H.T THÍCH THANH TỪ

  

 HOAVÔ ƯU

Tập 8

  

NHÀ XUẤT BẢN

PL. 254 - 200


 

LỜI ĐẦU SÁCH

Quyển Hoa Vô Ưu này được kết tập từ các bài giảng của Ḥa thượng Viện chủ Thiền viện Thường Chiếu Thích Thanh Từ.

Trong đó, gồm một số bài Ḥa thượng giảng cho Tăng Ni, Phật tử tại các Thiền viện và một số bài giảng phổ thông cho Phật tử trong cũng như ngoài nước.

Để đáp ứng nhu cầu t́m hiểu pháp thiền và hâm mộ tu thiền của Tăng Ni, Phật tử, nhưng quí vị chưa đủ điều kiện tu học trực tiếp nơi Ḥa thượng, chúng tôi tŕnh xin ư kiến của Ngài và được Ngài hoan hỷ cho biên tập lại các bài giảng trên.

Tuy nhiên, v́ là văn nói nên tập sách không sao tránh khỏi sự trùng lặp tất yếu của nó. Rất mong độc giả đạt ư quên lời. Được thế, hy vọng tập sách sẽ đến tay quư vị với những lợi ích thiết thực nhất.

Như vậy, chúng ta có thể t́m hiểu thâm nhập và hành tŕ pháp thiền. Đồng thời trên bước đường tu học, chúng ta có thêm bạn đồng hành luôn cảm thông với chúng ta.

Thường Chiếu, ngày 01 tháng 08 năm 2002

THÍCH NHẬT QUANG

?


 

CON NGƯỜI BẤT TỬ

Thiền viện Chân Không - 1982

Hôm nay nhân ngày tôi ra thất, quí vị đại diện Tăng Ni yêu cầu tôi chỉ cho những điều cốt yếu để ứng dụng tu hành. Tôi hoan hỷ tùy thuận. Thật ra hơn ba tháng qua, ở trong thất chúng tôi chưa được ǵ đặc biệt lắm, nhưng đại chúng yêu cầu, tôi cũng nói một vài cảm niệm của ḿnh trong khi nhập thất.

Ở trong thất, một hôm tôi có cảm niệm xót thương. Xót thương ai? Một là xót thương tôi. Bởi trên đường tu đă hai phần ba cuộc đời rồi, tôi mới nhận ra nơi ḿnh có con người bất tử, tức ngay nơi thân sanh tử này có con người không sanh tử. Khi nhận được như vậy, tôi có tật xấu hay khoe nên rồi cứ khoe với người này người nọ, gặp ai cũng khoe rằng ngay nơi thân sanh tử có con người bất tử. Khoe măi không chán, cho đến gần đây nhờ nhân duyên bệnh, tôi mới được ngồi yên chuyên nhập con người bất tử ấy. Bấy giờ nh́n lại th́ tuổi thọ đă cao. V́ vậy thời gian c̣n lại quá ít, dù nỗ lực chuyên ṛng nhập con người bất tử cho đến ngày nhắm mắt cũng chưa xong. Tại sao? Bởi v́ muốn nhập con người bất tử, trước hết chúng ta phải rũ sạch duyên sanh tử, mà duyên sanh tử bao bọc muôn ṿng ngàn lớp, muốn rũ sạch nó không phải là chuyện dễ dàng. Chúng ta phải hằng tỉnh hằng giác với thời gian dài lâu mới có thể rũ sạch được.

Thiền sư Triệu Châu sau khi ngộ nơi Tổ Nam Tuyền c̣n phải ba mươi năm ở trong ṭng lâm mới thành một khối. Thiền sư Đại An ngộ nơi Tổ Bá Trượng, sau này về núi Quy chăn trâu trong ba mươi năm, từ con trâu đen trở thành con trâu trắng sờ sờ trước mặt đuổi cũng không đi. Như vậy, các Thiền sư đều đă ngộ rồi, c̣n phải qua ba mươi năm mới thành một khối hoặc trâu đen mới thành trâu trắng. Đối với chúng ta bây giờ, như tôi chẳng hạn không đủ điều kiện đó nữa.

Ví như có gă phiêu linh lăng tử cùng một số bạn bè từ thuở thiếu thời cất bước phiêu lưu, chàng ta đi lang thang tha phương viễn xứ, măi cho tới tuổi sắp già. Một hôm bỗng dưng nhớ lại cố hương, ḷng yêu quê thôi thúc, anh nhất định t́m về. Nhưng bấy giờ đường về đă quên mất, nên anh cứ loanh quanh, luẩn quẩn măi. Trải qua nhiều năm như vậy, bỗng dưng một hôm anh t́m được lối cũ, rơ ràng không nghi ngờ. Nhưng anh vẫn chưa về được, v́ nhớ lại bạn bè đang lưu lạc khắp nơi. Anh phải đi t́m họ để rủ nhau cùng về. Khi rủ được một số bạn bè đồng chí đồng nguyện, anh bắt đầu cất bước lên đường trở về th́ sức đă kiệt, hơi đă tàn. Trên đường về, cố gắng lắm anh cũng chỉ có thể đi chừng một phần ba hoặc một phần tư đoạn đường thôi sẽ ngă quỵ. Chàng lăng tử kia chết trên đường về chớ chưa tới nhà, như vậy có đáng xót thương không? Cũng thế, trên đường tu cho tới ngày nhắm mắt, tôi biết ḿnh chưa viên măn bản nguyện, cho nên tôi xót thương tôi.

Hai là tôi xót thương cho bạn bè tôi. Những ai đă nghe tôi nhắc về con người bất tử, hoặc tin trọn vẹn hoặc tin hai phần ba, họ quyết chí nhận cho ra con người bất tử ấy, nhưng lại gặp khó khăn, rắc rối trong lúc tu hành. Nếu không được thiện tri thức phụ giúp, tháo gỡ những gút mắc, có lẽ trên đường tu nhiều chướng ngại, đôi khi họ phải thoái tâm và không đi trọn con đường, cho nên tôi thương xót họ.

Ba là xót thương những người trên đường tu nửa tin, nửa ngờ về con người bất tử. Với những vị này nếu có thầy lành bạn tốt, thiện hữu tri thức hằng nhắc nhở th́ tiến, ngược lại buông xuôi th́ lùi. Với những người này nếu để mặc t́nh ra sao th́ ra, chắc rằng đường tu khó tiến, nên tôi xót thương họ.

Bốn là xót thương những người rất nhiệt t́nh khi nghe đến con người bất tử. Họ muốn làm sao nhận cho ra, sống cho được nhưng không có ai hướng dẫn, chỉ bảo. Họ phải nhọc nhằn leo núi này, trèo non nọ để t́m thiện tri thức, nhưng t́m tới nơi rồi họ cũng thấy bất măn, không được như ư. Những người nhiệt t́nh như thế nếu nông nổi sẽ dễ đi lạc vào đường tà. C̣n người chín chắn, cẩn thận nhưng lâu ngày không t́m kiếm được thiện tri thức, họ cũng chùn chân thối bước, cho nên thật đáng xót thương.

Năm là xót thương những ai có con người bất tử ngay trong thân sanh tử mà không bao giờ nghĩ, không bao giờ đoái hoài đến. Suốt ngày hay suốt đời, họ hài ḷng với thân sanh tử này. Hạng người này chẳng khác nào như kẻ có ḥn ngọc quư trong túi mà cam đành sống kiếp lang thang đói nghèo, lại rất hài ḷng như vậy. V́ vậy tôi xót thương họ.

Đó là những cảm niệm xót thương của tôi trong thời gian nhập thất.

Như trước tôi đă nói về con người bất tử. Đến đây tôi muốn nêu lên ba điểm xung quanh vấn đề này. Điểm thứ nhất là con người bất tử. Điểm thứ hai là nhận ra con người bất tử. Điểm thứ ba là nhập con người bất tử. Ba điểm đó chính là điều tôi muốn nói với quư vị hôm nay.

Thế nào là con người bất tử? Nhận ra con người bất tử có lợi ích ǵ và làm sao nhập được con người bất tử ? Đó là ba điểm thật hệ trọng đối với người tu chúng ta. Ở đây, điểm thứ nhất và thứ hai tôi giải quyết được, c̣n điểm thứ ba tôi dẫn chứng qua việc tu hành của các Thiền sư, chứ bản thân chưa làm xong.

Điểm thứ nhất, thế nào là con người bất tử? Trong kinh c̣n gọi “Con người bất tử” là Pháp thân, Chơn tâm, Niết-bàn v.v… Đó là cái bất tử sẵn nơi chúng ta, nhập được cái đó gọi là Như Lai, là Phật. Đây là tôi tạm định nghĩa trên mặt danh từ. Khi nhận ra được con người bất tử rồi, có lợi ích ǵ? Quí vị từng tụng kinh Pháp Hoa, phẩm thứ mười sáu Như Lai Thọ Lượng, nói về tuổi thọ của chư Phật. Trong kinh Phật kể tuổi thọ của chư Phật bao nhiêu? Ai có thể chứng được? Phật bảo giả sử như đem thế giới tam thiên đại thiên nghiền nát thành bụi, mỗi hạt bụi đem mài làm mực. Có người dùng thần thông bay qua trăm ngàn muôn ức thế giới, chấm một hột mực xuống rồi bay qua trăm ngàn muôn ức thế giới khác chấm một hột mực xuống nữa. Như thế mà chấm hết số mực thế giới tam thiên nghiền nát đó, rồi bay qua những thế giới chấm mực và không chấm mực, gom lại một lần nữa, nghiền nát thành bụi. Mỗi hột bụi là một kiếp, th́ tuổi thọ của chư Phật c̣n hơn số bụi đó nữa. Quư vị có thể nghĩ được bao nhiêu không? Bởi bất tử là không chết, không chết nên tuổi thọ không làm sao tính được.

