. 5. Nỗ lực leo núi: Bây giờ bước sang giai đoạn nỗ lực leo núi. Từ dưới chân leo lên tới đỉnh núi, phải đổ mồ hôi ướt áo mới tới được. Trên đường càng phải theo dơi sát với bản đồ để không lạc đường. Bởi trên núi cây rừng um tùm chắn lối rất khó đi, lại thêm nhiều đường ṃn quanh co, không khéo người leo núi sẽ loanh quanh lẩn quẩn măi không tiến lên được. Vượt qua hết những chướng ngại ấy là leo lên tới đỉnh núi, thấy trời biển bao la, cảnh trí tươi mát, thỏa măn được nguyện vọng bấy lâu nay. Đây là giai đoạn hoàn tất quá tŕnh leo núi. 6. Tới đỉnh núi: Tới được chót đỉnh rồi, tận hưởng gió mát trong lành, mây nước thênh thang, cảnh vắng ḷng yên, không ồn ào náo nhiệt bụi bặm như dưới thành thị, mới thích thú làm sao! Khi hưởng được sự an lạc như thế, chợt nghĩ đến nhiều bạn bè người thân muốn được leo núi như ḿnh. V́ vậy người này trở xuống núi, trở về hướng dẫn bạn hữu cùng ra Vũng Tàu, leo núi với họ. Đó là sáu chặng đường tôi nói về “Người t́m leo núi chỉ có bản đồ, không người hướng dẫn”. Bây giờ hợp pháp, học bản đồ dụ cho người tu Phật chúng ta. Ai tu Phật cũng đều nghĩ tới mục đích cuối cùng là giải thoát sanh tử. Muốn giải thoát sanh tử th́ phải nhận ra nơi ḿnh có pháp thân bất sanh bất diệt. Kinh Hoa Nghiêm gọi là ngọn núi Diệu Phong. Như vậy đầu tiên chúng ta phải học bản đồ, học về vị trí ngọn núi đó ở đâu. Đó là lúc chúng ta bắt đầu học kinh, để biết người tu muốn tiến tới giải thoát phải thế nào? Hiểu cho rơ biết cho rành đó là chặng thứ nhất. Đến chặng thứ hai học kinh rồi, đă nắm vững bản đồ, ḿnh c̣n biết hướng tu, tức hướng đi đúng. Bởi đúng nên bỗng dưng có một phút giây nào đó ḿnh lóe sáng lên. Khi lóe sáng dụ như người lên dốc cầu B́nh Điền nh́n xa xa thấy núi Vũng Tàu. Thấy th́ thấy nhưng trên đường đi c̣n rất xa, có thể ḿnh sẽ bị lạc lối nếu không cẩn thận. Chỗ này chúng ta cần lưu ư. Nhiều người tự sáng, rồi tưởng sáng đó là xong, nhưng không ngờ c̣n xa vời lắm. Bởi trên đường có nhiều khúc quanh nhiều lối tẽ, cần phải dè dặt chớ không thể thấy như vậy là xong việc. Thấy núi mà chưa chắc là đến núi được. Tới chặng thứ ba là đứng nơi chỗ trống, như ở Bà Rịa nh́n qua núi Vũng Tàu thấy núi rất rơ. Tuy thấy rơ nhưng vẫn c̣n cách núi một khoảng. Cũng vậy, khi tu công phu khá ta nhận ra nơi ḿnh có cái chân thật không c̣n nghi ngờ, như người đă thấy núi trước mắt. Trong nhà thiền gọi đây là kiến tánh, tức thấy rơ mồn một cái ḿnh cần thấy. Ở đây nói “thấy” là tôi tạm dùng chữ, chớ đúng ra là nhận được không nghi ngờ ǵ nữa. Như người đứng xa vài chục cây số thấy rơ chót núi, đường lên núi có những tảng đá hay cây xanh. Thấy rơ nhưng chưa phải đến núi. Người tu kiến tánh chỉ được không c̣n nghi thôi, chưa phải rồi việc. Tới chặng thứ tư, đến chân núi mà chưa leo lên núi. Chúng ta tu nhận ra được bản tánh chân thật của ḿnh không c̣n ngờ vực ǵ nữa, nhưng công phu chưa xong. Bây giờ phải cố gắng tiến tu, hôm nào công phu tạm được, giống như người đă đến dưới núi. Chân đạp trên những ḥn đá dưới chân núi, chớ chưa phải đến chót núi. Như vậy cũng chưa xong, c̣n phải leo lên tận chót núi. Cũng thế, chúng ta tu khi thấy được nơi ḿnh có cái chân thật không ngờ vực và sống được với nó phần nào, gọi là người đă đạp trên đất thật, nhưng chưa phải rồi việc, c̣n công phu thêm một giai đoạn khá mệt nữa mới được. Tới chặng thứ năm là leo đến đỉnh núi. Từ khi đạp được đất thật rồi, ḿnh biết rơ công phu đă tiến không lầm, nhưng không dừng ngang đó mà phải cố gắng nỗ lực hơn. Mọi thứ phiền năo vi tế đều gột sạch, tâm hoàn toàn thanh tịnh sáng suốt, giống như người leo đến đỉnh núi. Bấy giờ sở nguyện đă măn, trong nhà thiền gọi là nhập Phật quốc, tức mục thứ chín trong mười mục chăn trâu. Song nếu ta hài ḷng ở đó, mặc t́nh ngắm mây ngắm biển, như vậy chỉ lợi cho ḿnh, c̣n bao nhiêu bạn bè thân thuộc ao ước được như ḿnh, mà chưa có cơ hội. V́ vậy tới đây phải tiến thêm một chặng nữa. Chặng thứ sáu, từ trên chót núi ta trở xuống, dẫn bạn bè cùng leo núi với ḿnh. Giai đoạn này chỉ cho người khi đạt đạo rồi, phiền năo hết sạch th́ trở lại trong bụi trần d́u dắt hóa độ chúng sanh. Đó là mục thứ mười của mười mục chăn trâu. Công phu tu tập cho đến chỗ cứu kính viên măn phải trải qua nhiều giai đoạn như thế. Bởi vậy chúng ta mới hiểu chư Tổ khi ngộ đạo rồi, các ngài cũng phải mấy mươi năm ở yên một chỗ để thực hành công phu cho xong. Trên đường tu chúng ta chớm thấy một hai cái sáng, tưởng đó là đủ th́ lầm. Phải tới chặng thứ sáu mới vuông tṛn, mới xong bổn phận. Tôi mượn h́nh ảnh “người t́m leo núi, chỉ có bản đồ không người hướng dẫn” để dụ cho sự tu hành của chúng ta. Hiểu rơ như thế ḿnh mới không lầm lẫn, chớ nhiều khi người có bệnh tự măn, tu chưa đến nơi mà đă cho là xong việc. Đó là tai hại khiến công phu ḿnh lui sụt, do đó trên đường tu tất cả phải cẩn thận. Nhân tiện đây, tôi nhắc nhở cho Tăng Ni nắm rơ tinh thần tu tập của Thiền viện. Bởi v́ có hai trường hợp thường xảy ra: Thứ nhất, những vị ở Thiền viện lâu quá th́ sanh lờn, quên mục tiêu ban đầu của ḿnh nên tu hành giải đăi. Thứ hai, một số vị mới tới, ít có cơ hội nghe chúng tôi giải thích kỹ, nên không nắm vững tinh thần tu học của Thiền viện. Do đó hôm nay tôi nhắc lại cho người cũ nhớ thêm, người mới hiểu rơ tinh thần tu học ở Thiền viện. Trước kia bản thân tôi đă từng học qua trường lớp của Phật giáo, cũng đă từng dạy từ tiểu học, trung học cho tới cao học Phật giáo. Nhưng tại sao tôi lại không chủ trương mở lớp dạy giáo lư cho Tăng Ni Phật tử hiểu đạo, mà lại chủ trương lập Thiền viện để tu? Đó là chỗ tôi muốn nói cho tất cả Tăng Ni hiểu rơ. Bởi v́ sau khi qua những trường lớp, tự bản thân ḿnh học rồi dạy người khác học, tôi thấy rất rơ những ưu khuyết điểm của việc này. Trong nhà Phật có tam tuệ học là Văn, Tư, Tu. Văn tuệ và Tư tuệ là hai yếu tố đầu, nếu người nào muốn hiểu đạo Phật phải bắt đầu từ đó. Văn tức là nghe, nghe có nghĩa là học. Cho nên ở thế gian người ta dùng từ đa văn tức là học rộng. Chữ văn có nghĩa là học, nhưng không phải học để trả bài mà c̣n phải suy gẫm nữa. Bởi lời Phật dạy không đơn giản như những môn học thế gian, chỉ cần học thuộc ḷng công thức đó ḿnh có thể làm được những bài toán. Ở đây, học rồi phải suy gẫm mới hiểu. Ví dụ Phật dạy chúng ta phải quán các pháp vô thường. Nói các pháp vô thường ai cũng hiểu, nhưng muốn thâm nhập nó, ta phải quán như thế nào? Đầu tiên là quán thời gian. Một ngày vừa thức giấc chúng ta thấy sáng rồi tới trưa, chiều, tối. Ngày nay chuyển biến như vậy, ngày mai cũng chuyển biến như vậy, thời gian không dừng ở một điểm nào hết, nên nó vô thường. Chỉ biết thời gian vô thường thôi chưa đủ, phải xét tiếp thời gian vô thường đó có ảnh hưởng đến con người chúng ta không? Con người sanh ra, lớn lên, từ thiếu niên thành thanh niên rồi tới trung niên, lăo niên, cứ nối tiếp thay đổi chớ không ai ở mức thiếu niên hay trung niên hoài. Như vậy, con người cũng bị thời gian chi phối. Thời gian là một ḍng chuyển biến vô thường, bản thân chúng ta cũng là một ḍng chuyển biến vô thường. Đến sự vật cũng thế, như ta trồng cây, lúc mới trồng là cây con, lần lần cây lớn lên rồi tới già, tới rụi và cuối cùng cây chết. Chúng ta nh́n tất cả sự vật đều như thế. Quán cho thật thấu đáo rồi, mới thấy con người đang sống trong sự xê dịch vô thường. Từ ngoại cảnh cho tới bản thân, luôn luôn chuyển biến không dừng. Xét kỹ như thế, ḿnh mới thấy Phật nói lư vô thường thật hay, thật chí lư. Chớ chỉ nói suông vô thường là thay đổi, không có sự suy tư của ḿnh, th́ chưa thể thấu đáo được lư vô thường. Khi đă biết thân vô thường, cảnh vô thường, th́ có ǵ để tham? Con người tham v́ nghĩ cái ḿnh thích c̣n măi, nay đă biết nó là vô thường, th́ tham chi nữa. Do thấy được lẽ thật ấy nên ḷng tham tự nhiên giảm, đó là tu rồi. Hoặc khi nghe ai vừa chửi ḿnh một câu, ta nổi giận liền nhớ thân này mai mốt cũng chết, giận mà chi? Nhớ thế th́ bớt giận. C̣n ḿnh nói tôi đường đường như vầy mà dám chửi hả, đó là ngă mạn, tức nhiên ḷng sân tăng trưởng. Cho nên Tư tuệ là thấy được chân lư từ chính sự suy gẫm của ḿnh tức là thấy được lẽ thật, tu mới dễ. Người tu do tưởng tượng sẽ không tu được lâu dài, v́ tưởng tượng đâu có đúng sự thật. Ví dụ người thế gian thấy quí thầy có vẻ thong thả, tới lui tự tại không có ràng buộc ǵ hết, nên nghĩ ở trong chùa chắc sướng? Tưởng tượng như thế liền xin vô chùa. Khi đă vô chùa, thấy sao cũng có nhiều điều phiền toái, mất tự do, không được như ư, lại nghĩ không chừng ra ngoài sướng hơn. Đó, cứ như vậy mà đổi chỗ hoài, nhảy vô nhảy ra lăng xăng lộn xộn cả đời không đi tới đâu hết. Cho nên khi tu là phải suy gẫm cho thật đúng lư Phật dạy. Hiểu tột lư rồi việc tu mới dễ tiến. Lư vô thường đơn giản nhất, cụ thể nhất, hiểu được cho đến nơi là chúng ta tu cũng đă khá rồi, huống nữa là thấu triệt lư nhân duyên, lư vô ngă v.v… hay biết chừng nào. Thế nên bước đầu của người tu, Phật dạy phải văn. Văn tức là nghe, học, kế đó phải tư. Học không chưa đủ mà phải suy gẫm. Nên học là để tu chớ không phải học suông. V́ vậy trong nhà Phật có vô lượng pháp môn là tùy theo căn cơ tu tập của chúng sanh khác nhau mà có. Mỗi một pháp môn tức là một lư thật Phật dạy cho ḿnh thấy, thấy được lư thật đó là có được một pháp môn tu. Quán vô thường là một pháp môn, quán nhân duyên là một pháp môn v.v… Cho nên học để tu, đó chính là tinh thần của Thiền viện. Tăng Ni ở các Thiền viện học mấy năm cũng không có lên lớp. Học mười năm, hai mươi năm cũng cứ học để hiểu, hiểu để tu, chớ không có phát bằng cấp nào cả. Chúng ta nhớ hồi thời đức Phật, có tiểu học, trung học, đại học ǵ đâu? Khác chăng là người tu chưa chứng và người đă chứng thôi. Chưa chứng gọi là hàng hữu học, đă chứng gọi là hàng vô học. Thành ra học đạo mà c̣n kẹt cấp bằng là một chuyện hết sức đáng buồn. Chính những năm tôi từng chấm thi, tôi rất buồn, v́ thấy dường như người lớn gạt kẻ nhỏ. Bởi học rồi tới thi, cả năm bài vở nhiều quá làm sao nhớ hết. Mà thi th́ tâm trạng Tăng Ni sinh luôn luôn sợ rớt. Rớt th́ không được lên lớp nữa, thành ra họ phải cố gắng làm sao cho đậu. Nếu không thuộc bài phải t́m cách làm bài được, cách đó là cách ǵ? Là nhét tài liệu vô túi, vô cặp, chép lên bàn để quay. Như vậy người học đạo để tu, mà bây giờ lại thành mưu đồ gian lận, c̣n ǵ ư nghĩa của sự tu hành nữa! Chính điều này làm tôi hết sức đau ḷng. Ḿnh dạy là để người ta tu, bây giờ vô t́nh ḿnh tạo điều kiện cho người ta gian lận, tức là hết tu rồi. V́ thế thời gian dạy học các trường, các lớp, tôi cảm thấy rất buồn. Tôi không thích điều đó. Tôi muốn làm sao người học đạo, thật sự thuần túy là học đạo, chớ không kẹt danh, kẹt lợi như thế. Do đó tôi thành lập Thiền viện, bắt Tăng Ni học th́ cứ lên lớp học. Hiểu thế nào tŕnh bày lại cho đại chúng nghe thế ấy, trao đổi kinh nghiệm tu tập thêm. Mấy năm cũng như mấy năm, cứ học tới hoài, không nói năm nay vị đó đă măn cấp trung học, sẽ thi tuyển cấp đại học v.v… Học Phật để hiểu giáo lư cho thâm sâu rồi tu. Mà muốn hiểu giáo lư thâm sâu th́ phải Tư, không Tư th́ không hiểu sâu được. Chúng ta nhớ trong kinh Phật thường hay dạy các thầy Tỳ-kheo thường phải t́m nơi vắng vẻ, ngồi dưới cội cây để suy tư, hay là chánh tư duy những pháp Phật dạy. Nhờ tư duy đó mà các thầy hiểu sâu. Tôi thấy một số thầy ngày nay rất đáng buồn. Học xong rồi nhóm lại nói chuyện bên Đông bên Tây, không tư duy ǵ hết, do đó không thấm, không thưởng thức được pháp vị chân thật của Phật dạy. Học lối trả nợ, rảnh ngồi nói dóc với nhau, rồi cười giỡn, không để phút giây nào yên tĩnh ngồi suy tư, bao giờ mới thấu hiểu lời Phật dạy. Không hiểu Phật dạy thế nào nên cũng không biết ứng dụng tu ra sao. Thử hỏi như vậy có đáng buồn không? Bây giờ ngoài thời gian lao động ra, khi nào rảnh, thiếu ǵ những gốc cây, cây đào, cây tùng, cây vú sữa… Có rất nhiều chỗ ngồi, mấy huynh đệ ngồi một ḿnh gẫm lại những lời Phật dạy. Gẫm như vậy gọi là suy tư, thấu hiểu thật chí lư lời Phật dạy, mới thấy hay. Tôi ngày xưa lúc ở chùa Phật Quang được học kinh Lăng Nghiêm. Học rồi tôi suy gẫm thấy quá hay. Những buổi khuya tôi thường dậy trước giờ thức chúng, ngồi học một ḿnh. Đọc xong đoạn kinh nào rồi, tôi xếp sách lại suy gẫm lời Phật dạy, thấy hay quá. Mấy chục năm ở ngoài thế gian chưa từng nghe được những lời như vậy, bây giờ mới được nghe, tự nhiên tôi xúc động rơi nước mắt. Tôi nghĩ nếu ḿnh không gặp Phật pháp th́ chẳng biết thành cái ǵ, suốt một đời sống vô nghĩa. Như chúng ta thấy con người sanh ra rồi lớn lên, lo ăn học, kế có gia đ́nh, có con, nuôi con. Khi con lớn khôn là ḿnh sửa soạn già chết. Mà chết đă yên đâu, c̣n sự quyến luyến vợ con, tiền bạc nên trở lại nữa. Cứ như vậy đáo đi lộn lại trầm luân muôn kiếp. Bây giờ chúng ta được học giáo lư chân thật, nhận biết ngoài cuộc sống b́nh thường, con người c̣n có một lư tưởng cao siêu vượt hơn tất cả, tự nhiên ḿnh thấy tâm hồn siêu thoát. Từ đó mới ư thức giá trị của sự tu là quí, nếu không hiểu như vậy, tu một lúc sao thấy thường quá. Rồi cũng ăn, cũng mặc, cũng cười, cũng giỡn, cũng đi chơi như ai, cuối cùng không ư thức được giá trị của sự tu hành chút nào hết. V́ vậy quí vị nên có những phút giây yên tĩnh để suy gẫm về pháp. Suy gẫm thấy hay mới ứng dụng tu. Như chúng ta ai cũng có ba độc chứa sẵn trong người. Ba độc là tham, sân, si. Có người nghe ba độc, học hiểu ba độc và giảng được ba độc nữa. Nhưng thiếu tu nên ai vừa chọc tới liền nổi sân đùng đùng. Như vậy Văn, Tư chỉ là phương tiện bước một bước hai, mà kết quả thành tựu tốt hay không là yếu tố thứ ba Tu. Hồi xưa thời của chúng tôi, do nhu cầu truyền bá Phật pháp đ̣i hỏi nhiều, nên chư tăng học rồi phải đi giảng dạy ngay, không có th́ giờ tu. Bấy giờ tôi tự an ủi ḿnh rằng, ráng dạy một thời gian để đền ơn Thầy Tổ. Thật t́nh tôi không bằng ḷng làm một cái máy phát thanh, cứ thâu vô bao nhiêu phát ra bấy nhiêu, không đi tới đâu hết. Trong kinh Hoa Nghiêm có một đoạn rất hay. Khi Thiện Tài đồng tử hỏi vị thiện tri thức nếu chỉ nghe, hiểu đạo thôi có đủ chưa? Thiện tri thức giải thích ví như có người đi trên băi sa mạc vào lúc trưa hè, lại không đem theo nước. Bấy giờ khát nước cháy cổ, người kia muốn t́m chút nước uống cho đỡ khát, nhưng không biết t́m ở đâu? Bỗng đằng xa có một người đi lại, anh này liền hỏi: “Thưa anh, chỗ nào có giếng, có bóng mát xin chỉ dùm, tôi khát quá”. Người kia bảo: “Anh tới ngă ba, rẽ bên phải, đi một đỗi nữa sẽ có bóng mát, bên cạnh gốc cây ấy có một giếng nước”. Anh chàng khát nước cháy cổ nghe nói thế mừng quá, nhưng chưa đi tới đó th́ hết khát nước không? Như vậy nghe nói, hiểu rơ c̣n phải đi tới nơi, vốc nước lên uống, chừng đó mới hết khát. Cũng thế, nếu chúng ta chỉ học là Văn, rồi hiểu là Tư mà thiếu Tu th́ không đi tới đâu, v́ khổ của phiền năo vẫn chưa hết. Cho nên có nhiều vị Giảng sư giảng thao thao bất tuyệt, mà lâu lâu đùng một cái ra đời. Hỏi tại sao thầy giảng hay quá mà ra đời? Là v́ thiếu tu, cũng như khát nước nhưng chưa uống được th́ vẫn cháy cổ như thường. Tu giống như nghe chỗ bóng mát, có giếng nước, ḿnh đang đi tới đó. Trong lúc đang đi cũng vẫn khô cổ như thường? Chừng nào đi tới đích, thưởng thức được vị mát của nước rồi mới hết cháy cổ. Hiểu như vậy mới biết đạo lư chân thật không cho phép chúng ta nói suông mà phải thực hành, có hành mới thấy giá trị của sự tu. Hồi xưa Phật c̣n tại thế, nhiều thầy Tỳ-kheo khi đắc đạo rồi rất vui mừng, v́ thấy cuộc sống hết sức cao cả. Người tu đáng để cho thiên nhân cúng dường mới gọi là Ứng cúng. Bởi có tu mới thấy đạo pháp quá cao siêu, không phải tầm thường lẩn quẩn trong ṿng sanh tử luân hồi. C̣n chúng ta bây giờ tu hơi yếu. Hồi mới phát tâm th́ mạnh, ở chùa lâu sanh lờn, kế đó yếu dần rồi thối tâm luôn. Cho nên học là phương tiện đầu. Thầy giúp cho chúng ta hiểu, nhưng hiểu sâu là phải do công phu suy tư của ḿnh. Kế đến tu được cũng là công phu của ḿnh, chớ thầy không làm hai việc sau được. Đạt chân lư là ḿnh, rồi thực hành đến nơi đến chốn cũng do ḿnh. Hai việc sau đ̣i hỏi mỗi người phải cố gắng, chớ thầy không làm thế được. Như vậy tinh thần tu học của Thiền viện là tạo điều kiện cho Tăng Ni nghe, suy gẫm, c̣n tu là phần của quí vị. Ở đây tôi thường hay nhắc chúng ta không chỉ tu trong giờ tọa thiền, tụng kinh mà giờ nào cũng phải tu hết. Hoặc ta ngồi chỗ riêng vắng, suy gẫm lại lời Phật dạy, đó gọi là chánh tư duy. Hoặc khi ngồi chơi chỗ thanh vắng, nh́n thấy những luồng vọng tưởng dấy khởi, ḿnh biết rơ không thèm chạy theo nó, đó là tu. Hoặc do suy gẫm, thấy được lẽ thật nơi ḿnh, nh́n tất cả tṛ ảo hóa ḿnh cười thôi, không có ǵ quan trọng hết, đó là tu. Quí vị nhớ nhiều người ngồi tán dóc th́ khó tu lắm. Ban đầu cũng nói chuyện tu hành hoặc chuyện học kinh. Nhưng nói một hồi lảng qua chuyện khác lúc nào không hay. Thế là chuyện bên Tây bên Tàu, chuyện tiếu lâm, chuyện vui cười rùm lên. Hết nhóm này vui cười, tới nhóm khác vui cười, rồi cả liêu ồn náo, không có chút yên tĩnh. Phật tử tới chùa nghe trong liêu quí thầy ồn náo, họ vui không? Họ đánh giá ra sao? Quí thầy đang tu hay quí thầy đang giỡn? Phật tử tới chùa thấy quí thầy rảnh rang, mỗi vị ra ngồi dưới cội cây, gương mặt thanh thản cười mỉm. Thấy quí thầy sống hết sức thanh tịnh, tự tại, người ta mới quí kính. Chớ c̣n ngồi dụm ba dụm bảy căi nhau hoặc nói chuyện tàu lau rồi cười, th́ ai mà quí kính được! Không phải ḿnh tu làm tướng cho Phật tử thương cúng dường, nhưng ḿnh phải thật sự sống trong chánh tư duy, suy gẫm về chân lư. Như vậy mới đúng ư nghĩa người tu, vừa có lợi cho ḿnh vừa có lợi cho tất cả mọi người. Đó là điều tôi muốn nhắc tất cả Tăng Ni nhớ, ứng dụng tu có kết quả tốt đẹp cho bản thân và tập thể. Những năm ở Chân Không, tôi rất bằng ḷng về việc tu học của chư tăng. Trước tiên tôi tạo điều kiện cho chư Tăng tu học thuận lợi về mọi mặt. Sau ba năm học, quí thầy có khả năng được nhập thất đôi ba năm rất yên tĩnh. Mọi sự lo lắng bên ngoài đều được chu toàn. Người tu mà đa đoan bận bịu nhiều việc quá tu khó tiến. Những lúc ta rảnh rang chỉ chuyên làm một việc th́ mức tiến thấy vượt bực rơ ràng. Như vậy Tăng Ni mới có đủ ḷng tin rằng không tu th́ thôi, chớ có tu là có tiến. Tôi tự thấy ḿnh có trách nhiệm là kẻ đi trước, phải làm sao hướng dẫn người đi sau đừng ḷng ṿng uổng đi một đời tu. Nếu căn cứ trên lịch sử Phật giáo th́ thời nào có những vị Tăng Ni tu hành ngộ đạo, thời đó là thời thịnh hành của Phật giáo, chớ không phải đông người tu là thịnh. Ví dụ gần nhất là cuối thế kỷ mười tám, ở Huế chỉ có Thiền sư Liễu Quán là một vị tăng Việt Nam tu ngộ đạo, mà đến bây giờ ở Huế cũng như trong Nam vẫn c̣n hệ phái Liễu Quán. Một người ngộ đạo thôi mà đă kéo dài cả hai thế kỷ như vậy. Do đó muốn duy tŕ Phật pháp dài lâu phải có người tu thấy đạo, ngộ đạo. Chớ c̣n Tăng Ni chỉ chú trọng trên lư thuyết hay cấp bằng th́ đạo pháp khó giữ được bền lâu. Do đó tôi nghĩ mỗi vị cố gắng tu, để mai kia sáng được lư đạo th́ bản thân ḿnh xứng đáng một đời tu, mà đối với Phật pháp ḿnh c̣n duy tŕ được lâu dài nữa. Đó mới thật là người tu sĩ đủ tư cách đền đáp bốn ơn. V́ vậy cái học ở Thiền viện là học để tu. Sau thời gian học, chư tăng được nhập thất, cố gắng tu để thấy rằng những ǵ Phật dạy chúng ta là sự thật. Kết quả tu học có được chính là niềm tin vững chắc nơi quí vị. Tăng Ni tin chắc chắn rằng nếu nỗ lực tu tập, nhất định có ngày ḿnh sẽ thấy đạo, sống đạo và hành đạo được như các bậc đă giác ngộ giải thoát. Đó chính là mục đích cứu kính của người xuất gia chân chánh. *Dưới đây là Phật tử thưa hỏi thêm: - Kính bạch Thầy, mục thứ tư Thầy nói ở đây có phải là mục thứ chín của mười mục chăn trâu? - Không phải. - Như vậy là mục thứ tám? - Cũng không hẳn. V́ mục thứ tám là không c̣n trâu, không c̣n chăn, đó là đứng về mặt Tiểu thừa mà nói, người tu đến đây đạt quả A-la-hán, hết sạch phiền năo. Nhưng đứng về Thiền tông mà nói, tuy không c̣n trâu không c̣n chăn tức không c̣n kẹt trong đối đăi, nhưng chưa phải rồi. C̣n công phu nhiều nữa mới nhảy khỏi đầu sào trăm trượng. Tới đầu sào trăm trượng th́ trâu và chăn c̣n ở trên đầu sào, khi nào nhảy khỏi đầu sào mới vào được Phật quốc. Nhảy phóc một cái qua khỏi chỗ đó là chết sống chớ không phải chuyện thường. Cho nên nhiều khi chúng ta tu dễ lầm lắm, tới chỗ nào đó ḿnh tưởng đủ rồi, ngồi thảnh thơi ca hát vui chơi, đó là không đúng. - Kính bạch Thầy, từ lâu con có thắc mắc về trường hợp các vị tu theo Tiểu thừa, nói rằng chứng A-la-hán th́ không c̣n ưu buồn. Nhưng trong sử nói ngài Mục Kiền Liên đă là A-la-hán rồi, sau khi gặp mẹ bị thọ khổ h́nh trong kiếp ngạ quỉ, Ngài vẫn khóc. Như vậy Ngài vẫn c̣n buồn? - Có hai trường hợp: Thứ nhất, đứng về mặt Tiểu thừa th́ như thế là không đúng, v́ c̣n xúc động là c̣n hữu lậu. Thứ hai, đứng về mặt Đại thừa th́ không có lỗi, v́ Bồ-tát c̣n khóc kia mà. Bồ-tát khi thấy chúng sanh khổ, ḿnh không giúp được các Ngài xót xa có khi khóc. Đó, huống nữa ngài Mục-kiền-liên thấy mẹ khổ mà giúp không được, Ngài khóc là lẽ đương nhiên. Thành ra chúng ta hiểu theo cái nh́n Nguyên thủy th́ như vậy Ngài có lỗi, nên các sư Nguyên thủy nghi bản dịch Hán tạng không đúng, không biết nguyên bản chữ Phạn thế nào? Nhưng với tinh thần Đại thừa th́ nói ngài Mục-kiền-liên, ngài Xá-lợi-phất chẳng qua chỉ mượn h́nh thức Thanh-văn, để thực hành hạnh Bồ-tát. Cho nên gọi ngoại hiện Thanh-văn nội biến Bồ-tát. Hiểu thế th́ nói đúng cũng được, nói không trúng cũng được. - Thưa Thầy chỗ lậu tận của A-la-hán với chỗ vô tâm trong nhà thiền có giống nhau không? - Cũng chưa giống nhau. V́ lậu tận của A-la-hán là các Ngài dứt sạch hết nghiệp, không c̣n sanh trong tam giới nữa. C̣n vô tâm của nhà thiền là không có tâm phân biệt sanh tử, nhưng c̣n cái thể chân thật bất sanh bất diệt. Nên tuy không có tâm sanh tử nhưng các Ngài vẫn lưu nguyện để đi trong sanh tử, thực hành tự lợi lợi tha cho được viên măn. Hai bên khác nhau. Một bên th́ tới chỗ bặt hết mọi nghiệp chướng rồi an trú vô sanh. C̣n một bên tuy không có tâm sanh diệt nhưng c̣n thể chân thật. Tâm không dấy động nữa mà vẫn khởi đại bi tâm phát nguyện đi trong sanh tử. Khởi đại bi tâm phát nguyện tức là c̣n tâm, do c̣n tâm mới có thể đi trong sanh tử, nếu không như thế làm sao độ chúng sanh? Cho nên chúng ta thường nghe nói chư Bồ-tát hay lưu vi tế hoặc, trần sa hoặc để đi trong sanh tử, độ tận chúng sanh. ] CỘI GỐC SANH TỬ VÀ NIẾT-BÀN Chùa Hồng Pha Toronto - 1994 Hôm nay thể theo lời yêu cầu của chư Tăng Ni tại đây, chúng tôi sẽ thuyết một thời pháp cho tất cả Tăng Ni Phật tử nghe, với đề tài Cội gốc sanh tử và cội gốc Niết-bàn. Thật ra người tu không phải ham tu là tu được, mà đ̣i hỏi phải thâm nhập Phật pháp cho sâu, sau đó ứng dụng tu mới đạt kết quả tốt. Nếu chỉ biết tu mà không hiểu Phật pháp, đó là một thiếu sót lớn, có thể dẫn đến nguy hại. Bởi người không hiểu Phật pháp dễ đi lệch lạc, rơi vào tà đạo lúc nào không hay. V́ vậy đối với Tăng Ni cũng như Phật tử, hiểu Phật pháp là mấu chốt trọng yếu trên đường tu. Chúng ta tu ai cũng muốn giải thoát sanh tử, thế nên trước hết cần phải biết nguyên do nào chúng ta phải trầm luân trong sanh tử. Biết gốc trầm luân sanh tử rồi mới biết nhân giải thoát. V́ thế ở đây tôi nêu lên hai vấn đề gốc sanh tử và gốc giải thoát, để chúng ta biết cái nào hiểm nguy th́ tránh, cái nào cao siêu lợi ích th́ hành. Trong kinh Phật dạy đầy đủ tất cả đường lối tu tŕ, nhưng v́ chúng ta không đủ duyên nên không nghe, không nhận được. Trước tiên nói về có và không hay khen và chê, tôi xin dẫn kinh Trường A-hàm. Một hôm đức Phật trên đường về Tinh xá Trúc Lâm, có hai thầy tṛ ngoại đạo theo sau. Ông thầy t́m đủ cách chỉ trích chê bai đức Phật, ngược lại người tṛ dùng mọi lời lẽ tốt đẹp tán thán khen ngợi Như Lai. V́ thế chư Tỳ-kheo bực bội không vui, về tới Tịnh xá các thầy liền bạch Phật: - Bạch Thế Tôn, tại sao đối với đức Phật mà ông thầy th́ chê, người tṛ lại khen, như vậy ai đúng? Đức Phật trả lời: - Các ngươi đừng nói ai đúng, nếu nghĩ khen là đúng, chê là đúng th́ các ngươi sẽ bị phiền năo. Nếu nói khen đúng th́ người được khen sinh tâm ngạo mạn. Nếu nói chê đúng th́ người bị chê sẽ sanh ra bực bội. Như vậy đừng để khen chê làm cho tâm ḿnh sanh phiền năo. Phật tử đối với việc khen và chê thế nào? Chúng ta được khen có vui không, bị chê có buồn không? Ta nên nhớ chắc ǵ người khen là thực khen, nhiều khi họ khen xă giao cho được ḷng ḿnh. Hoặc nhiều khi người ta ghét nên chê cho ḿnh bực bội, như vậy chê cũng không đúng. Thành ra khen chê không có lẽ thật. Như vậy nghe khen vui, nghe chê buồn là ḿnh sáng suốt hay không sáng suốt? Chắc chắn là không sáng suốt rồi. Bây giờ làm sao người ta khen ḿnh đừng vội mừng, người ta chê ḿnh đừng vội giận mà phải xét lại ḿnh? Điều này hết sức nhỏ nhưng chúng ta phải cẩn thận đừng bị lầm. Phật nói có những điều người ta khen Thế Tôn nhưng cái khen đó chỉ là h́nh thức bề ngoài, không có ǵ quan trọng. C̣n một điều quan trọng hơn, đáng để khen hơn của một vị Tỳ-kheo là khi mắt đối với sắc, tâm không dính, không nhiễm, biết rơ ràng mà không bị nó cột trói. Đây là điều đáng khen mà thế gian không biết, chỉ có những đệ tử chứng A-la-hán mới khen những điều đó. Khi tai ta nghe tiếng, biết rơ ràng tiếng khen tiếng chê mà tâm không dính, không bị cột trói. Khi mũi ngửi mùi biết rơ thơm hôi nhưng cũng không dính mắc… cho đến lưỡi nếm vị, thân xúc chạm, ư đối với pháp trần không dính không mắc một thứ nào hết mới đáng được khen ngợi, nhưng người đời lại không biết. Chỉ có những vị A-la-hán mới biết khen ngợi như thế thôi. Người thế gian thường khen những h́nh thức giả tạm bên ngoài, c̣n cái thực là đối với sáu trần biết rơ ràng mà không dính không nhiễm th́ không khen. Ví dụ quí Phật tử thấy chư Tăng Ni tu, người nào ra đường nghiêm trang tề chỉnh, đi ngó dưới đất, không ngó qua ngó lại, hoặc thấy thầy cô nào ăn mặc rách rưới sơ sài… quí vị khen thầy cô đó tu rất nghiêm chỉnh đạm bạc. C̣n những thầy cô được người đem biếu tặng vật ǵ đẹp mắt nhưng không ham, không nhận, quí vị làm sao biết mà khen? Như vậy chúng ta chỉ thấy h́nh thức bên ngoài, c̣n tâm niệm trong sáng không dính không mắc bên trong người đời ít ai thấy được. Người tu h́nh thức tuy rất nghiêm trang nhưng nội tâm c̣n dính mắc th́ vẫn không thể giải thoát như thường. C̣n người tuy h́nh thức tầm thường nhưng mọi dính mắc đều không cột trói được, người đó tự nhiên được giải thoát. Cho nên chúng ta phải biết rơ trọng tâm khen chê không phải ở h́nh thức mà ở tâm niệm của mỗi người. Ai đă thoát được, đă tháo gỡ được những cột trói của dục lạc thế gian, đó là người đáng khen. C̣n h́nh thức bên ngoài nghiêm trang nhưng đụng đâu dính đó th́ chưa đáng khen. Bây giờ tôi dẫn trong kinh Tạp A-hàm, có một bài kinh kể lại câu chuyện thế này. Hồi Phật c̣n tại thế, ngài Phú-lâu-na đến bạch với Phật rằng: - Bạch Thế Tôn, con muốn t́m nơi vắng vẻ chuyên tu cho chóng được Niết-bàn. Cúi xin Thế Tôn v́ con giảng nói chỗ tâm yếu, để con chóng vào Niết-bàn. Đức Phật dạy: - Muốn đạt được chỗ tâm yếu đó không ǵ hơn là mắt thấy sắc đừng bị sắc trói cột, đừng dính với sắc. Tai nghe tiếng đừng để tiếng lôi cuốn, đừng dính nhiễm với tiếng. Mũi ngửi mùi đừng bị mùi cột trói, đừng dính mắc với mùi. Lưỡi nếm đừng bị vị trói buộc, đừng dính mắc với vị. Thân xúc chạm dù cho êm ái nhẹ nhàng vui thích hay thô nhám khó chịu cũng không bị dính cột trói, đừng dính mắc với xúc. Ư duyên với pháp trần không bị pháp trần lôi dẫn, không dính mắc với pháp trần. Nếu mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ư không dính mắc với sáu trần, đó là nhân đến Niết-bàn. Nghe Phật dạy như vậy rồi, ngài Phú-lâu-na đảnh lễ từ giă Thế Tôn, xin t́m một chỗ vắng vẻ tu. Đức Phật hỏi Ngài định đi đâu, Ngài thưa định sang một nước ở phương Tây để tu. Đức Phật nói: - Ta nghe dân xứ ấy hung dữ lắm, ông qua đó họ làm khó, làm sao tu được? Ngài Phú-lâu-na bạch: - Bạch Thế Tôn, nếu người ta khó dễ với con, con vẫn can đảm tinh tấn tu. Phật hỏi: - Giả sử như họ chửi mắng ông th́ ông nghĩ sao? - Bạch Thế Tôn, nếu họ chửi mắng con là vẫn c̣n hiền v́ chưa đánh đập con. - Giả sử họ dùng tay chân thoi đánh ông th́ ông nghĩ sao? - Bạch Thế Tôn, nếu họ dùng tay chân thoi đánh con là vẫn c̣n hiền v́ chưa dùng dao gậy đánh con. - Giả sử họ dùng tới dao gậy đánh ông th́ ông nghĩ sao? - Bạch Thế Tôn, nếu họ dùng dao gậy đánh con là vẫn c̣n hiền v́ chưa giết con. - Giả sử họ giết ông th́ ông nghĩ sao? - Bạch Thế Tôn, nếu họ giết con th́ càng tốt v́ họ giải quyết sớm dùm con thân ô uế này. Con cám ơn họ nhiều hơn. Bấy giờ Phật bảo: - Nếu ông được như vậy th́ nên qua đó tu. Ngài Phú-lâu-na với pháp Phật dạy và ư chí sắt đá đă qua xứ ấy tu, chỉ ba tháng thôi liền chứng quả A-la-hán. Chúng ta thấy muốn được quả A-la-hán dễ hay khó? Tu ba tháng mà chứng A-la-hán th́ quá dễ phải không? Nhưng muốn như vậy, phải làm được hai việc. Thứ nhất bị người ta đánh đập chửi mắng, nhẫn đến giết ḿnh cũng không giận. Chưa được như vậy e khó vào Niết-bàn. V́ c̣n giận là c̣n phiền năo, c̣n phiền năo làm sao được Niết-bàn? Nên điều thứ nhất là trước mọi thử thách như chửi mắng, đánh đập cho tới bị giết ḿnh cũng không buồn không giận, tâm không thối chuyển mới có thể vào Niết-bàn một cách mau chóng. Thứ hai là mắt, tai, mũi, lưỡi đối với sáu trần không dính không mắc. Chúng ta c̣n dính mắc nhiều quá, thấy cái ǵ đẹp trố mắt nh́n hoài không chán. Nghe ai nói ǵ đụng chạm tới ḿnh th́ quạu lên liền, không tha được. Như vậy mắt thấy sắc dính sắc, tai nghe tiếng dính tiếng, mũi ngửi mùi dính mùi, lưỡi nếm vị dính vị… dính đủ hết. Bởi dính nên tu không đến được Niết-bàn, nếu đừng dính th́ được Niết-bàn dễ chớ đâu có khó. Ta thử nghĩ đối trước tất cả hoàn cảnh khó khăn, bị đánh đập hay chèn ép mà ḿnh không phiền không giận, như vậy tâm an lành biết mấy, sự tu có ǵ phiền năo đâu. Sở dĩ chúng ta hay phiền năo là tại sao? V́ bị chê một chút liền nổi giận, giận hai ba ngày chớ không phải giận một buổi. Giận hai ba ngày tức là hai ba ngày hết tu. Đó là duyên nghịch. C̣n gặp duyên thuận như thấy người đẹp vật đẹp tâm sanh ưa thích, hướng theo đó măi cũng hết tu. V́ thế cả ngày tâm cứ chạy theo những trần cảnh bên ngoài, không chút yên ổn. Tới giờ tụng kinh niệm Phật cũng không yên. Tay cầm quyển kinh miệng đọc mà lát nhớ chuyện này chuyện nọ, chớ không chịu nhớ kinh. Đó là thói quen luôn đuổi theo và dính mắc với sáu trần của chúng ta, v́ vậy bị trói buộc măi không có ngày thoát ra. Qua hai câu chuyện trên, chúng ta thấy thật ra đạo không xa, nhưng v́ ḿnh đắm nhiễm quá thành ra cách xa. Giả sử bây giờ có ai mắng chửi ḿnh, ta vẫn lặng thinh không buồn không giận, đó là dở hay là hay? Chắc không phải dở rồi. Ngược lại, nếu người ta chửi ḿnh một, ḿnh chửi lại hai ba th́ hay hay dở? Mới nh́n thấy như hơn, nhưng hơn cái hung dữ của thế gian, c̣n thua về mặt đạo đức. V́ đứng trên đạo đức càng tranh hơn tranh thua th́ càng mất đạo đức. Đă là người tu chúng ta phải chú trọng đạo đức sao cho mỗi ngày mỗi tăng tiến hơn, tập khí thế gian mỗi ngày mỗi giảm bớt đi. Như vậy mới xứng gọi là Phật tử chứ. Chúng sanh luôn bị ba thứ độc tham sân si sai sử. Nghe người ta nói câu ǵ trái tai th́ chú độc sân nổi lên, thúc ḿnh phải ăn thua với người ta. Ta làm dữ với thiên hạ, thắng được thiên hạ tức là đă thua và đầu hàng chú sân rồi. Ngược lại khi nghe một câu nói trái tai, chú sân vừa muốn thúc ḿnh làm dữ, ta liền dẹp chú, không nghe chú, bắt chú nép phục ḿnh, đó là ta đă thắng được chú độc sân rồi. Phật dạy người tu là người tự thắng ḿnh. Thắng một vạn quân không bằng thắng ḿnh, thắng ḿnh là chiến công oanh liệt nhất. Phật tử vào chùa thường thấy tấm biển to ghi bốn chữ “Đại hùng bảo điện”, đó là lời tán thán đức Phật là đấng đại hùng đại lực. Ngài đại hùng chỗ nào, đại lực chỗ nào? Đại hùng v́ Ngài thắng được Ngài, đại lực v́ Ngài thắng được tất cả ma quân. C̣n chúng ta bây giờ hùng với người ngoài mà thua với chính ḿnh nên không thể gọi là đại hùng đại lực. Người tu phải tự chiến thắng được ḿnh, mới thật là đại hùng đại lực, mới có thể thành tựu Phật quả. V́ thế nhà Phật dạy chúng ta tu là phải nh́n cho kỹ, thấy cho rơ ḿnh như thế nào đối với sáu trần, có dính có nhiễm không? Nếu dính nhiễm th́ phải gỡ bỏ. Chừng nào không c̣n dính, không c̣n nhiễm nữa mới thật là người biết đi trên con đường giải thoát. Trở lại vấn đề cái ǵ là gốc dẫn chúng ta đi trong trầm luân sanh tử và cái ǵ là gốc dẫn chúng ta tới Niết-bàn giải thoát? Kinh Lăng Nghiêm nói rất rơ về việc này. Một hôm ngài A-nan bạch với Phật: “Bạch Thế Tôn, cái ǵ là cội gốc của sanh tử, cái ǵ là cội gốc của Bồ-đề Niết-bàn?”. Ngay lúc đó đức Phật không trả lời. Lát sau bỗng dưng nghe trên hư không mười phương chư Phật đều đồng thinh trả lời rằng: “Này A-nan, cội gốc của sanh tử là sáu căn của ông, cội gốc Bồ-đề Niết-bàn cũng là sáu căn của ông”. Sáu căn là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ư. Đó là cội gốc của trầm luân sanh tử và cũng là cội gốc của Bồ-đề Niết-bàn. Tại sao? Chúng ta sử dụng sáu căn thế nào để được thoát ly sanh tử, hoặc ch́m trong trầm luân sanh tử. Như tôi đă kể, mắt đuổi theo sắc dính với sắc nên bị nó dẫn dắt, lôi kéo. Tai nghe tiếng, mũi ngửi mùi, lưỡi nếm vị cũng như thế. Ví dụ lưỡi nếm những thức ăn ngon ta thấy thích, thức ăn không ngon ta thấy bực. Do đó thay v́ ăn để sống, chúng ta lại ăn để phiền năo. Bởi đâu có bữa cơm nào cũng vừa với lưỡi hết. Nếu vừa ư thích th́ ta thèm ăn thêm tức là tham. Nếu không vừa ư thích ta bực dọc tức là sân, đó là phiền năo. Mà phiền năo là cội gốc dẫn đi trong trầm luân sanh tử. Nếu xét kỹ trọng tâm ngon dở ở tại chỗ nào? Tại bao tử. Bao tử trống thiếu th́ đem vô cái ǵ cũng ngon hết, c̣n bao tử đầy th́ của quí cũng thành không ngon. Như vậy cái ngon dở đâu có giá trị thật, nhưng v́ ta quên chỉ nhớ sự đ̣i hỏi của cái lưỡi thôi, thành ra chạy theo nó măi. Lỗ mũi, con mắt, lỗ tai… cũng như vậy. Rồi thỏa măn thân nữa, cả đời làm không dư xu nào hết cũng v́ những sự đ̣i hỏi này. Nhiều người than khổ quá, đi làm hoài không được nghỉ. Ai đày đọa ḿnh mà khổ như vậy? Có phải mắt, tai, mũi, lưỡi, thân nó hành không? Thế nên người biết tu sống vừa phải, đừng lệ thuộc vào những thứ ấy tự nhiên được an nhàn. Ăn để mà sống th́ ăn cái ǵ cũng được, miễn no bụng thôi. Mặc để che thân th́ mặc ǵ cũng được, miễn lành lặn là tốt rồi. Thân này dù xấu đẹp ǵ vài mươi năm cũng phải chết, như vậy chẳng lẽ ta thỏa măn để rồi chết sao? Muốn mà không được th́ đau khổ, chớ có lợi ích chi. Thân này không thật, hạnh phúc cũng không thật, chúng ta lầm mê tưởng là thật nên phải chịu trôi lăn trong trầm luân sanh tử măi. Đối với người biết tu th́ sáu căn đối với sáu trần: sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp không dính không nhiễm, đó là cội gốc Bồ-đề Niết-bàn. Sắc là h́nh sắc đẹp xấu, thanh là những âm thanh hay dở, hương là mùi thơm hôi, vị là những vị ngon dở, xúc là những cảm giác xúc chạm của cơ thể, pháp là những bóng dáng trong nội tâm hiện ra. Khi sáu căn đối với sáu trần có dính có nhiễm th́ đi trong sanh tử. Khi sáu căn đối với sáu trần không dính không nhiễm là Bồ-đề Niết-bàn. Ví như có người thích uống rượu. Ban đầu uống một cốc chơi, lần lần uống hai cốc ba cốc, thời gian năm tháng bảy tháng sanh ghiền. Hồi đầu uống chơi nên c̣n tự do, muốn uống th́ uống, không muốn th́ thôi. Nhưng khi ghiền rồi, không có rượu phải chạy ra quán mua rượu về uống. Cái ǵ dẫn họ chạy? Cái ghiền rượu. Mà ghiền là tập nhiều lần thành thói quen nên ghiền. Đă ghiền th́ phải lệ thuộc vào nó, do đó bị nó dẫn đi, mất hết tự do. Chính ḿnh tạo rồi ḿnh mất tự do, nếu không tạo th́ đâu có mất. Tự do tức là nhân của giải thoát, c̣n bị các trần dẫn đi là gốc của trầm luân, chớ có ǵ lạ đâu. Chúng ta tự kiểm lại ḿnh xem ta đang chuẩn bị đi lên hay bị lôi xuống. Bị lôi xuống là khổ, c̣n giải thoát đi lên th́ an nhàn. Nếu bị những sở thích lôi kéo, không làm chủ được là biết ḿnh bị lôi xuống. Nếu những ǵ thế gian thích mà ḿnh vẫn không bị dính không bị mắc, đó là đi lên. Cho nên sự tu của ḿnh không phải đi hỏi người này người kia. Tôi thường bị nhiều Phật tử hỏi: “Thưa Thầy, Thầy xem giùm con có căn tu không?”. Tôi trả lời: “Ai cũng có căn tu hết, chỉ muốn tu hoặc không muốn tu thôi”. Tại sao ai cũng có căn tu? Bởi Phật nói ai cũng có tánh Phật, tức là có căn tu. Người chịu tu th́ tu được, người không chịu tu th́ tu không được, chớ đừng hỏi có hay không có. Quí Phật tử thử xét trong tâm ḿnh có bao giờ hoàn toàn nghĩ xấu hay hoàn toàn nghĩ tốt không? Có khi nghĩ tốt, có khi nghĩ xấu. Như vậy nơi tâm chúng ta có đủ thiện ác. Bây giờ tu là làm sao? Bỏ ác, giữ thiện, chỉ vậy thôi. Có thiện sẵn là có căn rồi, c̣n hỏi ai chi nữa? Cho nên chúng ta tu là loại trừ điều dữ, nuôi dưỡng điều lành cho tăng trưởng. Như vậy ai cũng có căn hết. Có lắm vị đi coi ngày coi tháng coi tuổi thử xem ḿnh tu được hay không? Nhiều vị xuất gia hay vào chùa cũng phải lựa ngày lành tháng tốt mới đi, tôi cho như vậy là quá kỹ. Với tôi ngày nào đi tu cũng là ngày tốt, c̣n ngày nào đi ăn trộm cũng là ngày xấu hết. Như vậy ai cũng có đủ sáu căn tức là có đủ cội gốc của Bồ-đề Niết-bàn và cội gốc của trầm luân sanh tử. Chỉ đừng để sáu căn nhiễm dính với sáu trần là giải thoát, ngược lại là trầm luân, chớ không ǵ lạ. Chúng ta xét thật kỹ mới thấy sự tu của ḿnh không phải ở trên mây xanh, mà nó ngay nơi con người chân thật của chính ḿnh. Bây giờ có người nào không ăn chay, không tụng kinh nhưng thấy sắc đẹp không tham, nghe tiếng hay không nhiễm, khen không mừng, chê không giận là người đó có tu. C̣n người ăn chay trường, tụng kinh giỏi mà thấy sắc, nghe tiếng, ngửi mùi… cái ǵ cũng dính cũng nhiễm là chưa biết tu. Nên tu là khéo gỡ đừng cột trói đừng dính mắc. Người tu là người gỡ bớt sự dính nhiễm của sáu căn, người không biết tu chẳng những không gỡ mà c̣n tập thêm, đă nhiễm càng nhiễm thêm. V́ vậy khổ hoài từ đời này sang đời khác. Đó là tôi giải thích rơ v́ sao sáu căn là cội gốc của Bồ-đề Niết-bàn, sáu căn cũng là gốc của trầm luân sanh tử. Trong kinh Kim Cang, ngài Tu-bồ-đề xin Phật dạy làm thế nào hàng phục tâm và an trụ tâm để tiến lên quả vị Bồ-đề? Ở đây, tôi chỉ nói phần an trụ. Phật dạy: “Bất ưng trụ sắc sanh tâm, bất ưng trụ thanh, hương, vị, xúc, pháp sanh tâm, ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm”, nghĩa là không nên dính mắc nơi sắc sanh tâm Bồ-đề, không nên dính mắc nơi thanh, hương, vị, xúc, pháp sanh tâm Bồ-đề, nên không dính mắc mà sanh tâm Bồ-đề. Nghe câu này Lục Tổ Huệ Năng đại ngộ, c̣n chúng ta không ngộ ǵ hết. Tại sao? V́ muốn tâm an trụ để được giác ngộ th́ đối với sáu trần tâm đừng dính mắc. Chúng ta c̣n dính mắc nên tâm không an, không an làm sao giác ngộ giải thoát được. Ví dụ tay tôi nắm cái ly th́ dính mắc ở cái ly nên không thể nắm được cái khác. V́ vậy c̣n bám vào một vật ǵ là mắc kẹt vào vật đó. Nếu trên bàn có năm ba thứ nhưng tay tôi không nắm thứ nào hết nên rảnh rang không dính mắc. Nhờ không dính hẳn vào một vật nên tôi có thể cầm vật nào cũng được. Không bám nên không dính mắc, đó là vô sở trụ. Chỗ không dính mắc ấy là tâm Bồ-đề. Tôi thường ví dụ như người vác cục đá to leo núi, việc này rất khó. V́ đá nặng mà trèo dốc cao nữa nên rất khó đi. Bây giờ có người khuyên kẻ đó bỏ cục đá xuống, như vậy khó hay dễ? Bỏ xuống khỏe ru phải không? Cũng thế, chúng ta đang dính đang nhiễm, Phật bảo ḿnh buông đi, đừng dính nhiễm nữa, như vậy dễ hay khó? Thế mà chúng ta lại than khó! Tại sao buông xuống nhẹ mà lại khó? Nghe khen, nghe chê buông bỏ hết cho khỏe, dễ quá, tại sao ḿnh không chịu buông? Thật lạ lùng. Ví dụ như người ghiền rượu, mỗi ngày phải tốn tiền đi quán bao nhiêu lần, khổ hay sướng? Khổ. Bây giờ biểu bỏ rượu đi, đừng uống nữa khỏi tốn tiền, hết khổ nhưng họ nói bỏ rượu khó quá. Tại sao khó? Tại v́ đeo mang quen rồi, buông ra thấy khó. Nếu chúng ta can đảm buông một cái th́ dễ thôi, lỗi là tại ḿnh không gan. Bởi vậy người tu đ̣i hỏi phải có ư chí, phải gan dạ. Tất cả các nghiệp thiện cũng như nghiệp ác đều do chính ḿnh là chủ nhân tạo nên. Ta đă tạo cho ḿnh khổ th́ cũng chính ta làm cho ḿnh hết khổ, chớ đâu có ai thế được. Gan một chút bỏ hết đi th́ hết khổ; không chịu gan rồi cứ kêu khổ hoài. Rơ ràng ta không đủ can đảm làm những việc lợi ích cho bản thân ḿnh, th́ mong ǵ giúp ích cho ai? V́ thế không nói tu từ đâu, mà chính nơi sáu căn của ḿnh biết gỡ bỏ, tự nhiên chúng ta yên lành tự tại. Sở dĩ ta niệm Phật, tụng kinh, tọa thiền mà tâm vẫn bất an là tại v́ nhớ sắc, nhớ thanh. Như buổi chiều có ai nói một câu nặng, ḿnh trả lời chưa vừa ư; lát sau ngồi thiền hay niệm Phật không yên. Cứ t́m câu đối đáp cho xứng với câu nói hồi chiều. Rơ ràng tâm ḿnh không an là tại v́ dính sắc trần, thanh trần bên ngoài. Bây giờ đến giờ tu th́ gác qua một bên, không nhớ nghĩ chi hết, tự nhiên tâm an. Cho nên Phật dạy chỉ tâm không dính mắc với sáu trần là an trụ. An trụ được tâm đó mới tiến tới Bồ-đề, giải thoát. Phật tử cứ sợ không biết sau khi chết ḿnh đi đâu nên t́m hết thầy này đến thầy khác để hỏi. Sao không tự hỏi ḿnh? B́nh thường thương người này giận người kia, trong tâm hiện lên h́nh ảnh những kẻ ấy hoài th́ khi chết sẽ bị chúng dẫn đi thôi. Nếu tâm c̣n oán thù hờn giận th́ oán thù hờn giận sẽ dẫn ḿnh đi gặp nhau để trả thù. Chúng ta có mâu thuẫn mà không biết. Ḿnh ghét ai không muốn gặp th́ lẽ ra buông luôn đừng nhớ người đó, đằng này không muốn gặp mà cứ nhớ hoài. Nhớ gương mặt sao dễ ghét, giọng nói cũng khó ưa… ôm ấp trong ḷng hoài. Như vậy khi gần nhắm mắt những h́nh ảnh đó sống trở lại khiến cho gặp nhau ở đời sau nữa. Đó là mâu thuẫn. Chúng ta tu mà chất chứa buồn phiền thù hận hoài th́ khi nhắm mắt sẽ bất an. Đó là đi theo đường khổ. Cho nên chỉ cần nh́n lại ḷng ḿnh trong hiện tại là biết chết sẽ về đâu, gặp ai, khỏi cần hỏi thầy cô nào hết. Chúng ta biết tu rồi gỡ bỏ bớt, đừng thèm giận nhau chi. Buồn giận nhiều có đi tới đâu? Phút cuối cùng ai rồi cũng phải chết, mang giận hờn theo chi cho khổ. V́ vậy Phật dạy người tu phải hỷ xả, vui vẻ bỏ hết để được an vui khi sống cũng như lúc chết. Nên nhớ ngày mai chúng ta tiến lên hay lùi xuống đều tùy tâm niệm trong hiện tại. Nhiều người nói quí thầy tu xả được, chớ chúng tôi đâu có xả nổi. Trong sách nhà Phật có nói câu này: “Tăng hận bất cách túc”, nghĩa là tăng giận không được quá một đêm. Phật thông cảm cho quí thầy c̣n phàm tăng cũng giận, nhưng không quá một đêm. Vậy quí Phật tử giận chừng bao lâu? Năm mười năm chưa quên. Đối với người tu đạo lực c̣n yếu, gặp cảnh trái nghịch cũng bực bội, nhưng một chút thôi rồi bỏ đi, không được ôm ấp lâu. Người không biết tu khi gặp cảnh trái nghịch giận hoài không quên. Như vậy chỉ cần nh́n lại ḿnh, ta biết sự tu tiến nhiều ít. Hồi chưa biết tu ai làm ǵ trái ư, ḿnh giận mười năm. Bây giờ biết tu, ai làm trái ư, ḿnh giận chừng ba năm là đă có tiến bộ. Đến khi khá hơn chút nữa, ai làm ǵ trái ư, ḿnh giận chừng ba bốn ngày thôi. Bao giờ giận chỉ một đêm thôi là làm tăng được rồi đó. Cuối cùng gặp thuận nghịch chi ḿnh cũng cười, không giận ai hết, đó là chúng ta bắt đầu tiến lên bước giải thoát. Lục Tổ Huệ Năng khi nghe câu “Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm”, chẳng những Ngài không dính mắc sáu trần mà c̣n thấy ngay nơi thân này có tâm thể thanh tịnh, nên Ngài liền thốt lên: Đâu ngờ tâm ḿnh xưa nay thanh tịnh, đâu ngờ tâm ḿnh vốn tự đầy đủ, đâu ngờ tâm ḿnh trùm khắp tất cả v.v... Chúng ta do ư niệm dấy động chạy theo sáu trần sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp nên dính mắc sáu trần. Thế mà ta lại c̣n cho ư niệm đó là tâm ḿnh nữa. Tâm tôi nhớ h́nh sắc, tâm tôi nhớ âm thanh v.v... Cứ thế liên miên hết niệm này khởi tới niệm kia đuổi theo bóng dáng sáu trần nên bất an. Nhưng hỏi lại tâm đó có thật không? Nhớ cái này nhớ cái nọ, lát sau mất hết, như vậy nó đâu có thật. Bây giờ nếu chúng ta dừng lại, không đuổi theo sáu trần nữa th́ được an ngay. Khi nhận tâm niệm dính với sáu trần là tâm ḿnh, ta thấy tâm ấy sanh diệt liên tục. C̣n nếu những tâm niệm đó lặng xuống hết, không c̣n dính bóng dáng nào nữa, lúc đó tâm ḿnh ra sao? Thênh thang trùm khắp, nên không sanh diệt từng chập từng chập như trước. Hiểu thấu và ứng dụng được như thế là ta giải thoát rồi. Học kinh nhiều mà không ứng dụng được th́ có lợi ích ǵ? Chúng ta học kinh Phật để tu, chớ không phải để tụng cho Phật nghe. Ḿnh không chịu ứng dụng tu, cứ tối tụng lại cho Phật nghe, thử hỏi có phụ ḷng Phật không? Ví như cô giáo dạy học tṛ khi ra đường gặp các cụ già phải giở nón chào, chấp tay cúi đầu, thưa dạ đàng hoàng. Con bé đó thuộc ḷng lời dạy trên, nhưng khi ra đường gặp các cụ nó không thèm giở nón chào, không chấp tay cúi đầu. Tới lúc vô trường nó lại đọc thuộc ḷng cho cô giáo nghe. Thử hỏi nếu cô giáo biết được chuyện này có khen không? Chúng ta cũng vậy, như trong kinh Bát-nhă Phật dạy “Quán tự tại Bồ-tát hành thâm Bát-nhă Ba-la-mật-đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách”. Nghĩa là Bồ-tát Quán tự tại khi thực hành sâu Bát-nhă ba-la-mật-đa, Ngài soi thấy năm uẩn không thật liền qua tất cả khổ nạn. Quí thầy cô của ḿnh cứ đọc thuộc làu cho Phật nghe như thế mà không chịu hành thâm, nên rồi khổ nạn tới liên miên phải không. Phật biết chắc Ngài cũng buồn lắm. Bởi Phật dạy là muốn chúng ta thực hành để hết khổ, chớ không phải đem lời Phật dạy ra đọc hoài mà không chịu tu. Cho nên người học đạo thực hành một câu Phật dạy quí bằng ḥn ngọc vô giá ở thế gian. V́ vậy tôi thường nhắc nhở chư Tăng Ni cũng như quí Phật tử, chúng ta đọc kinh nhưng phải ứng dụng tu, chớ không nên đọc suông. Chúng ta tu phải ráng làm sao đừng để dính với sáu trần là được giải thoát, ngược lại cứ dính mắc sáu trần hoài th́ trầm luân không có ngày ra khỏi. Như vậy sáu căn là nhân giải thoát nếu chúng ta không dính với sáu trần, hoặc sáu căn là nhân trầm luân sanh tử nếu dính với sáu trần. Nên biết tu ngay nơi sáu căn, chớ không ở đâu khác. Quyền định đoạt được giải thoát hay trầm luân là của chúng ta. Chính ḿnh can đảm, chủ động để được giải thoát, cũng chính ḿnh chủ động để trầm luân trong sanh tử, không thể trách móc kêu than ai hết. Như vậy đạo Phật tôn trọng quyền tự do tuyệt đối, không ai bắt ta trầm luân, cũng không ai nâng ta lên giải thoát. Hiểu như thế rồi, chúng ta không được quyền đổ thừa tại trời hay tại ai làm cho ḿnh khổ, mà phải biết rơ là tại ḿnh. Đó là ư nghĩa thâm trầm và sâu xa của đạo Phật về cội gốc sanh tử và cội gốc Niết-bàn. Mong tất cả nghe hiểu và ứng dụng tu đạt được kết quả viên măn. ] THUYẾT LUÂN HỒI TV. Trúc Lâm - 2001 Hôm nay tôi sẽ nói về đề tài rất quen thuộc, đó là Thuyết luân hồi của đạo Phật. Với đề tài này nhiều người c̣n hoang mang, nhất là giới trí thức trẻ, không biết thuyết luân hồi có đúng không, tại sao đức Phật lại nói thuyết luân hồi. V́ vậy ở đây tôi sẽ thứ tự giải thích cho quí vị hiểu. Sở dĩ đức Phật nói thuyết luân hồi là có lư do. Trước hết chúng ta t́m hiểu ngay bản thân đức Phật. Khi c̣n là Thái tử dạo bốn cửa thành, thấy cảnh sanh già bệnh chết, Ngài có những thắc mắc trong ḷng. Chính v́ thế Thái tử không yên tâm sống trong cảnh vương giả, nên quyết chí tu hành. Thắc mắc trước kia của Ngài cũng có thể là thắc mắc của tất cả chúng ta hiện giờ, nhưng ḿnh ít quan tâm t́m cách giải quyết. Thắc mắc thứ nhất, Ngài nghĩ con người ai cũng bị sanh già bệnh chết khổ như nhau, vậy từ đâu chúng ta đến đây? Thắc mắc thứ hai, sau khi chết rồi ta sẽ đi về đâu? Thắc mắc thứ ba, muốn ra khỏi ṿng sanh tử đó phải làm sao? Đó là ba vấn đề tối hệ trọng của kiếp con người. Bởi thắc mắc như vậy nên Ngài không yên tâm sống trong cảnh nhung lụa, vui theo thế gian nên mới quyết tâm đi tu. Khi đă đi tu, ban đầu Ngài t́m đến những vị nổi tiếng thời đó để học đạo. Các vị thầy ấy dạy cho Ngài tu chứng từ Sơ thiền tới Nhị thiền, Tam thiền, Tứ thiền. Ngài thấy cũng chưa giải quyết được vấn đề ḿnh thắc mắc. Thế là t́m thầy khác cao hơn, Ngài tiếp tục đạt các quả vị từ Không vô biên xứ, Thức vô biên xứ, Vô sở hữu xứ cho đến Phi phi tưởng xứ. Được bốn tầng định cao tột ấy rồi Ngài thấy cũng chưa giải quyết được ba vấn đề ḿnh hằng ôm ấp trong ḷng. Lúc này không c̣n vị Thầy nào đủ sức chỉ giáo cho Ngài nổi nữa. Ngài từ giă các vị Thầy đó, t́m cách tu khác. Hồi xưa ở Ấn Độ nhiều người cho rằng tu khổ hạnh đến chỗ tột cùng sẽ ngộ đạo, nên Ngài cũng tu khổ hạnh hết sáu năm, rốt cuộc không giải quyết được ba vấn đề trên. Cuối cùng Ngài tới cội Bồ-đề trải cỏ ngồi kiết già. Khi ngồi xuống đây, Ngài thệ nguyện rằng: “Ta ngồi dưới cội cây này nếu không thành đạo, thà xương tan thịt nát quyết không rời khỏi cội cây này”. Với ư chí quyết liệt như thế, suốt bốn mươi chín ngày đêm thiền định dưới cội Bồ-đề, tới đêm thứ bốn mươi chín Ngài giác ngộ thành Phật, giải quyết triệt để ba vấn đề trọng đại đă thắc mắc lâu nay. Ngộ đạo là ngộ cái ǵ? Trước tiên Ngài chứng được Túc mạnh minh. Chữ “túc” là đời trước, “mạng” là sinh mạng, “minh” là sáng suốt. Túc mạng minh là sáng suốt, thấu rơ tột cùng đời trước của ḿnh, giải đáp được câu hỏi thứ nhất “Ta từ đâu đến đây?” Trong kinh diễn tả Ngài thấy rơ, nhớ rơ từ vô số kiếp về trước của ḿnh, như việc mới xảy ra hôm qua. Đời trước Ngài đă từng sanh ở đâu, làm ǵ… tất cả những chuyện quá khứ của Phật sau này được các thầy Tỳ-kheo kết tập lại thành kinh Bổn Sanh. Ngài cũng thấy biết đời trước của các đệ tử sanh ở đâu, làm ǵ… được kết tập thành kinh Bổn Sự. Như vậy cái nhớ của Ngài là trực tiếp nhớ chớ không qua ai kể lại, cũng không phải do suy luận mà ra. Đó là giải quyết được nghi vấn thứ nhất. Kế tiếp, Ngài chứng được Thiên nhăn minh. Thiên nhăn minh là con mắt sáng suốt thấy tột cùng những ǵ rất xa, rất nhỏ, Ngài thấy tường tận hết. Ngài thấy chúng sanh chết đây sanh kia, do nghiệp dẫn đi trong sáu đường, như người đứng trên lầu cao nh́n xuống ngă tư đường thấy kẻ qua, người lại một cách rơ ràng. Phật biết rơ con người chết rồi không phải là hết mà theo nghiệp thọ sanh trong Lục đạo luân hồi. Đó là giải quyết được nghi vấn thứ hai. Thấy tường tận như vậy nên Ngài mới nói thuyết luân hồi. Đến canh năm, khi sao Mai vừa mọc Ngài chứng được Lậu tận minh. “Lậu” là rơi rớt, “tận” là hết. Tức biết tường tận lư do ǵ khiến chúng sanh có mặt ở đây, muốn không c̣n tiếp tục thọ sanh ở những đời sau nữa th́ phải tu cách nào? Nói rơ hơn, Phật thấy rơ nguyên nhân từ đâu chúng sanh có sanh tử và nguyên nhân để chấm dứt sanh tử, không c̣n rơi rớt, trầm luân trong tam giới nữa. Thấy tường tận như vậy gọi là chứng Lậu tận minh. Thế là Ngài tuyên bố giác ngộ viên măn, thành Phật. V́ thế chúng ta biết đức Phật nói thuyết luân hồi không phải do suy luận, do tưởng