Tại sao tôi không nói theo kinh là Niết-bàn, là vô sanh mà nói “Con người bất tử”? Bởi người thế gian luôn luôn thích sanh sợ tử nên nói bất sanh họ buồn mà nói bất tử người ta chịu. V́ vậy tôi nói con người bất tử, chớ thật ra có sanh mới có tử, c̣n không sanh th́ lấy đâu mà tử? Kinh nói Niết-bàn, vô sanh là chỉ thẳng vào cái nhân. Nhân không có th́ quả làm sao có. Như vậy nếu nhận ra được con người bất tử đó là Như Lai, nên nói tuổi thọ Như Lai không thể tính, không thể đếm, không làm sao biết được hết.

Đến phẩm thứ mười bảy là Phân Biệt Công Đức. Phân biệt là so sánh, so sánh công đức của người nhận hiểu về tuổi thọ chư Phật khác với công đức của những người làm việc bố thí, tŕ giới, tinh tấn, nhẫn nhục v.v… Có một đoạn Phật nói, nếu người nào khởi một niệm tin hiểu thọ mạng dài lâu của Như Lai th́ công đức người ấy không thể tính lường. Một đoạn khác Phật nói, nếu người thiện nam, người thiện nữ nào đối với thọ mạng của Như Lai tin hiểu, không nghi ngờ; người đó sẽ thấy Phật đang ở núi Kỳ Xà Quật v́ các vị Bồ-tát lớn và hàng Thanh văn vây quanh nói pháp.

Như vậy ai đối với thọ mạng dài lâu của Phật tin nhận được, người đó sẽ thấy Phật đang ở hội Linh Sơn. Tại sao? Bởi v́ thấy được con người bất tử là thấy Phật. Phật không phải là đức Thích Ca bằng thân xác thịt, mà Phật là Phật pháp thân. Nơi đức Phật Thích-ca có con người bất tử, nơi chúng ta cũng có con người bất tử, nhận ra được như vậy gọi là thấy Phật.

Trong kinh Lăng Nghiêm, ngài A-nan sau khi nghe đức Phật chỉ cho thấy trong thân sanh diệt có cái không sanh diệt, Ngài liền tỉnh ngộ. Sau khi tỉnh ngộ Ngài làm bài kệ tán thán Phật, đồng thời nói lên chí nguyện của ḿnh. Bốn câu đầu của bài kệ ấy thế này:

            Diệu trạm tổng tŕ bất động tôn,

            Thủ Lăng Nghiêm vương thế hy hữu.

            Tiêu ngă ức kiếp điên đảo tưởng,

            Bất lịch tăng kỳ hoạch Pháp thân.

Bốn câu đó cho chúng ta thấy khi nhận được con người bất tử rồi được lợi ích ǵ. Câu đầu Ngài tán thán Phật “Diệu trạm tổng tŕ bất động tôn”, nghĩa là đức Phật là vị đă đạt được chỗ chánh định, lặng lẽ ở chỗ bất động, đầy đủ vô lượng công đức. Câu thứ hai Ngài tán thán pháp Phật nói là kinh Thủ Lăng Nghiêm, nhờ nghe pháp ấy Ngài tiêu hết các tưởng điên đảo trong muôn ức kiếp, ngộ được Pháp thân. Tưởng điên đảo là tưởng ǵ? Tưởng điên đảo là giả mà tưởng là thật, thật mà tưởng là không. Bây giờ Ngài mới thấy giả là giả, thật là thật có, chớ không phải không. Rơ ràng khi ngộ được Pháp thân th́ các tưởng điên đảo liền tiêu tan hết.

“Bất lịch tăng kỳ hoạch Pháp thân”, nghĩa  là không trải qua vô số kiếp mà được Pháp thân. Tại sao? Bởi v́ theo kinh nói người tu Đại thừa trải qua các thứ lớp từ sơ phát tâm đến thập tín, thập trụ, thập hạnh, thập hồi hướng. Đó là hàng Tam hiền trải qua vô số kiếp thứ nhất. Từ Sơ địa cho đến Bát địa là vô số kiếp thứ hai, từ bát địa cho tới diệu giác là vô số kiếp thứ ba. Như vậy, người tu Đại thừa theo tiệm thứ chứng Sơ địa mới thấy được Pháp thân, nên từ Sơ địa Bồ-tát trở lên phá một phần vô minh, chứng được một phần Pháp thân, gọi là phần giác. Ngài A-nan không cần trải qua vô số kiếp tu thập tín, thập trụ, thập hạnh, thập hồi hướng mà ngay nơi đây thấy được Pháp thân. V́ vậy nói đốn ngộ, thấy một cách mau chóng không cần thứ lớp.

Khi nhận ra nơi ḿnh có con người bất tử rồi, làm sao nhập được sống được với con người ấy? Cũng trong kinh Lăng Nghiêm, ngài A-nan bạch với Phật rằng: Như một gă lang thang được nhà vua tặng cho ngôi nhà đẹp, nhưng gă không biết làm sao vô nhà, cúi xin đức Phật chỉ cho cửa vào nhà. Nhân đó Phật bảo hai mươi lăm vị Thánh đệ tử thay nhau tŕnh sở ngộ của ḿnh, để chọn ra căn viên thông làm cửa tiến vào ngôi nhà ấy.

Thế nên biết khi ngộ rồi, có được ḥn ngọc báu, có ngôi nhà đẹp nhưng c̣n phải nhập, tức là biết cách vào nhà nữa. Trong kinh Pháp Hoa nói “Khai thị ngộ nhập” cũng cùng một ư nghĩa này. Ngộ là nhận ra, nhập là vào thẳng bên trong chớ không phải ngộ rồi hài ḷng ở ngoài cửa, đây mới là thật sống với con người bất tử. Người ngộ rồi bớt được điên đảo nhưng phần phiền năo vi tế vẫn c̣n. Ba thứ độc si, tham, sân chưa sạch hết, chừng nào nhập được con người bất tử mới sạch hết phiền năo vi tế. V́ vậy người tu muốn nhập tri kiến Phật hay con người bất tử th́ công phu phải rất chín chắn, rất cẩn mật chớ không phải thường.

Làm thế nào để nhập con người bất tử? Như tôi đă nói, suốt đời ḿnh chưa chắc tôi đă nhập xong, làm sao dám nói chuyện nhập cho quư vị nghe. Nên ở đây tôi chỉ dẫn lại trong kinh những đoạn Phật nói về nhập Pháp thân, tuy chúng ta chưa nhập nhưng biết rơ con đường về nhà như vậy, về sau trong công phu không sợ lầm. Kinh Niết bàn có bài kệ đơn giản thế này:

            Chư hành vô thường,

            Thị sanh diệt pháp.

            Sanh diệt diệt dĩ,

            Tịch diệt vi lạc.

Chư hành là các hành nghiệp, tất cả đều vô thường, thuộc pháp sanh diệt. Vọng tưởng của chúng ta có phải là hành nghiệp không? Một niệm dấy lên là hành nghiệp rồi, cho nên vọng tưởng là hành nghiệp. V́ vậy nó thuộc về vô thường, v́ dấy niệm là sanh diệt, mà sanh diệt là vô thường. Nếu chúng ta bám vào vô thường th́ muôn đời không bao giờ nhập được con người bất tử. Bởi con người bất tử là chân thường, bám vào vô thường làm sao nhận được. V́ vậy phải buông, rũ sạch duyên sanh tử vô thường ấy rồi, mới nhập được con người bất tử. “Sanh diệt diệt dĩ”, chừng nào mầm sanh diệt hết sạch th́ tịch diệt hiện tiền. Tịch diệt hiện tiền đó mới là vui, nên nói “Tịch diệt vi lạc”.

Trong kinh Di Đà, Phật nói: “Nhược hữu thiện nam tử, thiện nữ nhơn chuyên tŕ danh hiệu A Di Đà Phật, nhược nhất nhậït, nhược nhị nhật, nhược tam nhật, nhược tứ nhật, nhược ngũ nhật, nhược lục nhật, nhược thất nhật, nhất tâm bất loạn; kỳ nhơn lâm mạng chung thời, A Di Đà Phật dữ chư Thánh chúng hiện tại kỳ tiền”, nghĩa là nếu có người thiện nam hay thiện nữ chuyên tŕ danh hiệu Phật A Di Đà hoặc một ngày, hai ngày, ba ngày, bốn ngày, năm ngày, sáu ngày cho tới bảy ngày nhất tâm bất loạn; người ấy khi lâm chung đức Phật A Di Đà cùng chư Thánh chúng sẽ hiện ra ở trước tiếp dẫn.