tượng. Khi tâm Ngài an định trí tuệ sáng ra nên nhớ được tất cả mọi việc trong vô số kiếp về trước. Kế đến khi chứng được Thiên nhăn minh, Ngài thấy chúng sanh luân hồi trong lục đạo là do nghiệp dẫn, điều này hơi khó hiểu. Nghiệp làm sao thấy? Mắt phàm chúng ta không thấy nhưng với mắt Thánh th́ thấy. Bởi vậy hồi xưa đọc truyện ta thấy các ông tiên khi nh́n ai trên đầu có vầng đen th́ biết người đó sắp có tai họa. C̣n ai trên đầu có vầng sáng th́ biết người đó là bậc Thánh hiền. Hiện nay các tượng Phật, Bồ-tát người ta hay vẽ hào quang sáng. Phật thấy rơ ràng chúng sanh do nghiệp lành, nghiệp dữ dẫn đi thọ sanh chớ không phải ngẫu nhiên. Nghiệp dẫn ḿnh đi trong sáu đường sanh tử luân hồi. Sáu đường đó là: địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh là ba đường ác; người, a tu la và trời là ba đường lành. Trong sáu đường ấy, loài súc sanh và ngạ quỷ ở lẫn với ḿnh, nhưng ta chỉ thấy được súc sanh, chớ không thấy ngạ quỷ. C̣n địa ngục, có người nói đào sâu dưới đất là địa ngục, không phải vậy. Địa là chỗ, ngục là h́nh phạt đau khổ. Những chúng sanh nào có nghiệp ác sau khi chết cùng sanh vào chỗ chịu những h́nh phạt đau khổ, đó gọi là địa ngục. Chớ không có chuyện như người ta tưởng tượng quỷ sứ tới dắt đi, mà là nghiệp dẫn. Nghiệp từ tâm tưởng hiện ra. Ví dụ hồi xưa ta hành hạ ai khổ sở, bây giờ sắp chết sực nhớ lại người đó, thấy họ đánh đập ḿnh, rượt đuổi ḿnh nên ta chạy. Thế là chạy thẳng vào chỗ khổ. Đó là trường hợp đi trong các đường dữ. Trở lại đường lành, cơi người là đường lành thấp nhất. Như vậy chúng ta hănh diện ḿnh đang ở trong đường lành, nhưng nếu không khéo tu th́ sẽ tuột xuống đường dữ. Được ở trong đường lành ḿnh phải cố gắng tu tập để vươn lên, chớ không nên tự măn. V́ khi hưởng hết phước lành ta sẽ đọa vào các đường dữ. Do trí tuệ đức Phật thấy tường tận các điều như đă nói. Chẳng những thế Ngài c̣n thấy cả vi trùng nên Phật nói ta xem thấy trong một bát nước có tám muôn bốn ngàn vi trùng. Đó là thấy chớ không phải suy luận. Cho tới Ngài nh́n trên không gian bao la, thấy hằng hà sa số thế giới không thể kể hết. Dùng từ hằng hà sa số để nói nhiều như cát sông Hằng. Như vậy cái thấy biết của Phật không thể nghĩ lường. Tất cả chúng ta hiện giờ có mặt ở đây không phải chỉ một lần, mà là vô số lần rồi. Con người bỏ thân này chưa phải là hết, mà c̣n lang thang không biết đến bao giờ. V́ vậy nhà Phật thường dùng từ “lang thang trong kiếp luân hồi”, cứ đi măi không biết dừng nơi đâu? Đức Phật thấy được những nẻo đường của chúng sanh đến và đi nên Ngài mới nói “Thuyết luân hồi”. Luân hồi là ǵ? Luân là bánh xe, hồi là lăn tṛn. Luân hồi đi đâu? Không ngoài ba đường ác và ba đường lành, cứ lên xuống quay tṛn như vậy hoài, gọi là luân hồi. Nếu người làm điều tốt khi chết sẽ đi các đường trên. Hưởng hết phước rồi th́ tuột xuống trở lại, c̣n kẻ làm xấu th́ đọa vào các đường dưới, đền trả hết nghiệp mới được trồi lên. Lên xuống, lên xuống không ra khỏi ṿng lục đạo nên gọi là bánh xe luân hồi. Đó là nói luân hồi trong các đường. Bây giờ chúng ta đặt câu hỏi lại: “Hiện tại trong thân ḿnh có luân hồi không?” Tim đập tống máu đi nuôi khắp cơ thể, máu chạy ṿng ṿng rồi cũng trở về tim. Cứ thế lẩn quẩn ṿng quanh hoài, không đi đâu khác. Y học dùng từ tuần hoàn máu, nghĩa là máu đi rồi trở về, đi rồi trở về. Đó là nói luân hồi trong con người. C̣n quả đất có luân hồi không? Nó quay hoài hết ngày tới đêm, đó cũng là luân hồi. Thành ra con người ở trong ṿng luân hồi mà không biết. Đó là một lẽ thực chớ không phải suy lư ǵ hết. Khi chúng ta đă biết thuyết luân hồi trong ba đường lành, ba đường dữ rồi, bây giờ phải làm sao? Phải chọn ba đường lành mà đi, tối thiểu cũng phải đi lại đường cũ của ḿnh, là làm người. Ai khá hơn th́ vươn lên trên cơi trời. Muốn trở lại cơi người Phật dạy phải thọ Tam qui, giữ năm giới. Năm điều kiện đó là Nhân thừa Phật giáo, tức tu để được làm người. Đó là điều căn bản mà chúng ta phải nhớ. Muốn được lên nữa th́ tu Thập thiện, tức tu mười điều lành được lên cơi trời. C̣n hạng trung là a-tu-la. A-tu-la làm lành nhiều lắm, siêng năng bố thí tu phước nhưng động tới liền sân. Đây là thần chớ không phải trời. Thế nên quí vị trong khi bố thí làm phước, nhớ đừng sân. V́ đó là nhân sanh vào loài a-tu-la. Cho nên ai tu mà hay gây gổ thường bị quở là hiện tượng a-tu-la đó. Nghiệp là một luật rất công bằng cho tất cả mọi loài, ḿnh tạo th́ ḿnh hưởng. Làm phước được phước, làm tội chịu tội. Nếu làm trọn mười điều ác th́ đi thẳng xuống địa ngục, không nghi ngờ. Khá khá hơn không tới mười điều, nhưng nặng về tham th́ sanh vào loài quỷ đói. Ngạ quỷ sống lang thang trong cơi thế gian, tuổi thọ rất lâu phải chịu đói khát ghê lắm, nên kiếp ngạ quỷ cũng hết sức khổ. Kế đến súc sanh, trong mười điều ác làm chừng năm điều là đủ làm súc sanh rồi. Súc sanh nặng về si nên không biết phân biệt ǵ hết, không tư cách như con người. Đó là ư nghĩa của luân hồi. Nói luân hồi trong sáu đường, nhưng ai bắt ḿnh đi? Nghiệp bắt. Nghiệp do ai tạo? Không ai có quyền áp đặt ta, tự ta quyết định tự ta chọn lựa mà thôi. Không phải ta có tội Phật đày xuống dưới địa ngục hay có phước Phật đưa lên cơi trời. Như hiện giờ chúng ta có mặt trên thế gian này, có người khá giả có kẻ nghèo nàn, cơ cực là do ai? Đổ thừa trời khiến, được không? Sự thực tại người không có phước nên tính đâu trật đấy, làm ǵ cũng thất bại nên nghèo. C̣n người có phước tính đâu trúng đó nên giàu. Đó là do phước nghiệp riêng của mỗi người tạo ra, chớ không phải ai đem đến cho ḿnh. V́ chúng ta không biết điều đó nên đổ thừa đây kia, mà không nhận ra nguyên nhân do chính ḿnh. Đời hiện tại của chúng ta có hai tính chất quan trọng. Thứ nhất là trả nợ hoặc hưởng phước của quá khứ. Nhiều người sanh ra là con ông lớn hoặc nhà giàu, đó là hưởng phước. Nhiều người sanh đă mồ côi hoặc cha mẹ nghèo khổ bần cùng, hung dữ, độc ác… đó là trả nợ. Thứ hai là chuẩn bị cho đời sau. Thành ra ta có chuyển nghiệp là chuyển ngay đời hiện tại, cho nên đời hiện tại rất quan trọng. Nếu cuộc sống này ḿnh được nhiều thuận lợi th́ nên chuẩn bị cho mai kia, đừng để tuột xuống. Nếu cuộc sống này bất như ư ḿnh cũng cười thôi, v́ biết tại hồi xưa ḿnh ngu nên bây giờ phải chịu thôi. Bây giờ đền lại cái ngu hồi xưa nên cam chịu không giận ai, không kêu trời trách đất. Cố gắng làm sao tạo duyên tốt để hiện đời an vui phần nào và mai sau được tốt đẹp hơn. Người hiểu được thuyết luân hồi của Phật dạy th́ cuộc sống nội tâm vững vàng, nghèo không trách, giàu không tự cao. Bởi biết bây giờ ta hưởng mà không làm tốt nữa th́ mai kia tuột xuống sẽ khổ. Hoặc hiện giờ ḿnh bị những đày đọa th́ vui vẻ chấp nhận, sửa lại đừng để tuột xuống nữa mà phải nâng lên. Như vậy là tu. Biết rơ lư luân hồi tự nhiên ta tạo cho ḿnh con đường đi lên, không có tâm oán hờn thù ghét ai hết. Thế gian thường có bệnh, ḿnh nghèo mà ai giàu th́ thấy ghét người ta. Ḿnh học dở thấy người học giỏi th́ ganh tỵ. Đó là tật xấu, tự ḿnh chuốt nghiệp mà thôi. Trong kinh Phật nói, từ khi phát tâm tu cho tới thành Phật, trải qua ba vô số kiếp làm tất cả các việc công đức mới thành tựu đạo quả Vô thượng Bồ-đề. Như vậy sự tích lũy rơ ràng không mất, tích lũy tốt th́ quả nối tiếp tốt, tích lũy xấu th́ quả nối tiếp xấu. Người thế gian không biết nên oán trách cha mẹ không có phước nên sanh ḿnh ra khổ. Hoặc cha mẹ không có tài nên ḿnh bây giờ phải thua sút người ta. Mà không biết chính ḿnh thọ nhận quả báo đời trước đă tạo nên mới sanh vào gia đ́nh tương ưng như thế. Cha mẹ chỉ là phần phụ thôi, gốc là bản thân ḿnh. Như vậy thuyết luân hồi nói lên lẽ thực của kiếp người. Đức Phật đă thấy, đă nhớ rơ ràng nên nói ra cho chúng ta biết, chớ không phải do Ngài tự tưởng tượng. Ngày nay ḿnh nghe hơi khó tin. Bởi v́ chúng ta nh́n nông cạn quá nên không tin được. Khi biết rơ kiếp luân hồi như vậy, ai can đảm tạo thêm những nghiệp ác để chịu khổ hơn? Cho nên chúng ta phải tinh tấn làm những điều lành, điều thiện. Nếu không làm cho ai, ít ra ta cũng giữ được phần ḿnh, đừng phạm những giới đưa ta đi xuống. Đó là tu. Đức Phật thấy rơ sự nguy hiểm của luật nhân quả luân hồi nên chỉ cho ḿnh đường lối tu, chớ không phải áp đặt ḿnh làm ǵ. Khi qui y thọ năm giới, quí thầy hỏi Phật tử “giữ được không?”, quí vị giữ được th́ nói “dạ được”, c̣n nếu giữ chưa được th́ làm thinh, chớ Phật đâu có ép. V́ giữ giới là giữ cho ḿnh, không phải giữ cho Phật. Đi sâu vào tâm lư mỗi người, chúng ta sẽ thấy ḿnh đă từng quen thuộc, ưa thích với những việc làm của thuở quá khứ. Ví dụ như bản thân tôi, tại sao lại thích tu? Người đời lớn lên lo chuyện làm ăn hoặc ǵ ǵ đó, tại sao ḿnh không thích những chuyện ấy mà lại thích đi tu? Như vậy là từ đời quá khứ ta đă tích lũy hạt giống đó rồi, nên bây giờ có mặt đây luôn nhớ việc ấy. Rơ ràng chúng ta không quên hết nhân quá khứ, nhân nào chứa sâu đậm sẽ trở thành sở thích, việc làm của ḿnh trong đời này. Có người ra đời thích làm lành, có người ra đời lại hung dữ. Mỗi người thích mỗi cách, đó là do sự tích lũy của quá khứ khác nhau. Quá khứ đă tích lũy sẵn nên bây giờ nó hiện ra nơi ḿnh. Quí Phật tử kiểm lại xem, nếu do gien cha mẹ sanh ra là yếu tố duy nhất tạo thành những đứa con sau này, th́ cha mẹ bệnh tật ǵ con cũng phải bệnh tật y hệt như thế. Rồi tâm hồn của con do cái ǵ tạo? Có nhiều cha mẹ rất hiền nhưng con không hiền. Hoặc ngược lại cha mẹ dữ mà con lại hiền. Những sự khác biệt đó nhà Phật gọi là nghiệp tích lũy của quá khứ, chúng ta mang theo khi thọ sanh. Những ǵ ḿnh đă chứa chấp đời trước, bây giờ nó hiện ra rơ ràng. Như hai anh em ruột, thể xác giống chút chút mà tâm hồn không giống nhau. Như vậy mới thấy mỗi người sanh ra mang một nghiệp khác nhau, từ đó có những sai biệt khác nhau. Thế th́ muốn trên đường luân hồi ḿnh đi đường tốt, không đi đường xấu phải làm sao? Thấy người đáng ghét ta nên xử sự thế nào? Nên nghĩ rằng họ có làm ǵ hại ḿnh mà ghét. Ghét người như vậy là ta đă có ư nghĩ xấu rồi. Nếu tiếp tục nuôi dưỡng ư nghĩ này, sanh chuyện nói này nói kia với người ta là cái cớ để tạo thêm nghiệp. Nếu mọi người đều biết tu như vậy th́ gia đ́nh, xă hội đẹp biết bao nhiêu. V́ chúng ta không hiểu như thế ghét ai liền kiếm chuyện gây sự với người ta. Cứ vậy mà tạo nghiệp chồng chất tiếp nối không có ngày cùng. Nhà Phật nói nghiệp từ thân, miệng, ư mà sanh. Nhưng thực ra ư chủ động tạo nghiệp. Miệng nói tốt xấu cũng từ ư, thân làm tốt xấu cũng từ ư. Ư là nói chung cho tất cả những phân biệt thương ghét, buồn giận, hơn thua, phải quấy… đều là ư nghĩ của ḿnh. Chúng ta sống chạy theo những ư nghĩ đó là chạy theo nghiệp. Bởi có ư nghĩ xấu nên ḿnh mới nói bậy, làm bậy. Do ư nghĩ tốt nên ta mới nói lành, làm lành. Khi thân này hoại th́ nghiệp đó không hoại, v́ nó đâu có tướng mạo mà hoại, nên sẽ theo ta thọ sanh ở đời sau. Nhà Phật gọi là mang nghiệp đi trong luân hồi sanh tử. Vậy muốn chấm dứt nghiệp phải điều phục được chú “ư” này. Quí vị thấy quí thầy, quí cô trong Thiền viện ngồi lim dim ngó xuống hoài, đó là làm ǵ? Là ngồi thiền, cốt để định cái ư đó nên gọi là Thiền định. Tất cả những nghĩ suy lăng xăng, lộn xộn bắt nó lặng xuống hết. Chưa lặng th́ ráng ngồi lâu cho nó lặng. Chừng nào nó lặng được rồi th́ nhân tạo nghiệp không c̣n, mà nhân tạo nghiệp không c̣n th́ quả luân hồi sanh tử đâu có. Đó là giải thoát sanh tử. Thế nên muốn biết có luân hồi hay không, chúng ta cứ nghiệm trong tâm niệm của ḿnh sẽ rơ. Cha mẹ sanh thân được mà không thể sanh tâm niệm của ḿnh. Có tâm niệm rất lành, có tâm niệm rất dữ. Như vậy tâm niệm đó từ đâu ra? Chính do sự tích lũy của đời trước, không nghi ngờ ǵ hết. Nên nhiều người ngạc nhiên, tại sao người đó c̣n nhỏ mà không chịu ăn mặn? C̣n có kẻ cha mẹ khuyên ăn chay th́ ăn không được, một ngày cũng không ăn nổi. Đó là do tích lũy từ trước, bây giờ gặp lại thấy quen, thấy thích, chớ không phải bổng dưng mà có. Tích lũy tức là những ǵ đời trước ḿnh đă từng làm từng huân tập. Đời này trở lại những thứ tích lũy đó không mất. V́ vậy trong kiếp luân hồi chúng ta theo nghiệp ḿnh đă tích lũy, chất chứa mà hiện ra thành tâm hồn cá biệt của mỗi người. Nên nói đến luân hồi chúng ta đừng thèm suy gẫm ǵ hết, cứ nh́n lại nội tâm ḿnh th́ biết ngay. Tại sao người đó chưa quen thuộc ǵ hết mà ḿnh thấy dễ thương, hoặc kẻ kia cũng chẳng quen thuộc ǵ hết mà ḿnh thấy phát ghét. Đâu có trả lời được. Tại v́ chúng ta không nhớ nổi, nên nói không biết tại sao kỳ vậy. Thật ra do nghiệp tích lũy của quá khứ chiêu cảm nên. Trên đời này ai không có những người thân, những kẻ thù. Có thân, có thù gặp lại nhau là khổ. Người thân th́ ḿnh thương, người thù th́ ḿnh ghét. Nhiều người nói tại sao anh chị có duyên quá, xin cái ǵ cũng được. C̣n tôi vô duyên xin cái ǵ cũng không ai cho. Tại ḿnh hay tại trời đất xui khiến. Chẳng qua hồi trước ḿnh hất hủi thiên hạ quá, bây giờ tới phiên người ta hất hủi lại ḿnh. B́nh đẳng thôi. Cụ thể như mấy chú đi bắt chó, dù không có xách ṿng, không làm ǵ hết đi chơi thường thôi, mà mấy con chó nó ghét, nó sủa ghê lắm. Như vậy ḿnh tạo nghiệp lành, nghiệp dữ không đợi đời sau mới trả quả mà ngay hiện tại cũng ứng hiện quả báo phần nào. Đó là một lẽ thực. Đức Phật do tu mà chứng biết nên nói ra như vậy, chúng ta không thấy là v́ chưa đủ trí tuệ. Bao giờ ḿnh tu được như Phật cũng sẽ thấy biết như Ngài. Trong kinh kể lại Tôn giả Mục Kiền Liên khi chứng A-la-hán rồi, một hôm Ngài đi trên đường thấy có loài quỷ đầu rất to, bụng lại nhỏ xíu thân thể ghê gớm lắm. Ngài về thuật lại với Phật, Phật nói ta cũng thường thấy chúng, nhưng nói không ai biết nên ta không nói. Vậy ai tu tới đó, chứng tới đó đều thấy như nhau, chớ không phải chỉ riêng Phật thôi. Nhiều người bảo những ǵ mắt thấy tai nghe tôi mới tin. Nhưng mắt ḿnh chắc ǵ thấy được tất cả mọi cảnh giới. Cái thô th́ thấy, cái tế không thấy. Như vi trùng nếu không nhờ kiến hiển vi làm sao con người thấy được? Đem con mắt phàm phu so sánh với con mắt Thánh nhân th́ thật là quá thô thiển. Như những luồng điện nó đi tứ tung trên trời ḿnh thấy không? Không. Mà có không? Có đầy đủ. Cho nên chúng ta không nên tin vào con mắt c̣n rất hạn chế của ḿnh. Có những cái hiện thực mà ḿnh chưa thấy được, chưa hiểu được. Thế nên chớ vội cho cái thấy nghe của ḿnh là đúng. Mới nghe đàng kia trở lại thuật lại đă trật lất rồi, nhiều khi c̣n dậm thêm một hai tiếng theo ư ḿnh nữa. Rơ ràng cái thấy nghe của kẻ phàm phu không có giá trị thực. Vậy nhờ Túc mạng minh và Thiên nhăn minh, đức Phật nói cho chúng ta biết thuyết luân hồi. Nghe thế rồi, ta tự kiểm điểm lại ḿnh xem điều đó có phải là lẽ thực không? Biết được lẽ thực rồi ḿnh phải làm sao? Tha hồ chạy đâu th́ chạy hay phải chọn đường mà đi? Phật dạy chúng ta phải chọn đường mà đi sao cho hiện đời được an ổn và mai kia cũng an ổn. Đó là tu. Tu là để cứu Phật hay cứu ḿnh? Nhiều người nói thương Phật quá nên tôi tu. Phật khổ cái ǵ mà thương? Chính ḿnh mới khổ đây nè. Ḿnh khổ, ḿnh thương ḿnh, ḿnh tu chớ không phải thương Phật. Chúng ta mang ơn Phật chỉ đường cho ḿnh tu, chớ không phải v́ Phật mà tu. Chúng ta tự kiểm điểm lại bản thân, xem hiện giờ ḿnh đă thực hiện được những ǵ Phật dạy, xứng đáng đi đường nào? Như vậy tự biết mai kia khổ hay vui rồi, đâu cần phải hỏi ai. Phật tử có bệnh cứ thắp nhang cầu Phật độ cho con đời sau được sung sướng, hết khổ. Ḿnh cứ tạo nghiệp ác mà cầu Phật độ, làm sao độ được? Đến thứ ba là Phật chứng được Lậu tận minh, Ngài thấy rơ nguyên nhân nào đưa con người đi trong sanh tử và nguyên nhân nào để dứt mầm sanh tử. Do thấy rơ như vậy nên sau đó đức Phật mới đi giáo hóa chúng sanh. Lần thuyết pháp đầu tiên Ngài nói pháp Tứ đế, là bốn chân lư chắc thật do đức Phật thấy như thế nên nói ra như thế. Đó là Khổ đế, Tập đế, Diệt đế, Đạo đế. Khổ đế là do Ngài chứng nghiệm được cảnh sanh, già, bệnh, chết của con người. Chúng ta có chấp nhận con người là khổ không? Những vị c̣n trẻ có lẽ chưa chấp nhận điều này đâu, v́ c̣n nhiều hạnh phúc. Nhưng Phật nói tất cả đều khổ. Tại sao? Dù thầy thuốc hay bác sĩ có chắc ḿnh khỏi đau khỏi già không? Có đau, có già th́ có khổ. Và cái khổ cuối cùng là khổ chết. Trong cuộc sống con người giành giựt để có miếng ăn no đủ cũng là khổ rồi, lại c̣n nội thân bệnh hoạn, già chết ụp tới không ai tránh khỏi. Như thế không khổ là ǵ? Khổ đế rồi tới Tập đế. Đó là nhân tạo khổ như tham, sân, si v.v… Muốn hết Tập th́ phải diệt nó, diệt hết tập th́ tự nhiên quả không c̣n. Diệt các thứ tập nhân khổ chính là diệt ư phân biệt phải quấy, hơn thua, làm phát sinh phiền năo tham, sân, si đó. Con đường tu rất rơ ràng. Nhiều người không hiểu, cứ ngỡ tu Phật là phải tích cực làm này, làm nọ, chớ ngồi thiền yên lặng cả ngày vô lư quá. Nhưng họ không ngờ chính đó là nhắm thẳng gốc để trị. Trị gốc được rồi th́ sẽ dứt nhân, quả theo đó cũng không c̣n. Quí vị làm lành th́ tốt sẽ được lên cơi lành. Nhưng ở cơi lành hưởng hết phước, không biết tu sẽ tuột xuống lại. C̣n người muốn dứt hết mầm sanh tử, luân hồi lên xuống th́ phải dứt ngay cái ư. Ư lặng được rồi th́ tâm định, tâm định mới không đi trong ṿng lục đạo nữa. Cho nên nói đạo Phật là đạo giải thoát. Giải thoát là dứt hết những mầm tạo nghiệp hoặc thiện hoặc ác để đi trong sanh tử. Cho nên Lục Tổ Huệ Năng dạy: “không nghĩ thiện, không nghĩ ác cái ǵ là bản lai diện mục của Thượng tọa Minh?”. Ngay đó Thượng tọa Minh liền ngộ đạo. Bây giờ quí vị ngồi năm ba phút không nghĩ điều ǵ hết, lúc đó có biết không? Cái biết ấy đâu phải do suy nghĩ mà có. Cái biết đó là biết thường xuyên của ḿnh, nhưng v́ chúng ta quên nên cứ sống theo cái suy nghĩ hoài. Cho nên Phật dạy ḿnh phải dừng những suy nghĩ đó lại th́ cái chân thật hiện ra. Đó là mặt thật xưa nay của ḿnh. Đơn giản không? Thế th́ quí thầy, quí cô ở chùa v́ quyết tu giải thoát nên phải tập ngồi thiền hoặc niệm Phật cho được nhất tâm. Nhất tâm th́ đâu c̣n nghĩ bậy, đó là nhân giải thoát luân hồi sanh tử. Quí Phật tử không theo đạo Phật th́ thôi, đă theo th́ phải nắm vững đường lối Phật chỉ dạy, tu cho đúng. Phải chọn con đường hợp với khả năng của ḿnh, từng bước tu tập theo lời chỉ dẫn của Phật. Có thế mới không sợ ngày mai đường trước tối tăm, không biết lối đi. Buổi nói chuyện tới đây cũng quá đủ rồi. Bao nhiêu đó nếu Phật tử khéo ứng dụng tu cả đời cũng chưa xong. Nói th́ mau nhưng hành rất lâu. Cần phải phát tâm dũng mănh, bền bỉ thực hành cho tới bao giờ thành tựu mới thôi. Chúc quí vị đều được mau chấm dứt khổ luân hồi sanh tử. ] PHẬT GIÁO THIỀN TÔNG THỰC TẾ ĐẾN KHÔNG NGỜ Trúc Lâm - Đà Lạt - 2001 Những năm cuối đời, những ǵ thấy hay tôi không c̣n nói ẩn khuất như trước nữa, mà nói rơ ra hết cho đại chúng nghe. Bởi v́ chúng ta tu nếu không nắm chắc, không biết rơ chỗ đến của ḿnh th́ đời tu sẽ bị trở ngại, bị nghi ngờ không tiến được. Thế nên hôm nay tôi sẽ giảng đề tài Phật giáo Thiền tông thực tế đến không ngờ, đại chúng chú tâm lắng nghe, lănh hội để tu hành. Ngày xưa tôi đọc lịch sử của đức Phật rất thắc mắc về điểm này. Khi Ngài đi tu, trải qua năm năm tầm đạo, sáu năm khổ hạnh trong rừng già, chịu bao nhiêu khó khổ, cũng chỉ v́ giải quyết vấn đề thoát ly sanh tử cho ḿnh và tất cả chúng sanh. Sau bốn mươi chín ngày đêm dưới cội Bồ-đề, Ngài giác ngộ viên măn, thành Phật. Lẽ ra đạt được mục đích tối hậu ấy xong, đức Phật liền thực hiện chí nguyện độ sanh ngay, nhưng Ngài lại trù trừ, không muốn đi giáo hóa. Măi cho đến khi trời Đế Thích, trời Phạm Thiên xuống đảnh lễ, tha thiết yêu cầu Ngài chỉ dạy chúng sanh, Ngài bảo: “Ta sợ nói ra, chúng sanh không hiểu”. Bấy giờ chư thiên năm lần bảy lượt xin Phật lập bày phương tiện để chỉ dạy chúng sanh. Được thế hy vọng lần lần họ sẽ hiểu. Từ đó đức Phật mới khởi sự đi đến vườn Lộc Uyển thuyết bài pháp đầu tiên là Tứ đế. Giáo pháp của Như Lai bắt đầu ra đời do nhân duyên ấy. Như vậy pháp Tứ đế là phương tiện độ sanh ban đầu của đức Phật. Thế th́ tại sao cái chân thật cứu kính Ngài thấy được lại không nói, mà phải dùng phương tiện? Tôi ngờ chỗ này, v́ ḷng từ bi của Phật tràn trề, những ǵ thấy được phải nói cho chúng sanh nghe, chỉ cho chúng sanh hiểu, sao lại không chịu nói thẳng, mà phải dùng phương tiện nói quanh co? Hay là Ngài đợi nài nỉ, yêu cầu mới thuyết pháp. Lúc trước tôi đă nghi xấu Phật như vậy đó. Đến bây giờ hiểu ra tôi mới nhận được chỗ thâm sâu của đức Phật. Thấy mà nói không được, hoặc nói người ta không nghe, không hiểu th́ làm sao nói! Bởi vậy Ngài trù trừ không muốn đi, không muốn nói. Đến khi chư thiên yêu cầu tha thiết giáo hóa chúng sanh, chừng ấy buộc ḷng Ngài phải dùng phương tiện. Thế nên biết giáo pháp của đức Phật, bắt đầu từ Tứ đế trở đi đều là phương tiện hết, chớ không phải là chỗ cứu kính. V́ thế sau này Phật nói pháp của Như Lai như ngón tay chỉ mặt trăng. Mặt trăng là chỗ muốn chỉ, nhưng nếu làm thinh không dùng phương tiện làm sao người ta thấy, buộc ḷng phải dùng ngón tay chỉ. Ngón tay chỉ mặt trăng, ngón tay là ngón tay, mặt trăng là mặt trăng, chớ ngón tay không phải là mặt trăng. Nhưng sau này chúng ta lại lầm cho ngón tay là mặt trăng, nên cứ bám vào chữ nghĩa để tu, không chịu thấy cái Phật muốn chỉ. Đó là lỗi do kẹt trong phương tiện mà quên chỗ cứu kính. Như vậy pháp Tứ đế là phương tiện, nhưng bây giờ được xem như bốn chân lư không thể nào thay đổi. Khi Phật giảng dạy cho năm anh em ông Kiều Trần Như, Ngài nói Tứ đế. Một là Khổ đế, đó là lẽ thực không ai chối căi hết. Khi mới sanh ra khóc oa oa là khổ, đến lớn lên bệnh đau khổ, đói khát khổ, giàu sang lo giữ ǵn khổ, có địa vị cao sợ mất khổ, ở địa vị thấp bị người hiếp đáp khổ… nói chung cuộc sống lúc nào cũng đau khổ. Rơ ràng có thân là khổ, không nghi ngờ ǵ hết. Hai là già khổ. Đă sanh ra, lớn lên tới một ngày nào đó cũng phải già. Già th́ yếu đuối, lụm cụm đau bệnh hoài, không c̣n tự tại, không làm chủ được thân nữa. Có thân mà không làm chủ được nó th́ rất khổ. Nên nói già khổ. Ba là bệnh khổ. Không phải đợi già mới bệnh mà trẻ cũng bệnh. Ai mang bệnh cũng đều rên khổ. Bốn là chết khổ. Ai trước khi chết cũng giật ḿnh giẫy giụa, thở không được, bứt rứt đau đớn rất khổ. Tóm lại bốn tướng khổ này không ai chối căi được. Đức Phật dùng phương tiện nói ra lẽ thật của cuộc đời, của con người cho chúng ta thấy. Khi ta chấp nhận điều này rồi, Ngài nói đến nguyên nhân có khổ. Đó là từ quả khổ Ngài phăng lần tới nhân, chỉ ra nỗi khổ kia không phải bỗng nhiên có. Nó từ tập nhân sanh. Tập nhân là ǵ? Là tham, sân, si, mạn, nghi, ác kiến v.v… tất cả các phiền năo. Ví dụ như tham. Chúng ta có thân là khổ nhưng muốn nó c̣n hoài, biết ăn cao lương mỹ vị hay sanh bệnh mà thích ăn ngon, biết đam mê nữ sắc là bệnh hoạn nhưng vẫn cứ đam mê măi. Tất cả nỗi khổ trước mắt đều v́ tham mà có. Bởi tham nên mới đ̣i hỏi, t́m kiếm, giành giựt. Đ̣i hỏi, t́m kiếm, giành giựt tất nhiên là chuốt đau khổ cho ḿnh, cho người. V́ nếu t́m kiếm mà bị ai chận đứng hay ngăn đón th́ nổi tức lên, sau đó làm đủ thứ chuyện tàn ác, hung bạo. Tham sân là cái khổ nổi dễ thấy. Nhưng sở dĩ có tham v́ gốc không biết được lẽ thật. Ví dụ như tham ăn, ta thích ăn ngon nên cứ tưởng tượng đến món ḿnh thích th́ thấy thèm. Bây giờ nếu chịu khó quán chiếu trở lại, món ăn đó ngon được bao lâu? Chỉ ở lưỡi một chút, nuốt vô khỏi cổ là hết thấy ngon. Nếu ăn hơi nhiều nhiều, lát sau ợ ngược, ợ xuôi c̣n hôi nữa. Như vậy nó có thật đâu. Vậy mà chúng ta hết thèm cái này, đến thèm cái kia, tại v́ cứ ngỡ nó ngon thật, không ngờ bên cạnh cái ngon có cái không ngon. Con người si mê cứ đuổi theo những thỏa măn tạm thời mà không thấy tai họa lâu dài. Phật gọi đó là si. Từ si mới có tham, có sân. Nhưng v́ tham sân dễ thấy, c̣n si ngầm bên trong khó thấy nên ta thường nghe nói tham sân si. Ba thứ này chính là nhân luân hồi. Tại sao? V́ tham sống nên mất thân này liền t́m thân khác. Do sân nên tạo nghiệp ác, vay trả trả vay nợ nần liên miên không dứt. Thế nên đời này có thân, đời sau tiếp tục có thân nữa để đền trả nợ cũ. V́ thế nói tham, sân, si, mạn, nghi, ác kiến… cho tới những phiền năo tế nhị hơn nữa đều là nhân đưa tới quả khổ. Bây giờ muốn tiêu diệt nhân đau khổ đó phải làm sao? Phật nói diệt hết nhân đau khổ th́ quả khổ không c̣n, đó là Diệt đế. Nhưng muốn diệt nó không phải ngẫu nhiên diệt được, mà phải có phương pháp tức là Đạo đế. Phương pháp Phật dạy ở đây là ba mươi bảy phẩm trợ đạo, như Bát chánh đạo v.v… Tu Bát chánh đạo là từ chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp cho tới chánh định. Chánh định là sao? Là dứt hết những mầm lăng xăng, lộn xộn trong nội tâm. Tới chánh định là tới chỗ không c̣n nghĩ suy, không c̣n phân biệt, không c̣n tưởng tượng điên đảo nữa. Trong bốn đế, Khổ đế là quả thực tế chúng ta thấy được. Từ phân biệt quả phăng lần tới nhân là Tập đế. Biết nhân tạo khổ rồi t́m cách diệt nhân đó là Đạo đế. Nhân đau khổ đă diệt hết gọi là Diệt đế. Diệt đế là Niết-bàn, bởi nhân đau khổ đă diệt tức đi tới chánh định, chánh định th́ đạt được Niết-bàn. Như vậy đức Phật đưa những phương tiện để chúng ta phân tích từ bên ngoài thân đến trong nội tâm. Thân này khổ là h́nh tướng bên ngoài, do nhân là nội tâm gây ra. Muốn diệt nhân ấy phải có phương pháp, đó là phương tiện. Đă dùng phương tiện để tu th́ cũng có quả phương tiện để chứng. Chứng phương tiện là ǵ? Nếu tu theo pháp Tứ đế th́ chứng từ Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền, Tứ thiền, rồi qua Không vô biên xứ, Thức vô biên xứ, Vô sở hữu xứ, Phi phi tưởng xứ, cuối cùng tới Diệt tận định, chứng A-la-hán. Nói theo Tứ quả Thanh văn th́ Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm, A-na-hàm, A-la-hán. Tu-đà-hoàn c̣n bảy phen trở lại thế gian tu nữa mới hết sanh tử. Tư-đà-hàm c̣n một phen trở lại nhân gian. A-na-hàm không trở lại nhân gian, mà sanh lên cơi trời tu tiếp, sau chứng A-la-hán. Nói theo thứ bậc Tứ thiền, Sơ thiền gọi là Ly sanh hỷ lạc. Ly là ĺa ngũ dục mà được vui. Nhị thiền gọi là Định sanh hỷ lạc, do tâm được an định, tự nhiên thấy vui. Tâm yên thấy vui đó là định sanh hỷ lạc. Tiến lên tới Tam thiền gọi là Ly hỷ diệu lạc. Nghĩa là ta bỏ cái vui của Ly sanh được cái vui của Định sanh, bây giờ cái vui của định cũng bỏ luôn, chỉ c̣n niềm vui nhè nhẹ thầm thầm bên trong gọi là Ly hỷ diệu lạc. V́ vui thô mất đi chỉ c̣n vui tế nên gọi là diệu lạc. Tiến lên Tứ thiền gọi là Xả niệm thanh tịnh địa, tức buông niệm. Niệm dấy lên liền buông, do buông niệm được yên nên gọi là Xả niệm thanh tịnh. Tu theo thứ tự từng bậc th́ như vậy. Cho nên người tu theo Thiền tông không nói cấp bậc ǵ cả, mà nhảy thẳng vào chỗ vô niệm, nghĩa là đi tắt ngang Xả niệm thanh tịnh. Như thế ngầm hiểu họ cũng trải qua các thứ lớp kia, nhưng không nói từng bậc chứng đắc. Bởi Phật nói tu Không vô biên xứ, Thức vô biên xứ, Vô sở hữu xứ, Phi phi tưởng xứ là bốn loại thiền ngoại đạo, nếu không tiến lên Diệt thọ tưởng định th́ không thể nhập Niết-bàn được. V́ vậy Phật khuyên các thầy Tỳ-kheo không nên đi theo con đường Tứ không, mà ngang tới Tứ thiền tu qua Tứ Diệu đế, chứng Tứ quả Thanh văn th́ tốt hơn. Nói về Tứ không, trước tiên là Không vô biên xứ. Đây là do hành giả dùng tưởng trống không, từ trống không nhỏ tới trống không lớn dần đến vô cùng vô tận, chứng đạt Không vô biên xứ. Bỏ cái không đó quay lại quán thức phân biệt của ḿnh. Biết thức phân biệt không có tướng mạo, từ phân biệt thân đến phân biệt tâm, cứ bủa ra khắp hết vô cùng vô tận, đạt được Thức vô biên xứ. Kế tiếp tưởng thân tâm không có ǵ hết, rỗng tếch không chỗ nơi, chứng đạt Vô sở hữu xứ. Dù tưởng rỗng tếch vẫn c̣n là tưởng, nên tiến lên Phi tưởng phi phi tưởng, nghĩa là không có tưởng mà không phải không tưởng. Đến đây không c̣n tưởng thô, tưởng không, tưởng thức mà có tưởng vi tế tức tưởng rỗng tếch, c̣n cái tưởng đó cũng phải bỏ, mới qua Diệt tận định. Diệt tận định c̣n gọi là Diệt thọ tưởng định. Thọ tức là cảm giác của sáu căn đối với sáu trần, tưởng là phần bên trong nội tâm. Trong nội tâm th́ lặng, ngoài đối với sáu trần không dính, tới đây nhập Diệt thọ tưởng định, chứng vô sanh tức quả A-la-hán. Tu theo Thiền tông không mắc kẹt ở Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền, mà đi thẳng vào Xả niệm thanh tịnh. Xả niệm thanh tịnh rồi lại tiếp tục tiến thẳng lên Diệt thọ tưởng định, chớ không qua Tứ không. Như vậy chỉ một bước buông niệm là thẳng tới Diệt thọ tưởng định. Đó là tôi đối chiếu giữa Thiền tông với thiền Nguyên thủy, tu theo Tứ đế. Trên đường tu nếu theo cấp bậc th́ thấy được quả này, quả kia. Nhưng thấy “được” th́ dễ mắc kẹt trong chứng đắc lắm, chấp bữa nay tôi chứng Sơ thiền rồi, tâm ngă mạn theo đó phát sanh. C̣n tu thấy niệm dấy khởi liền bỏ, không nói chứng th́ không có ǵ để chấp, nhờ thế tâm ngă mạn không phát sanh. Khi nào các niệm lặng hết, muôn duyên bên ngoài không dính, nội tâm không kẹt, không động, đó là vô sanh, không nói Niết-bàn mà đă nhập trong Niết-bàn. Đây là gốc của sự tu. Thật ra cấp bậc đều là giả danh, cái hiểu, cái sống thực bên trong mới quan trọng. Phật v́ phương tiện lập ta cấp bậc để chúng ta dễ tu, đó không phải là mục đích cứu kính. Nhưng v́ không hiểu, ta lại chấp phương tiện ấy là chân lư nên không nhận ra được chỗ chân thật đức Phật muốn chỉ bày. Lại chỗ chân thật ấy không có tướng mạo nên không thể chỉ thẳng, dùng ngôn ngữ người ta càng không biết, do đó buộc ḷng đức Phật phải dùng phương tiện nói quanh co. Ai nhận được th́ tu đúng với tông chỉ của Phật, đạt được kết quả viên măn. Thế nên phương tiện chỉ giúp chúng ta trong một giai đoạn nào thôi, phải cố gắng tiến lên nữa, đừng để mắc kẹt trong phương tiện. Nếu chúng ta c̣n kẹt nơi chứng đắc là c̣n toan tính, c̣n trông đợi. Mà toan tính trông đợi th́ tâm làm sao yên. Đi tới cứu kính th́ phải hoàn toàn vắng lặng mọi suy tư phân biệt, tâm lặng lẽ thanh tịnh mới thể nhập được chỗ chân thật bất sanh bất diệt. Trở lại vấn đề của đức Phật. Khi nhận ra được cái chân thật ai cũng có sẵn nhưng v́ quên nên chúng sanh măi ch́m đắm trong sanh tử, đức Phật không biết nói sao cho chúng sanh hiểu. Cho nên Ngài do dự chần chừ chưa muốn nói, sợ họ không tin. Như nói thân này giả, thế gian có chấp nhận đâu, họ c̣n cười nữa là khác. Như vậy làm sao giáo hóa? Thật là khó. V́ vậy Phật mới nghĩ ra Tứ đế, chỉ cho thấy thân này có một, hai, ba, bốn thứ khổ. Chúng sanh tin rồi mới dẫn lần lần đi tới chỗ thân không thật. Nên giáo pháp là phương tiện, là ngón tay chỉ mặt trăng thôi. Trải qua bao nhiêu năm trời dẫn chúng sanh đi trong phương tiện, sau khi họ đă thuần thục, đức Phật mới nói thẳng phương tiện ấy không thật, cái thật ở chỗ này nè. Giống như ngón tay không phải mặt trăng, nhưng v́ muốn thấy mặt trăng phải nương ngón tay, song nhớ đừng chấp ngón tay là mặt trăng. Khi nhận thấy căn cơ của một ít đồ đệ đă chín mùi, một hôm trên hội Linh Sơn đức Phật họp tất cả chư Tăng lại, Ngài thăng ṭa không nói ǵ, chỉ cầm cành hoa sen đưa lên, rồi nh́n từng người xem ai hiểu điều ḿnh muốn nói. Nh́n tới ngài Ca Diếp, thấy Ca Diếp mỉm cười, Phật rất vui. Đây thật là người đă chín mùi, đă hiểu được, đă thấm được. V́ thế sau này các Tổ thường dùng câu “bốn mắt nh́n nhau”, nguyên văn chữ Hán là tứ mục tương cố. Khi Phật đưa cành hoa sen lên, rồi nh́n khắp một lượt hội chúng, ai cũng ngơ ngác. Đến ngài Ca Diếp, hai thầy tṛ bốn mắt nh́n nhau thông cảm nên Tôn giả mỉm cười. Như vậy tứ mục tương cố để chỉ cái ǵ? Điều này trong nhà Thiền gọi là bí mật không thể nói được. Nhưng thật ra đâu phải bí mật ǵ, chẳng qua mở miệng th́ sai nên làm thinh vậy thôi. Phật đưa hoa sen lên là gợi cho hội chúng khởi chú tâm nh́n hoa sen. Bấy giờ Thế Tôn xem xét trong hàng đệ tử thấy mọi người không biết ǵ hết, tất cả đều nh́n chăm chăm vào hoa sen. Riêng ngài Ca Diếp khi thấy hoa sen, cùng lúc bắt gặp ánh mắt của Phật chạm tới, Ngài liền cười, Phật vui lên liền và ấn chứng cho ngài Ca Diếp. Đó là thông cảm. Như vậy mắt Phật nh́n, mắt ngài Ca Diếp nh́n, bốn mắt gặp nhau hiểu nhau nên mới mỉm cười. Như vậy Phật muốn chỉ cái ǵ? Đây là vấn đề hết sức sâu thẳm mà cũng hết sức giản đơn. Như tôi đă nói khi tất cả các niệm diệt hết là chứng diệt tận định. Nếu trong tâm an định rồi, hành giả nh́n thấy sự vật bên ngoài có dấy niệm không? Không dấy. Bên trong lặng th́ đối với cảnh bên ngoài cũng lặng. Trong lặng, ngoài lặng lúc này c̣n cái ǵ? Chỉ một cái trong lặng. Tôi thường nói như quí vị ngồi năm ba phút không một ư nghĩ nào dấy lên, lúc đó có biết không? Biết rơ ràng. Tiếng chim kêu ḿnh nghe, bóng người đi ḿnh thấy. Thấy biết rành rẽ cái nào ra cái ấy, biết mà không dấy động, lặng yên hằng tri giác. Cái biết đó không động cũng không có tướng nên nó không sanh diệt. Nhưng chúng ta có bệnh vừa thấy th́ phân biệt tốt xấu, vừa nghe th́ phân biệt hay dở, rồi quên cái thấy nghe ban đầu của ḿnh. Nắm bắt theo sắc tướng âm thanh bên ngoài thành ra điên đảo. Hiện giờ ai không có cái biết hiện tiền ấy? Thấy tức là biết, biết tức là tâm. Như vậy khi ở trong lặng được vọng tưởng rồi, bên ngoài đối duyên xúc cảnh, sáu căn không bị dính kẹt với sáu trần, lúc đó ta là Phật hiện tiền chớ c̣n ǵ nữa! Nhưng nói thế thiên hạ không chịu đâu, phải có hào quang, có hoa sen hiện ở trên trời, trên mây mới được. Cái biết rơ ràng nơi mắt, đó là cái thật của ḿnh mà chúng ta coi thường, không chịu nhận. Nh́n cây tùng nói nó dáng con ǵ, vật ǵ th́ thích lắm, chớ nói cây tùng là cây tùng th́ không chịu. Phật nói chúng sanh điên đảo là v́ vậy, không bao giờ chấp nhận sự thật, chấp nhận sự hiện hữu của ḿnh và muôn vật đúng ở vị trí của mỗi thứ. Trong hội Linh Sơn, đức Phật đưa cành hoa lên là muốn chỉ cái Ngài đă ấp ủ từ trước tới giờ, đó chính là tâm hiện tiền chân thật đầy đủ nơi mỗi người, là tánh thấy tánh nghe hằng tri hằng giác. Mọi người đều có tánh thấy, tánh nghe, tánh biết mà không chịu nhận, cứ chạy theo những thứ giả tạm bên ngoài. Phật muốn chỉ thẳng nhưng không làm sao chỉ được, buộc ḷng phải nói quanh co, đủ thứ phương tiện. Chờ đến nhân duyên chín mùi Ngài mới chỉ thẳng bằng cách đưa cành hoa lên. Ở đây đức Phật cốt làm cho hội chúng nhận ra tánh thấy hằng hữu nơi ḿnh, nhưng tất cả đều ngẩn ngơ chứng tỏ không biết ǵ. Tới ngài Ca Diếp nh́n thấy liền cười v́ Ngài nhận biết chỗ Phật muốn chỉ, đó là Ngài đă ngộ nên được đức Thế Tôn ấn chứng. Qua câu chuyện trên, chúng ta thấy Phật đă cố gắng chỉ cái chân thật cho ḿnh, chớ không muốn che giấu làm ǵ. Nhưng v́ ta không lănh hội thôi, cứ theo kinh mà hiểu, kẹt trong văn tự chữ nghĩa nên không thấy được cái sâu kín bên trong. Sau khi Phật nhập Niết-bàn rồi, tôn giả A-nan hỏi ngài Ca Diếp: - Thưa sư huynh, đức Thế Tôn truyền y kim lang cho sư huynh, ngoài ra c̣n có truyền cái ǵ khác không? Ngài Ca Diếp kêu: - A-nan. Ngài A-nan ứng thinh: - Dạ. Ngài Ca Diếp bảo: - Cây phướn trước chùa ngă. Nhưng thật ra lúc ấy cây phướn có ngă đâu. Như vậy mới biết rằng trọng tâm là vừa kêu liền ứng thinh dạ, đó là tánh nghe hằng hữu. Cái biết từ lỗ tai không có suy nghĩ, nghe kêu th́ lên tiếng, chứng tỏ cái biết ấy luôn sẵn nơi ta. Đó là ngài Ca Diếp đă trả lời cái đức Phật truyền cho ḿnh rồi, ngay đó ngài A-nan liền nhận được. Người xưa có cố t́nh giấu giếm ḿnh ǵ đâu, chỉ v́ không nói được. Bởi nói ra là trật, chỉ c̣n thuật kêu thôi. Khi ngài ca Diếp kêu, A-nan ứng thinh “dạ”, cả hai bên đều không khởi suy nghĩ mà nghe biết rơ ràng, hiện tiền nơi sáu căn của chúng ta. Đó là điều cốt tủy đức Phật đă để lại và chư Tổ tiếp nối truyền trao cho đến ngày nay. Chúng ta thấy từ Phật tới Tổ Ca Diếp chỉ truyền một thứ, không có khác. Nếu khác chăng th́ ở mắt hoặc tai thôi, chớ không có hai pháp. Các Ngài cố chỉ cái biết thật của ḿnh, c̣n cái biết hơn thua, phải quấy là cái biết của thế gian không thật, biết qua bóng dáng vô thường. Cái biết thật là biết trực tiếp không qua h́nh ảnh ngôn ngữ nào hết. Đó là chỗ thiết yếu chư Phật Tổ đă truyền lại cho chúng ta. Thế th́ chỉ “cái đó” gần hay xa, có quyền bí ǵ không? Các Ngài chỉ ra một cái thực tế sẵn nơi ḿnh mà chúng ta không thể tưởng tượng nổi, nên không ai dám nhận “cái đó” của ḿnh hết. Đó là giai đoạn đầu từ Phật tới Tổ. Qua giai đoạn kế là các Tổ sau này truyền thừa cho nhau, đi quanh co đến đâu rồi cũng trở về chỗ đó. Tổ thứ ba là Tổ Tăng Xán. Ngài có làm bài “Tín tâm minh”. Mở đầu thế này: Đại đạo vô nan, Duy hiềm giản trạch Bao nhiêu đó thôi đă nói hết rồi. Đạo ở đây là lấy từ của bên Lăo giáo. Lăo giáo nói đạo là chỗ không c̣n ngôn thuyết, không c̣n nói năng, là chân lư tuyệt đối. Như vậy chân lư cuối cùng chúng ta gọi là đại đạo. Đại đạo không khó, mà khó là tại giản trạch, phân biệt. Cứ nghe gọi trực tiếp trả lời, đưa cái ǵ lên trực tiếp thấy, đó là đại đạo. C̣n bước qua cái suy nghĩ thứ hai th́ mất đại đạo. Bởi vậy có người hỏi ngài Triệu Châu: “Thế nào là đại đạo? Ngài trả lời: “Đại đạo là con đường cái”. Đại đạo ở ngay trước mắt không chịu hỏi, tức nhiên phải chỉ đường cái ngoài kia. Người sau cứ như vậy mà ṃ nên ṃ không ra. Đến ngài Triệu Châu hỏi ngài Nam Tuyền: “Thế nào là đạo?” Ngài Nam Tuyền đáp: “B́nh thường tâm thị đạo”, tức tâm b́nh thường là đạo. Tâm b́nh thường là sao? Chúng ta có tâm b́nh thường không? Có mà không biết giữ nên thành không. Vậy tâm b́nh thường là tâm ǵ? Là tâm không nghĩ thiện, không nghĩ ác, không nghĩ phải, không nghĩ quấy… tất cả cái nghĩ hai bên đều không có. Thế th́ hiện giờ chúng ta có tâm đó không? Ai cũng thừa nhận có mà không sống được với nó v́ bỏ quên lâu quá, bây giờ không nhận ra nữa. Bởi vậy tôi nói chúng ta là những kẻ rất phủ phàng, rất tệ bạc. Phũ phàng ai? Phũ phàng ḿnh. Cứ xách gói đi đầu này học đạo, đầu kia học đạo, cầu khẩn lạy lục muốn u đầu sức trán mà t́m vẫn không ra. Nghe chỗ nào linh thiêng liền chạy đến, rốt cuộc cái sẵn có bên ḿnh lại quên, không phũ phàng là ǵ? Chúng ta thường gọi những người điên là bất b́nh thường. Bây giờ tâm ḿnh đang b́nh thường, tự nhiên khởi nghĩ lăng xăng là bất b́nh thường, như vậy ḿnh có điên không? Bởi vậy Phật nói chúng sanh điên đảo. Rơ ràng đang sống b́nh thường bỗng dấy niệm chạy tứ tung, rồi kềm đè. Khổ chưa? Chúng ta tu mà không chịu sống với tâm b́nh thường, nên trở thành điên đảo, nhưng ai nói ta điên th́ tức lộn ngược lên. Thế là điên lại càng điên. Phật đă chỉ rơ ràng tâm b́nh thường là đạo, nhưng chúng ta chạy t́m cuốn kinh này, quyển luận kia đọc đau cả đầu, suy nghĩ nát óc. Đọc hết ba tạng kinh rốt cuộc rối ren thêm nhiều, chớ không nhận được cái b́nh thường. Tâm b́nh thường là đạo, hết sức đơn giản, ai cũng có nhưng tại chúng ta muốn phi thường cho oai, thành ra trở thành bất b́nh thường. Tâm b́nh thường là tâm không nghĩ phải quấy, hơn thua, tốt xấu… Thấy biết, nghe biết, đói biết, no biết mà không nghĩ suy ǵ hết, đó là tâm b́nh thường. Cả ngày đi đứng nằm ngồi, sống như mọi người mà tâm không dấy động nên các Thiền sư thường dùng từ như ngây như ngô, không lanh lẹ như người thế gian. Chúng ta lanh lẹ quá, vừa động tới liền nghĩ đông, nghĩ tây. Nói một hiểu hai ba, thành ra phiền năo điên cả đầu. Nhiều người ôm đầu nói tôi khó ngủ quá, nghĩ tứ tung hết làm sao ngủ được. Mă Tổ ngày xưa khi thấy một vị tăng thường ngồi thiền ở hành lang, Ngài tới nắm lỗ tai thổi phù không cho ngồi. Ai không hiểu cứ nghĩ ông già chơi kỳ cục! Bởi chính Mă Tổ lúc đầu ngồi thiền tinh tấn lắm, sau này ngài Hoài Nhượng tới thử mới biết Mă Tổ chưa thông, v́ kẹt trong cái ngồi. Đến khi đắc pháp nơi Tổ Hoài Nhượng rồi, hễ thấy ai ngồi thiền, Ngài liền tới thổi. Tại sao? Bởi nếu chấp cho ngồi là thiền, đó là giết thiền. Phải biết đi đứng nằm ngồi đều là thiền, chớ không phải chỉ có ngồi mới thiền. Chúng ta đi đứng nằm ngồi trong bốn oai nghi đừng có tâm lăng xăng, sống với tâm b́nh thường th́ không ngồi thiền, ngồi nhổ cỏ chơi cũng vẫn thiền như thường. Song nếu chưa sống với tâm b́nh thường th́ phải ngồi thiền. Tổ sư muốn chỉ cho chúng ta thấy Thiền là vô tâm trong tất cả chỗ, tất cả thời. Vô tâm là không có tâm chạy theo, nhưng vẫn có tâm b́nh thường. Không nghĩ suy phân biệt mà vẫn thấy biết rơ ràng gọi là vô tâm. Nên nói nếu được tất cả chỗ vô tâm th́ tất cả chỗ là đạo. Chúng ta đi đứng nằm ngồi có khi chạy lên cơi trời, có khi chui xuống địa ngục, có khi làm thánh hiền, có khi làm tướng cướp đủ thứ hết. V́ vậy mà trôi lăn trong lục đạo măi. Người sống với tâm b́nh thường th́ không tạo nghiệp. Không tạo nghiệp đâu cần cầu giải thoát, nên chư Tổ thường hỏi ai trói buộc ngươi, không ai trói buộc, cầu giải thoát làm ǵ cho dư. Nói chuyện nghe lạ tai, nhưng xét kỹ thật là thực tế một trăm phần trăm. Phật Tổ dạy chúng ta bỏ tâm rối loạn lăng xăng điên đảo để sống với tâm b́nh thường sẵn có. Đó là một chuyện hết sức thực tế, chớ không phải viển vông mơ hồ ở đâu đâu. Rơ ràng chủ trương đường lối của các Ngài hết sức cụ thể, hết sức thực tế nhưng rất tiếc chúng sanh bị nhiễm thuốc điên lậm quá, chạy loạn tứ tung hết, không kềm chế nổi rồi than khó tu quá. Chúng ta sống được với tâm b́nh thường, dù không cầu giải thoát tự nhiên cũng giải thoát. Bởi ta đâu có tạo nghiệp. Quí vị thử một ngày sống tâm b́nh thường xem có tạo nghiệp ǵ không? Giả sử ta lỡ dẫm chết con kiến cũng không bị định nghiệp. Tại sao? Bởi v́ nghiệp do ư niệm xấu dấy lên, rồi miệng nói thân làm. Nếu thân làm mà tâm không dấy th́ không thành định nghiệp. Nói đến đây, tôi nhớ Sơ Tổ Trúc Lâm ngày xưa hết sức kỳ đặc. Khi ở ngôi vua Ngài đă thâm nhập được lư Thiền, hiểu Phật pháp rất sâu. Lúc quân Nguyên kéo binh qua xâm lược nước ta, Ngài biết nếu ra lệnh cho quân dân đánh giặc th́ phạm tội sát sanh, ḿnh giết hoặc dạy người giết. Bây giờ làm sao? Chỗ này Ngài giải quyết rất lư thú, nhưng chúng ta ít để ư đến. Ngài nghĩ ḿnh là người chịu trách nhiệm với muôn dân, ra lệnh th́ người ta làm. Nhưng ra lệnh đánh giặc tức là cố ư sát hại, như vậy ư nghiệp đă thành. Ư cộng với miệng thân nữa th́ định nghiệp không thể chuyển. Nên Ngài họp tất cả tướng sĩ lại trưng cầu ư kiến, do đó mà có hội nghị B́nh Than. Ngài hỏi: - Giặc tới muốn cướp nước ta, vậy nên đánh hay nên ḥa? Tất cả tướng sĩ đồng thanh hô to: - Đánh. Đó là lệnh của tướng sĩ bảo phải đánh, chớ không do ư của Ngài. Hỏi tướng sĩ không chưa đủ, Ngài triệu tập hết các bô lăo trong nước họp hội nghị Diên Hồng, hỏi: - Giặc đến muốn cướp nước ta, nên đánh hay nên ḥa? Các bô lăo cũng khẳng định dứt khoát: - Đánh. Như vậy được lệnh của tướng sĩ, được lệnh của nhân dân, Ngài chỉ làm theo mệnh lệnh thôi, chớ đâu phải Ngài ra lệnh. Chúng ta thấy Ngài khôn chưa? Vừa tránh được định nghiệp cho ḿnh, lại vừa rất dân chủ, được mọi người quí kính. Thật quá ư là khéo! Cho nên tuy đánh giặc, có thương tổn đến nhiều sinh mạng, mà ngài không bị định nghiệp, sau này ngộ đạo thành Tổ. Hiểu như vậy chúng ta mới giải thích được chỗ này, nếu không sẽ lúng túng khi bị hỏi “Một ông vua cầm quân đánh giặc giết bao nhiêu người, lẽ ra phải đọa địa ngục, sao lại thành Tổ?” Bất cứ tội nào cũng vậy, ư nghiệp là gốc. Nếu phạm mà không có ư nghiệp th́ tội ấy có thể chuyển được. V́ vậy về sau Ngài nỗ lực tu hành, cứu dân độ thế để chuyển những tội bất đắc dĩ trước kia Ngài đă gây tạo. Đó là chỗ hay đáo để của Tổ. Khi nói đến chỗ chân thật, nó gần gũi thực tế làm sao. Bởi vậy có nhiều Thiền sư ngộ đạo la lên khiến huynh đệ giật ḿnh, hỏi: Huynh thấy cái ǵ mà ngộ? Trả lời: Nếu sớm biết đèn là lửa, cơm chín đă lâu rồi. Nghĩa là sao? Ở nhà quê người ta thường đốt đèn trên bàn thờ, vậy mà tới giờ nấu cơm không nhớ nhà ḿnh có lửa, chạy qua hàng xóm xin lửa về nhúm, thành ra trễ mất nồi cơm. Đến khi nh́n lên bàn thờ thấy cây đèn mới tiếc phải hồi năy biết ngay đèn lấy lửa th́ nồi cơm đă chín lâu rồi. Cũng thế, nếu sớm biết ḿnh có Phật sẵn th́ sự tu hành đă thành tựu từ lâu. Một vị khác ở giữa chúng la lên “Tôi ngộ rồi. Tôi ngộ rồi”. Quí thầy chạy lên bạch với Ḥa thượng. Ḥa thượng kêu lên hỏi: Ông ngộ cái ǵ? Trả lời: Ni sư là cô gái làm ra. Ḥa thượng gật đầu. Đơn giản làm sao! Ngoài cô gái kiếm Ni sư có không? Không. Vậy cô gái đó là Ni sư chớ ai. Một điều đơn giản, thực tế mà không ai dám nh́n, không ai dám biết, cứ t́m kiếm ở đâu đâu. Trước kia chúng ta đi tu cũng không ngờ như thế, cứ tưởng Phật trên cơi Cực Lạc, chớ không ngờ ở ngay nơi ḿnh. Bây giờ biết ra th́ quá gần. Như vậy từ Phật tới Tổ truyền bá Thiền tông một mạch, đều chỉ thẳng tâm b́nh thường là đạo, chớ không có ǵ khác. Nhưng trải qua những giai đoạn tu tập gian khó tới cuối cùng chúng ta mới thấy được điều đó. Tại v́ ḿnh điên đảo quá nặng, quá đậm nên gở khó, thành ra việc tu chậm tiến. Tối ngồi thiền vừa nhớ vọng tưởng liền bỏ, vậy mà bỏ hoài vẫn không hết. Tại sao? V́ khi ngồi th́ bỏ, khi chạy ra th́ thâu vô. Sáng thâu vô chiều bỏ ra. Tối bỏ sáng thâu, cứ như vậy hoài một đời bỏ cũng không hết. Bây giờ làm sao ngồi bỏ, đi đứng cũng bỏ, tiếp duyên xúc cảnh đều buông luôn, như vậy tu mới có kết quả. Người tu muốn đến nơi đến chốn phải cố gắng buông xả các thứ lăng xăng lộn xộn trong tâm, đừng để dính kẹt bất cứ thứ ǵ. Ai buông bỏ hết thị phi, tốt xấu th́ trở về không khó khăn chút nào hết. Việc tu thực tế như vậy, chỉ là trở về với cái thật của chính ḿnh thôi. Bây giờ tôi nói đến những cái “không ngờ”. Trước khi nói điều này, tôi dẫn kinh Kim Cang. Bản kinh tuy dài nhưng trọng tâm không ngoài hai câu hỏi của ngài Tu Bồ Đề: “Người phát tâm cầu Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác làm sao hàng phục được tâm, làm sao an trụ được tâm?” Phật trả lời cách an trụ tâm trước: “Người phát tâm cầu Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác không nên đối với sắc sanh tâm vướng mắc, không nên đối với thanh, hương, vị, xúc, pháp sanh tâm vướng mắc. Phải ở chỗ không vướng mắc mà sanh tâm ấy”. Tức an trụ ngay chỗ không vướng mắc gọi là tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, nghĩa là không cho vướng mắc với sáu trần. Phật trả lời cách hàng phục tâm là đưa tất cả chúng sanh hữu sắc, vô sắc, hữu tưởng, vô tưởng, phi hữu sắc, phi vô sắc, phi hữu tưởng, phi vô tưởng đều vào Vô dư Niết-bàn. Độ tất cả chúng sanh mà không thấy có chúng sanh được diệt độ. Chúng sanh hữu sắc là dấy niệm nhớ tới h́nh ảnh người. Chúng sanh vô sắc là dấy niệm nhớ tới chuyện phải quấy, tốt xấu. Tất cả những hữu tưởng, vô tưởng, h́nh ảnh, tâm niệm, không h́nh ảnh, không tâm niệm v.v… đều đưa vào Vô dư Niết-bàn. Niết-bàn có hai: Hữu dư y và Vô dư y. Hữu dư y là c̣n thân mà tâm được hoàn toàn thanh tịnh, không sanh diệt. Vô dư y là không c̣n thân và lặng hết mọi sanh diệt. Tất cả chúng sanh lăng xăng đưa vào Vô dư y, tức trong tâm không c̣n h́nh bóng, không c̣n sanh diệt ǵ hết. Hồi xưa tôi thắc mắc Phật bảo độ tất cả chúng sanh vào Vô dư y Niết-bàn. Nếu có Phật tôi sẽ thưa: “Bạch Thế Tôn, con chưa được Niết-bàn làm sao độ tất cả chúng sanh vào Niết-bàn được?”. Nhưng bây giờ mới hiểu Vô dư y Niết-bàn là chỗ không c̣n niệm sanh diệt, mà niệm sanh diệt là chúng sanh. Chúng sanh lặng hết không c̣n sanh diệt tức là vào Vô dư y Niết-bàn. Khi tâm lặng rồi không c̣n thấy có chúng sanh được diệt độ. Chỗ này thâm trầm làm sao! Chúng ta tu muốn đến chỗ cứu kính, ở trong độ tất cả những chúng sanh vào Vô dư y Niết-bàn, ở ngoài đối với sáu trần không dính mắc. Đó là được tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. V́ vậy khi Lục Tổ Huệ Năng nghe tới câu “ưng vô sở trụ” nghĩa là không dính mắc vào bất cứ sắc trần nào, đó là Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Ngài liền thốt lên: không ngờ tánh ḿnh vốn tự thanh tịnh, không ngờ tánh ḿnh vốn không sanh diệt, không ngờ tánh ḿnh vốn tự đầy đủ, không ngờ tánh ḿnh vốn không dao động, không ngờ tánh ḿnh hay sanh muôn pháp. Ngài thốt luôn năm cái “không ngờ”. Nghe Tổ Giảng tới đây, chính Ngài cũng không ngờ bản tánh của ḿnh như thế. Tánh là ǵ? Tánh là cái có sẵn, c̣n đợi duyên hợp mới có là tướng chớ không phải tánh. Cho nên nói các pháp duyên hợp không tự tánh tức là các pháp không sẵn có, đợi duyên hợp mới có. C̣n tánh giác của chúng ta có sẵn, không phải đợi duyên hợp. Các pháp duyên hợp mới có là không tự tánh, c̣n chúng ta sẵn tánh giác là có tự tánh. Cho nên trong kinh Hoa Nghiêm có phẩm “Hạnh anh nhi” nói về tự tánh của chúng ta. Giống con nít vừa lọt ḷng mẹ là khóc oa oa, không cần ai dạy nó. Biết khóc oa oa là biết. Rồi biết ḅ, biết đi là tự biết, không phải đợi dạy mới biết. Cái biết có sẵn như thế gọi là tánh. Cũng thế, tánh giác ai cũng có sẵn, nhưng không ngờ khi thấy mới biết nó tự thanh tịnh. Chúng ta sống với tâm b́nh thường không động, trong sạch, không có hơn thua th́ làm ǵ có phiền năo. Cho nên tâm b́nh thường là tâm thanh tịnh. Nên Tổ bảo không ngờ lâu nay ḿnh đă có sẵn tâm thanh tịnh ấy. Đó là “không ngờ” thứ nhất. Không ngờ tánh ḿnh vốn không sanh diệt. V́ tâm ấy không khởi niệm, mà không khởi niệm th́ không sanh diệt. Đó là “không ngờ” thứ hai. Không ngờ tánh ḿnh vốn tự đầy đủ. Bởi ta đă có sẵn tánh ấy từ hồi bé tới bây giờ, chớ đâu phải mới có đây. Đó là “không ngờ” thứ ba. Không ngờ tánh ḿnh vốn không dao động. Tánh đó vốn không dao động, không nghĩ suy ǵ. Đó là “không ngờ thứ tư. Không ngờ tánh ḿnh hay sanh muôn pháp. Từ cái không dao động, không nghĩ suy lại hay sanh ra muôn pháp. Cho nên gọi Chân không mà Diệu hữu, nghĩa là không có một cái ǵ mà sanh ra tất cả. Đó là “không ngờ” thứ năm. Như trên tôi đă nói Phật giáo Thiền tông thực tế đến không ngờ, nói đủ là Phật giáo Thiền tông thực tế đến nổi không thể ngờ. Chính Tổ thấy được như vậy nên đă thốt lên tới năm lần “không ngờ”. Nếu ngày nào chúng ta ngộ được cũng sẽ thốt lên “không ngờ” như Tổ. Vậy Thiền tông dạy chúng ta tu để làm ǵ? Chỉ trở về với cái thực của chính ḿnh. Chúng ta đang có cái ấy mà quên, đi xin đi t́m chỗ khác, như vậy gọi là ǵ? Phật gọi là vô minh, tức không sáng hay nói cách khác là ngu si, điên đảo. Có mà không chịu nhận chạy t́m nơi này, nơi kia v́ vậy mà khổ sở; chớ thật ra Phật, Tổ đă chỉ dạy rơ ràng, không giấu chúng ta tí nào hết. Như vậy hệ thống Thiền tông này phát nguồn từ chỗ đức Phật do dự không muốn nói, c̣n những hệ thống khác là Phật phương tiện mà nói. Đă là phương tiện th́ không phải thật, c̣n chỗ thật th́ không có lời. V́ vậy các Thiền sư khi muốn chỉ chỗ này thường đánh, hét, nạt v.v… mà không nói một lời. Bởi v́ mở miệng là hai bên, mà hai bên th́ mất cái thật rồi. Hiểu như vậy mới thấu đáo được ư nghĩa Thiền. Chỗ này chúng ta phải nắm cho thật vững. Để kết thúc buổi nói chuyện hôm nay, tôi lặp lại chúng ta tu biết vọng không theo là đi tắt ngay chặng Xả niệm thanh tịnh, để tới chỗ vô sanh là Diệt tận định. Tuy nhiên chỗ này vẫn c̣n một chút phương tiện, v́ c̣n thấy vọng và c̣n cái biết vọng là đối đăi, nên c̣n phương tiện. Tới chỗ cứu kính th́ “Trong không động, ngoài không dính”. Trong không động