Loạn là ǵ? Là duyên sanh tử, là niệm, là động. C̣n niệm, c̣n động là c̣n dấy, c̣n loạn, c̣n sanh tử. Nếu nhất tâm là như như bất động, ấy là được con người bất tử. Trong kinh Niết-bàn gọi Nhất tâm là tịch diệt, tịch diệt là vui. Ở đây nói khi nhất tâm th́ thấy Phật Di Đà và Thánh chúng rước về Cực Lạc rất vui. Rơ ràng muốn đi đến chỗ tịch diệt là phải dứt mầm sanh tử, mới hiện tướng tịch diệt chân thật.

Như vậy cái vui của người tu là thoát ly sanh tử. Tại sao vậy? V́ theo Tứ đế vô thường là khổ, nên c̣n bị vô thường là c̣n bị khổ. Do đó tứ khổ, bát khổ… đều căn cứ trên lư vô thường mà nói. Bây giờ muốn hết khổ phải dứt hết mầm sanh diệt, sanh diệt hết rồi th́ tịch diệt hiện tiền, đó mới là vui. Cái vui này theo Thiền tông gọi là nhập con người bất tử.

Chúng ta thấy đức Phật khéo tùy duyên, thuận theo cái hiểu, cái nhận của chúng sanh mà Ngài dùng những phương pháp, những ngôn ngữ khác nhau để độ họ. Chúng ta không hiểu, cứ nghĩ rằng tu theo pháp môn này được Phật rước, hưởng sự vui thích tùy ư, c̣n nói sanh diệt diệt rồi, tịch diệt là vui th́ thấy buồn quá. Bởi tịch diệt là vắng lặng làm sao vui được. Đó là do chúng ta mê mờ chưa hiểu thôi, chớ Phật dạy cứu kính không hai, không khác. Như vậy để thấy rằng người tu nếu muốn nhập con người bất tử th́ phải dứt mầm sanh diệt mới nhập được.

Trở lại kinh Lăng Nghiêm, phần Phật hỏi các vị Thánh đệ tử về cách chọn căn viên thông. Bồ-tát Quán Thế Âm kể lại hạnh tu của Ngài cho đức Phật và đại chúng nghe thế này: “Sơ ư văn trung, nhập lưu vong sở. Sở nhập kư tịch, động tịnh nhị tướng, liễu nhiên bất sanh. Như thị tiệm tăng, văn sở văn tận, tận văn bất trụ, giác sở giác không. Không giác cực viên, không sở không diệt. Sanh diệt kư diệt, tịch diệt hiện tiền. Hốt nhiên siêu việt thế xuất thế gian, thập phương viên minh, đắc nhị thù thắng. Nhất giả thượng hợp thập phương chư Phật bản diệu giác tâm, dữ Phật Như Lai đồng nhất từ lực. Nhị giả hạ hợp thập phương nhất thiết lục đạo chúng sanh, dữ chư chúng sanh đồng nhất bi ngưỡng”.

Nghĩa là ban đầu ở trong tánh nghe, vào được ḍng viên thông, không c̣n tướng sở văn nữa. Chỗ nhập đă sâu, đă lặng lẽ th́ hai tướng động tịnh không c̣n, không sanh. Cứ thế lần lần tiến lên, các tướng năng văn, sở văn đều hết tức cái hay nghe và bị nghe đều hết. Cái hay nghe, bị nghe hết rồi, không dừng ở đó phải tiến lên giác sở giác không, tức năng giác và sở giác cũng lặng. Năng giác và sở giác lặng rồi, không giác viên măn tức cái năng không và sở không cũng diệt. Sanh diệt đă diệt, tịch diệt hiện tiền. Bỗng nhiên vượt ngoài thế gian và xuất thế gian, sáng suốt cùng khắp mười phương, được hai thứ thù thắng: Một là trên hợp với tâm diệu giác sẵn có của mười phương chư Phật, tức ḿnh và Phật đồng một tâm, đồng một từ lực. Hai là dưới hợp với tất cả chúng sanh trong sáu đường mười phương, cùng với chúng sanh một ḷng bi ngưỡng.

Chúng ta thấy rơ tới chỗ cứu kính sanh diệt hết rồi, tịch diệt hiện tiền, không phải hết mà chừng đó thấy ḿnh siêu xuất thế gian và xuất thế gian. Bấy giờ trên hợp với chư Phật, đồng một ḷng từ, dưới hợp với chúng sanh, đồng một ḷng bi. Có ḷng từ nên muốn ban vui cho tất cả chúng sanh, có ḷng bi nên muốn nhổ hết gốc khổ của chúng sanh. Đó là công hạnh của Bồ-tát Quan Thế Âm.

Công hạnh này chúng ta có thể đối chiếu với mười mục tranh chăn trâu của người tu Thiền. Trong nhà thiền có vẽ mười mục chăn trâu để hành giả thấy được sự tiến từ thô đến tế của ḿnh. Ngay chỗ “sơ ư văn trung, nhập lưu vong sở” nghĩa là ở trong tánh nghe, nhập được rồi th́ quên các tiếng bên ngoài. Đây dụ như con trâu khi ta đă làm chủ được, nắm mũi dẫn đi th́ nó quên cỏ, quên lúa mạ bên ngoài, theo ông chủ xoay trở về. Tới “văn sở văn tận”, tức năng văn và sở văn hết, hai tướng động tịnh chẳng sanh. Đây dụ như con trâu đă thuần thục, người chăn thổi sáo trên cây c̣n trâu nằm ́ trên cỏ, không c̣n phá phách nữa. Đến chỗ năng sở đều hết là chỉ cho không c̣n trâu, chỉ c̣n người chăn. Tới “năng giác sở giác không” th́ người chăn cũng mất luôn. Rồi “không sở không diệt” là tới ṿng tṛn, qua được không và sở không rồi mới tịch diệt hiện tiền. Tịch diệt hiện tiền rồi, lúc đó mới qua bức tranh thứ chín là lá rụng về cội, chim bay về tổ, nghĩa là trên hợp với tâm diệu giác của chư Phật. Đến bức tranh thứ mười thỏng tay vào chợ, tay xách con cá chép tay cầm bầu rượu, nghĩa là dưới hợp với tất cả chúng sanh trong lục đạo đồng ḷng bi ngưỡng.

Trong nhà thiền thường nói “ông mới vào Phật giới mà chưa vào Ma giới”. Phật giới là chỗ hợp với mười phương chư Phật, ma giới là chỗ hợp với tất cả chúng sanh. Để thấy người tu muốn đến nơi đến chốn th́ phải trải qua các quá tŕnh như vậy, chớ không phải đơn giản.

Ngày nay có một số người nghe hiểu sơ sài rồi cho rằng cái hiểu của ḿnh đă tột, mặc t́nh uống trà, ngâm thơ, đó là bệnh chẳng phải là thiền. Tu hành như thế trọn đời cùng kiếp cũng chẳng tới đâu hết, sanh tử cũng vẫn c̣n nguyên, huống là những người chưa biết ǵ.

Tóm lại có mấy điểm then chốt chúng ta cần nhớ. Điểm thứ nhất nghiêng về Tăng Ni, nếu chúng ta tu chưa ngộ đạo, chưa sáng đạo th́ phải nhiệt tâm, tinh tấn tu hành, đem hết sức ḿnh miệt mài nghiền ngẫm giáo lư, làm sao phát minh cho được việc lớn. Nếu phát minh được rồi cũng đừng hài ḷng ngang đó, mà phải nỗ lực hằng tỉnh, hằng giác để nhập con người bất tử. Có thế chúng ta mới khả dĩ thoát ly sanh tử được.

Điểm thứ hai với Phật tử, quư vị cũng nên nhớ tuy rằng chuyện thoát ly sanh tử đối với người tại gia khó thực hiện, nhưng nếu có thiện chí, nỗ lực tiến tu nhận cho ra được nơi ḿnh có con người bất tử, như vậy cũng rất tốt, rất nhiều công đức. Chính Bồ-tát Thường Bất Khinh suốt đời Ngài chỉ làm có một việc là chuyên gieo niềm tin cho mọi người biết nơi ḿnh có con người bất tử. Ngài nói: “Tôi không dám khinh các Ngài v́ các Ngài đều sẽ thành Phật”. Thành Phật nghĩa là đều sẽ tiến vào chỗ bất tử. Mọi người có niềm tin đó là đă có lợi ích lớn rồi, nếu nhập được nữa th́ lợi ích kia vô kể.

Chúng ta đừng tưởng tu tới hết vọng tưởng, ở chỗ yên lặng rồi ḿnh trở thành ngu muội. Chính từ chỗ đó mới siêu xuất thế gian và xuất thế gian, chớ không phải thường. V́ vậy trên đường tu không đơn giản, không b́nh dị như người ta tưởng, mà phải hết sức nỗ lực, hết sức cố gắng mới được. Nếu chúng ta quyết chí tu, phải vận dụng hết khả năng của ḿnh, nhà Thiền gọi là can đảm tột độ, giết người không nh́n lại, khả dĩ mới tiến. Chúng ta vừa nhắc nhở ai đă sợ họ buồn, liền ḍm lại coi mặt mũi làm sao, đừng nói tới giết người không nh́n lại. Cái ǵ cũng muốn bỏ nhưng bỏ th́ tiếc nên ngó đi ngó lại măi, không bao giờ dám dứt khoát. Bởi không dứt khoát nên không tiến được.