là trong không khởi niệm, ngoài không dính là sáu căn không dính với sáu trần. Nhưng v́ trong giai đoạn đầu mới công phu, chúng ta c̣n động nhiều, buộc ḷng phải rầy, cho nên có phương tiện đối đăi, có trâu có chăn. Đến khi trâu hết th́ chăn cũng không c̣n, đó mới là chỗ chân thật. Song đến đây cũng chưa là cứu kính, mà phải thấy rơ ḿnh luôn hiện hữu, không vắng bóng tri giác lúc nào hết. Cái tri giác ấy không dấy động ở trong, không dính kẹt ở ngoài. Sống như vậy là sống đúng với cái chân thật của ḿnh. Nếu tu tập thấy đến nơi đến chốn rồi, phối hợp lại các kinh Phật dạy, chúng ta thấy thiền và kinh không hai không khác. Trên phương tiện chỉ bày có sai biệt, nhưng chỗ cứu kính cũng gặp nhau thôi. Đó là điều chúng ta cần phải hiểu cho tường tận. ] TẬP NGHIỆP TV. Trúc Lâm - Đà Lạt 2001 Trọng tâm bài này tôi nói về nghiệp tập. Nghiệp tập là nói theo chữ Hán, chữ Việt gọi là tập nghiệp, do huân tập trở thành nghiệp. Thiền sư thứ ba ở Trung Quốc là Tổ Tăng Xán. Lúc bị bệnh cùi, mọi người khinh chê xa lánh nên Ngài rất buồn tủi. Nghe Tổ Huệ Khả truyền bá Phật pháp, Ngài t́m tới. Khi gặp Tổ ngài thưa: “Bạch Ḥa thượng, con nghiệp chướng nặng nề nên mang bệnh nan y, xin Ḥa thượng dạy con phương pháp sám hối”. Ngài nói rất hiền lành, thật thà. V́ nghe người ta nói do nghiệp chướng sâu dày mới mắc phải bệnh nan y. Do đó Ngài cầu Tổ dạy phương pháp sám hối cho tiêu tội, hết bệnh. Bấy giờ tổ Huệ Khả cũng dùng thuật của tổ Đạt-ma, nh́n thẳng vào mặt Tăng Xán bảo: “Đem tội nghiệp ra Ta sám cho”. Ngài Tăng Xán quay lại t́m, t́m măi không thấy tội nghiệp ở đâu nên thưa: “Bạch Ḥa thượng, con t́m tội không được”. Tổ bảo: “Ta đă sám hối cho ngươi rồi”. Nghe vậy Ngài biết được đường vào. Tổ bảo đem tội nghiệp ra Ngài sám cho. Ngài Tăng Xán t́m không thấy tội, làm sao đem được, như vậy Tổ đă sám cho rồi. Biết đường vào là đường đi đâu? Khi Ngài quay lại t́m tội nghiệp mà Ngài cho là thật th́ không thấy tâm dạng nó ở đâu. Do thấy nó thật mới sanh ra bệnh hoạn, bây giờ t́m lại không thấy nó nữa. Như vậy tội nghiệp có hay không? Nếu không làm sao mang bệnh? Nếu có th́ ở đâu? Đó là một vấn đề thật nan giải. Nếu chúng ta không đi sâu, không thấy tường tận, nghe Tổ nói như chuyện bâng quơ. Ngài bảo đem tội ra Ta sám cho, Tăng Xán thưa t́m tội không được, Tổ bảo “Ta đă sám cho ngươi rồi”. Sám bằng cách nào? Từ cái quay lại t́m tội nghiệp không thấy bóng dáng nó ở đâu, nên biết tội nghiệp biến thành không. Tội nghiệp đă không th́ hiện tượng quả báo đang chịu đó có thật không? Cũng không thật. Gốc tội vốn không th́ tất cả tướng tội theo đó diệt hết. Khi ngài Tăng Xán t́m tội không được, nghe Tổ nói Ta đă sám hối cho ông rồi, liền biết được đường vào. Từ đó bệnh hủi lành luôn. Chúng ta ai đang có bệnh trầm kha ráng t́m xem tội nghiệp ở chỗ nào mà sanh bệnh hoạn như vậy. T́m không được th́ nó sẽ hết, nếu t́m ra nó thế này thế kia th́ tội nghiệp chưa hết. Thế nên trong bài sám hối được kết thúc bởi bốn câu: Tội tánh bổn không, do tâm tạo, Tâm nhược diệt thời, tội diệt vong. Tội vong tâm diệt, lưỡng câu không, Thị tắc danh vi chơn sám hối. Tội tánh bổn không, do tâm tạo. Tội đâu tự có. Do tâm lành, tâm dữ mới tạo thành tội. Tâm lành dữ không thật th́ tội thật không? Tội không thật th́ nghiệp báo cũng không thật luôn. Chúng ta thấy có tội nào không từ tâm tạo ra? Ví dụ ḿnh đi đường, không thấy lỡ đạp chết con kiến, tội đó không từ tâm tạo nên sám hối được. C̣n tội từ tâm cố ư tạo th́ sám hối không được. Phải chuyển tâm tội mới hết. Phật dạy tội từ tâm sanh, cũng từ tâm diệt. Nếu chúng ta tưởng ḿnh có tội thật, tưởng tâm ḿnh thật, tưởng quả báo nghiệp thật. Một chùm ba thứ: tâm thật, tội thật, quả báo thật nên thọ khổ. Bây giờ quán sát thấy rơ tâm không thật, tội không thật. Từ tâm không thật, tội không thật, quả báo làm sao có thật? Đi từ gốc ra lần tới ngọn, biết gốc không thật th́ ngọn cũng không thật. Lành được gốc th́ ngọn cũng lành luôn. Nếu gốc bên trong chưa lành, c̣n nguyên bệnh mà muốn cho ngọn bên ngoài lành, làm sao lành được, làm sao hết bệnh được? Tội từ tâm tạo th́ sám hối phải từ tâm mà sám. Muốn sám hối hết tội nên t́m xem tâm thật hay không? Nếu tâm thật th́ tội thật, tội thật th́ quả báo mới thật. Bây giờ biết rơ tâm không thật, tội chướng không thật, th́ quả báo cũng không thật. Nên nói tánh tội vốn không, bởi tội từ tâm sanh, tâm đă không th́ tội đâu có. Tội không thật có, quả báo làm sao thật được. Ở đây chỉ thẳng chỗ tột cùng, chớ không đi từ tướng bên ngoài. Nói vậy không có nghĩa là bác nhân quả, mà là đi thẳng vào gốc của tội lỗi. Gốc của tội lỗi từ tâm mà có. Tâm tạo tội là tâm ǵ? Tâm sanh diệt, nghĩ thiện nghĩ ác, nghĩ thương nghĩ ghét. Có thương có ghét nên đối với người ḿnh ghét ta xử xấu, đối với người thương ta xử tốt. Từ tâm phân biệt thiện ác, tội phước đó mà đưa tới quả báo tạo nghiệp. Tạo nghiệp rồi lại tiếp tục chịu quả báo. Cứ thế xoay chuyển măi không cùng. Thế nên muốn hết tạo nghiệp trước phải hết cái thấy hai bên. Hiện tại chúng ta thấy mấy bên? Ba bên. Hai đầu và chính giữa nữa. Nh́n ra thấy ba bên chớ không chỉ hai bên thôi. Chính giữa là ḿnh, bên này là người thương, bên kia là người ghét. Nếu không c̣n hai bên, th́ chính giữa cũng hết luôn. Như vậy tội ngay đó tiêu hết. Như chúng ta ngồi thiền không cho nghĩ bậy tức là dừng nghĩ hai bên. Hai bên dừng được rồi th́ cái chân thật mới hiện. Thế nên t́m tội mà biết tội không thật th́ nghiệp cũng không thật. V́ vậy khi ngài Tăng Xán biết đường vào rồi liền hết bệnh. Trị bệnh như vậy mới trị tận gốc. Tâm nhược diệt thời, tội diệt vong. Nghĩa là tâm nếu diệt rồi th́ tội theo đó cũng mất. Như khi ta oán giận ai, muốn hại kẻ đó. Muốn hại là ǵ? Là tâm. Khi muốn hại bằng cách này, cách nọ mà chưa kịp hại, liền thức tỉnh. Bấy giờ tâm muốn hại không c̣n nữa, vậy tội c̣n không? Tội theo đó cũng không c̣n. Nên nói tâm diệt th́ tội theo đó diệt. Vị nào cả ngày thấy rơ tâm không thật, buông xả hết tất cả nghĩ ghét, nghĩ thương, người đó có tội không, sống trong chúng có bị rầy rà không? Chắc không. Ngược lại nếu tâm nghĩ thương, nghĩ ghét ngày càng sâu, trước lún chừng hai phân, dần dần lên năm bảy phân, rồi sâu một tấc, cuối cùng lún tới tim nên nhổ không ra. Rầy đi, rầy lại, nhắc tới, nhắc lui măi mà nhổ cũng không nổi, là tại lún sâu quá. Cho nên đừng có cột, đừng có trói thêm sâu th́ dễ gỡ. Gỡ được tâm đó th́ tội hết liền. Thế nên gốc của sự sám hối là phải biết tâm không thật, tội không thật, việc làm kia cũng không thật, nên buông bỏ hết th́ tội hết. Chừng nào Tội không, tâm diệt lưỡng câu không, không thấy tội thật, tâm thật, cả hai đều không, mới là Thị tắc danh vi chơn sám hối, đó chính thật là sám hối. Sám hối như thế mới chí thành, chí thiết. C̣n sám hối của chúng ta chỉ là sám hối ngoài miệng, văn sao đọc vậy mà trong tâm không gỡ không chừa. Như vậy chừng nào mới hết tội? Chúng ta nh́n lại hành động của Thiền sư Tăng Xán. Khi t́m tội không ra Ngài liền biết nó không thật, v́ vậy Tổ nói “Ta đă sám hối cho ông rồi”. Ngay đó Ngài biết đường vào, tức là biết t́m tội tánh là không. Tội tánh không nên tâm cũng không, đó là Ngài sám hối chân thật. Nhờ thấy đạo, bệnh Ngài được lành. Như vậy đường đi từ Tổ thứ hai sang Tổ thứ ba từ ngữ có khác, nhưng gốc không hai. Vị nào cũng là chỉ thẳng chỗ cuối cùng đó. Sau này Tổ Tăng Xán có làm bài “Tín tâm minh”. Tôi chỉ đọc hai câu đầu, hai câu cuối thôi. Hai câu đầu là: Chí đạo vô nan, Duy hiềm giản trạch. “Chí đạo” là đại đạo, là chỗ tột của đạo, “vô nan” là không khó. Chỗ tột của đạo không khó. Duy hiềm giản trạch, nghĩa là chỉ đáng ngại ở chỗ suy gẫm, phân biệt giản trạch. V́ suy gẫm phân biệt là vọng tưởng. Muốn được chỗ chí đạo phải buông bỏ suy gẫm, vọng tưởng. Như vậy khó không? Nếu bảo chúng ta đi bộ lên mây xanh, lấy chí đạo trên đó th́ khó thật. C̣n đằng này chỉ bảo đừng giản trạch thôi. Thấy là thấy, nghe là nghe, đừng phụ họa thêm bớt tốt xấu hay dở, th́ chí đạo hiện tiền. Chí đạo tức là chân tâm. Chỗ tột cùng là đó, không có ǵ hết, đơn giản vô cùng nên nói không khó. Nhưng khó tại v́ ḿnh giản trạch. Chân tâm có sẵn, chỉ v́ ta chạy theo vọng tưởng nên không nhận ra. Bây giờ đừng chạy theo vọng tưởng nữa th́ chân tâm hiện tiền, có mất thiếu chỗ nào đâu. Thế nhưng không hiểu sao chúng ta lại không chịu bỏ vọng tưởng? Bởi v́ con người quen sống điên đảo rồi. Bởi từ điên đảo nên không thấy được chí đạo. Tu Thiền, tu Tịnh cốt diệt tâm điên đảo ấy. Niệm Phật tới nhất tâm th́ điên đảo đâu c̣n. Tu Thiền buông sạch hết, không c̣n một niệm th́ tâm điên đảo đâu c̣n. Như vậy vô niệm tức là chí đạo, chớ không ǵ khác. V́ chúng ta không đi sâu trong đó, không sống được chỗ đó, nên mất “chí đạo”. Cho nên tu không t́m ǵ ở đâu xa, mà cứ trở về gốc chí đạo, chớ không chi hết. Hai câu kết thúc: Tín tâm bất nhị, Bất nhị Tín tâm. Tin được tâm chân thật của ḿnh th́ không c̣n hai. C̣n hai là chưa tin được tâm chân thật của ḿnh. Mở đầu và kết thúc bài “Tín tâm minh”, rơ ràng Ngài chỉ thẳng tâm chân thật rồi, nhưng kẹt là tại chúng ta suy gẫm nhiều quá. Chỉ học bốn câu thôi, ta cũng thấy tường tận những ǵ các Tổ muốn dạy. Bởi Ngài t́m tâm không được, t́m tội không có, tâm tội đă hết th́ đâu c̣n hai. Như vậy Ngài tin được chỗ chí đạo, thấy rơ chí đạo rồi Ngài được Tổ truyền tâm ấn, tất cả bệnh tật cũng lành hết. Chuyện dễ như trở bàn tay, không biết tại sao chúng ta tu năm năm mười năm, than thở đủ thứ khó khăn, trầy trật măi chưa vươn lên được. Chuyện bảo bỏ cái giả đi sẽ thấy cái thật liền, cái thật ấy lại sẵn có, mà không chịu bỏ là khôn hay dại? Dại, không nghi ngờ ǵ nữa. Vậy mà ai nói dại liền nổi giận đùng đùng, thành ra dại thêm một lớp nữa. Thật t́nh như vậy, hết sức giản đơn mà chúng ta không chịu sống, không chịu thấy. Tại sao khi t́m không ra tội nghiệp của ḿnh, nghe Tổ nói “Ta đă sám hối cho ngươi rồi”, ngài Tăng Xán liền thấy lối vào? Do Ngài biết nghiệp đó không thật. Nhưng làm sao biết nó không thật? Đây là nội dung chính của bài pháp nghiệp tập hôm nay. Chúng ta đi từ nghiệp tập hiện tại trở lui về nghiệp tập quá khứ. Như người nam hồi c̣n trẻ chưa biết hút thuốc, họ có thèm thuốc không? Không. Sau đó nếu mỗi ngày họ hút hai điếu, ba điếu chừng năm bảy tháng thành nghiền. Bữa nào không hút thuốc họ nói “tôi nghiền thuốc quá”. Bấy giờ nghiền thuốc trở thành tôi rồi. Hồi đầu chưa hút, thuốc là thuốc, ḿnh là ḿnh, nó không phải là ḿnh. Khi hút lâu thành nghiền, thiếu thuốc nói tôi nghiền thuốc quá làm không nổi, đi không được, ǵ ǵ đủ thứ. Như vậy cái nghiền thuốc thành tôi, nghĩa là đắp nghiệp vô thành ḿnh rồi. Người không nghiền thuốc đâu có nói tôi nghiền thuốc quá. Đó là ví dụ thứ nhất. Ví dụ thứ hai, như người uống rượu. Nếu trước chưa từng uống rượu, thấy rượu họ có nghiền có thèm không? Nhưng khi đă uống năm năm, ba năm, vừa tới tiệc rượu người ta không mời, họ cũng nhào vô uống, v́ thèm v́ nghiền rượu quá. Tại sao thèm? V́ cho nghiệp uống rượu đó là tôi. Nên biết rượu, thuốc ban đầu không phải là ḿnh, nhưng do ta tập từ một hai ba bốn cho đến trăm ngàn lần, lâu ngày quen thành nghiệp. Thế là chấp nhận nghiệp là ḿnh. Ḿnh có nghiệp nghiền thuốc, nghiền rượu nên thiếu mấy thứ đó chịu không nổi. Như vậy khổ đau của người nghiền thuốc, nghiền rượu khi không có thuốc rượu do ai đem lại? Không phải trời, không phải Phật, không phải người khác, mà chính họ tạo lấy rồi thọ khổ với nghiệp ḿnh đă tạo. Việc này không thể đổ thừa cho ai được, v́ rơ ràng do ḿnh tập làm từ lúc ban đầu. Đổ thừa người này dụ tôi hút thuốc, hay người kia dụ tôi uống rượu, đó là lối đổ thừa bâng quơ. Người ta dụ mà ḿnh không hút th́ thôi, không uống th́ thôi, có ǵ thành nghiệp. Nghiệp nghiền rượu, nghiền thuốc là chính ḿnh chủ động tạo. Tạo rồi sau đó khổ, thân sanh bệnh hoạn tâm rối loạn. Đó là tại ai? Tại trời đất chăng? Bây giờ muốn bỏ nghiệp ấy phải làm sao? Người ấy biết trước kia ḿnh đâu có nghiền rượu, nghiền thuốc, tại tập hút tập uống lâu dần mới thành nghiền. Bây giờ muốn hết nghiền th́ tập trở lại, đừng hút đừng uống nữa. Rượu, thuốc tánh nó là không, tập lâu thành thói quen, thành nghiệp. Biết tánh nó là không, đừng theo nữa th́ nó hết chớ ǵ. Thấy thuốc không thèm hút, thấy rượu không thèm uống, lâu ngày hết nghiền. Bởi tánh nó không, đâu phải thật, nó lại ở bên ngoài huân vô thành nghiệp, không phải có sẵn. Như vậy bỏ là dễ, chớ đâu có khó. Ví dụ thứ ba là hút á phiện, x́ ke, ma túy. Có người nào cha mẹ sanh ra đă nghiền á phiện, ma túy không? Không bao giờ có. Nguyên ban đầu nó không có, nhưng do tập hút, ban đầu hút sơ sơ, lâu thành nghiền. Ngày nào không có nó th́ ụa mửa, ngă bờ ngă bụi, rất khổ sở. Khổ đó từ đâu mà ra? Rơ ràng từ ḿnh. Tại ḿnh thích, muốn nếm mùi tứ đổ tường để tỏ ra ta lịch thiệp, cái ǵ cũng biết. Biết rồi th́ thành bệnh, muốn bỏ bỏ không được, v́ đă nghiền. Mọi khổ đau đều do chính ḿnh chủ động tạo, rồi chịu nó hành phạt, làm cho đau khổ trở lại. Như vậy nghiệp từ ta huân tập, đâu phải ai đem tới cho ḿnh. Nên nói “nghiệp tánh bổn không”. Câu này là chân lư. Tánh nó vốn không, nếu tánh có th́ mọi người ra đời đều nghiền giống nhau. Nhưng không phải thế, người không tập th́ không nghiền, người tập mới nghiền. Do tánh vốn không, nhưng tại tập nên thành nghiệp, v́ vậy nói tập nghiệp. Chúng ta ở chùa có ai dám tập mấy cái nghiệp đó không? Chắc không ai dám. Nếu trước lỡ có, vô đây cũng bắt phải bỏ. Nhờ bắt bỏ nên nghiệp theo đó cũng hết. Bỏ nghiệp xấu th́ nó hết, c̣n mạnh khỏe hơn nữa, chớ chết đâu mà sợ. Vậy ba thứ bệnh nghiền thuốc, nghiền rượu, nghiền á phiện, ma túy gốc đều do ḿnh tập trong hiện đời, chớ không phải ai đem tới. Đó là bệnh thứ nhất, bệnh nghiền. Bệnh thứ hai là bệnh thích. Trong chúng ta, có ai chẳng thích ǵ không? Không thích cái này cũng thích cái kia. Ví dụ ở nhà ta ăn uống những món quen miệng, bây giờ ai cho món khác, ḿnh không thích. Cụ thể như Phật tử quen ăn chay, hôm nào đi đâu có người bắt ăn mặn, quí vị liền nói “Tôi thích ăn chay”. Như vậy thích ăn chay là tôi. Tôi thích. Ăn mặn tôi ăn không được. Cái thích đó do ḿnh mới tập, chớ hồi nhỏ cha mẹ cho ăn ǵ ăn nấy, đâu biết chay mặn chi. Khi đă tập quen rồi, thay đổi ḿnh không chịu. Rơ ràng thích này thích nọ là cái ta tập. Trong ăn chay cũng có cái thích, không thích nữa. Như người thích rau luộc, đem món khác không thích. Tại sao? Tại rau luộc hợp với khẩu vị của họ. Người thích đậu hủ, có đậu hủ ăn mới được, không đậu hủ ăn không được. Người thích xào chiên, có xào chiên ăn mới ngon, không xào chiên ăn không ngon. Mỗi người thích mỗi thứ. Cái thích đó tự nó có hay do ḿnh tập? Do ḿnh tập, lâu ngày thành thói quen. Nói tôi thích cái này, tôi thích cái kia, thành ra cái thích đó là tôi rồi. Từ cái chưa có ḿnh huân thành có, tạo ra nghiệp, sống bằng nghiệp. Bấy giờ nghiệp thành chủ, c̣n ḿnh mất tiêu. Tất cả những ǵ ta nói thích, tôi thích cái này, tôi thích cái kia, đó là thích theo nghiệp nên bị nghiệp hướng dẫn, chớ không phải ḿnh. Nghiền là nghiệp, thích là nghiệp, chớ không phải ḿnh. Như vậy đi sâu trong tâm lư mới thấy ta tạo nghiệp rồi biến nó thành ḿnh, thành cái tôi. Đó là bệnh thứ hai, bệnh thích. Bệnh thứ ba là phải quấy. Cái phải của nhóm này đối với cái phải của nhóm khác thành ra quấy. Tại sao nói phải? Tại sao nói quấy? Chúng ta thấy phải quấy cũng do huân tập mà ra. Như ở Việt Nam, ông bà cha mẹ dạy con cháu lớn lên có hiếu thảo. Hiếu thảo với cha mẹ th́ kính nhường cha mẹ ăn trên ngồi trước, cha mẹ già phải nuôi nấng. Dân tộc Việt Nam đă được huân như vậy. Bây giờ qua Mỹ, tới bữa cơm dọn lên bàn xong xuôi, mấy đứa nhỏ mười hai, mười ba tuổi trèo lên ngồi trước, rồi ba má ông bà tới sau. Như vậy chúng có hiếu không? Nếu ở bên này, con cháu lên bàn kiểu đó th́ cha nó tát tai rồi “Đồ vô lễ, không mời ông bà ngồi trước”. C̣n bên kia người ta thấy vậy là tốt. Thế th́ cái phải ở Việt Nam với cái phải bên kia giống nhau không? Hoàn toàn không giống. Nhưng cũng do huân tập thôi, chớ tự nó không có phải quấy như vậy. Cái phải của tập thể này tuân theo qui chế của nó. Tập thể khác đặt ra qui chế ngược lại, nhưng theo họ là đúng. Khi hai cái phải nghịch nhau đối mặt th́ sanh ra ẩu đả. Bởi vậy mới có tập thể này thắng, tập thể kia thua. Nhẹ th́ chửi nhau, nặng th́ đập nhau. Như các nước Tây phương thường có nhiều đảng. Mỗi đảng có chủ trương khác nhau, chống nhau, mới có chuyện khi tranh cử chửi nhau. Bên này chê bên kia dở để vận động cho đảng ḿnh thắng. Như vậy phải quấy nằm chỗ nào? Đó là nói phải quấy của tập thể, đảng phái. Xét rộng hơn là tôn giáo này, tôn giáo kia. Bây giờ chúng ta thấy tôn giáo lớn trên thế giới không tôn giáo nào giống tôn giáo nào hết. Riêng Phật giáo, tôi thấy Phật có một câu nói thật tuyệt vời: “Chúng sanh nghiệp tập khác nhau nên họ thích tôn giáo cũng khác nhau”. Bởi vậy trong đạo Phật có vô lượng pháp môn, mà không nói pháp môn nào chánh hết. Lẽ ra Phật dạy một đường thôi, tại sao lại nói vô lượng pháp môn? Bởi Phật thấy tường tận căn cơ của chúng sanh. Kẻ khôn, người dại, kẻ tự chủ, người ỷ lại, đủ hạng. Người thích huyền bí mà nói thực tế th́ họ không nghe, nên Phật phải nói vô lượng pháp môn. Tôi thấy không lẽ ḿnh theo đạo Phật, rồi cứ khen ngợi Phật hoài. Thật t́nh đối với tôi, đức Phật rất tuyệt vời. Bởi v́ Ngài thường dạy, khi chúng ta suy nghĩ điều ǵ, chỉ nên nói: “Đây là suy nghĩ của tôi”, không nên dùng hai chữ phải quấy. Anh suy nghĩ thế đó là suy nghĩ của anh. Mỗi người tùy ư suy nghĩ, không đặt phải quấy thuộc về phần ai. Thật tuyệt! Chúng ta học Phật là học chân lư tuyệt đối, chân lư chung của nhân loại. Cho nên không thể bám chặt vào phải quấy không thật rồi sanh ra căi vă, hơn thua, thù oán v.v… Đó là nghiệp tập thành ra phải quấy. Như người tu Thiền thích tự ḿnh phát triển trí tuệ, tự ḿnh dẹp hết phiền năo, tự ḿnh giải thoát, chớ không trông cậy vào ai. Nhưng có những người không trông cậy kẻ khác, họ làm không nổi. Do đó Phật dạy pháp môn niệm Phật để được Phật đón về Tây phương. Đừng làm ǵ hết, cứ tin vào Phật, Phật sẽ đón về bên ấy. Hoặc đối với những người thích sự linh ứng mầu nhiệm th́ Phật dạy tụng thần chú, có chư thiên hộ tŕ, đủ thứ linh nghiệm. Tụng chú tới tam mật là thân mật, khẩu mật và ư mật th́ đức Phật Đại Nhật sẽ xoa đầu thọ kư. Cũng như niệm Phật tới nhất tâm bất loạn th́ Phật Di Đà sẽ rước về Cực Lạc. Tu thiền th́ phải vô tâm, vô niệm mới thấy cái chân thật hiện tiền. Như vậy do tŕnh độ căn cơ bất đồng nên Phật dạy nhiều pháp môn. Chúng ta là người giáo hóa, đem Phật pháp truyền bá khắp nơi th́ phải biết rơ như vậy. Nếu không, người tu Tịnh độ chê người tu Thiền, người tu Thiền trách người tu Tịnh độ, rồi tu Mật nữa, choảng nhau rối tung lên. Người niệm Phật nói niệm Phật về Cực Lạc, có chỗ nơi đàng hoàng, c̣n tu Thiền không có chỗ nào về hết, chết đi đâu? Cứ thế mà đặt câu hỏi lung tung với nhau, không hiểu trọng tâm của Phật dạy là v́ chúng sanh nhiều bệnh, nhiều nghiệp nên Phật có nhiều phương tiện giáo hóa khác nhau. Cho tới pháp môn tu Thiền cũng vậy, tùy hoàn cảnh, tŕnh độ Phật dạy khác nhau. Như ngài A-nan đi giáo hóa gặp ông giữ nghĩa địa, xin Ngài dạy pháp tu. Ngài dạy ông quán sổ tức, tức đếm hơi thở. Gặp ông làm ḷ rèn, Ngài dạy quán bất tịnh đi. Cả hai ông, một người đếm hơi thở một người quán bất tịnh hoài mà không thấy tiến bộ ǵ hết. Nghe hai ông tŕnh bày, Ngài thắc mắc không hiểu tại sao, nên về hỏi Phật: - Bạch Thế Tôn, con có dạy hai người đệ tử tu quán sổ tức và quán bất tịnh, nhưng không người nào đạt kết quả hết. Như vậy là sao? Phật hỏi: - Người được ông dạy pháp quán bất tịnh làm nghề ǵ? - Thưa làm thợ rèn. - Người được ông dạy pháp quán sổ tức làm nghề ǵ? - Thưa giữ nghĩa địa. Phật nói: - Tại ông dạy sai, chớ không phải họ tu không có kết quả. Người giữ nghĩa địa thấy thây ma tới hoài th́ phải dạy quán bất tịnh, v́ họ chứng kiến những cảnh đó nên quán mới sâu, mới thành công. C̣n người thợ rèn cứ thổi ra thổi vô kh́ khịt kh́ khịt, nên dạy quán sổ tức. Đếm hơi thở hít vô thở ra đều đặn, như chính công việc của họ th́ tu dễ thành công hơn. Nghe Phật nói thế, Ngài t́m tới hai người đệ tử dạy lại cách tu. Thời gian sau hai vị vui mừng báo tin vui với Ngài là chúng con tu có kết quả rồi. Chúng ta mới thấy pháp tu phải nhịp nhàng theo công việc, theo tập quán của ḿnh th́ dễ thành công hơn. Không thể bất kể căn cơ, tập quán của mỗi người, tu sao cũng được. Do Phật biết tŕnh độ, căn cơ, hoàn cảnh của mỗi người nên Ngài dạy không lầm. V́ vậy mười người tu th́ mười người ngộ. C̣n chúng ta bây giờ cứ nhắm chừng mà dạy, không trúng bệnh nên người ta tu hoài không ngộ ǵ hết. Lỗi tại ḿnh không biết tùy duyên, tùy căn cơ mà có các phương tiện khác nhau. Phật biết tŕnh độ chúng sanh sai biệt nên lập nhiều pháp môn sai biệt. Tất cả sự sai biệt đó đều v́ đối cơ mà trị bệnh, chớ không phải chân lư tuyệt đối. Người thời nay có tật, tu pháp nào th́ cho pháp đó là tuyệt đối. Người tu pháp khác tuy cũng Phật dạy, nhưng ḿnh cho đó chưa phải tuyệt đối, nên sanh bực bội chống đối lung tung. Đó là do tŕnh độ hiểu Phật của chúng ta quá cạn cợt. Chúng ta tu thiền phải biết đây là pháp trị tất cả tâm bệnh. Tại sao? Như tâm có tham, sân, si, mạn, nghi, ác kiến, đủ thứ phiền năo th́ có đủ pháp môn để đối trị. Nhưng bây giờ chúng ta thử hỏi phiền năo từ đâu mà ra? Từ tâm vọng tưởng mà ra. Tâm vọng tưởng từ đâu mà ra? Do đối duyên xúc cảnh phân biệt mà ra. Như vậy dừng ngay tâm vọng tưởng, tức là trị tận gốc rồi. Các bệnh sẽ theo đó mà hết. Chỉ tận gốc rất khó, c̣n chỉ từng pháp đối cơ dễ hơn. Khi biết được tận gốc rồi chúng ta nh́n ra ngoài thấy rơ lắm, không nghi ngờ ǵ nữa. Chỉ tận gốc là, vừa có hai niệm liền thành bệnh. Không có hai niệm th́ đâu từng bệnh. Nếu không từng bệnh đâu cần nhiều pháp môn? Hiểu tường tận như thế chúng ta mới thấy cái hay của người tu từ gốc. Không nhận ra như thế, chúng ta chỉ tu ngọn ngành, không tột cùng được cội gốc. Học Phật mà không t́m tới tận gốc th́ không bao giờ thấy được lẽ thật. Thứ tư là bệnh thương ghét. Phải quấy đă làm khổ thiên hạ biết bao nhiêu rồi, bây giờ lại c̣n thương ghét nữa. Chúng ta thử t́m xem tại sao ḿnh thương, tại sao ḿnh ghét? Có hai lư do. Lư do thứ nhất là do thấy, nghe. Thấy mặt người đó dễ thương nên vừa ư, nghe tiếng người đó dễ nghe nên vừa ư. Thấy vừa ư, nghe vừa ư là thương. Nói vừa ư nhưng lại không biết ư ḿnh làm sao? Trên đời này không ư ai giống ư ai. Nếu người ta thấy, nghe giống nhau th́ chắc có một số người có đôi bạn, c̣n một số người ở giá luôn. Phải vậy không? Nhờ thấy nghe không giống nhau nên người nào cũng có kẻ vừa ư hết. Người này chê, người khác không chê. V́ vậy trong thế gian ai cũng có đôi bạn được, chớ không bị lẻ loi. Rơ ràng như vậy. Người này khen đẹp vừa ư, nhưng người khác lại chê không vừa ư. Như vậy mỗi người có cái thấy, cái nghe không giống nhau. Bởi thấy nghe không giống nhau nên sự huân tập cũng khác nhau, do đó cái thương ghét cũng khác nhau. Đó là lẽ thường. Nếu thương, ghét không giống nhau th́ mọi người trên đời này, không ai được thương hoàn toàn, cũng không ai bị ghét hoàn toàn. Nếu được đa số thương là tốt lắm, ưu lắm rồi, thiểu số ghét cũng được. C̣n người bị đa số ghét, chỉ một vài kẻ thương là dở lắm. Nhưng chúng ta có bệnh nghe ai phê phán liền nổi tức lên. Một trăm người có một người thứ chín mươi chín phản đối, tất cả c̣n lại đều đồng t́nh, ḿnh cũng không chịu nữa. Nghĩa là ta đ̣i phải 100% khen ngợi hết mới được, như vậy là tham quá. Phật nói không có lẽ đó. Sống kiểu đó không bao giờ thấy yên ḷng. Đức Phật ngày xưa c̣n bị thiên hạ chửi kia mà, làm sao ta được mọi người thương hết? Chỉ một số người bằng ḷng là quí rồi. Khi ta biết có một số người không thích ḿnh là chuyện b́nh thường, th́ họ nói ǵ ḿnh cũng cười thôi, giận làm chi. Giận là ngu, bởi v́ ḿnh tham quá. Hiểu như vậy rồi chúng ta sống mới yên ổn nhẹ nhàng, không tham lam quá đáng, nên không khổ. Nên biết thương ghét cũng là tập nghiệp thôi. Người tập nghiệp nào th́ hợp với những người cùng có tập nghiệp ấy. Người ta hay nói bạn đồng nghiệp thường bênh vực nhau, đùm bọc nhau. V́ đồng nghiệp nên dễ thông cảm, dễ thương mến nên họ đùm bọc bênh vực nhau cũng là chuyện hợp lư. Thế nên ai cũng có chỗ sống, có nguồn an ủi hết. Đó là v́ nghiệp tập giống nhau nên thương yêu nhau, bảo bọc nhau. Như cùng làm thầy thuốc, người thầy nào lương thiện thấy những thầy thuốc lương thiện khác liền xem như anh em. C̣n kẻ trộm cướp gặp mấy tên trộm cướp cũng vui vẻ thân thiện với nhau. Rơ ràng thương ghét đều từ nghiệp tập mà ra, không phải bỗng dưng có. C̣n như hai phái nam nữ thương nhau là do nghiệp tập ǵ? Do nghiệp tập ái dục nối tiếp ḍng giống trên thế gian, chớ không có ǵ hạnh phúc cả. Song con người v́ muốn ḍng giống đông, xứ sở nhiều nên tán thán đó là hạnh phúc, để gạt nhau. Trên thực tế vùi đầu vô đó rồi khổ, chớ có hạnh phúc ǵ đâu. Người đời do ái mà có chồng vợ, rồi sanh con cái. Có con cái th́ thương con cái. Con cái lớn lên lập gia đ́nh sanh con, th́ lại thương cháu, cứ thương hoài. Thương cái này chưa rồi, tới thương cái kia, thương cái kia chưa rồi tới thương cái nọ. Cứ thế nối tiếp không cắt được ḍng ái. Cho nên người tu cắt gỡ nghiệp tập đó, nên nói tu là thoát ra biển ái, dứt mầm sanh tử. V́ nghiệp tập ấy to lớn như biển vậy. Mỗi người ra đời đều mang theo một số