Có thể nói, đường trước của người tu là hoa thơm cỏ lạ nhưng cũng lắm gai gốc chớ chẳng phải thường. Chúng ta không đi vào ngơ bí, vào lối cùng mà đi tới chỗ đẹp đẽ vô cùng vô tận. “Sơn cùng thủy tận nghi vô lộ, liễu ám hoa minh biệt nhất thôn”, nghĩa là ta cứ ngỡ rằng cuối non tận nước không c̣n con đường nào, ngờ đâu riêng có một thôn toàn là liễu đẹp hoa xinh rực rỡ vô cùng. Khi biết rơ như vậy, chúng ta sẽ hăng hái tiến lên, đạp trên gai gốc mà đi, không ngại khó khăn, chẳng sợ sầy da rách thịt.

Điểm thứ ba, đă biết rơ ḿnh có con người bất tử rồi, mỗi vị phải ráng nỗ lực, nhưng nỗ lực không có nghĩa là bậm môi, trợn mắt, cả ngày giống như giận ai. Tu hành làm ǵ mà hung dữ vậy! Nỗ lực ở đây là hằng tỉnh hằng giác. Lúc nào cũng tỉnh, lúc nào cũng giác khả dĩ chúng ta rũ được các duyên sanh tử, thể nhập con người bất tử.

Đó là những điểm chủ yếu chúng ta cần phải nhớ để ứng dụng tu hành. Trong giai đoạn tu mọi người đều nên tự thấy, tự hiểu, tự cố gắng chớ không mong ai khác thay cho ḿnh được. Đó là lời nhắc nhở của tôi sau một thời gian ngắn nhập thất.

]

NGƯỜI LEO NÚI

Thường Chiếu - 1987

Đề tài tôi nói hôm nay có tên hơi dài một chút Người t́m leo núi chỉ có bản đồ, không người hướng dẫn. Trong đây tôi chia làm sáu mục:

1. Học bản đồ:

Ở đây nói người t́m leo núi v́ chưa bao giờ họ thấy núi, nên khao khát muốn thấy ngọn núi, leo tận tới đỉnh để thỏa măn sự mong muốn của ḿnh. Nhưng v́ ở đồng bằng không có núi, cũng không có người hướng dẫn, chỉ có tấm bản đồ. Nương theo bản đồ và được một người giảng cho họ biết vị trí của ngọn núi cách thành phố bao xa, ở tỉnh nào v.v… Tuy nhiên, người giảng ấy cũng chưa chắc đă leo tận đỉnh núi, nhiều khi họ học trong sách vở, bản đồ rồi giảng cho người chưa học nghe. Sự thật bản thân họ cũng chưa từng leo núi lần nào.

Tôi tạm thí dụ cụ thể như một người ở miền Tây, nghe nói ở Vũng Tàu có hai ngọn núi, một là núi lớn, hai là núi nhỏ. Nghe vậy, họ ước mơ làm sao ra Vũng Tàu leo lên tận ngọn núi lớn, tận ngọn núi nhỏ để nh́n ra biển cho thỏa ḷng khao khát. Khi đó gặp người có sẵn bản đồ, họ giảng cho biết nếu ở miền Tây muốn đi ra Vũng Tàu leo núi, th́ phải đi từ miền Tây lên thành phố, rồi từ thành phố đi ra Vũng Tàu… Giảng rơ như vậy, người kia chịu khó học, nhưng khi đi nếu không có người hướng dẫn th́ phải đem theo tấm bản đồ. Vừa đi vừa dọ dẫm, đó là chặng thứ nhất của người leo núi.

2. Nhắm đúng hướng:

Người leo núi tuy có sẵn bản đồ trong tay, nhưng không có người hướng dẫn, nếu biết nhắm đúng hướng th́ không sợ lạc đường. Ví dụ từ miền Tây lên thành phố, tới cầu B́nh Điền lên dốc cao nh́n về hướng Đông Nam, thấy có những ngọn núi xanh xanh xa tí mù, họ bảo đó là núi Vũng Tàu. Khi xe xuống dốc hết thấy núi, lại phải chạy vô thành phố, qua bao nhiêu ngă ba ngă tư, nếu không khéo họ sẽ bị lạc. Cho nên tuy có một lần thấy núi nhưng chưa chắc đi được tới núi.

3. Kiên nhẫn:

Khi ra khỏi thành phố đi thẳng về Vũng Tàu mà không lạc, đó là có duyên phúc lắm. Tới khoảng gần Bà Rịa th́ thấy rơ núi Vũng Tàu, không c̣n nghi ngờ ǵ nữa. Tuy thấy rơ núi nhưng với vị trí của họ c̣n cách mấy chục cây số nữa mới tới, chớ không phải thấy là tới liền. Thấy rơ mà c̣n phải qua mấy chục cây số nữa mới tới núi, đó là chặng thứ ba.

4. Tới chân núi:

Xe chạy tới chân núi rồi, khi đó họ phải xuống xe, đi bộ thẳng tới chân núi. Lúc này tuy đă đứng dưới chân núi, nhưng vẫn chưa leo lên núi. Cho nên chuyện tới đỉnh c̣n phải qua nhiều giai đoạn, đ̣i hỏi sự cố gắng của người leo núi.

5. Nỗ lực leo núi:

Bây giờ bước sang giai đoạn nỗ lực leo núi. Từ dưới chân leo lên tới đỉnh núi, phải đổ mồ hôi ướt áo mới tới được. Trên đường càng phải theo dơi sát với bản đồ để không lạc đường. Bởi trên núi cây rừng um tùm chắn lối rất khó đi, lại thêm nhiều đường ṃn quanh co, không khéo người leo núi sẽ loanh quanh lẩn quẩn măi không tiến lên được. Vượt qua hết những chướng ngại ấy là leo lên tới đỉnh núi, thấy trời biển bao la, cảnh trí tươi mát, thỏa măn được nguyện vọng bấy lâu nay. Đây là giai đoạn hoàn tất quá tŕnh leo núi.

6. Tới đỉnh núi:

Tới được chót đỉnh rồi, tận hưởng gió mát trong lành, mây nước thênh thang, cảnh vắng ḷng yên, không ồn ào náo nhiệt bụi bặm như dưới thành thị, mới thích thú làm sao! Khi hưởng được sự an lạc như thế, chợt nghĩ đến nhiều bạn bè người thân muốn được leo núi như ḿnh. V́ vậy người này trở xuống núi, trở về hướng dẫn bạn hữu cùng ra Vũng Tàu, leo núi với họ.

Đó là sáu chặng đường tôi nói về “Người t́m leo núi chỉ có bản đồ, không người hướng dẫn”. Bây giờ hợp pháp, học bản đồ dụ cho người tu Phật chúng ta. Ai tu Phật cũng đều nghĩ tới mục đích cuối cùng là giải thoát sanh tử. Muốn giải thoát sanh tử th́ phải nhận ra nơi ḿnh có pháp thân bất sanh bất diệt. Kinh Hoa Nghiêm gọi là ngọn núi Diệu Phong. Như vậy đầu tiên chúng ta phải học bản đồ, học về vị trí ngọn núi đó ở đâu. Đó là lúc chúng ta bắt đầu học  kinh, để biết người tu muốn tiến tới giải thoát phải thế nào? Hiểu cho rơ biết cho rành đó là chặng thứ nhất.

Đến chặng thứ hai học kinh rồi, đă nắm vững bản đồ, ḿnh c̣n biết hướng tu, tức hướng đi đúng. Bởi đúng nên bỗng dưng có một phút giây nào đó ḿnh lóe sáng lên. Khi lóe sáng dụ như người lên dốc cầu B́nh Điền nh́n xa xa thấy núi Vũng Tàu. Thấy th́ thấy nhưng trên đường đi c̣n rất xa, có thể ḿnh sẽ bị lạc lối nếu không cẩn thận. Chỗ này chúng ta cần lưu ư. Nhiều người tự sáng, rồi tưởng sáng đó là xong, nhưng không ngờ c̣n xa vời lắm. Bởi trên đường có nhiều khúc quanh nhiều lối tẽ, cần phải dè dặt chớ không thể thấy như vậy là xong việc. Thấy núi mà chưa chắc là đến núi được.

Tới chặng thứ ba là đứng nơi chỗ trống, như ở Bà Rịa nh́n qua núi Vũng Tàu thấy núi rất rơ. Tuy thấy rơ nhưng vẫn c̣n cách núi một khoảng. Cũng vậy, khi tu công phu khá ta nhận ra nơi ḿnh có cái chân thật không c̣n nghi ngờ, như người đă thấy núi trước mắt. Trong nhà thiền gọi đây là kiến tánh, tức thấy rơ mồn một cái ḿnh cần thấy. Ở đây nói “thấy” là tôi tạm dùng chữ, chớ đúng ra là nhận được không nghi ngờ ǵ nữa. Như người đứng xa vài chục cây số thấy rơ chót núi, đường lên núi có những tảng đá hay cây xanh. Thấy rơ nhưng chưa phải đến núi. Người tu kiến tánh chỉ được không c̣n nghi thôi, chưa phải rồi việc.

Tới chặng thứ tư, đến chân núi mà chưa leo lên núi. Chúng ta tu nhận ra được bản tánh chân thật của ḿnh không c̣n ngờ vực ǵ nữa, nhưng công phu chưa xong. Bây giờ phải cố gắng tiến tu, hôm nào công phu tạm được, giống như người đă đến dưới núi. Chân đạp trên những ḥn đá dưới chân núi, chớ chưa phải đến chót núi. Như vậy cũng chưa xong, c̣n phải leo lên tận chót núi. Cũng thế, chúng ta tu khi thấy được nơi ḿnh có cái chân thật không ngờ vực và sống được với nó phần nào, gọi là người đă đạp trên đất thật, nhưng chưa phải rồi việc, c̣n công phu thêm một giai đoạn khá mệt nữa mới được.

Tới chặng thứ năm là leo đến đỉnh núi. Từ khi đạp được đất thật rồi, ḿnh biết rơ công phu đă tiến không lầm, nhưng không dừng ngang đó mà phải cố gắng nỗ lực hơn. Mọi thứ phiền năo vi tế đều gột sạch, tâm hoàn toàn thanh tịnh sáng suốt, giống như người leo đến đỉnh núi. Bấy giờ sở nguyện đă măn, trong nhà thiền gọi là nhập Phật quốc, tức mục thứ chín trong mười mục chăn trâu. Song nếu ta hài ḷng ở đó, mặc t́nh ngắm mây ngắm biển, như vậy chỉ lợi cho ḿnh, c̣n bao nhiêu bạn bè thân thuộc ao ước được như ḿnh, mà chưa có cơ hội. V́ vậy tới đây phải tiến thêm một chặng nữa.

Chặng thứ sáu, từ trên chót núi ta trở xuống, dẫn bạn bè cùng leo núi với ḿnh. Giai đoạn này chỉ cho người khi đạt đạo rồi, phiền năo hết sạch th́ trở lại trong bụi trần d́u dắt hóa độ chúng sanh. Đó là mục thứ mười của mười mục chăn trâu.

Công phu tu tập cho đến chỗ cứu kính viên măn phải trải qua nhiều giai đoạn như thế. Bởi vậy chúng ta mới hiểu chư Tổ khi ngộ đạo rồi, các ngài cũng phải mấy mươi năm ở yên một chỗ để thực hành công phu cho xong. Trên đường tu chúng ta chớm thấy một hai cái sáng, tưởng đó là đủ th́ lầm. Phải tới chặng thứ sáu mới vuông tṛn, mới xong bổn phận.

Tôi mượn h́nh ảnh “người t́m leo núi, chỉ có bản đồ không người hướng dẫn” để dụ cho sự tu hành của chúng ta. Hiểu rơ như thế ḿnh mới không lầm lẫn, chớ nhiều khi người có bệnh tự măn, tu chưa đến nơi mà đă cho là xong việc. Đó là tai hại khiến công phu ḿnh lui sụt, do đó trên đường tu tất cả phải cẩn thận.

Nhân tiện đây, tôi nhắc nhở cho Tăng Ni nắm rơ tinh thần tu tập của Thiền viện. Bởi v́ có hai trường hợp thường xảy ra: Thứ nhất, những vị ở Thiền viện lâu quá th́ sanh lờn, quên mục tiêu ban đầu của ḿnh nên tu hành giải đăi. Thứ hai, một số vị mới tới, ít có cơ hội nghe chúng tôi giải thích kỹ, nên không nắm vững tinh thần tu học của Thiền viện. Do đó hôm nay tôi nhắc lại cho người cũ nhớ thêm, người mới hiểu rơ tinh thần tu học ở Thiền viện.

Trước kia bản thân tôi đă từng học qua trường lớp của Phật giáo, cũng đă từng dạy từ tiểu học, trung học cho tới cao học Phật giáo. Nhưng tại sao tôi lại không chủ trương mở lớp dạy giáo lư cho Tăng Ni Phật tử hiểu đạo, mà lại chủ trương lập Thiền viện để tu? Đó là chỗ tôi muốn nói cho tất cả Tăng Ni hiểu rơ.

Bởi v́ sau khi qua những trường lớp, tự bản thân ḿnh học rồi dạy người khác học, tôi thấy rất rơ những ưu khuyết điểm của việc này. Trong nhà Phật có tam tuệ học là Văn, Tư, Tu. Văn tuệ và Tư tuệ là hai yếu tố đầu, nếu người nào muốn hiểu đạo Phật phải bắt đầu từ đó. Văn tức là nghe, nghe có nghĩa là học. Cho nên ở thế gian người ta dùng từ đa văn tức là học rộng. Chữ văn có nghĩa là học, nhưng không phải học để trả bài mà c̣n phải suy gẫm nữa. Bởi lời Phật dạy không đơn giản như những môn học thế gian, chỉ cần học thuộc ḷng công thức đó ḿnh có thể làm được những bài toán.

Ở đây, học rồi phải suy gẫm mới hiểu. Ví dụ Phật dạy chúng ta phải quán các pháp vô thường. Nói các pháp vô thường ai cũng hiểu, nhưng muốn thâm nhập nó, ta phải quán như thế nào? Đầu tiên là quán thời gian. Một ngày vừa thức giấc chúng ta thấy sáng rồi tới trưa, chiều, tối. Ngày nay chuyển biến như vậy, ngày mai cũng chuyển biến như vậy, thời gian không dừng ở một điểm nào hết, nên nó vô thường. Chỉ biết thời gian vô thường thôi chưa đủ, phải xét tiếp thời gian vô thường đó có ảnh hưởng đến con người chúng ta không?

Con người sanh ra, lớn lên, từ thiếu niên thành thanh niên rồi tới trung niên, lăo niên, cứ nối tiếp thay đổi chớ không ai ở mức thiếu niên hay trung niên hoài. Như vậy, con người cũng bị thời gian chi phối. Thời gian là một ḍng chuyển biến vô thường, bản thân chúng ta cũng là một ḍng chuyển biến vô thường. Đến sự vật cũng thế, như ta trồng cây, lúc mới trồng là cây con, lần lần cây lớn lên rồi tới già, tới rụi và cuối cùng cây chết. Chúng ta nh́n tất cả sự vật đều như thế.

Quán cho thật thấu đáo rồi, mới thấy con người đang sống trong sự xê dịch vô thường. Từ ngoại cảnh cho tới bản thân, luôn luôn chuyển biến không dừng. Xét kỹ như thế, ḿnh mới thấy Phật nói lư vô thường thật hay, thật chí lư. Chớ chỉ nói suông vô thường là thay đổi, không có sự suy tư của ḿnh, th́ chưa thể thấu đáo được lư vô thường.

Khi đă biết thân vô thường, cảnh vô thường, th́ có ǵ để tham? Con người tham v́ nghĩ cái ḿnh thích c̣n măi, nay đă biết nó là vô thường, th́ tham chi nữa. Do thấy được lẽ thật ấy nên ḷng tham tự nhiên giảm, đó là tu rồi. Hoặc khi nghe ai vừa chửi ḿnh một câu, ta nổi giận liền nhớ thân này mai mốt cũng chết, giận mà chi? Nhớ thế th́ bớt giận. C̣n ḿnh nói tôi đường đường như vầy mà dám chửi hả, đó là ngă mạn, tức nhiên ḷng sân tăng trưởng. Cho nên Tư tuệ là thấy được chân lư từ chính sự suy gẫm của ḿnh tức là thấy được lẽ thật, tu mới dễ.

Người tu do tưởng tượng sẽ không tu được lâu dài, v́ tưởng tượng đâu có đúng sự thật. Ví dụ người thế gian thấy quí thầy có vẻ thong thả, tới lui tự tại không có ràng buộc ǵ hết, nên nghĩ ở trong chùa chắc sướng? Tưởng tượng như thế liền xin vô chùa. Khi đă vô chùa, thấy sao cũng có nhiều điều phiền toái, mất tự do, không được như ư, lại nghĩ không chừng ra ngoài sướng hơn. Đó, cứ như vậy mà đổi chỗ hoài, nhảy vô nhảy ra lăng xăng lộn xộn cả đời không đi tới đâu hết. Cho nên khi tu là phải suy gẫm cho thật đúng lư Phật dạy. Hiểu tột lư rồi việc tu mới dễ tiến.

Lư vô thường đơn giản nhất, cụ thể nhất, hiểu được cho đến nơi là chúng ta tu cũng đă khá rồi, huống nữa là thấu triệt lư nhân duyên, lư vô ngă v.v… hay biết chừng nào. Thế nên bước đầu của người tu, Phật dạy phải văn. Văn tức là nghe, học, kế đó phải tư. Học không chưa đủ mà phải suy gẫm. Nên học là để tu chớ không phải học suông. V́ vậy trong nhà Phật có vô lượng pháp môn là tùy theo căn cơ tu tập của chúng sanh khác nhau mà có. Mỗi một pháp môn tức là một lư thật Phật dạy cho ḿnh thấy, thấy được lư thật đó là có được một pháp môn tu. Quán vô thường là một pháp môn, quán nhân duyên là một pháp môn v.v… Cho nên học để tu, đó chính là tinh thần của Thiền viện.

Tăng Ni ở các Thiền viện học mấy năm cũng không có lên lớp. Học mười năm, hai mươi năm cũng cứ học để hiểu, hiểu để tu, chớ không có phát bằng cấp nào cả. Chúng ta nhớ hồi thời đức Phật, có tiểu học, trung học, đại học ǵ đâu? Khác chăng là người tu chưa chứng và người đă chứng thôi. Chưa chứng gọi là hàng hữu học, đă chứng gọi là hàng vô học. Thành ra học đạo mà c̣n kẹt cấp bằng là một chuyện hết sức đáng buồn.