nghiệp của quá khứ hoặc thuận hoặc nghịch. Nên khi gặp lại nhau, có những thương ghét khác nhau. Lâu nay trong luân lư Việt Nam có nói: “Cha mẹ nào mà không thương con”. Nhưng có những trường hợp ngược lại. Tôi đă nghe một người mẹ kể như thế này. Bà có hai đứa con, đứa thứ nhất đi khỏi th́ thôi, nhưng vừa về thấy mặt là bà giận lắm, chẳng việc ǵ cũng cảm thấy tức giận, bực bội. Chính bà cũng không hiểu tại sao như vậy? C̣n đứa thứ hai đi đâu vắng th́ bà nhớ, bà trông. Nó về liền mừng rỡ. Bà hỏi tôi tại sao như vậy? Điều đó thật khó giải thích, nhưng tôi biết rơ ấy là do nghiệp. Bởi v́ trong kinh Phật có dạy, người ôm ấp ḷng thương hay tâm oán thù ai, khi nhắm mắt sẽ đem theo hai h́nh ảnh ấy. V́ vậy đời sau gặp lại tiếp tục theo cái thương ghét trước mà đền trả. Người ḿnh thương nhiều là người thân, người ḿnh ghét nhiều là người oán. Thêm một trường hợp nữa. Vừa rồi có hai vợ chồng nọ t́m gặp tôi, người chồng hỏi: “Thưa thầy có cha mẹ nào không thương con không?” Tôi nói “Cha mẹ nào mà không thương con”. Người chồng mới kể lại chuyện của vợ ông. Cha mẹ vợ ở tại Sài G̣n rất giàu, nhưng không biết lư do ǵ sanh con ra đem bỏ ngoài đường. Người khác thấy tội nghiệp đem về nuôi, sau họ trả lại. Trả lại, cha mẹ vợ cũng đem cho người khác, chớ không nuôi. Lớn lên vợ ông phải ra đường ăn xin, mà cha mẹ cũng không thèm nh́n. Về sau cô bé có chồng, theo chồng qua Mỹ… nghe chồng kể tới đó, cô vợ khóc lu bù. Họ hỏi thế là sao? Tôi trả lời không ra. Nhưng tôi đoán có lẽ một phần do gia đ́nh vợ ông mê tín, nghe lời mấy gă thầy bói nói cô ta sanh nhằm ngày tháng kỵ với cha mẹ ǵ đó, nên họ mới đem bỏ. Bởi vậy sự mê tín nguy hiểm vô cùng. Đó là giải thích theo nhân gian, nhưng nhà Phật bảo như vậy âu cũng là do tập nghiệp của cô với gia đ́nh. Đời trước gieo rắc oán thù sao đó, bây giờ vừa gặp lại là phải đền trả quả khổ liền. Đă là tập nghiệp của quá khứ th́ hiện tại giải không ra, v́ chúng ta không thấy được quá khứ. Đó là nói cha mẹ với con cái có những trường hợp như vậy, nếu tập nghiệp thuận th́ gặp lại vui vẻ thương mến, nếu tập nghiệp nghịch gặp lại chỉ khổ thôi. Tới anh chị em sanh ra, sống chung trong một gia đ́nh cũng vậy. Người thương kẻ này, người ghét kẻ kia, không giống nhau. Mà mức độ thương ghét cũng khác nữa. Đó là máu mủ chung, sống trong một sự giáo dục chung, mà đă khác nhau từ tư tưởng cho đến t́nh cảm. Thế nên đối với người ngoài chuyện thương ghét không đồng là điều dĩ nhiên thôi, đều do tập nghiệp quá khứ mà ra. Tập nghiệp quá khứ có những việc không thể hiểu, không thể lường nổi. Thế nên tôi thường nhắc Tăng Ni nuôi con nít phải khéo, nếu không sẽ biến ḷng từ bi thành nghiệp tập thương ghét, cột trói măi từ đời này sang đời khác. Ta xuất gia là từ giă gia đ́nh, cắt ái từ thân, vô lư bây giờ cột lại? Cho nên quí vị phải thận trọng, liệu ḿnh không thể vượt qua được tập nghiệp th́ thôi tránh, đừng làm. Thêm tập nghiệp của mang thân nữa. Chúng ta có đủ phước duyên sanh làm người, hiểu biết rơ ràng, đi đứng tự do v.v… nhưng nếu sanh ra bị những bệnh nan y như bại liệt th́ ta có c̣n muốn sống không? Chỉ mới tưởng tượng thế thôi, ḿnh đă không muốn sống, chết phứt cho rồi. Song ngược lại nếu ta hỏi những người bị bệnh tật ấy, họ muốn sống không th́ họ sẽ đáp: Muốn sống. Rơ ràng nghiệp phải trả th́ phải chịu để trả. Hồi xưa có nhiều người bị bệnh hủi, lẽ ra không muốn sống nhưng họ vẫn sống như thường. Như vậy lỡ mang thân do nghiệp tạo ra, ḿnh phải chịu theo nó, chớ không cưỡng lại được. Đó là nghiệp tập làm người. Đến nghiệp tập làm các thân khác như ḅ, heo, chó… Có con nào muốn chết đâu. Hễ có thân th́ phải chịu, hài ḷng với thân đó để sống, để trả. Chúng ta thấy có những con ngựa phải kéo xe, bị đánh đập đủ thứ hết mà nó có muốn chết đâu, nó cũng muốn sống. Nếu ai muốn hành h́nh cho nó chết, nó cự lại liền, làm dữ chớ không vừa. Như vậy mới thấy nghiệp tập của chúng sanh khi mang thân rồi, luôn luôn phải đền trả, phải chịu đựng, chớ không muốn bỏ t́m thân khác. Đến tập nghiệp về nết na tánh t́nh. Tăng Ni ở trong chúng dễ thấy điều này lắm. Một trăm người là một trăm nết na, một trăm tánh t́nh, không ai giống ai hết. Cái không giống đó tại cha mẹ dạy hay tại sao? Như trên tôi đă nói anh em sống chung một gia đ́nh, chịu sự giáo dục như nhau c̣n không thể giống nhau; huống nữa trong chùa cả trăm gịng họ khác nhau. Bây giờ có huấn luyện tới già cũng không giống như thường. Mỗi người mang một tâm tư, một tánh nết khác nhau. Kẻ thông minh, người khờ dại, giáo dục mấy họ cũng mang những nét cơ bản của riêng mỗi người. Như vậy mới thấy tập nghiệp luôn có những sai biệt giữa người này với người khác. Gương mặt khác, hành động khác, tư tưởng khác. Tất cả đều từ tập nghiệp mà ra, chớ không ai huấn luyện được hết. Khi chúng ta thọ thân là được kết tụ bao nhiêu thứ nghiệp tập cũ và mới. Bởi vậy phăng t́m tội nghiệp không có, tại huân tập mà thành. Tất cả huân tập thành thân đều từ tập nghiệp, mà tập nghiệp không thật nên tất cả thân này cũng không thật. Thấy tột cùng như thế, ta qui tụ muôn ngàn sai biệt về một tánh Không th́ không c̣n hai. Được tới chỗ không hai rồi, giả sử một trăm người có h́nh dáng, tâm tư, t́nh cảm khác nhau nhưng đều chung trong cái không hai ấy, đây gọi là đồng một Phật đạo. Đạo Phật không có hai, vị Phật nào cũng như vị Phật nào. Nhiều người thắc mắc không biết chừng nào đức Phật Di Lặc ra đời? Như trong kinh nói chừng nào giáo pháp của đức Phật Thích Ca không c̣n ai biết tới, danh từ Tam bảo không c̣n ai biết tới, chừng đó đức Phật Di Lặc ra đời. Tại sao vậy? V́ Phật đạo đồng. Đồng nên vị này c̣n, vị kia ra nữa dư. Tại sao đồng? Bởi v́ tu tới chỗ không c̣n hai niệm khác nhau, đó là tâm thể như như. Tâm thể như như th́ mọi người đều như, ai cũng như ai, có ǵ khác. Nên biết đạo của chư Phật không khác, chỉ phương tiện truyền bá mới khác. V́ vậy nên nói Phật Phật đạo đồng. Như trên đă nói thân này đă do tập nghiệp thành, mà tập nghiệp không thật nên rơ ràng thân cũng không thật. Thấy thế là giác ngộ, là thấu suốt. Căn bản tu chính là sự giác ngộ, thấu suốt ấy. Để kết thúc bài này, tôi dẫn câu chuyện của Tổ Đạo Tín. Lúc mới mười bốn tuổi, ngài Đạo Tín tới gặp Tổ Tăng Xán đảnh lễ thưa: “Kính bạch Ḥa thượng, xin Ḥa thượng dạy con pháp môn giải thoát”. Tổ nh́n thẳng vào mặt Đạo Tín hỏi: “Ai trói buộc ngươi?” Thưa: “Không ai trói buộc con”. Tổ bảo: “Không ai trói buộc, cầu giải thoát làm ǵ?”. Ngay đó ngài Đạo Tín liền biết đường vào. Lâu nay chúng ta học kinh, nghe nói nghiệp dẫn ḿnh đi trong sanh tử, như vậy nghiệp là cái trói buộc ḿnh. Nhưng ta thử hỏi lại nghiệp có thật hay không? Nghiệp không thật, nên t́m không thấy, thành ra đâu thể nói nghiệp trói buộc ḿnh. Như vậy cầu giải thoát làm ǵ? Do trước kia ta hiểu lầm nghiệp là gốc trói buộc ḿnh, bây giờ t́m không ra tức biết nghiệp không thật. Nghiệp không thật nên hết trói buộc, là giải thoát. Đơn giản làm sao! Như trên đă nói, tất cả đều do nghiệp tập mà thành, nghiệp tập có thật đâu. Nó là cái tạm bợ giả dối do ḿnh tập thành, như vậy ta làm chủ nó chớ không phải nó làm chủ ta. Bây giờ chỉ cần buông hết nghiệp tập là giải thoát sanh tử. Muốn buông hết nghiệp tập th́ phải buông cái gốc của nó là suy nghĩ phân biệt, đối đăi. Cho nên hỏi ai trói buộc ngươi, ḿnh t́m đáo để vẫn không thấy. Không có ai trói buộc th́ cầu giải thoát làm ǵ, như vậy là giải thoát rồi. Có trói buộc mới mở, c̣n không ai trói buộc th́ mở cái ǵ, tự nhiên giải thoát rồi. V́ thế nghe Tổ nói, ngài Đạo Tín thấy được lối vào. Chư Tổ từ trước đến sau chung một hệ thống hết sức rơ ràng, không có hai đường. Tổ Trúc Lâm Đại Đầu Đà trong bài “Sơn pḥng mạn hứng”, đă nói bốn câu hay đáo để: Thùy phược cánh tương cầu giải thoát, Bất phàm hà tất mích thần tiên. Viên nhàn mă quyện nhân ưng lăo, Y cựu vân trang nhất tháp thiền. Thùy phược cánh tương cầu giải thoát là ai trói lại mong cầu được giải thoát? Ở đây, Ngài lấy ngay ư của Tổ Đạo Tín hỏi Tổ Tăng Xán, ai trói lại đi cầu giải thoát. T́m cho kỹ th́ gốc trói ḿnh là từ nghiệp tập, mà nghiệp tập không thật. Như vậy ai trói buộc ḿnh mà cầu giải thoát? Bất phàm hà tất mích thần tiên là ta chẳng phải phàm đâu cần cầu thần tiên, cầu thánh, cầu Phật làm ǵ? Như vậy chúng ta tu cầu thành ǵ? Chính ḿnh đă Phật, đă có tánh giác là đă thành Phật, nhưng Phật nhân chớ không phải Phật quả. Hiện tại v́ nghiệp tập nhiều quá nên tuy đă có tánh Phật nhưng chưa thành Phật. Bản tánh ḿnh là Phật rồi th́ c̣n cầu làm Phật chi nữa cho mất công. Hai câu này nói rơ rằng tất cả chúng ta không bị ǵ trói buộc cả, chẳng qua nghiệp tập hư ảo không thật tạm che khuất tánh Phật. Như vậy tu không phải cầu bên ngoài mà soi lại ḿnh, trở về ḿnh. Thế thôi. Viên nhàn mă quyện nhân ưng lăo là con khỉ nhàn, con ngựa mỏi, c̣n người th́ già. Câu này nói rơ tất cả mọi loài trên thế gian này, đều từ sanh lần lần tới lăo tử, không loài nào thoát khỏi. Y cựu vân trang nhất tháp thiền là chỉ c̣n y nguyên ở vân trang một ṭa thiền. Mấy thứ kia già hết, chỉ một ṭa ngồi thiền không già. Để nói lên mọi sự mọi vật trên thế gian đều bị biến chuyển, vô thường, chỉ cái chân thật nguyên vẹn của chính ḿnh không bao giờ đổi dời, th́ làm ǵ có sanh tử, có sanh già bệnh chết. Chỉ bốn câu này thôi, chúng ta thấy Ngài đă thấu triệt được lư nghiệp duyên do ḿnh tạo, rồi tự ḿnh khổ. Bây giờ muốn hết khổ, chỉ cần quay lại nh́n tường tận nghiệp không thật, tâm niệm phân biệt không thật th́ mọi trói buộc không c̣n. Chính ḿnh đă có Phật sẵn c̣n cầu thành tiên thành Phật làm ǵ nữa. Làm thân người hay thân loài vật đều sống trong cảnh vô thường sanh diệt, chỉ có vô niệm của nhà Thiền xưa nay không hai, không đổi. Như vậy từ Tổ Đạt-ma đến các Tổ Trung Hoa, sang Tổ Việt Nam cái nh́n không khác nhau. Chúng ta thấy rơ tinh thần của người xưa dù ở mỗi hoàn cảnh khác nhau nhưng chỗ ngộ không hai. V́ vậy chúng ta tu, muốn không c̣n nghiệp tập nữa th́ phải trở về được chỗ tột cùng không hai đó, mới chấm dứt luân hồi sanh tử, mới tự tại thoát khỏi mọi buộc ràng. ] THÂN NGƯỜI KHÓ ĐƯỢC Pleiku - 2001 Chúng ta là con Phật nên những ǵ Phật dạy bảo nhắc nhở, chúng ta phải hiểu biết, ghi nhớ và thực hành theo, mới xứng đáng là con Phật. Hôm nay chúng ta thử t́m hiểu ư nghĩa về lời Phật dạy: Thân người khó được. Đức Phật đă dạy “Thân người khó được, Phật pháp khó nghe”, nguyên chữ Hán là “nhân thân nan đắc, Phật pháp nan văn”. Đề tài này chúng ta thấy rất dễ, rất gần gũi nhưng hiểu hết giá trị của nó cần phải suy nghiệm chính chắn mới thấy rơ. Hiện giờ tất cả chúng ta có mặt ở đây đều là thân người, nên ta thấy được nó đâu có khó. Đó là cái thấy cạn cợt, nếu nh́n theo đức Phật sẽ khác hơn nhiều. Ở đây tôi sẽ thứ tự giải thích cho quí vị hiểu. Tại sao Phật dạy thân người khó được? Nói thân người khó được là nói thân tương lai, chớ không phải thân hiện tại. V́ hiện tại chúng ta được rồi, nhưng mai sau khi thân này bại hoại, chúng ta có được thân người nữa không, đó là vấn đề rất quan trọng. Nếu chúng ta có đủ trí khôn, đủ nhận định, phải xét kỹ sau khi thân này mất, ḿnh c̣n hay hết? Mất thân này nhưng tâm thức của chúng ta theo nghiệp tiếp tục tái sinh. Bởi v́ trong kinh Phật dạy tất cả chúng sinh không phải chỉ có mặt một lần, mà đă có mặt vô số lần rồi. Phật c̣n dạy người tu hành từ khi sơ phát tâm cho tới thành Phật quả trải qua ba vô số kiếp. Như vậy nếu sanh ra, chết đi là mất hết th́ đâu có thời gian ba vô số kiếp, không có thời gian tu tập lâu dài đó làm ǵ có Phật? Chư Phật, Bồ-tát tu nhiều đời nhiều kiếp, công quả ấy không mất nên mới có sự liên tục, đi đến kết quả thành đạo. Quí vị có tin thân hiện tại của ḿnh đây mang theo một số tập nghiệp của quá khứ không? Có rơ ràng nhưng v́ ta không xét, không để ư tới nên không thấy. Như một gia đ́nh có bốn năm anh em, ra đời chung từ một cha mẹ. Nhưng mấy anh em ấy có giống nhau từ h́nh sắc cho tới tâm lư như khuôn đúc không? Không giống. Người hiền, người dữ, người thông minh, người chậm lụt. Tại sao như vậy? V́ nghiệp quá khứ không giống nhau, mà thân đời này do nghiệp quá khứ dẫn sanh nên nó cũng không giống nhau. Bây giờ chúng ta kiểm nghiệm lại xem, khi mới sanh ra đứa bé chưa được dạy bảo ǵ cả, mà chúng đă có những sở thích riêng. Đứa ưa ăn, đứa ưa ngủ, đứa thích đồ chơi… Lần đó tôi giảng về luân hồi, có một thầy giáo thưa: “Giáo lư Phật dạy rất hay, v́ làm thầy giáo con hiểu rất rơ điều này. Trong một lớp học thầy, cô dạy b́nh đẳng như nhau, nhưng học sinh có đứa giỏi môn này, có đứa giỏi môn khác, không giống nhau”. Tại sao? Không giống do học hay do cái ǵ? Do nghiệp quá khứ c̣n lưu lại. Ví dụ thuở trước người đó làm thợ mộc, bây giờ sanh trở lại làm người, vừa cầm tới búa đục là đă thấy quen tay rồi. Nên chỉ cần nh́n sơ qua công việc của thợ mộc là họ làm theo rất khéo, đâu cần dạy nhiều. C̣n người hồi xưa là nhà toán học, bây giờ ra đời nói về toán số họ rất tinh thông, hiểu rất sâu. Người hồi xưa là nhà văn, bây giờ văn chương rất giỏi. Mỗi người có sở trường riêng biệt, không ai giống ai. Nếu do chỉ dạy trong hiện tại th́ lẽ ra trong một lớp học mọi người đều giống nhau hết. Nhưng v́ tâm tư, nghiệp tập của quá khứ c̣n cô đọng trong tâm thức, nên ra đời gặp duyên thích hợp nó phát sinh rất dễ. Hiện nay trên thế giới, lâu lâu chúng ta nghe kể nơi này nơi kia có những vị thần đồng giỏi về toán, giỏi về văn chương, giỏi về âm nhạc… dạy một biết tới mười. Rơ ràng nếu bộ óc con người giống nhau hết, làm sao có những hiện tượng ấy. Hơn nữa nếu đời trước không tích lũy số vốn kia, làm sao trong một thời gian học tập ngắn ngủi mà lại giỏi như vậy. Nên biết chúng ta không phải chỉ có một đời này mà có vô số kiếp. Trong kinh kể lại, đêm thứ 49 Phật tu dưới cội Bồ-đề từ canh một tới canh hai, Ngài chứng được Túc mạng minh, nhớ rơ vô số đời về trước như việc mới xảy ra hôm qua, nên Phật nói chúng ta luân hồi sinh tử không phải một lần mà đă trải qua biết bao nhiêu lần rồi. Do đó trong chúng ta nó chứa đựng, tích lũy những chủng tử nghiệp của quá khứ, chớ không mất. Sau này các thầy Tỳ-kheo kết tập lại những bài giảng của Phật về đời quá khứ của Ngài cũng như của các đệ tử thành hai bộ kinh gọi là Bổn Sanh và Bổn Sự. Kinh Bổn Sanh nói về cuộc đời Ngài, c̣n kinh Bổn Sự nói về cuộc đời các đệ tử. Ngày nay chúng ta được thân người, dĩ nhiên mỗi người tích lũy nghiệp khác nhau, cho nên tâm tư, nguyện vọng, khả năng cũng khác nhau, không ai giống ai hết. Theo đây th́ biết nếu khi thân này hoại, chúng ta vẫn tiếp tục thọ thân sau theo nghiệp ḿnh đă gây tạo trong đời này, chớ không mất. Thân sau đó hoặc tiếp tục làm người hay vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, hoặc lên các cơi lành hơn như trời v.v… đều tùy thuộc vào nghiệp hiện tại đây. Do đó ṿng luân hồi không cố định, tùy theo nghiệp duyên ḿnh tạo trong đời này. Hiện giờ chúng ta được làm người nhưng thân sau khó bảo đảm là người. Muốn thân người chúng ta phải làm sao mới được bảo đảm? Phật dạy, muốn đời sau được trở lại làm người th́ ngay đời này phải giữ tṛn năm giới. Năm giới là: không sát sanh, không trộm cướp, không tà dâm, không nói dối, không uống rượu hoặc hút x́ ke, ma túy, á phiện v.v… Giới thứ nhất không sát sanh là không được giết người bằng cách tự tay giết, hoặc dùng miệng xúi bảo người khác giết hoặc thấy nghe giết nhau tâm sanh vui thích tùy hỷ, đó gọi là tùy hỷ sát. Không được giết những con vật lớn. Đó là giới thứ nhất. Giới thứ hai không được trộm cướp. Điều này ai cũng hiểu hết rồi. Giới thứ ba không được tà dâm, nghĩa là vợ chồng có gia đ́nh rồi, không được ngoại t́nh với kẻ khác. Giới thứ tư không được nói dối. Nói dối là nói không đúng lẽ thật, có ba động cơ. Động cơ thứ nhất do tham nên nói dối gạt người để lấy lợi về ḿnh. Động cơ thứ hai do nóng giận nên mắng người là trâu là chó cho hả giận. Động cơ thứ ba do tâm ác độc, người đó không phạm tội, không lỗi lầm nhưng ta vu oan, họ phạm tội này tội kia, để họ phải chịu tù đày khổ sở. Tóm lại nói dối v́ ḷng tham, nói dối v́ nóng giận, nói dối v́ ác độc th́ phạm tội. Giới thứ năm không được uống rượu mạnh, hút các thứ như x́ ke, ma túy… Tôi nói rượu mạnh để giản trạch rượu nhẹ và không được uống say. Rượu mạnh không được uống đă đành, rượu nhẹ mà uống say cũng không được luôn. Giới này bên nam dễ phạm hơn nữ. Dưới đây tôi sẽ nói những tai họa khi chúng ta phạm các điều giới ấy. Là người, ḿnh quí trọng mạng sống không ǵ bằng, vậy kẻ khác có mạng sống, ta cũng phải biết quí trọng như ḿnh. Nếu bây giờ ta sát phạt mạng sống của họ, th́ sau này phải đền trả, họ không thể nào bỏ qua đâu. Chúng ta quí trọng tài sản của ḿnh, th́ người ta cũng quí trọng tài sản của họ. Nếu ta xâm phạm tài sản của người, nhất định họ sẽ t́m cách lấy lại, không thể tránh được. Chúng ta quí trọng hạnh phúc gia đ́nh của ḿnh, th́ cũng phải quí trọng hạnh phúc gia đ́nh người khác. Nếu ta xâm phạm hạnh phúc gia đ́nh của người khác, th́ sẽ có ngày hạnh phúc gia đ́nh ḿnh tan nát. Chúng ta quí trọng trí tuệ thông minh, nhưng lại uống nhiều rượu th́ trí tuệ phải bị đần độn thôi. Hút á phiện x́ ke ma túy làm cho ḿnh điên cuồng lên, đó là chúng ta tự hại ḿnh trở thành người tối tăm mù mịt, không có hướng đi. Phật cấm chúng ta không được phạm năm giới không phải v́ Phật mà v́ chúng ta. Nếu quí Phật tử giữ tṛn năm giới bảo đảm đời này làm người, đời sau trở lại làm người tốt hơn. Người giữ tṛn năm giới như thế, ngay bây giờ có ai dám phê b́nh anh hay chị đó xấu không? C̣n nếu người phạm một trong năm giới đó có bị phê b́nh không? Ví dụ người phạm tội ăn cắp, ai cũng khinh chê. Như vậy nhân phẩm của chúng ta nằm ở trọn trong năm giới ấy. Đời này chúng ta đủ nhân phẩm làm người, đời sau lại được tiếp tục làm người, không sai chạy tí nào. Phật bảo tu năm giới là tu Nhân thừa Phật giáo, tức đạo làm người. Quí Phật tử tự xét lại ḿnh hiện giờ đă giữ tṛn năm giới chưa? Nếu chưa th́ đời này không là người tốt và đời sau không bảo đảm được làm người. V́ vậy Phật nói thân người khó được. Nếu quí vị thấy giữ tṛn năm giới dễ th́ làm người dễ, nếu thấy giữ tṛn năm giới khó th́ làm người khó. Như vậy để hiểu câu nói thân người khó được là hết sức có ư nghĩa. Bởi v́ năm điều kiện để được thân người chúng ta giữ không tṛn nên đời này không thể làm người tốt, đời sau khó được thân người. Trong kinh Phật nói rơ lắm: Không giết người đời sau tuổi thọ dài, không trộm cướp đời sau khá giả, không tà dâm đời sau đẹp đẽ, không nói dối đời sau nói năng lưu loát, nói ra mọi người đều tin quí, không uống rượu mạnh, uống say, không hút á phiện x́ ke ma túy đời sau trí tuệ thông minh. Như vậy đời sau muốn trở lại làm người tốt, trong năm giới này không thể thiếu giới nào cả. Có ai muốn ḿnh sống dai mà nghèo khổ không? Đâu có. Sống dai mà phải có tiền nữa. V́ vậy phải giữ hai giới đầu. Sống dai có tiền, nhưng xấu xí có chịu không? Không. Muốn đẹp, th́ phải giữ giới không tà dâm. Được thân người sống dai, giàu sang, đẹp đẽ mà bị câm ngọng có chịu không? Cũng không, nên phải giữ giới không nói dối th́ đời sau nói năng mới lưu loát, được mọi nguời tin quí. Bây giờ được sống lâu, giàu sang, đẹp đẽ, nói năng lưu loát mà đần độn ngu tối có chịu không? Không luôn, v́ vậy phải đừng uống rượu mạnh, đừng uống say, đừng hút á phiện, x́ ke ma túy. Người nào muốn ḿnh được trọn vẹn như thế th́ phải giữ tṛn năm giới. Hiện đời chúng ta giữ tṛn năm giới xứng đáng người con Phật, đời sau trở lại làm người tốt hơn. Đó là quí Phật tử biết tu, chớ không phải tu là tới rằm, ba mươi đi chùa sám hối, mà về nhà vẫn tiếp tục làm các việc xấu, phạm giới, làm khổ lụy cho ḿnh cho người. Như vậy không gọi là tu. Phật dạy làm người khó nên chúng ta muốn đời sau được làm người toàn vẹn th́ phải cố gắng thực hành y theo lời Phật dạy, cố gắng giữ năm giới cấm. Nếu không như thế th́ không xứng đáng là đệ tử Phật. Trong kinh Phật có dạy: Như một bọng cây nổi trên mặt biển, theo sóng gió trôi giạt khắp nơi. Có con rùa mù nằm dưới đáy biển, một trăm năm mới trồi đầu lên một lần. Như vậy thử hỏi chừng nào con rùa mới gặp bọng cây? Phật nói thân người mất rồi, được trở lại cũng khó như con rùa mù gặp bọng cây. Tại sao? Chúng ta cứ kiểm lại xem ḿnh có giữ tṛn năm giới không, nếu không tṛn làm sao trở lại thân người được. Nh́n khắp trong thế gian, có mấy người giữ tṛn năm giới. V́ thế người mất thân này phải rơi vào chỗ tối tăm nhiều hơn được trở lại làm người. Nên nói được thân người rất khó. Chúng ta có phước duyên lớn mới gặp Phật pháp. Phật dạy chúng ta tu để bảo vệ thân hiện tại tốt đẹp, đúng phẩm hạnh con người, rồi đời sau trở lại làm người tốt hơn, an lành hơn. Nhân quả theo nhau như vậy. Chúng ta thử tưởng tượng trong một xóm, một làng ai cũng giữ năm giới hết th́ xóm làng đó có được b́nh an không? Rất b́nh an. Đi đâu quên đóng cửa không sợ trộm cắp, cũng không nghi bậy bạ ai, mọi người cùng tin tưởng vui vẻ với nhau. Đó là ta tu cho bản thân ḿnh tốt, rồi cả xóm làng tốt, xă hội tốt, quốc gia tốt. Đó là tôi nói rơ con đường tu của Phật tử, kết quả hiện tại và ngày mai không khác nhau, cho nên tất cả phải ráng tu, được vậy mới xứng đáng là con Phật. Cổ đức dùng ví dụ này để nói được thân người rất khó: Thiên niên thiết thọ khai hoa dị, Nhất thất nhân thân vạn kiếp nan. Dịch: Ngàn năm cây sắt trổ hoa dễ, Thân người mất đi được lại khó. Chuyện cây sắt trổ bông vậy mà c̣n dễ, chớ thân người mất đi t́m lại rất khó. Khó hơn cây sắt trổ hoa nữa. Chúng ta thấy được thân người là rất khó. Trước kia có lẽ ḿnh cũng đă tu hành tích lũy tốt phần nào, nên đời này mới được làm người, được nghe Phật pháp. Thế nhưng có những người được làm người rồi lại tự hủy hoại thân này, có phải sáng suốt không? Như tức giận ai liền tự tử, v́ nghĩ làm như vậy cho hết khổ cái đời này. Song họ đâu ngờ chẳng những không hết, mà c̣n khổ hơn nữa. Tại sao? V́ như trong kinh “Tứ thập nhị chương” Phật dạy, như con trâu mỗi khi bị chủ tṛng ách vô cổ bắt kéo xe. Nó ghét cái ách, nên hôm nào chủ nhà không để ư, nó dùng sừng của ḿnh quật cho găy cái ách đi. V́ nó nghĩ cái ách đó găy th́ khỏi kéo xe nữa, nhưng không ngờ găy ách cũ ông chủ làm ách mới c̣n chắc hơn. Phật nói chỉ khi nào hết làm trâu th́ hết kéo xe, c̣n làm trâu dù bẻ mấy cái ách cũng không khỏi kiếp kéo xe. Cũng vậy, chừng nào chúng ta hết nghiệp khổ, nghiệp xấu th́ được an lành tự tại, chớ hủy hoại thân này không phải là nhân an lành tự tại đâu. Biết thế khi gặp nghịch cảnh, chúng ta phải ráng tu để chuyển, chớ không nên liều lĩnh tự hại đời này như thế. Được thân người là quí, nên chúng ta phải ǵn giữ bảo vệ không nên hủy hoại. Trong nhà Phật cấm không được tự sát, mà phải sống vượt qua mọi thử thách khó khăn để làm điều lợi ích cho ḿnh, cho mọi người. Đó là tinh thần không phạm giới sát sinh của đạo Phật. Kế đến Phật nói Phật pháp rất khó nghe, Tại sao? Có hai lư do: Thứ nhất, người sanh trên đời này được gặp, được nghe Phật pháp thật là rất khó. Bởi có người cả đời không biết đến hai chữ Phật pháp, hoặc có những người được nghe lại không hiểu, nên nói khó nghe. Tại sao Phật pháp được nghe mà không hiểu? Bởi v́ Phật pháp nói lẽ thật, chỉ lẽ thật cho chúng ta mà ḿnh sống trong ảo tưởng quá nhiều, nên không thể tiếp nhận được sự thật ấy. Ví dụ quí vị có chấp nhận thân ḿnh nhơ nhớp không? Thầm nhận thôi, nhưng nếu ra ngoài ai phê b́nh anh hay chị này nhơ nhớp hôi hám quá, chịu không nổi th́ ḿnh nổi sân cự người kia liền. Phật nói thân này là đăy da hôi thối, mà ḿnh lại thấy nó quí, nó đẹp, như vậy không phải sống với ảo tưởng là ǵ? Tưởng ḿnh sạch, tưởng ḿnh đẹp, tưởng ḿnh quí nên nghe nói dơ, xấu chịu không nổi nên sân si liền. Càng sân si th́ càng thấy xấu hơn, chớ đâu căi chánh cho cái nhơ nhớp ấy được. Có những việc hết sức nhỏ nhưng tôi thấy rất hay. Hôm đó thấy một thầy móc trong lỗ mũi ra một cục, tôi hỏi cục ǵ? Thầy ấy nói cục cứt mũi. Tôi hỏi thêm nếu trong lỗ tai móc ra th́ gọi cái ǵ? Đáp cứt rái. Như vậy cả cái đầu ḿnh toàn cứt không sao? Thế th́ nó đẹp chỗ nào, quí chỗ nào, khôn chỗ nào? Từ trên xuống dưới đều là đồ bỏ hết, vậy mà ta tưởng quí, tưởng đẹp, nghe ai phê phán một chút nổi tức lên liền. Thật buồn cười, thật tội nghiệp! Cho nên khi Phật sắp thành đạo, bọn ma vương giả thành thiếu nữ đẹp tới quyến rũ Ngài trở về thế gian, Phật liền quở: “Đăy da hôi thối hăy đi, ta không dùng”. Chúng xấu hổ tự bỏ đi. Đức Phật nh́n tường tận, thấy rơ lẽ thật, nói ra lẽ thật nhưng v́ lẽ thật ấy khó chịu quá nên không ai muốn nghe. Phật pháp khó nghe ở chỗ đó, nó ngược lại với sự tưởng tượng, ước mơ của con người. Ai cũng muốn được khen, được đẹp, được tán thán sạch sẽ thơm tho… Nếu ḿnh thật sạch sẽ th́ mấy hăng xà bông thơm, dầu thơm ế hết. Tự ta thơm rồi, đâu cần ǵ nó, c̣n dùng tới dầu thơm là biết ḿnh không thơm không sạch. Vậy mà ta cứ quên, tưởng ḿnh thơm lắm, ai đi ngang cũng thích, đó là ảo giác chớ thực tế không phải thế. Thật ra con người sống với ảo tưởng quá nhiều, nên Phật nói lẽ thật chỉ thẳng lẽ thật cho chúng ta đừng lầm. Người nào thấy đúng lẽ thật th́ bớt cao mạn, c̣n sống với ảo tưởng dễ sanh ra tự cao, ngạo mạn, đó là lẽ thường. Con người thường mơ tưởng sống dai, một trăm tuổi, hai trăm tuổi mới vừa ư. Hồi xưa mấy ông vua c̣n tham nữa, khi bá quan vô chầu đều chúc vạn tuế, nghĩa là sống tới muôn năm. Bây giờ chúng ta chúc Tết với nhau, cao lắm là bá niên