Chính những năm tôi từng chấm thi, tôi rất buồn, v́ thấy dường như người lớn gạt kẻ nhỏ. Bởi học rồi tới thi, cả năm bài vở nhiều quá làm sao nhớ hết. Mà thi th́ tâm trạng Tăng Ni sinh luôn luôn sợ rớt. Rớt th́ không được lên lớp nữa, thành ra họ phải cố gắng làm sao cho đậu. Nếu không thuộc bài phải t́m cách làm bài được, cách đó là cách ǵ? Là nhét tài liệu vô túi, vô cặp, chép lên bàn để quay. Như vậy người học đạo để tu, mà bây giờ lại thành mưu đồ gian lận, c̣n ǵ ư nghĩa của sự tu hành nữa! Chính điều này làm tôi hết sức đau ḷng. Ḿnh dạy là để người ta tu, bây giờ vô t́nh ḿnh tạo điều kiện cho người ta gian lận, tức là hết tu rồi. V́ thế thời gian dạy học các trường, các lớp, tôi cảm thấy rất buồn. Tôi không thích điều đó. Tôi muốn làm sao người học đạo, thật sự thuần túy là học đạo, chớ không kẹt danh, kẹt lợi như thế.

Do đó tôi thành lập Thiền viện, bắt Tăng Ni học th́ cứ lên lớp học. Hiểu thế nào tŕnh bày lại cho đại chúng nghe thế ấy, trao đổi kinh nghiệm tu tập thêm. Mấy năm cũng như mấy năm, cứ học tới hoài, không nói năm nay vị đó đă măn cấp trung học, sẽ thi tuyển cấp đại học v.v… Học Phật để hiểu giáo lư cho thâm sâu rồi tu. Mà muốn hiểu giáo lư thâm sâu th́ phải Tư, không Tư th́ không hiểu sâu được. Chúng ta nhớ trong kinh Phật thường hay dạy các thầy Tỳ-kheo thường phải t́m nơi vắng vẻ, ngồi dưới cội cây để suy tư, hay là chánh tư duy những pháp Phật dạy. Nhờ tư duy đó mà các thầy hiểu sâu.

Tôi thấy một số thầy ngày nay rất đáng buồn. Học xong rồi nhóm lại nói chuyện bên Đông bên Tây, không tư duy ǵ hết, do đó không thấm, không thưởng thức được pháp vị chân thật của Phật dạy. Học lối trả nợ, rảnh ngồi nói dóc với nhau, rồi cười giỡn, không để phút giây nào yên tĩnh ngồi suy tư, bao giờ mới thấu hiểu lời Phật dạy. Không hiểu Phật dạy thế nào nên cũng không biết ứng dụng tu ra sao. Thử hỏi như vậy có đáng buồn không? Bây giờ ngoài thời gian lao động ra, khi nào rảnh, thiếu ǵ những gốc cây, cây đào, cây tùng, cây vú sữa… Có rất nhiều chỗ ngồi, mấy huynh đệ ngồi một ḿnh gẫm lại những lời Phật dạy. Gẫm như vậy gọi là suy tư, thấu hiểu thật chí lư lời Phật dạy, mới thấy hay.

Tôi ngày xưa lúc ở chùa Phật Quang được học kinh Lăng Nghiêm. Học rồi tôi suy gẫm thấy quá hay. Những buổi khuya tôi thường dậy trước giờ thức chúng, ngồi học một ḿnh. Đọc xong đoạn kinh nào rồi, tôi xếp sách lại suy gẫm lời Phật dạy, thấy hay quá. Mấy chục năm ở ngoài thế gian chưa từng nghe được những lời như vậy, bây giờ mới được nghe, tự nhiên tôi xúc động rơi nước mắt. Tôi nghĩ nếu ḿnh không gặp Phật pháp th́ chẳng biết thành cái ǵ, suốt một đời sống vô nghĩa. Như chúng ta thấy con người sanh ra rồi lớn lên, lo ăn học, kế có gia đ́nh, có con, nuôi con. Khi con lớn khôn là ḿnh sửa soạn già chết. Mà chết đă yên đâu, c̣n sự quyến luyến vợ con, tiền bạc nên trở lại nữa. Cứ như vậy đáo đi lộn lại trầm luân muôn kiếp.

Bây giờ chúng ta được học giáo lư chân thật, nhận biết ngoài cuộc sống b́nh thường, con người c̣n có một lư tưởng cao siêu vượt hơn tất cả, tự nhiên ḿnh thấy tâm hồn siêu thoát. Từ đó mới ư thức giá trị của sự tu là quí, nếu không hiểu như vậy, tu một lúc sao thấy thường quá. Rồi cũng ăn, cũng mặc, cũng cười, cũng giỡn, cũng đi chơi như ai, cuối cùng không ư thức được giá trị của sự tu hành chút nào hết.

V́ vậy quí vị nên có những phút giây yên tĩnh để suy gẫm về pháp. Suy gẫm thấy hay mới ứng dụng tu. Như chúng ta ai cũng có ba độc chứa sẵn trong người. Ba độc là tham, sân, si. Có người nghe ba độc, học hiểu ba độc và giảng được ba độc nữa. Nhưng thiếu tu nên ai vừa chọc tới liền nổi sân đùng đùng. Như vậy Văn, Tư chỉ là phương tiện bước một bước hai, mà kết quả thành tựu tốt hay không là yếu tố thứ ba Tu.

Hồi xưa thời của chúng tôi, do nhu cầu truyền bá Phật pháp đ̣i hỏi nhiều, nên chư tăng học rồi phải đi giảng dạy ngay, không có th́ giờ tu. Bấy giờ tôi tự an ủi ḿnh rằng, ráng dạy một thời gian để đền ơn Thầy Tổ. Thật t́nh tôi không bằng ḷng làm một cái máy phát thanh, cứ thâu vô bao nhiêu phát ra bấy nhiêu, không đi tới đâu hết.

Trong kinh Hoa Nghiêm có một đoạn rất hay. Khi Thiện Tài đồng tử hỏi vị thiện tri thức nếu chỉ nghe, hiểu đạo thôi có đủ chưa? Thiện tri thức giải thích ví như có người đi trên băi sa mạc vào lúc trưa hè, lại không đem theo nước. Bấy giờ khát nước cháy cổ, người kia muốn t́m chút nước uống cho đỡ khát, nhưng không biết t́m ở đâu? Bỗng đằng xa có một người đi lại, anh này liền hỏi: “Thưa anh, chỗ nào có giếng, có bóng mát xin chỉ dùm, tôi khát quá”. Người kia bảo: “Anh tới ngă ba, rẽ bên phải, đi một đỗi nữa sẽ có bóng mát, bên cạnh gốc cây ấy có một giếng nước”. Anh chàng khát nước cháy cổ nghe nói thế mừng quá, nhưng chưa đi tới đó th́ hết khát nước không? Như vậy nghe nói, hiểu rơ c̣n phải đi tới nơi, vốc nước lên uống, chừng đó mới hết khát.

Cũng thế, nếu chúng ta chỉ học là Văn, rồi hiểu là Tư mà thiếu Tu th́ không đi tới đâu, v́ khổ của phiền năo vẫn chưa hết. Cho nên có nhiều vị Giảng sư giảng thao thao bất tuyệt, mà lâu lâu đùng một cái ra đời. Hỏi tại sao thầy giảng hay quá mà ra đời? Là v́ thiếu tu, cũng như khát nước nhưng chưa uống được th́ vẫn cháy cổ như thường.

Tu giống như nghe chỗ bóng mát, có giếng nước, ḿnh đang đi tới đó. Trong lúc đang đi cũng vẫn khô cổ như thường? Chừng nào đi tới đích, thưởng thức được vị mát của nước rồi mới hết cháy cổ. Hiểu như vậy mới biết đạo lư chân thật không cho phép chúng ta nói suông mà phải thực hành, có hành mới thấy giá trị của sự tu.

Hồi xưa Phật c̣n tại thế, nhiều thầy Tỳ-kheo khi đắc đạo rồi rất vui mừng, v́ thấy cuộc sống hết sức cao cả. Người tu đáng để cho thiên nhân cúng dường mới gọi là Ứng cúng. Bởi có tu mới thấy đạo pháp quá cao siêu, không phải tầm thường lẩn quẩn trong ṿng sanh tử luân hồi. C̣n chúng ta bây giờ tu hơi yếu. Hồi mới phát tâm th́ mạnh, ở chùa lâu sanh lờn, kế đó yếu dần rồi thối tâm luôn.

Cho nên học là phương tiện đầu. Thầy giúp cho chúng ta hiểu, nhưng hiểu sâu là phải do công phu suy tư của ḿnh. Kế đến tu được cũng là công phu của ḿnh, chớ thầy không làm hai việc sau được. Đạt chân lư là ḿnh, rồi thực hành đến nơi đến chốn cũng do ḿnh. Hai việc sau đ̣i hỏi mỗi người phải cố gắng, chớ thầy không làm thế được.