tức trăm năm thôi. Giả sử ai đó trớ trêu chúc anh chị sang năm chết, quí vị chịu không? Chắc đuổi ra khỏi nhà liền. Bên Nhật có một Thiền sư được nhắc tới măi. Hôm ấy ngày Tết đầu năm, Phật tử đến đảnh lễ chúc tết Ngài xong, Ngài chúc lại thế này: Tôi chúc cho gia đ́nh anh, ông nội chết, bà nội chết, cha chết, mẹ chết, con chết, cháu chết. Người được chúc ngạc nhiên không hiểu sao ông thầy chúc cái ǵ kỳ lạ vậy, chúc như trù rủa toàn gia quyến người ta. Nhưng Thiền sư giải thích: Tôi chúc như vậy là hạnh phúc cho gia đ́nh anh đó chứ! Bởi v́ có khi ông nội c̣n, bà nội c̣n mà cháu chết th́ đó là bất hạnh. Tôi chúc theo thứ tự, ông nội chết trước rồi tới cha, con, cháu, chắt. Như vậy là tốt quá, hạnh phúc quá rồi, tại sao lại không chịu? Chúng ta có bệnh hay trốn sự thật. Nghe chết là chướng tai liền không chấp nhận, nhưng đó là lẽ thật. Có phải lẽ thật khó nghe không? Bởi thế người xưa hay nói “Trung ngôn nghịch nhĩ”, tức lời nói thật th́ trái lỗ tai. Tại v́ ḿnh sống trong ảo tưởng quá nhiều, mơ ước quá nhiều nên nghe nói thẳng th́ buồn, chịu không nổi. Chẳng những Phật nói cuộc đời vô thường, mà c̣n nói mạng sống của ḿnh trong hơi thở nữa ḱa. Nếu đầu năm Phật tử được huynh đệ tới chúc “Tôi chúc anh chị mạng sống trong hơi thở”, quí vị chịu nổi không? Chắc chịu không nổi. Một ngày c̣n không chịu huống nữa trong hơi thở, nhưng đó là lẽ thật. Thở ra mà không hít vào là chết chớ sao, đó là lẽ thật tại sao chúng ta lại không chịu? Cho nên Phật pháp khó nghe là v́ vậy. Chúng ta đă có duyên gặp Phật pháp rồi, phải ráng nghe những lẽ thật ấy để phá cái chấp ảo tưởng của ḿnh, không c̣n lầm lẫn nữa. Biết đúng như thật về bản thân, về mạng sống của con người, ta không bị ảo tưởng làm mờ tối, khi ấy việc tu rất dễ dàng. Như vậy khi đă được thân người, chúng ta phải làm ǵ? Biết rằng thân người khó được mà ngày nay ḿnh được rồi, đó là rất quí. Quí th́ làm sao? Kiếm thuốc trường sanh cho nó sống dai phải không? Hay dùng tất cả các chất tẩm bổ cho nó tráng kiện hoài? Không phải. Chúng ta biết được thân người là điều rất khó, nên khi đă được phải sử dụng sao cho hữu ích đối với bản thân, với mọi người xung quanh. Như vậy mới xứng đáng với giá trị khó được của nó. Chẳng lẽ được thân người rồi, ta cứ để trôi qua hết một đời, sau mất đi không chắc trở lại làm người th́ uổng biết mấy. V́ vậy ḿnh phải làm sao cho cuộc sống ngày càng tốt đẹp, làm sao mọi người chung quanh đều quí mến. Đó là chúng ta biết dùng thân này, chớ quí vị chỉ lo ăn, lo ngủ, lo mặc, lo chỗ ở… lo đă đời rồi ngă xuống chết, không biết đi về đâu, có đáng tiếc không? Nhiều vị tưởng làm lợi ích cho ḿnh cho người là làm giàu, có nhiều tiền. Không phải vậy. Với tâm lúc nào cũng muốn đem lại sự tốt đẹp cho ḿnh, cho người th́ sống trong hoàn cảnh nào ta cũng làm được. Ví dụ thấy bà cụ bảy tám mươi tuổi qua đường, xe cộ dập d́u cụ không dám qua, chúng ta chỉ cần dắt tay đưa bà qua đường. Đó là tốt, là có phước rồi. Việc làm này đâu đ̣i hỏi phải có tiền, chỉ một chút công thôi cũng đủ có phước. Gặp một đứa trẻ đi học, chạy chơi vấp té, chúng ta đỡ nó lên, phủi quần áo sạch, đâu tốn công bao nhiêu mà lại là một hành động tốt. Thấy ngoài đường người ta bỏ rác dơ, ḿnh lượm vào đốt hoặc chôn, đó là hành động tốt. Không cần ai biết, ai khen, mỗi ngày ḿnh đều làm đẹp cho bản thân, làm đẹp cho xă hội, đó là ta khéo tu, khéo sử dụng thân này. Đồng thời đối với thân, miệng, ư của ḿnh, chúng ta làm được việc ǵ có lợi chung cho mọi người th́ làm. Miệng nói những lời tốt khiến mọi người an vui. Ư nghĩ tới t́nh thương, hỷ xả, nghe lời phiền trách chửi rủa, ḿnh đều bỏ qua không giận. Thân giúp đỡ ai được việc ǵ đều vui vẻ làm không nệ khó nhọc. Đó là người khéo dùng thân tạm bợ này, không để uổng phí. Nếu không như vậy dù ta ăn ngon mặc đẹp mấy, tới chừng nhắm mắt thân này cũng trở thành thây thối mà thôi, có giá trị ǵ? Thế nên khi c̣n sống, chúng ta cố gắng sử dụng thân cho có lợi ích, không tạo tội lỗi vừa để tốt đẹp cho bản thân vừa làm gương cho mọi người noi theo. Có thế đời sau được trở lại làm người, được thân tốt đẹp và phước đức nhiều hơn nữa. Muốn thế ta phải ǵn giữ thân miệng ư, không làm những điều sai lầm, luôn luôn làm điều tốt đẹp, đó là người khéo tu. Bởi vậy phải giữ tṛn năm giới, đừng để thiếu sót đời sau sẽ không được làm người tốt đẹp trọn vẹn. Đó là người biết lo cho ḿnh. Vị nào cao cả hơn nữa nên lợi dụng thân này cố gắng ngày đêm tu hành, sao cho sớm thức tỉnh, sớm giác ngộ. Đó là tiến lên vượt hơn thân người ở mai sau nữa. Tôi dùng một ví dụ để làm sáng tỏ hơn điều này. Như người ra biển, gặp sóng to gió lớn, thuyền bị đánh ch́m. Bấy giờ người ấy bơi lội một đổi gần đuối, bỗng dưng gặp một khúc cây mục trôi lờ đờ trên mặt nước. Người ấy liền ôm khúc cây mục nên khỏi chết đuối. Nhưng khi được khúc cây mục rồi, người ấy phải làm sao? Phải t́m cách báo cho thuyền bè đi gần hay, họ cứu hoặc nếu gần bờ th́ mượn khúc cây mục đó lội vào bờ. Như vậy khúc cây mục là hữu ích. Ngược lại ôm được khúc cây mục, mừng khỏi chết ch́m rồi cứ ôm nó hoài, không nhờ ai tiếp cứu hoặc không lội vào bờ, kết quả sẽ ra sao? Khi khúc cây ră, người ấy phải chết thôi. Với người như thế khúc cây mục kia trọn chẳng có lợi ích ǵ. Khúc cây mục dụ cho thân này, chúng ta nhờ nó mà sống làm việc này việc kia. Ta nương nó để làm tất cả điều tốt, chớ không nên ôm giữ, bảo vệ nó như kẻ ôm khúc cây. Ngày nào nó ră mục th́ uổng đi một đời vô ích. Đó là chỗ thiết yếu trong việc ứng dụng tu hành. Phật pháp khó nghe, mà chúng ta đă được nghe th́ phải làm sao? Người thiếu phước duyên ít có cơ hội nghe pháp, cũng như ít có cơ hội gặp chư tăng giảng dạy Phật pháp. Bây giờ được gặp, được nghe chúng ta phải biết trân quí pháp, nghe rồi tư duy cho kỹ xem lời Phật dạy, chư tăng dạy có đúng không. Nếu nghe và suy gẫm biết rơ là đúng th́ chúng ta phải thực hành. Đó là tu. Nghe giảng kinh thuyết pháp không giống như đi nghe nhạc hoặc coi cải lương đâu. Ta không cảm thấy vui ồ ạt một chút rồi hết, mà nó rất thâm trầm. Chúng ta phải suy gẫm, nhận định mới hiểu, mới thấy cái hay của pháp. Từ đó áp dụng thực hành, ta mới thấy giá trị và lợi ích thiết thực của giáo pháp. Thực hành gọi là tu. Vị nào học Phật hội đủ ba điều kiện trên, nghe pháp, biết suy gẫm đúng và thực hành, bảo đảm vị ấy là người Phật tử chân chính, sẽ tu tiến chớ không bao giờ lùi. Được thế chắc chắn quí vị sẽ thoát khỏi những đau khổ trong hiện tại và mai sau. Cho nên trong nhà Phật dạy tam tuệ học là Văn, Tư, Tu. Văn là được nghe, tư là suy gẫm, suy ngẫm rồi tu. Phật không bắt buộc ai nghe Ngài dạy rồi tin liền, mà phải suy gẫm, thấy đúng mới tin mới thực hành. Kế đến, chúng ta nghe, hiểu, thực hành, rồi phải thêm cái tâm nữa. Phải có tâm ham tu, muốn chuyển hóa những ǵ xấu dở thành hay tốt. Những ǵ ḿnh thấy hay, đúng nên thực hành và khuyên bạn bè, gia đ́nh cùng học cùng hiểu, cùng thực hành theo. Được như vậy vừa có lợi cho gia đ́nh ḿnh, vừa có lợi cho những người chung quanh. Như thế mới đúng với tinh thần tự lợi, lợi tha của đạo Phật. Không nên hài ḷng với kết quả của riêng ḿnh, rồi giấu không cho ai biết nữa, đó là tâm ích kỷ không tốt. Tóm lại, Phật tử phải thực hiện hai bổn phận: Thứ nhất, ḿnh nghe suy gẫm rồi tu. Thứ hai, đem cái nghe hiểu của ḿnh truyền bá, chỉ dạy lại cho huynh đệ cùng nghe, cùng hiểu. Đó mới đúng là người Phật tử chân chính biết tự lợi, lợi tha, làm tốt bổn phận của người tu Phật. Thật ra tu theo đạo Phật không khó mà khó là tại chúng ta không can đảm thôi. Ví dụ Phật tử nào lỡ ghiền rượu, bây giờ nghe nói cấm uống rượu tự nhiên thấy tu khó quá, làm sao bỏ được đây? Nhưng nếu vị nào cả gan bỏ, khi bỏ được rồi mới thấy nhẹ nhàng. Ḿnh không c̣n bị cái say sưa, mờ mịt lôi kéo nữa. Đó là đă giải thoát một phần, giải thoát nghiệp nghiện ngập trói buộc đó. Quí vị tự xét xem uống rượu nhiều độc hại hay tốt lành. Rượu làm cho men gan tổn hoại, trí tuệ mờ tối, không c̣n biết phải quấy tốt xấu ǵ nữa. Người say sưa chuyện tội lỗi tày trời cũng dám làm, tới hồi tỉnh ra th́ đă lỡ hết rồi, chỉ chuốc họa đau khổ mà thôi. Cho nên thoát khỏi nghiệp rượu là thoát khỏi hiểm nạn, thân tâm nhẹ nhàng khỏe khoắn vô cùng. Khi thoát được rồi mới thương những anh em cùng nghiệp như ḿnh. Từ đó t́m cách khuyên nhủ, động viên họ nên chừa bỏ nghiệp rượu một cách mạnh mẽ. V́ bản thân ḿnh đă bỏ được nên tự tin, thấy việc làm này không phải quá khó. Nếu người nào can đảm, cương quyết th́ sẽ làm được thôi. Đó là hạnh tự lợi, lợi tha nằm trong tầm tay, trong khả năng của chúng ta. Cho nên tu Phật đâu phải quá khó. Bên nam nặng nghiệp rượu, c̣n bên nữ nặng nghiệp nói dối. Quí cô, quí bà hay than buôn bán ngoài chợ không nói dối, khó quá. Quí vị đừng sợ, ban đầu ḿnh nói thật giá, khách hàng chưa tin nhưng nhiều lần như vậy họ tin. Khi tin rồi họ mua ngày càng nhiều, và giới thiệu người khác tới mua nữa. Cho nên buôn bán càng nên giữ giới không nói dối mới phải chứ. Ban đầu thấy như thiệt tḥi, nhưng sau sẽ được lợi ích hơn, mà lợi ích một cách chân chánh. C̣n nói dối lừa gạt người, ban đầu họ không biết c̣n mua, đến chừng biết ḿnh lừa gạt rồi, sau không ai dám tới nữa. Cho nên người khéo tu thấy như bị thiệt tḥi mà lại có lợi ích, c̣n người gian xảo thấy như được lợi nhiều nhưng có ngày sẽ mất hết. Thế nên quí vị đừng ngại bị thiệt tḥi, chỉ ngại chúng ta phạm giới thôi. V́ phạm giới đời này sống không an ổn mà đời sau c̣n chịu xấu hơn nữa. Chúng ta sống trên đời này chỉ vài chục năm, lụi đụi cái chết đuổi theo sau. Vậy mà ta không chuẩn bị, không lo cho ngày mai, cứ tạo tội th́ chừng chết tới làm sao trở tay kịp. Đó là khôn hay dại? Biết khổ mà không chuẩn bị đó là dại. Người khôn biết ngày mai ḿnh phải chết bây giờ chuẩn bị lần, để sau khi chết được tự tại, được thân tốt đẹp hơn. Như vậy là người biết lo xa. Quí vị giữ tṛn năm giới làm điều lành, khi gần nhắm mắt vui cười ra đi. Tại sao? V́ biết chắc ḿnh sẽ được thân sau tốt hơn, tự nhiên thấy vui, đâu có sợ chết. Thân này ai cũng biết nó bại hoại mà không chịu tu, không chịu chuẩn bị, chờ nó hoại rồi kêu trời khổ quá. Bây giờ biết thân bại hoại chúng ta can đảm, chấp nhận, rồi tạo điều kiện cho ngày mai được đẹp đẽ hơn. Nắm chắc trong tay kết quả rồi th́ khi thân hoại ta chỉ việc mĩm cười “Thôi chào anh tôi đi, sau sẽ tốt hơn. Đừng lo”. C̣n không biết ngày mai thân phận ra sao, dĩ nhiên là hoảng hốt sợ sệt thôi. Đă thế nhiều vị lớn tuổi c̣n cấm đầu lo cho con cháu, lo hoài không chịu tu. Sao quí vị không nghĩ tới chừng ḿnh ra đi, tụi nó có đứa nào chịu đi theo dẫn đường cho ḿnh không? Chừng đó lủi thủi đi một ḿnh, không biết thân phận ra sao. Chúng ta không phải chỉ có một đời này mà c̣n tiếp tục nhiều đời, phải ráng làm sao tiến hơn, tiến tới bao giờ thành Phật mới thôi. Có thế mới xứng đáng là đệ tử của Phật. Sở dĩ các Thiền sư gần chết cười là v́ các Ngài biết ḿnh không mất cái cao quí, đời đời sinh ra gặp Phật pháp, tu hành ngày càng tiến lên, nên mới vui như vậy. Tôi mong tất cả quí Phật tử có mặt ở đây nghe hiểu, suy gẫm và ứng dụng tu, đừng để uổng công phí sức, nghe pháp nhiều mà không làm được ǵ hết. Phật tử không thể tu được nhiều như Tăng Ni, v́ c̣n lo sự sống, bận bịu gia đ́nh nên mỗi ngày làm một hai điều lành cũng tốt. Cứ thế mỗi ngày một ít, đến khi nhắm mắt cũng tích lũy một số lớn, nghiệp lành ấy sẽ dẫn quí vị đi theo đường lành. Đó là khôn ngoan, sáng suốt. Buổi nói chuyện hôm nay, tôi tha thiết nhắc tất cả quí Phật tử nhớ rơ “Thân người khó được”. Chúng ta được rồi th́ phải ráng giữ ǵn cho tốt và tạo duyên cho mai sau càng tốt hơn, chứ đừng thả trôi. Phật pháp khó nghe, ngày nay chúng ta được nghe rồi phải nhận định chín chắn và thực hành. Có thực hành mới thấy lợi ích thiết thực, nếu không thực hành dù nghe bao nhiêu kinh, đọc bao nhiêu sách cũng không đi tới đâu hết. Mong tất cả Phật tử khéo sử dụng thân khó được này cho nó xứng đáng. Phật pháp khó nghe này mà chúng ta lănh hội được để ngày mai tiến lên, không làm Hiền Thánh ít ra ta cũng được làm người tốt hơn đời này. Đó là lợi ích của người biết nghe Phật pháp. ] NHÂN THỪA VÀ BỒ TÁT THỪA Chùa Việt Nam Washington - Hoa Kỳ - 2001 Hôm nay chúng tôi sẽ nói về hai vấn đề, một là tu bằng cách nào để đem lại sự an lạc cho tất cả mọi người đời này và đời sau, hai là tu bằng cách nào để được giải thoát sanh tử. Vấn đề thứ nhất, tu bằng cách nào để chúng ta được an lạc trong đời này và đời sau. Điều này trong kinh có nhắc đến nhiều, nhưng ở đây tôi chỉ nói thu gọn cho Phật tử dễ nhớ. Giáo lư của đạo Phật có chia ra Ngũ thừa Phật giáo, tức là năm bậc. Bậc thứ nhất là Nhân thừa, tức giáo pháp dạy chúng ta tu để có được lợi ích thiết thực ngay trong đời này và cả đời sau. Thứ hai là Thiên thừa, tức giáo pháp dạy chúng ta tu để được sanh về cơi trời. Thứ ba là Thanh văn thừa, thứ tư là Duyên giác thừa, hai giáo pháp này đều dạy chúng ta tu để giải thoát sanh tử. Thứ năm là Bồ-tát thừa, tức giáo pháp dạy chúng ta tu vừa lợi ḿnh vừa lợi người, cuối cùng đều đi đến giác ngộ giải thoát. Ở đây tôi chỉ nói hai bậc là Nhân thừa và Bồ-tát thừa thôi. Nhân thừa là tu thế nào để được an lạc cho chúng ta ngay trong đời này và đời sau. Bồ-tát thừa là tu cách nào để được giải thoát sanh tử cho ḿnh, cho người. Hai vấn đề này là hai vấn đề then chốt mà tất cả người tu chúng ta cần phải biết. Trước khi muốn giải thoát sanh tử, chúng ta phải biết sanh tử có bao nhiêu đường. Nhà Phật dạy luân hồi trong Lục đạo là: địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, người, a-tu-la, trời. Chúng sanh c̣n sanh tử luân hồi sẽ đi trong sáu đường này. Giáo pháp Phật dạy tu để tránh địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh; kế đó lên làm người, chư Thiên, sau cùng dạy chúng ta tu giải thoát sanh tử. Chúng ta thường nghe nói về ba đường khổ là địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Địa ngục, ngạ quỷ khổ thế nào ta không thấy, nhưng súc sanh th́ sự khổ nhan nhăn ở trước mắt, ai cũng thấy. Cho nên đă là người tu đạo, nhất định phải tránh ba đường khổ ấy. Làm sao để tránh? Phải qui y Tam bảo, nghĩa là qui y Phật, qui y pháp, qui y tăng. Qui y Phật rồi khỏi đọa địa ngục, qui y Pháp rồi khỏi đọa ngạ quỷ, qui y Tăng rồi khỏi đọa súc sanh. Tại sao qui y Phật rồi khỏi đọa địa ngục? V́ địa ngục là chốn u minh tăm tối, qui y với Phật là bậc giác ngộ sáng suốt th́ làm ǵ xuống chỗ u minh tối tăm. Tu là tránh những đường khổ như thế. Tại sao qui y pháp khỏi đọa ngạ quỷ. Ngạ quỷ là loài quỷ đói. Với con mắt của Phật, Ngài thấy rơ trong thế gian này có những loài quỷ đói, sống lang thang khổ sở, chúng không có ǵ ăn. Nên Phật dạy chư Tăng Ni mỗi chiều nên cúng cô hồn, tức cho các loài quỷ đói ăn. Có một lần ngài Mục Kiền Liên nh́n thấy trong hư không có những loài quỷ đói lang thang, khổ sở kêu khóc. Ngài xót xa bạch với Phật, Phật bảo: “Ta cũng thấy như vậy nhưng Ta không có nói”. Thế th́ loài quỷ đói cầu xin ḿnh, chớ không phải ta cầu xin nó. Vậy mà ngày nay nhiều người cúng ma quỷ cầu xin nó hộ độ cho ḿnh, thật là quá sai lầm. Biết thế rồi ta chỉ thương chớ không sợ ngạ quỷ, v́ nó khổ hơn ḿnh. Do nhân nào đọa làm quỷ đói? Phật dạy những người đời trước ôm ḷng tham lam, bỏn sẻn, hiểm độc sẽ sanh vào loài quỷ đói. V́ tham lam nên cái ǵ cũng vơ vét hết, được ḿnh mà hại người cũng chẳng từ nan. Do tâm bỏn sẻn nên gặp người khổ không giúp, dù ḿnh rất dư dả. Do hiểm độc nên thường bày mưu này kế nọ để hại người. Bây giờ ḿnh tu theo Phật rồi, phải có ḷng từ bi, rộng lượng, không được tham lam bỏn sẻn hiểm độc. Như vậy nhờ tu theo Phật, chúng ta đă chận được các đường khổ. Tại sao qui y Tăng rồi khỏi đọa súc sanh. Phật dạy người đời trước do si mê nên đời này đọa làm súc sanh. Si mê thế nào? Si mê là không biết rơ thế nào là thiện, thế nào là ác, thế nào là tội, thế nào là phước, thế nào là tà, thế nào là chánh. Người không phân biệt rành rơ thiện ác, tội phước, tà chánh gọi là si mê. Si mê nên chết phải đọa làm loài súc sanh. Khi qui y xong quí thầy có bổn phận giảng trạch rành rơ cho quí Phật tử biết, thế nào là thiện, thế nào là ác, thế nào là tội, thế nào là phước, thế nào là tà, thế nào là chánh. Làm đau khổ cho người là ác, đem lại lợi lạc cho người là thiện. Chẳng những người mà đối với các loài khác cũng thế. Nói chung làm lợi lạc cho người và chúng sanh gọi là thiện, làm đau khổ gọi là ác. Thế nào là tà, thế nào là chánh? Tà chánh ở đây có nhiều lối. Thứ nhất chúng ta là đệ tử Phật mà đi cầu cúng miếu bà miếu ông là tà. Tại sao? Bởi v́ do ḷng tham nên tới cầu xin, mà không biết người ḿnh đang cầu xin đó thế nào. Phật dạy chúng ta lư nhân quả, chớ không dạy cầu xin. Gieo nhân tốt th́ gặt quả tốt, gieo nhân xấu th́ chịu quả xấu. Ḿnh làm ḿnh chịu, nếu cầu xin được th́ không có lư nhân quả. Song lư nhân quả là chân lư ở trên thế gian, không thể chối căi được. Lẽ thực chúng ta không làm, lại làm theo tưởng tượng hư dối nên gọi là tà. Đó là tà đối với chánh. Ngoài ra, quan niệm tà trong đạo Phật cần phải hiểu cho tường tận, nếu không khéo chúng ta cũng sẽ bị lạc vào đó. Phật dạy ba thứ độc là tham sân và si. Nếu ta tham mà bị ai ngăn trở th́ nổi sân, cho nên tham và sân gốc từ si mà ra. Nhưng Phật tử bây giờ đi chùa có tham không, tham cái ǵ? Tham cầu xin. Quí thầy cô tụng kinh cũng cầu nguyện, như vậy có tham không? Quí thầy cầu nguyện cho tất cả chúng sanh đều sớm thức tỉnh, quốc thới dân an, mọi người đều được ấm no hạnh phúc th́ không phải tham. C̣n Phật tử đến chùa cúng có một dĩa quả mà xin thôi là xin, thứ nào cũng to hết. Đó chưa phải là chánh. Người hiểu đạo cầu nguyện thế này, nguyện cho gia đ́nh con sớm thức tỉnh, mọi người cũng biết thức tỉnh, tất cả đều được b́nh an, như vậy đâu có tội tham. Ngược lại nếu chỉ cầu cho ḿnh không thôi, đó là tham. Đă tham th́ thuộc về tà, chớ không phải chánh. Chúng ta phải phân biệt tà chánh rành rơ mới khỏi đọa vào đường dữ. Người biết rơ thiệc ác, tội phước, tà chánh bảo đảm đời sau không đọa làm súc sanh. Chư Tăng là những vị giúp cho Phật tử biết rơ những điều này nên chúng ta phải quy y Tăng. Khi bắt đầu qui y Tam bảo, là chúng ta đă thoát khỏi ba nhân ác địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh rồi. Trên đường tu chắc chắc không đọa lạc vào ba đường ác, chịu nhiều đau khổ. Nhưng làm sao được đi đường lành? Đường lành là người, a-tu-la và trời. Muốn được trở lại làm người tốt th́ phải giữ năm giới. Giữ năm giới gọi là tu Nhân thừa Phật giáo. Giới thứ nhất không sát sanh, tức không giết người th́ đời này được b́nh an, đời sau sinh ra tuổi thọ lâu dài. Giới thứ hai không trộm cướp th́ đời này không bị tù tội, đời sau sanh ra có nhiều của cải. Giới thứ ba không tà dâm th́ đời này nghiêm trang tề chỉnh, có phẩm chất tốt, đời sau sanh ra đẹp đẽ trang nghiêm. Giới thứ tư không nói dối th́ đời này được mọi người tin tưởng, đời sau sanh ra nói năng lưu loát, ai cũng quí, cũng tin. Giới thứ năm không uống rượu mạnh, uống say, không hút á phiện x́ ke ma túy, th́ đời này được tỉnh táo sáng suốt, đời sau sanh ra thông minh trí tuệ. Chỉ tu năm giới thôi đời này là một con người đứng đắn trong xă hội, không ai dám khinh rẻ, đời sau sanh ra lại càng tốt đẹp hơn. Như vậy có phải đời này được an lạc, đời sau càng an lạc hơn không? Việc tu có lợi ích thiết thực, chớ không phải chuyện huyễn hoặc mơ hồ. Quí Phật tử kiểm điểm lại, giả sử trong một xóm có cả trăm gia đ́nh tu theo Phật, giữ tṛn năm giới th́ xóm đó có lo sợ ǵ không? Không lo sợ ǵ cả, không sợ người ta hại ḿnh, không sợ người ta trộm cắp của ḿnh, không sợ người ta phá gia can của ḿnh, không sợ người ta dối gạt ḿnh, không sợ người ta say sưa phá phách ḿnh, xóm làng đó b́nh an vô cùng. Sống như vậy là thực hiện cuộc sống an lạc cho ḿnh và cho mọi người. Đây là hiệu quả thiết thực của người tu Phật. Tu giúp cho bản thân chúng ta tốt, gia đ́nh được b́nh an, mà cả xă hội cũng tốt đẹp nữa. Đạo Phật đem lại b́nh an cho mọi người, đem lại sự tốt đẹp cho xă hội, mà rất tiếc Phật tử tu theo đạo Phật lại không biết ḿnh đang làm ǵ, kết quả ra sao. Chúng ta tu đúng theo lời Phật dạy, khi tuổi thọ sắp măn có người tới hỏi: “Anh chị theo đạo Phật, tu cư sĩ tại gia, vậy khi chết đi đâu?” Quí Phật tử sẽ nói “Bảo đảm tôi trở lại làm người tốt hơn bây giờ”. Cho nên bỏ thân này không tiếc, không sợ chết, yên ḷng ra đi v́ nắm chắc tương lai sáng sủa hơn, đẹp đẻ hơn. Rơ ràng việc tu có công hiệu vô cùng. C̣n kẻ không biết ngày mai nhắm mắt ḿnh sẽ ra sao, tương lai mù mịt th́ rất sợ chết. Việc này rơ ràng như thế không nghi ngờ ǵ cả. Như vậy chúng ta thấy giá trị của sự tu, an lạc đời này và đời sau. Đó là một lẽ thực vậy. Kế đến nói về tu để được giải thoát. Phần này hơi khó một chút. Chúng ta thường tụng kinh Bát-nhă, trong đó Phật muốn đưa ḿnh từ con người si mê tiến lên con người trí tuệ sáng suốt để giải thoát sanh tử. Nhưng rất tiếc Phật tử tụng th́ tụng mà hiểu th́ không hiểu. Chỉ câu đầu thôi “Quán Tự Tại Bồ-tát hành thâm Bát-nhă ba-la-mật-đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách” nghĩa là sao? Bồ-tát Quán Tự Tại khi thực hành sâu trí tuệ Bát-nhă, Ngài soi thấy năm uẩn đều không, nên vượt qua hết tất cả khổ nạn. Một câu đó quí Phật tử có thấm chưa, có hành chưa? Có lẽ quí vị tụng cho Phật nghe nhiều hơn là để thấm để hành. Một câu này đủ để thấy giá trị siêu thoát trong đạo Phật rồi. Đây là bài kinh trí tuệ, mà trí tuệ này là trí tuệ của Phật siêu xuất thế gian, chớ không phải trí tuệ thế gian. Chiếu kiến là dùng trí tuệ soi xét thân năm uẩn đều không, tất cả mọi khổ ách sẽ không c̣n. Hết sức giản đơn, chỉ một câu thôi chúng ta vượt qua tất cả khổ ách. Nhưng chúng ta đă tụng Bát-nhă cả trăm biến, ngàn biến mà hết khổ ách chưa? C̣n nguyên. Đó là v́ chưa hiểu tinh thần Bát-nhă. Trong Bát-nhă có chia ra ba phần: Văn tự Bát-nhă, Chiếu kiến hay Quán chiếu Bát-nhă và Thật tướng Bát-nhă. Văn tự Bát-nhă giống như con thuyền. Ngồi trên thuyền mà không chịu chèo, không chịu bơi th́ chừng nào mới qua sông? Cho nên Văn tự rồi phải Quán chiếu. Có chèo bơi mới đến nơi, tức học hiểu quán chiếu tu tập rồi mới qua hết khổ ách, đi tới Thật tướng Bát-nhă là lên bờ. Chúng ta chỉ tụng đọc mà không soi xét tức chỉ làm việc ban đầu Văn tự Bát-nhă. Nếu dừng ngang đó, th́ chừng nào tới phần thứ hai, thứ ba. Mục đích chánh là đến bờ, mà ta cứ ngồi trên thuyền hoài, chắc thuyền mục ch́m luôn, chớ không tới bờ bên kia được. Đó là chỗ đa số chúng ta hiện giờ đang mắc kẹt. Chữ “giai không” này rất nhiều người hiểu lầm. Cho nên trong nhà Phật có câu: “Thà là chấp có bằng núi Tu Di, không nên chấp không bằng hạt cải”, chấp không là tai họa đáng sợ. Nghe nói chiếu kiến ngũ uẩn giai không người ta tưởng đó là chấp không. Thật ra không phải vậy. Điều này tôi sẽ dẫn chứng cụ thể để tất cả chúng ta thấy rơ ư nghĩa chữ Không của Bát-nhă. Như tôi đưa bàn tay lên, co năm ngón lại. Khi co năm ngón lại th́ có nắm tay. Bây giờ chúng ta phải nhận cho ra nắm tay là thật hay không thật? Đang thấy nắm tay nói không sao được, nhưng nếu nói nó thật th́ khi tôi buông năm ngón tay ra, nắm tay có không? C̣n co th́ có, buông ra th́ không. Như vậy nói thế nào cho đúng nghĩa của nắm tay. Nói không không được, nói có cũng không được. Chúng ta không có quyền nói nắm tay thật có v́ đó là sai lầm, cũng không có quyền nói thật không v́ mắt đang thấy rơ ràng. Nói thật có, nói thật không đều là chấp một bên, đều là sai lầm. Ở đây tôi chia ra ba thời. Thời thứ nhất trước khi tôi co năm ngón lại, có nắm tay không? Không có nắm tay. Thời thứ hai khi tôi đang co năm ngón lại, nhưng nếu nh́n trên từng ngón phân tích đây ngón cái, ngón trỏ, ngón giữa… mỗi ngón riêng biệt th́ có nắm tay không? Không có nắm tay. Đó là đang lúc có mà cũng là không. Thời thứ ba khi buông năm ngón ra, có nắm tay không? Cũng không có nắm tay. Như vậy ba thời trước giữa và sau hay quá khứ, hiện tại và vị lai, nắm tay bản tánh là không. Đợi năm ngón co lại là duyên hợp mới có, đă là duyên hợp th́ phải tan chớ không thể c̣n hoài được. Phàm những ǵ có hợp có tan th́ không thể gọi là thật. Nắm tay bản tánh nó là không, đợi duyên hợp mới có. Duyên hợp mới có nên có là giả có chớ không phải thật. Đây là một lẽ thật. Đi xa hơn, tất cả mọi thứ chung quanh ta đều là duyên hợp tánh không, giả có. Tánh không này không rời các pháp, như ngay nơi nắm tay, ta biết rơ tánh nó là không. Nắm tay là sắc tướng mà ta thấy tánh không nên kinh nói “sắc tức thị không”. Không ở đây không phải không ngơ, mà không là tánh không. Rồi “không tức thị sắc” là từ tánh không, duyên hợp nên có sắc. Như vậy từ h́nh sắc giả tướng thấy được tánh không, từ tánh không duyên hợp nên có h́nh sắc. Hiểu như vậy là hiểu được Bát-nhă. Trở lại thân chúng ta đây là thật hay giả? Giả. Nếu giả khi bị ai nhéo một cái hoặc mắng một câu có giận không? Đây là chỗ thiết yếu của sự tu. Chúng ta thấy đúng như thật rồi ứng dụng tu, phải thấy chớ không thể tưởng tượng. Thân này gồm sắc uẩn tức h́nh sắc do đất, nước, gió, lửa hợp lại thành. Nếu phân tích sâu hơn nữa, Phật nói trong thân có vô số vi trùng “nhân thân chi nội hữu vô số vi trùng tại trung di trú”. Vi trùng chia làm hai loại: hộ trùng là loại trùng bảo vệ thân này và hoại trùng là loại trùng phá hoại thân này. Y học ngày nay gọi là tế bào. Có những tế bào phá hoại, có những tế