Như vậy tinh thần tu học của Thiền viện là tạo điều kiện cho Tăng Ni nghe, suy gẫm, c̣n tu là phần của quí vị. Ở đây tôi thường hay nhắc chúng ta không chỉ tu trong giờ tọa thiền, tụng kinh mà giờ nào cũng phải tu hết. Hoặc ta ngồi chỗ riêng vắng, suy gẫm lại lời Phật dạy, đó gọi là chánh tư duy. Hoặc khi ngồi chơi chỗ thanh vắng, nh́n thấy những luồng vọng tưởng dấy khởi, ḿnh biết rơ không thèm chạy theo nó, đó là tu. Hoặc do suy gẫm, thấy được lẽ thật nơi ḿnh, nh́n tất cả tṛ ảo hóa ḿnh cười thôi, không có ǵ quan trọng hết, đó là tu.

Quí vị nhớ nhiều người ngồi tán dóc th́ khó tu lắm. Ban đầu cũng nói chuyện tu hành hoặc chuyện học kinh. Nhưng nói một hồi lảng qua chuyện khác lúc nào không hay. Thế là chuyện bên Tây bên Tàu, chuyện tiếu lâm, chuyện vui cười rùm lên. Hết nhóm này vui cười, tới nhóm khác vui cười, rồi cả liêu ồn náo, không có chút yên tĩnh. Phật tử tới chùa nghe trong liêu quí thầy ồn náo, họ vui không? Họ đánh giá ra sao? Quí thầy đang tu hay quí thầy đang giỡn?

Phật tử tới chùa thấy quí thầy rảnh rang, mỗi vị ra ngồi dưới cội cây, gương mặt thanh thản cười mỉm. Thấy quí thầy sống hết sức thanh tịnh, tự tại, người ta mới quí kính. Chớ c̣n ngồi dụm ba dụm bảy căi nhau hoặc nói chuyện tàu lau rồi cười, th́ ai mà quí kính được! Không phải ḿnh tu làm tướng cho Phật tử thương cúng dường, nhưng ḿnh phải thật sự sống trong chánh tư duy, suy gẫm về chân lư. Như vậy mới đúng ư nghĩa người tu, vừa có lợi cho ḿnh vừa có lợi cho tất cả mọi người. Đó là điều tôi muốn nhắc tất cả Tăng Ni nhớ, ứng dụng tu có kết quả tốt đẹp cho bản thân và tập thể.

Những năm ở Chân Không, tôi rất bằng ḷng về việc tu học của chư tăng. Trước tiên tôi tạo điều kiện cho chư Tăng tu học thuận lợi về mọi mặt. Sau ba năm học, quí thầy có khả năng được nhập thất đôi ba năm rất yên tĩnh. Mọi sự lo lắng bên ngoài đều được chu toàn. Người tu mà đa đoan bận bịu nhiều việc quá tu khó tiến. Những lúc ta rảnh rang chỉ chuyên làm một việc th́ mức tiến thấy vượt bực rơ ràng. Như vậy Tăng Ni mới có đủ ḷng tin rằng không tu th́ thôi, chớ có tu là có tiến.

Tôi tự thấy ḿnh có trách nhiệm là kẻ đi trước, phải làm sao hướng dẫn người đi sau đừng ḷng ṿng uổng đi một đời tu. Nếu căn cứ trên lịch sử Phật giáo th́ thời nào có những vị Tăng Ni tu hành ngộ đạo, thời đó là thời thịnh hành của Phật giáo, chớ không phải đông người tu là thịnh. Ví dụ gần nhất là cuối thế kỷ mười tám, ở Huế chỉ có Thiền sư Liễu Quán là một vị tăng Việt Nam tu ngộ đạo, mà đến bây giờ ở Huế cũng như trong Nam vẫn c̣n hệ phái Liễu Quán. Một người ngộ đạo thôi mà đă kéo dài cả hai thế kỷ như vậy.

Do đó muốn duy tŕ Phật pháp dài lâu phải có người tu thấy đạo, ngộ đạo. Chớ c̣n Tăng Ni chỉ chú trọng trên lư thuyết hay cấp bằng th́ đạo pháp khó giữ được bền lâu. Do đó tôi nghĩ mỗi vị cố gắng tu, để mai kia sáng được lư đạo th́ bản thân ḿnh xứng đáng một đời tu, mà đối với Phật pháp ḿnh c̣n duy tŕ được lâu dài nữa. Đó mới thật là người tu sĩ đủ tư cách đền đáp bốn ơn.

V́ vậy cái học ở Thiền viện là học để tu. Sau thời gian học, chư tăng được nhập thất, cố gắng tu để thấy rằng những ǵ Phật dạy chúng ta là sự thật. Kết quả tu học có được chính là niềm tin vững chắc nơi quí vị. Tăng Ni tin chắc chắn rằng nếu nỗ lực tu tập, nhất định có ngày ḿnh sẽ thấy đạo, sống đạo và hành đạo được như các bậc đă giác ngộ giải thoát. Đó chính là mục đích cứu kính của người xuất gia chân chánh.

*Dưới đây là Phật tử thưa hỏi thêm:

- Kính bạch Thầy, mục thứ tư Thầy nói ở đây có phải là mục thứ chín của mười mục chăn trâu?

- Không phải.

- Như vậy là mục thứ tám?

- Cũng không hẳn. V́ mục thứ tám là không c̣n trâu, không c̣n chăn, đó là đứng về mặt Tiểu thừa mà nói, người tu đến đây đạt quả A-la-hán, hết sạch phiền năo. Nhưng đứng về Thiền tông mà nói, tuy không c̣n trâu không c̣n chăn tức không c̣n kẹt trong đối đăi, nhưng chưa phải rồi. C̣n công phu nhiều nữa mới nhảy khỏi đầu sào trăm trượng. Tới đầu sào trăm trượng th́ trâu và chăn c̣n ở trên đầu sào, khi nào nhảy khỏi đầu sào mới vào được Phật quốc. Nhảy phóc một cái qua khỏi chỗ đó là chết sống chớ không phải chuyện thường. Cho nên nhiều khi chúng ta tu dễ lầm lắm, tới chỗ nào đó ḿnh tưởng đủ rồi, ngồi thảnh thơi ca hát vui chơi, đó là không đúng.

- Kính bạch Thầy, từ lâu con có thắc mắc về trường hợp các vị tu theo Tiểu thừa, nói rằng chứng A-la-hán th́ không c̣n ưu buồn. Nhưng trong sử nói ngài Mục Kiền Liên đă là A-la-hán rồi, sau khi gặp mẹ bị thọ khổ h́nh trong kiếp ngạ quỉ, Ngài vẫn khóc. Như vậy Ngài vẫn c̣n buồn?

- Có hai trường hợp: Thứ nhất, đứng về mặt Tiểu thừa th́ như thế là không đúng, v́ c̣n xúc động là c̣n hữu lậu. Thứ hai, đứng về mặt Đại thừa th́ không có lỗi, v́ Bồ-tát c̣n khóc kia mà. Bồ-tát khi thấy chúng sanh khổ, ḿnh không giúp được các Ngài xót xa có khi khóc. Đó, huống nữa ngài Mục-kiền-liên thấy mẹ khổ mà giúp không được, Ngài khóc là lẽ đương nhiên. Thành ra chúng ta hiểu theo cái nh́n Nguyên thủy th́ như vậy Ngài có lỗi, nên các sư Nguyên thủy nghi bản dịch Hán tạng không đúng, không biết nguyên bản chữ Phạn thế nào? Nhưng với tinh thần Đại thừa th́ nói ngài Mục-kiền-liên, ngài Xá-lợi-phất chẳng qua chỉ mượn h́nh thức Thanh-văn, để thực hành hạnh Bồ-tát. Cho nên gọi ngoại hiện Thanh-văn nội biến Bồ-tát. Hiểu thế th́ nói đúng cũng được, nói không trúng cũng được.

- Thưa Thầy chỗ lậu tận của A-la-hán với chỗ vô tâm trong nhà thiền có giống nhau không?

- Cũng chưa giống nhau. V́ lậu tận của A-la-hán là các Ngài dứt sạch hết nghiệp, không c̣n sanh trong tam giới nữa. C̣n vô tâm của nhà thiền là không có tâm phân biệt sanh tử, nhưng c̣n cái thể chân thật bất sanh bất diệt. Nên tuy không có tâm sanh tử nhưng các Ngài vẫn lưu nguyện để đi trong sanh tử, thực hành tự lợi lợi tha cho được viên măn.

Hai bên khác nhau. Một bên th́ tới chỗ bặt hết mọi nghiệp chướng rồi an trú vô sanh. C̣n một bên tuy không có tâm sanh diệt nhưng c̣n thể chân thật. Tâm không dấy động nữa mà vẫn khởi đại bi tâm phát nguyện đi trong sanh tử. Khởi đại bi tâm phát nguyện tức là c̣n tâm, do c̣n tâm mới có thể đi trong sanh tử, nếu không như thế làm sao độ chúng sanh? Cho nên chúng ta thường nghe nói chư Bồ-tát hay lưu vi tế hoặc, trần sa hoặc để đi trong sanh tử, độ tận chúng sanh.

]

CỘI GỐC SANH TỬ VÀ NIẾT-BÀN

Chùa Hồng Pha Toronto - 1994

Hôm nay thể theo lời yêu cầu của chư Tăng Ni tại đây, chúng tôi sẽ thuyết một thời pháp cho tất cả Tăng Ni Phật tử nghe, với đề tài Cội gốc sanh tử và cội gốc Niết-bàn.

Thật ra người tu không phải ham tu là tu được, mà đ̣i hỏi phải thâm nhập Phật pháp cho sâu, sau đó ứng dụng tu mới đạt kết quả tốt. Nếu chỉ biết tu mà không hiểu Phật pháp, đó là một thiếu sót lớn, có thể dẫn đến nguy hại. Bởi người không hiểu Phật pháp dễ đi lệch lạc, rơi vào tà đạo lúc nào không hay. V́ vậy đối với Tăng Ni cũng như Phật tử, hiểu Phật pháp là mấu chốt trọng yếu trên đường tu.

Chúng ta tu ai cũng muốn giải thoát sanh tử, thế nên trước hết cần phải biết nguyên do nào chúng ta phải trầm luân trong sanh tử. Biết gốc trầm luân sanh tử rồi mới biết nhân giải thoát. V́ thế ở đây tôi nêu lên hai vấn đề gốc sanh tử và gốc giải thoát, để chúng ta biết cái nào hiểm nguy th́ tránh, cái nào cao siêu lợi ích th́ hành. Trong kinh Phật dạy đầy đủ tất cả đường lối tu tŕ, nhưng v́ chúng ta không đủ duyên nên không nghe, không nhận được.

Trước tiên nói về có và không hay khen và chê, tôi xin dẫn kinh Trường A-hàm. Một hôm đức Phật trên đường về Tinh xá Trúc Lâm, có hai thầy tṛ ngoại đạo theo sau. Ông thầy t́m đủ cách chỉ trích chê bai đức Phật, ngược lại người tṛ dùng mọi lời lẽ tốt đẹp tán thán khen ngợi Như Lai. V́ thế chư Tỳ-kheo bực bội không vui, về tới Tịnh xá các thầy liền bạch Phật:

- Bạch Thế Tôn, tại sao đối với đức Phật mà ông thầy th́ chê, người tṛ lại khen, như vậy ai đúng?

Đức Phật trả lời:

- Các ngươi đừng nói ai đúng, nếu nghĩ khen là đúng, chê là đúng th́ các ngươi sẽ bị phiền năo. Nếu nói khen đúng th́ người được khen sinh tâm ngạo mạn. Nếu nói chê đúng th́ người bị chê sẽ sanh ra bực bội. Như vậy đừng để khen chê làm cho tâm ḿnh sanh phiền năo.

Phật tử đối với việc khen và chê thế nào? Chúng ta được khen có vui không, bị chê có buồn không? Ta nên nhớ chắc ǵ người khen là thực khen, nhiều khi họ khen xă giao cho được ḷng ḿnh. Hoặc nhiều khi người ta ghét nên chê cho ḿnh bực bội, như vậy chê cũng không đúng. Thành ra khen chê không có lẽ thật. Như vậy nghe khen vui, nghe chê buồn là ḿnh sáng suốt hay không sáng suốt? Chắc chắn là không sáng suốt rồi.

Bây giờ làm sao người ta khen ḿnh đừng vội mừng, người ta chê ḿnh đừng vội giận mà phải xét lại ḿnh? Điều này hết sức nhỏ nhưng chúng ta phải cẩn thận đừng bị lầm. Phật nói có những điều người ta khen Thế Tôn nhưng cái khen đó chỉ là h́nh thức bề ngoài, không có ǵ quan trọng. C̣n một điều quan trọng hơn, đáng để khen hơn của một vị Tỳ-kheo là khi mắt đối với sắc, tâm không dính, không nhiễm, biết rơ ràng mà không bị nó cột trói. Đây là điều đáng khen mà thế gian không biết, chỉ có những đệ tử chứng A-la-hán mới khen những điều đó.

Khi tai ta nghe tiếng, biết rơ ràng tiếng khen tiếng chê mà tâm không dính, không bị cột trói. Khi mũi ngửi mùi biết rơ thơm hôi nhưng cũng không dính mắc… cho đến lưỡi nếm vị, thân xúc chạm, ư đối với pháp trần không dính không mắc một thứ nào hết mới đáng được khen ngợi, nhưng người đời lại không biết. Chỉ có những vị A-la-hán mới biết khen ngợi như thế thôi.

Người thế gian thường khen những h́nh thức giả tạm bên ngoài, c̣n cái thực là đối với sáu trần biết rơ ràng mà không dính không nhiễm th́ không khen. Ví dụ quí Phật tử thấy chư Tăng Ni tu, người nào ra đường nghiêm trang tề chỉnh, đi ngó dưới đất, không ngó qua ngó lại, hoặc thấy thầy cô nào ăn mặc rách rưới sơ sài… quí vị khen thầy cô đó tu rất nghiêm chỉnh đạm bạc. C̣n những thầy cô được người đem biếu tặng vật ǵ đẹp mắt nhưng không ham, không nhận, quí vị làm sao biết mà khen? Như vậy chúng ta chỉ thấy h́nh thức bên ngoài, c̣n tâm niệm trong sáng không dính không mắc bên trong người đời ít ai thấy được.

Người tu h́nh thức tuy rất nghiêm trang nhưng nội tâm c̣n dính mắc th́ vẫn không thể giải thoát như thường. C̣n người tuy h́nh thức tầm thường nhưng mọi dính mắc đều không cột trói được, người đó tự nhiên được giải thoát. Cho nên chúng ta phải biết rơ trọng tâm khen chê không phải ở h́nh thức mà ở tâm niệm của mỗi người. Ai đă thoát được, đă tháo gỡ được những cột trói của dục lạc thế gian, đó là người đáng khen. C̣n h́nh thức bên ngoài nghiêm trang nhưng đụng đâu dính đó th́ chưa đáng khen.

Bây giờ tôi dẫn trong kinh Tạp A-hàm, có một bài kinh kể lại câu chuyện thế này. Hồi Phật c̣n tại thế, ngài Phú-lâu-na đến bạch với Phật rằng:

- Bạch Thế Tôn, con muốn t́m nơi vắng vẻ chuyên tu cho chóng được Niết-bàn. Cúi xin Thế Tôn v́ con giảng nói chỗ tâm yếu, để con chóng vào Niết-bàn.

Đức Phật dạy:

- Muốn đạt được chỗ tâm yếu đó không ǵ hơn là mắt thấy sắc đừng bị sắc trói cột, đừng dính với sắc. Tai nghe tiếng đừng để tiếng lôi cuốn, đừng dính nhiễm với tiếng. Mũi ngửi mùi đừng bị mùi cột trói, đừng dính mắc với mùi. Lưỡi nếm đừng bị vị trói buộc, đừng dính mắc với vị. Thân xúc chạm dù cho êm ái nhẹ nhàng vui thích hay thô nhám khó chịu cũng không bị dính cột trói, đừng dính mắc với xúc. Ư duyên với pháp trần không bị pháp trần lôi dẫn, không dính mắc với pháp trần. Nếu mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ư không dính mắc với sáu trần, đó là nhân đến Niết-bàn.

Nghe Phật dạy như vậy rồi, ngài Phú-lâu-na đảnh lễ từ giă Thế Tôn, xin t́m một chỗ vắng vẻ tu. Đức Phật hỏi Ngài định đi đâu, Ngài thưa định sang một nước ở phương Tây để tu. Đức Phật nói:

- Ta nghe dân xứ ấy hung dữ lắm, ông qua đó họ làm khó, làm sao tu được?

Ngài Phú-lâu-na bạch:

- Bạch Thế Tôn, nếu người ta khó dễ với con, con vẫn can đảm tinh tấn tu.

Phật hỏi:

- Giả sử như họ chửi mắng ông th́ ông nghĩ sao?

- Bạch Thế Tôn, nếu họ chửi mắng con là vẫn c̣n hiền v́ chưa đánh đập con.

- Giả sử họ dùng tay chân thoi đánh ông th́ ông nghĩ sao?

- Bạch Thế Tôn, nếu họ dùng tay chân thoi đánh con là vẫn c̣n hiền v́ chưa dùng dao gậy đánh con.

- Giả sử họ dùng tới dao gậy đánh ông th́ ông nghĩ sao?

- Bạch Thế Tôn, nếu họ dùng dao gậy đánh con là vẫn c̣n hiền v́ chưa giết con.

- Giả sử họ giết ông th́ ông nghĩ sao?

- Bạch Thế Tôn, nếu họ giết con th́ càng tốt v́ họ giải quyết sớm dùm con thân ô uế này. Con cám ơn họ nhiều hơn.

Bấy giờ Phật bảo:

- Nếu ông được như vậy th́ nên qua đó tu.

Ngài Phú-lâu-na với pháp Phật dạy và ư chí sắt đá đă qua xứ ấy tu, chỉ ba tháng thôi liền chứng quả A-la-hán.

Chúng ta thấy muốn được quả A-la-hán dễ hay khó? Tu ba tháng mà chứng A-la-hán th́ quá dễ phải không? Nhưng muốn như vậy, phải làm được hai việc. Thứ nhất bị người ta đánh đập chửi mắng, nhẫn đến giết ḿnh cũng không giận. Chưa được như vậy e khó vào Niết-bàn. V́ c̣n giận là c̣n phiền năo, c̣n phiền năo làm sao được Niết-bàn? Nên điều thứ nhất là trước mọi thử thách như chửi mắng, đánh đập cho tới bị giết ḿnh cũng không buồn không giận, tâm không thối