bào bảo vệ ḿnh. Tại sao Phật gọi tế bào là vi trùng? Bởi v́ nó có hoạt động, có sự sống. Bốn thứ không thể thiếu một, đất hoại cũng chết, nước cạn cũng chết, gió dừng cũng chết, hơi ấm tan hết cũng chết. Trong kinh Phật dùng ví dụ, nếu càng nghĩ ta càng thương xót ḿnh. Phật nói như người đem cái lồng bắt bốn con rắn độc bỏ vào đó. Chúng cự lộn hoài, ông chủ vừa lo cho nó ăn, vừa can gián cho nó đừng cắn nhau rất cực. Giữ ǵn đáo để một thời gian, cái giỏ lủng mỗi con chạy mỗi góc. Ông chủ nhà lẽ ra phải mừng, nhưng đằng này ông lại buồn, vội vă sắm cái giỏ mới rồi tiếp tục t́m bốn bốn con rắn khác về nuôi nữa. Cứ như vậy mà nuôi rắn, đời này nuôi rắn, đời sau nuôi rắn, tiếp tục măi măi nuôi rắn cực khổ như vậy. Chúng ta nghĩ ông chủ đó có đáng thương không? Thật là đáng thương, tội ǵ làm như vậy. Đức Phật bảo chúng sanh cũng thế, rất đáng thương xót. Đất nước gió lửa là bốn con rắn độc. Thiếu nước th́ cho ly nước, thiếu gió th́ kiếm chỗ nào không khí trong lành hít thở, thiếu đất th́ kiếm cơm, thiếu ấm th́ kiếm áo. Ít bữa đất lấn nước hoặc nước lấn đất, thế là bệnh tật phát sanh. Ít bữa gió thổi mạnh quá, đất rung rinh cũng sanh bệnh. Cho nên khi trúng gió th́ phải cạo gió, đuổi ra. Khi nóng th́ phải kiếm đồ mát uống vô. Lúc nào cũng can thiệp, ḍm chừng hoài. Cả đời lo nuôi nó, can thiệp cho nó ḥa hợp. Vậy mà khi nó sắp hoại mất th́ hoảng sợ tiếc nuối, t́m đủ mọi cách để giữ nó lại, có đáng thương không? Lẽ ra khi thân này sắp mất, ta phải thức tỉnh thôi đừng nuôi nữa. Nhưng không, bỏ cái giỏ này làm cái giỏ khác chắc hơn để nuôi những con rắn khác. Đó là ṿng luân hồi lẩn quẩn của chúng ta. Việc làm này giống như việc làm của con dă tràng, cứ se cát thành cái cụm, một ngọn sóng ùa vô cuốn mất hết, nó lại tiếp tục làm cái khác. Phật thương chúng sanh là v́ vậy. Bởi thấy thân này thật nên những nhu cầu nó cần, phải đáp ứng cho nó thỏa măn. Nó thèm thức ăn ngon phải chạy t́m thức ăn ngon. Nó thích mặc đẹp phải t́m y phục đẹp. Càng làm nó lại càng không thỏa măn. Được một nó đ̣i hai, được hai nó đ̣i bốn, cứ tăng lên hoài không bao giờ biết đủ. Nếu tất cả thế gian ai cũng muốn thỏa măn nhu cầu của thân xác thịt này, có đụng chạm quyền lợi nhau không? V́ ḿnh muốn thỏa măn nhu cầu đó nên ai cũng muốn gom góp tất cả về ḿnh. Đó chính là nguyên nhân dẫn đến đấu tranh, gốc của mọi thứ đau khổ. Nếu chúng ta biết nó là giả, không giành giựt với ai hết, sống vừa đủ thôi. Lỡ mang thân này th́ nuôi cho nó khỏe mạnh, chừng nào hết duyên nó tan ră, không có ǵ quan trọng. Nhờ thế ta không tham, không tham th́ bớt khổ. Thấy được sắc uẩn không thật chúng ta sẽ bớt tham, bớt khổ cho bản thân và mọi người chung quanh. Đó là nói về phần sắc thân. Kế đến phần tâm. Hiện giờ tất cả chúng ta khi suy nghĩ một việc ǵ rất kỹ, ḿnh cho rằng suy nghĩ đó là đúng, nếu ai phản đối bảo sai ta sẽ thế nào? Nổi giận ngay. Bởi vậy chỗ này chúng ta phải đi sâu mới thấy giá trị của nó. Suy nghĩ của ḿnh không có ǵ bảo đảm đúng cả. Bởi suy nghĩ là tâm hư giả sanh diệt, không phải là chân lư. Con người suy nghĩ là do kinh nghiệm, sự từng trải rồi kết luận như vậy là đúng. Nhưng nếu kiểm tra lại, giả sử suy nghĩ ấy có đúng cũng chỉ đúng trong một giai đoạn, một phạm vi nào thôi. Qua giai đoạn khác, qua hoàn cảnh khác nó không c̣n đúng nữa. Nhưng khi ta đă cho suy nghĩ của ḿnh là đúng rồi, người khác nói sai ta nổi giận nhiều ít? Chính v́ cái đúng sai đó mà trong gia đ́nh, ngoài xă hội xảy ra không biết bao nhiêu sự buồn khổ. Chồng nghĩ một đàng, vợ nghĩ một ngả th́ không bao giờ có hạnh phúc, chỉ có chia ly thôi. Anh em ruột mà kẻ nghĩ thế này, người nghĩ thế khác, luôn luôn ngược nhau th́ không c̣n t́nh thân nữa. Thậm chí cha với con mà suy nghĩ khác cũng dẫn tới tai họa như thường. Như tất cả tổ tiên chúng ta ai không tôn trọng đức Khổng Tử là bậc Thánh, những ǵ Ngài nói đều là khuôn vàng thước ngọc. Nhưng nếu bây giờ Ngài sống lại, thấy phụ nữ chẳng những ở các nước khác mà ngay cả Trung Hoa, Ngài chỉ c̣n có nước lắc đầu thôi. Không c̣n cái thuở khuê môn bất xuất, tam tùng tứ đức, tại gia tùng phụ, xuất giá tùng phu, phu tử tùng tử nữa. Họ không thể chấp nhận một hệ thống cha, chồng rồi tới con như thế đâu. Như vậy là chủ trương của đức Khổng Tử không c̣n được chấp nhận rồi, nói ǵ là tôn trọng! Những cái phải của tập thể này không là cái phải của tập thể khác. Hai cái phải khác nhau gặp nhau th́ dẫn tới đánh nhau là chuyện dĩ nhiên thôi. Rơ ràng có chấp là có khổ, chấp thân hay chấp tâm ǵ cũng thế. Khổ đó khổ vô cùng chớ không phải thường. Thọ, tưởng, hành, thức cũng thuộc về tâm. Thọ là cảm giác vui buồn, thích hay không thích… Tưởng là tâm tưởng. Hành là suy tư. Thức là phân biệt. Tuy có bốn nhưng nói gọn hơn là những suy tư phân biệt của ḿnh. Những suy tư này không phải là chân lư, nó chỉ đúng ở khía cạnh hoặc trường hợp nào thôi. V́ vậy nó không thật, không cố định. Đức Phật dạy: “Người tôn trọng chân lư là khi nghĩ điều ǵ, th́ nói đây là cái nghĩ của tôi”, đừng thêm chữ đúng. Không có chữ đúng th́ không căi nhau, bởi v́ ai cũng có quyền nghĩ riêng của ḿnh. Hiểu như vậy là tôn trọng chân lư. Nếu ta nói đúng mà người không nghe th́ ḿnh phản bác lại. Đó là bệnh độc tài. Sắc uẩn và tâm uẩn, chúng ta biết hai thứ này không thật là độ tất cả khổ ách rồi. V́ vậy lời Phật là lời vàng. Chỉ một câu nếu chúng ta khéo t́m hiểu thấu đáo, ứng dụng tu hành th́ sẽ vượt qua hết các khổ nạn. Người học đạo phải có cái nh́n tường tận, chớ không phải đọc thuộc ḷng lời Phật dạy là đủ. Nh́n tường tận rồi ứng dụng trong cuộc sống mới là tu. Như thấy thân không thật, tâm suy nghĩ không thật nên hết khổ. Đó là ta đă sống an lành tự tại v́ không giành giựt nhau trên vật chất, không độc tài trên tinh thần. Đạo Phật đặc biệt ở điểm dạy chúng ta tu, chớ không bắt chúng ta phải tin theo. Điều này hết sức rơ ràng. Như khi quí thầy giải thích năm giới rồi hỏi lại Phật tử, giới thứ nhất suốt đời không được sát sanh, Phật tử giữ được không? Nếu giữ được, quí vị tự nói “Dạ, con giữ được”. Nếu giữ chưa được th́ làm thinh, Phật không bắt buộc chi cả. V́ lợi ích cho chúng ta Phật phương tiện chế ra các giới luật như vậy, chớ không phải ta giữ giới cho Phật. Hiểu thế mới thấy giá trị của đạo Phật. Từ tánh không Phật nói sáu căn, sáu trần, sáu thức cũng đều do duyên hợp, tánh không. Đến các giáo lư quan trọng như pháp Tứ đế, Thập nhị nhân duyên, kinh điển Nguyên thủy xem là chân lư, nhưng với con mắt Bát-nhă cũng là tánh không duyên hợp. Khi xưa tôi hơi khó xử về điểm này. Các pháp thế gian duyên hợp hư giả th́ đúng, c̣n giáo lư của Phật là lời vàng ngọc mà giả sao? Nhưng bây giờ tôi mới thấy hay, v́ Phật nói pháp Phật dạy như ngón tay chỉ mặt trăng hay thuốc để trị bệnh cho người. Bệnh do uống thuốc mà lành, nếu bệnh không thật th́ khi bệnh lành rồi, thuốc cũng phải bỏ. Nếu ai lành bệnh mà cứ tiếp tục uống thuốc hoài th́ sẽ thành bệnh nữa. Nên biết bệnh hết th́ thuốc cũng phải bỏ, bệnh giả th́ thuốc cũng không thật. Từ đó tôi mới thấm thía điều trong kinh kể lại. Khi Phật ngồi dưới cội Bồ-đề được giác ngộ, lẽ ra Ngài đi giáo hóa ngay, nhưng đức Phật cứ trù trừ măi, không muốn thuyết pháp. Đợi đến lúc chư Thiên năm lần bảy lượt thỉnh cầu, Ngài mới dùng phương tiện giáo hóa. Qua đó để thấy chỗ chân thật không phải dễ chỉ cho mọi người, mà phải dùng phương tiện giúp người nghe hiểu, ứng dụng tu từ từ mới thấy đạo. Cho nên Tứ đế, Thập nhị nhân duyên là phương tiện của Phật dạy. Đă là phương tiện th́ đâu phải chân thật, nhưng nhờ đó chúng sanh bớt bệnh, dần dần mới khỏe mạnh hẳn. Nhờ theo lời chỉ dạy của Phật chúng ta biết được lẽ thật, tu hành mới hết khổ. Hết khổ rồi th́ pháp cũng bỏ luôn, cũng như bệnh nhân lành bệnh th́ thuốc cũng phải ngưng. C̣n một điểm đặc biệt nữa trong kinh Bát-nhă, nếu người đọc không khéo sẽ thấy mâu thuẫn: “dĩ vô sở đắc cố Bồ-đề tát-đỏa y Bát-nhă ba-la-mật-đa cố tâm vô quái ngại v.v..”, v́ không có sở đắc nên tâm Bồ-tát không ngăn ngại, v́ không ngăn ngại nên xa ĺa khủng bố, cứu kính Niết-bàn. Chư Phật ba đời cũng nhờ Bát-nhă mà được Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Vô sở đắc, tại sao lại đắc? Nếu đọc suông ta sẽ thấy nó mâu thuẫn, nhưng đọc kỹ mới thấy cái hay lạ lùng đó. Khi chúng ta đă bỏ hết những cố chấp về thân, về tâm rồi th́ không c̣n sở đắc. Sở dĩ nói vô sở đắc là v́ những mê lầm đă dẹp hết, dẹp luôn cả pháp nữa, tất cả các thứ đều không thể được. Tâm ta lúc đó không c̣n dính chấp thứ ǵ hết, rỗng rang tự tại. Người đời cứ sợ không chấp thân, không chấp tâm lấy ǵ để sống. Nhưng sự thực không phải vậy. Khi không chấp tất cả th́ tâm chân thật của ḿnh hiện tiền. Tâm chân thật hiện tiền này đưa ta tới giác ngộ viên măn, thành Phật, nên nói được. Được mà không có ǵ để được cả. Đây chính là chỗ sâu xa vi diệu của Bát-nhă vậy. Bởi chúng ta mê chấp thân, mê chấp tâm lăng xăng vọng tưởng nên quên mất cái chân thật của chính ḿnh. Khi ruồng dẹp hết hai thứ chấp đó th́ cái chân thật hiển lộ ra. V́ nó đă sẵn trong ta từ xưa đến nay nên nói được không đúng. Cho nên Phật nói tất cả chúng sanh đều có Phật tánh. V́ chấp lầm thân tâm nên ta không nhận ra, khi hết chấp th́ tánh Phật hiện ra. Bồ-tát nương nơi đó mà xa rời những sợ sệt, những khủng bố, đến được cứu kính Niết-bàn. Ba đời chư Phật cũng nhờ trí tuệ đó mà đến chỗ giác ngộ viên măn gọi là Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Như vậy Phật nhờ trí tuệ Bát-nhă, ban đầu dẹp phá được các thứ chấp, sau mới thành Phật. Bồ-tát cũng thế. Tu một bài kinh Bát-nhă đủ cho chúng ta giải thoát rồi. Các Tổ luôn luôn thấy nó quan trọng vậy, nên tụng kinh ǵ không bỏ qua Bát-nhă. Nhưng tội cho chúng ta tụng mà không thấy được điều này. Tụng cả năm này tháng kia mà không phá được chút chấp nào hết, v́ vậy việc tu không tiến. Nếu tiến được chúng ta đă hết khổ lâu rồi. Giống như mấy đứa học tṛ, học bài xong trả bài cho cô giáo là xem như tṛn bổn phận, không biết học như thế là học cho ḿnh. Chúng ta cũng vậy, đọc kinh cho Phật nghe, c̣n ḿnh th́ không chịu tu tập ǵ cả. Sống giữa đời này không giành giựt về vật chất, không chấp nê về tinh thần, th́ đời c̣n ǵ là khổ, quả vị Phật cách đâu bao xa. V́ vậy Phật nói chúng sanh mê lầm thật đáng thương. Trong kinh có câu này: “Cái khổ của địa ngục bị thiêu đốt chưa phải là khổ. Cái khổ làm ngạ quỷ đói khát cũng chưa phải là khổ. Cái khổ làm súc sanh kéo cày, kéo xe cũng chưa phải là khổ. Chỉ si mê không biết lối đi mới thật là khổ”. Ở trong địa ngục dù bao nhiêu kiếp cũng có ngày măn, được trở lại làm người. Ngạ quỷ, súc sanh cũng vậy, trả hết nghiệp cũng được trở lại làm người. C̣n si mê cứ lẩn quẩn không có ngày cùng. Đó là cái đau khổ nhất mà chúng sanh không thấy, thật là đáng thương. Cho nên hiểu Phật pháp rồi, chúng ta nh́n lại thật là đáng thương cho ḿnh. Người xưng hùng xưng bá chỗ này chỗ kia, cũng là những người đáng thương thôi, chớ c̣n không có ǵ thật hết. Như vậy hai đoạn đường, đoạn đường đầu tu theo Phật để được an lành trong đời này và đời sau, đoạn đường thứ hai tu theo Phật để thấu triệt lẽ thật, chúng ta dễ ra khỏi ṿng sanh tử. Đó là trí tuệ Bát-nhă. Như vậy trí tuệ thế gian với trí tuệ của Phật khác nhau xa hay gần? Rất xa. Nếu ai cũng học được Phật và có trí tuệ như vậy th́ thế gian này không c̣n khổ nữa, mọi người thương nhau không hết, có đâu giành giựt. V́ vậy đạo Phật là đạo của từ bi và trí tuệ, chúng ta trải ḷng thương tất cả và an ủi chúng sanh cùng trong cơi khổ của ḿnh. Ta tự tu tập và giúp cho mọi người cùng tu tập bớt khổ, tỉnh sáng không c̣n lầm mê nữa. Đó là mục đích chủ yếu của đạo Phật. ] TINH THẦN XUẤT TRẦN CỦA ĐẠO PHẬT Quận Cam Mỹ Quốc - 1994 Hôm nay chúng tôi đă đến tận đây thăm tất cả quí Phật tử, đó là điều đáng mừng. Nhưng theo quan niệm của người tu, chúng ta gặp nhau không phải chỉ thăm hỏi sức khỏe thôi mà c̣n có những lời nhắc nhở trong việc tu hành. Do đó hôm nay Ban tổ chức yêu cầu chúng tôi có vài lời nhắc nhở cho quí Phật tử tu hành. Đề tài chúng tôi muốn nói hôm nay là Tinh thần xuất trần của đạo Phật. Đạo Phật là đạo của con người. Đức Phật ra đời v́ muôn loài, trong đó chủ yếu là loài người. Cho nên mọi hành động của Ngài đều nhắm đến con người. Đạo Phật dạy chúng ta phải thấy được chân lư, đạt được lẽ thực nên nói tới đạo Phật là nói tới đạo giác ngộ. Tôi nhấn mạnh lại, đạo Phật là đạo giác ngộ chớ không phải đạo của ḷng tin. Chúng ta theo đạo Phật là để t́m cầu sự giác ngộ, mà muốn được giác ngộ th́ phải vào đạo bằng trí tuệ, bằng cái nh́n đúng như thật, chớ không thể nh́n khác hơn được. Phật tử khi bước chân vào đạo Phật, quí vị thấy Phật có dạy chúng ta điều ǵ huyền bí mầu nhiệm không? Phật dạy chúng ta toàn những điều thật. Ví dụ Phật tử tại gia, Phật dạy phải giữ năm giới, rơ ràng có ǵ cao siêu huyền bí đâu, chỉ là những lẽ thực. Nếu chúng ta sống giữ được như thế th́ ḿnh là một con người tốt, hiện tại gây ảnh hưởng tốt với gia đ́nh xă hội, mai kia cũng được sanh nơi tốt. Đó là lẽ thực chớ không có ǵ huyền bí cả. Bởi v́ đức Phật là một con người thực, chứng nghiệm lẽ thực cho nên những ǵ Ngài nói cũng là lẽ thực. Lâu nay chúng ta nh́n đạo Phật có vẻ huyền bí nhiều quá, mà đă huyền bí th́ tăng trưởng ḷng tin chớ không tăng trưởng trí tuệ. Nếu muốn đi đúng với tinh thần mở sáng con mắt trí tuệ, chúng ta phải nh́n đạo Phật đúng như Ngài muốn. Đọc lịch sử, chúng ta đều biết đức Phật là một vị Bồ-tát Nhất sanh bổ xứ, ra đời ở cơi này lần chót tu hành chứng quả thành Phật. Cho nên công phu tu của Ngài đă trải qua vô số kiếp vun bồi hạnh nguyện trí tuệ rồi, đến đây là sắp viên măn. Như vậy đương nhiên Ngài có đủ khả năng tạo ra những cảnh huyền bí lạ lùng. Vậy tại sao Ngài không từ trên không giáng xuống mà lại xuất hiện trong một gia đ́nh như những người thế tục, rồi cũng sanh ra như bao nhiêu người? Nh́n lại lịch sử của đức Phật, cũng có vài điểm được tô điểm hơi mầu nhiệm một chút như Ngài sanh ra bên hông phải của Hoàng hậu Ma Gia, rồi đi bảy bước trên hoa sen v.v... Với chúng tôi, nếu các nhà viết sử cứ để đức Phật sanh ra như mọi người th́ tốt hơn. Tại sao vậy? Bởi v́ nếu ta thừa nhận những h́nh ảnh kỳ diệu trong lúc Phật sinh ra th́ sẽ gặp rối rắm ngay trong đời sống của Ngài. Bởi có nhiều người ở thế gian, cha mẹ sinh ra nuôi lớn lên, không ăn mặn được phải ăn chay rồi đi tu. Những vị đó chưa phải Bồ-tát, thế mà họ c̣n nhớ các chuyện tiền duyên, nên ra đời ăn chay rồi đi tu. Huống đức Phật là một vị Bồ-tát đầy đủ công hạnh, chỉ c̣n một đời nữa thành Phật chẳng lẽ Ngài quên hết những tiền duyên của ḿnh? Tại sao khi sinh ra ở trong hoàng cung, Ngài cũng sống như bao nhiêu ông hoàng khác, lần lần lớn lên cũng lập gia đ́nh, có con. Nếu Ngài giữ hạnh thanh tịnh như thuở nào th́ chắc không có gia đ́nh cũng không có con. Như vậy là sao? Lại nữa, khi Ngài đi ra ngoại thành, trên đường thấy người già, người bệnh, người chết, Ngài không hiểu, phải nhờ Sa-nặc giải thích mới hiểu. Như vậy những điểm mầu nhiệm trước kia trở thành lạ lùng. Bởi v́ nếu Ngài đă là bậc Thánh rồi th́ cần ǵ phải nhờ giải thích, thấy đâu là suốt đó. Đây là những vấn đề tôi nêu lên cho tất cả chúng ta cùng suy nghiệm. Theo ư riêng chúng tôi, tôi nghĩ đức Phật sinh ra như mọi người cho nên rồi Ngài cũng phải học. Học rồi mới hiểu, từ học hiểu đó sau này gặp duyên tốt, Ngài liền thức tỉnh đi tu. Có thế hàng phàm phu chúng ta nh́n lại gương lịch sử của Phật, thấy Ngài cũng là con người như ḿnh, thức tỉnh đi tu rồi thành đạo. Chúng ta cũng là người như Ngài, nên cũng có quyền thức tỉnh đi tu rồi thành đạo. Nếu Ngài sinh ra quá mầu nhiệm huyền bí, c̣n chúng ta sinh ra quá tầm thường th́ ḿnh sẽ mặc cảm rằng việc làm đó chỉ có bậc kỳ đặc như Ngài mới làm được, c̣n tầm thường như ḿnh th́ bất khả thi. Nếu nh́n đức Phật thế ấy, chúng ta sẽ thấy Ngài rất gần gũi, rất thiết thực với con người. từ đó ta cố gắng tu để đạt được kết quả như Phật. Như vậy đạo Phật mới thực tế chứ! Hồi xưa Thái tử thấy cảnh già bệnh chết, Ngài thức tỉnh đi tu. Bây giờ tất cả chúng ta cũng thấy cảnh già bệnh chết nhưng thức tỉnh chưa? Phật thấy người già liền biết ḿnh sẽ già, thấy người bệnh liền biết ḿnh sẽ bệnh, thấy người chết liền biết ḿnh sẽ chết, nên Ngài không cam ngồi yên chờ cái già, bệnh, chết đến với ḿnh nên đi tu. C̣n chúng ta thấy người già th́ nghĩ đó là ông già ḿnh c̣n trẻ chưa gấp ǵ. Thấy người bệnh nói người ta bệnh chớ ḿnh chưa bệnh, thấy người chết nói người đó chết chớ ḿnh chưa chết. V́ thế chúng ta không tỉnh nên không vội vàng đi tu. Phật và chúng ta khác nhau ở chỗ tỉnh và mê đó, chớ không phải khác nhau ở chỗ huyền bí. Như chúng ta đă biết đức Phật sau khi dạo bốn cửa thành, thấy cảnh già bệnh chết Ngài liền đặt ra ba nghi vấn về thân phận con người: 1. Con người từ đâu đến đây? 2. Chết rồi sẽ về đâu? 3. Làm sao chấm dứt mầm sanh tử khổ đau này? V́ thế Ngài quyết tâm đi tu để giải quyết ba nghi vấn ấy. Ngài bắt đầu học đạo với các vị tiên, tu chứng tới tứ thiền nhưng Ngài thấy chưa giải đáp được chỗ mong mỏi của ḿnh nên từ giă đi nơi khác. Đến vị tiên dạy tu chứng tới Phi phi tưởng xứ, Ngài cũng chưa giải đáp được nghi vấn của ḿnh nên từ giă đi nữa. Bấy giờ Thế Tôn nghĩ rằng chỉ có tu khổ hạnh, khả dĩ t́m ra được câu giải đáp Ngài đương ôm ấp. Thế là đức Phật tận dụng mọi phương tiện khổ hạnh, dồn dập cho tới ngất xỉu nhưng vẫn không t́m ra chút manh mối nào. Từ đó Ngài thức tỉnh khổ hạnh không phải là phương pháp để đạt được giác ngộ. Cho nên Ngài tắm rửa ăn uống trở lại và tới cội Bồ-đề để quyết tâm tu cầu cho được giác ngộ. Tại gốc cây Bồ-đề, Ngài phát thệ nguyện “Nếu không thành đạo dù xương tan thịt nát cũng không rời khỏi chỗ này”. Qua những h́nh ảnh đó, chúng ta thấy đức Phật tu đến viên măn có dễ dàng đâu. Cũng trải qua bao nhiêu khó khăn, t́m kiếm học hỏi, quyết tâm khổ hạnh đến liều chết, cuối cùng thiền định dưới cội Bồ-đề mới được giác ngộ. Hiện giờ chúng ta tu nếu gặp khó khăn trở ngại, có phân b́ với Phật hồi xưa tu khỏe, ḿnh bây giờ tu cực quá không? Không thể, v́ Phật tu đâu có khỏe. Ngài cũng khó khăn, khổ sở nhưng nhờ ư chí mănh liệt, quyết tâm tột cùng nên mới đạt đạo. Chúng ta ngày nay tu hơi khó khó th́ nản, nói tu ǵ khó quá. Tu mà sao không có phước, gặp tai nạn hoài, nghĩ vậy rồi chán hết muốn tu. Người tu thời nay quan niệm rất đơn giản, tu cho có phước hết tai nạn nên tới chùa tập tu để cầu phước. Nếu lỡ gặp tai nạn th́ trách Phật không linh, nên nghỉ tu nghỉ đi chùa. Phải hiểu tu là chấp nhận mọi khó khăn mọi nguy hiểm, để vươn lên trước những thử thách cay đắng mới là người có lập trường, có ư chí, như vậy mới mong đạt được sở nguyện. Hiểu thế giả sử chúng ta có gặp khó khăn đến mấy, ta vẫn cười: “Đây là cơ hội để ḿnh tu, chớ không cầu xin ai”. Phật tử bây giờ có ǵ khó khăn th́ chạy vô chùa cầu thầy cứu con. Thầy phải cầu an cầu siêu đủ thứ cho tai qua nạn khỏi, chớ quí vị không nghĩ khó khăn là cơ hội tốt để ḿnh tu. Nếu chúng ta gan dạ cương quyết th́ sự khó khăn là những cơ hội tốt để ḿnh phát triển sự tu hành. Đức Phật ngày xưa tu cũng phải khó khăn, chúng ta bây giờ là kẻ phàm tục mà muốn tu dễ như trở bàn tay là chuyện không thể được. Phật tử ngày nay đa số tu rất yếu ớt. Quí vị đ̣i lúc nào cũng được như ư. Khởi sự qui y thọ năm giới rồi th́ cho rằng ḿnh đă có phước, từ đây về sau muốn ǵ được nấy, ít bệnh hoạn, ít tai nạn, ít khó khăn. Nếu qui y, thọ giới rồi mà c̣n gặp tai nạn th́ chán, mất niềm tin ḿnh tu sao không thấy phước, chỉ thấy họa. Tinh thần tu như vậy rất yếu đuối. Tôi nghĩ đức Phật hiện thân cầu đạo khó khăn, cực khổ đủ điều là một tấm gương sáng để chúng ta noi theo mà nỗ lực phấn đấu. Nh́n thấy Bồ-tát c̣n một đời thành Phật mà tu phải cay đắng như vậy, huống nữa chúng ta là phàm phu? Đó là h́nh ảnh nhắc nhở khích lệ chúng ta rất hay, rất thiết thực. Hơn nữa tu là nguyện sửa chữa những tật xấu như tham sân si. Nếu vào đạo muốn ǵ được nấy th́ tham chẳng những không giảm chút nào mà c̣n tăng trưởng thêm, càng tu càng tham. Người biết tu khi gặp cảnh vui hợp ư th́ hoan hỷ tu, nhưng gặp những lúc khó khăn trái ư cũng cười mà tu. Muốn được là tham, không được vẫn không buồn là thắng cái tham, thắng một thứ độc. C̣n muốn mà không được, âu sầu buồn bă mất ăn mất ngủ là thua, là kẻ bại trận trên đường tu. Chúng ta nỗ lực cố gắng vượt qua những khó mới gọi là tu. Phải tâm niệm rằng chính những sự khó khăn, nguy hiểm, thất bại mới tạo cơ hội để ta biết được đạo lực của ḿnh. Nếu dở th́ ráng tu nhiều hơn, nếu khá th́ mừng để tiến lên. Đó mới thực là người quyết tâm tu. Phật tử tu mà muốn mọi việc b́nh an trăm phần trăm nên phải nhờ thầy cúng sao. Như vậy tu để cầu b́nh an chớ không phải tu để chuyển đổi tham sân si trở thành trong sạch. Với tinh thần tu thế ấy làm sao giác ngộ thành Phật, làm sao được vĩnh viễn an vui được? Chúng ta nhớ đức Phật khi học với những vị ngoại đạo mà Ngài vẫn không lạc theo ngoại đạo, v́ mục tiêu chủ yếu Ngài nhắm là tu để giải quyết ba nghi vấn về con người. Chừng nào giải quyết được điều đó Ngài mới măn nguyện. Ngài tu là v́ giải quyết số phận con người, nếu tu chỉ cầu thấy những ǵ mầu nhiệm mà không giải quyết được vấn đề thắc mắc Ngài liền từ bỏ. Ngày nay chúng ta tu thích nhất cái ǵ? Thích mầu nhiệm. Cái ǵ hay hay lạ lạ ḿnh thích, c̣n vấn đề con người chúng ta ít quan tâm. Bởi vậy nên ḿnh dễ bị lạc, gặp ai hướng dẫn đi đường nào ta kẹt theo đường đó. V́ không có một chủ trương, một lập trường kiên định, do đó dễ lạc là lẽ đương nhiên thôi. Sau khi thành đạo rồi đức Phật chứng tam minh, lục thông, tứ vô sở úy, thập bát bất cộng v.v... Lục thông gồm có: thiên nhăn thông, thiên nhĩ thông, tha tâm thông, thần túc thông, túc mạng thông, lậu tận thông. Có lục thông, khi cần hiện to liền hiện to, cần hiện nhỏ liền hiện nhỏ, cần đi trên hư không th́ đi trên hư không, cần chui xuống nước th́ chui xuống nước, cần độn thổ th́ đi trong đất. Tóm lại Ngài có đầy đủ tất cả thần thông biến hóa, nhưng khi đi hóa đạo đức Phật rất ít khi dùng thần thông, trừ những trường hợp đặc biệt thôi. Rơ ràng chúng ta không thấy sử ghi lại mỗi sáng Phật dùng thần thông bay lại nhà tín đồ nhận cơm cúng dường, kế bay về chỗ ngồi thọ trai. Mà Ngài đi bộ từ Tinh xá lần lần tới nhà Phật tử nhận cơm, rồi ra gốc cây ngồi ăn hoặc nhận thọ trai tại nhà v.v... chớ không bay đi bay về ǵ cả. Ḿnh bây giờ mà được thần thông th́ biết, bay loạn trong hư không. Tại sao có thần thông mà Phật không dùng? Đó là điều chúng ta cần phải lưu tâm. Hoặc khi đi giáo hóa gặp người chửi mắng Ngài chỉ im lặng đi, chớ không hiện thần thông khiến ai khiếp sợ cả. Đó là bài học muôn đời mà hàng Tăng Ni Phật tử phải nhớ. Chúng ta chỉ cần nghe ai nói lén đâu đó ngoài xó hè, giông giống tên ḿnh là ra mặt lên tiếng ngay. Nếu nghe trực tiếp một lời chê xấu th́ buồn tới mất ăn mất ngủ. V́ ḿnh nhận nhiều quá nên khổ, chớ người ta nói ḿnh không nhận như Phật th́ đâu có khổ. Phật tự tại không phải v́ phép lạ, v́ thần thông mà v́ tâm Ngài không dính mắc. Chúng ta bị trói buộc khổ đau v́ tâm dính mắc nhiều quá, cứng quá. Bây giờ muốn tu th́ phải gỡ bỏ tâm dính mắc đó. Chỉ có cách ấy thôi. Một hôm Phật đi giáo hóa ở vùng Bà-la-môn, hàng đệ tử của họ theo Phật rất đông. Ông thầy bực bội nên chờ lúc Phật đi khất thực, ông theo sau chửi Ngài thậm tệ. Đức Phật vẫn cứ thong thả đi, tới ngă ba đường ông thầy Bà-la-môn tức quá chận Phật hỏi: “Ngài Cù-đàm, Ngài thua tôi chưa?” Phật từ tốn trải tọa cụ, ngồi xuống đất và nói bài kệ: Kẻ hơn th́ thêm oán, Người thua ngủ chẳng yên. Hơn thua hai đều xả, Ấy được an ổn ngủ. Chỗ đức Phật dạy chúng ta đâu có ǵ kỳ đặc, chỉ đừng chấp hơn thua thôi. Buông đi hơn thua th́ chúng ta an nhàn tự tại, nằm duỗi chân ngủ kḥ. C̣n đeo bám hơn thua, nếu hơn th́ kẻ khác oán ghét ḿnh, nếu thua ta trằn trọc ngủ không được, cả hai đều làm cho ḿnh khổ đau. Nếu buông xả hết hơn thua th́ mọi đau khổ liền chấm dứt. Qua những h́nh ảnh này, chúng ta thấy rơ đức Phật không đặt trọng tâm ở khả năng của thần thông mà Ngài luôn chỉ chúng ta phải tập cởi mở, buông xả tâm cố chấp, hơn thua tự nhiên sẽ được an lạc. Đó là tâm niệm tu hành chân chính. Chúng sanh v́ không chịu buông xả nên khổ, Phật Bồ-tát nhờ buông xả hết nên các Ngài an lành tự tại. Như vậy tự tại từ sự buông xả, không dính mắc nơi nội tâm mà có. Chư Tăng ngày nay trên đường hóa đạo gặp khó khăn có buồn không? Phật hồi xưa bị chửi Ngài không buồn, nhưng nếu chúng ta bị chửi th́ mặt dàu dàu cả ngày, đêm đến ngủ không được. Đó là điểm yếu của ḿnh. Tăng Ni phải ráng tu làm sao giống như Phật vậy, trên đường hóa đạo mới vượt qua mọi trở ngại. Trên đường hoằng pháp, đức Phật có một câu chuyện rất hay. Lúc đó Ngài thành đạo chưa bao lâu, mới trên ba mươi tuổi. Trên đường du hóa, một thầy Bà-la-môn giỏi về tướng số, nh́n thấy dấu chân của Phật có cả ngàn khu ốc xoáy tṛn, ông đoán đây là quí tướng, người có bàn chân như vậy là người phi thường. V́ vậy ông lần theo dấu chân để t́m Phật. Đức Phật sau khi vào xóm khất thực rồi, Ngài tới dưới một gốc cây ngồi thọ trai. Ông Bà-la-môn t́m tới, thấy rơ ràng Phật có ba mươi hai tướng tốt, ông biết chắc người này nếu ở thế gian sẽ làm Chuyển luân thánh vương, c̣n đi tu sẽ thành Phật. Bấy giờ ông bỗng muốn gả con gái của ḿnh cho Phật. Tuy biết con ḿnh là cô gái đẹp nhất trong vùng, nhưng ông ngại không dám |