|
H.T THÍCH THANH TỪ
HOAVÔ ƯU Tập 9
NHÀ XUẤT BẢN PL. 254 – 200
LỜI ĐẦU SÁCH Quyển Hoa Vô Ưu này được kết tập từ các bài giảng của Ḥa thượng Viện chủ Thiền viện Thường Chiếu Thích Thanh Từ. Trong đó, gồm một số bài Ḥa thượng giảng cho Tăng Ni, Phật tử tại các Thiền viện và một số bài giảng phổ thông cho Phật tử trong cũng như ngoài nước. Để đáp ứng nhu cầu t́m hiểu pháp thiền và hâm mộ tu thiền của Tăng Ni, Phật tử, nhưng quí vị chưa đủ điều kiện tu học trực tiếp nơi Ḥa thượng, chúng tôi tŕnh xin ư kiến của Ngài và được Ngài hoan hỷ cho biên tập lại các bài giảng trên. Tuy nhiên, v́ là văn nói nên tập sách không sao tránh khỏi sự trùng lặp tất yếu của nó. Rất mong độc giả đạt ư quên lời. Được thế, hy vọng tập sách sẽ đến tay quư vị với những lợi ích thiết thực nhất. Như vậy, chúng ta có thể t́m hiểu thâm nhập và hành tŕ pháp thiền. Đồng thời trên bước đường tu học, chúng ta có thêm bạn đồng hành luôn cảm thông với chúng ta. Thường Chiếu, ngày 01.08.2002 THÍCH NHẬT QUANG ?
BẢN CHẤT ĐẠO PHẬT BI QUAN HAY LẠC QUAN ? Chùa Phổ Đà Ottawa - 1994 Hôm nay đủ duyên chúng tôi về đây thăm chư Tăng Ni cùng tất cả quí Phật tử. Tuy ở xa nhưng quí vị vẫn c̣n mến đạo ham tu, là điều rất đáng mừng. V́ thế để nhắc nhở thêm trên đường tu, chúng tôi sẽ nói về bản chất của đạo Phật là lạc quan hay bi quan cho Tăng Ni cũng như Phật tử hiểu thật rơ. Nhiều người hiểu lầm đạo Phật là bi quan. Tại sao như vậy? Điều này không phải không có lư do. Bởi họ thường nghe kinh Phật nói “Nước mắt chúng sanh nhiều hơn nước biển cả”. Nghe có vẻ bi quan quá. Trong kinh A-hàm, Phật kể không chỉ một đời này chúng ta khóc, mà trong vô số kiếp luân hồi sanh đi tử lại, chúng ta đă từng khóc, cho nên nước mắt gom lại nhiều hơn nước biển cả. Mỗi một đời có thể tạm nói, chúng ta khóc chừng một lít nước mắt thôi, th́ trăm ức muôn đời gom lại mới thành nhiều. Đức Phật v́ muốn cảnh tỉnh con người đừng hiểu sai lầm rằng cuộc đời toàn là vui, mà c̣n có bao nhiêu đau khổ. Đă khổ ở đời này rồi khổ ở đời kế, nghĩa là không biết bao nhiêu đời khổ nhiều hơn vui. Qua câu nói này người ta cho đạo Phật là bi quan. Đó là lư do thứ nhất. Lư do thứ hai, trong bài thuyết pháp đầu tiên của đức Phật ở vườn Lộc Uyển, bài Tứ diệu đế. Đế đầu tiên là Khổ đế. Như vậy mở đầu thời kỳ giáo hóa, đức Phật đă đưa cái khổ ra trước hết, nên người ta cho rằng đạo Phật bi quan. Đó là lư do thứ hai. Lư do thứ ba, theo giáo lư Nguyên thủy đức Phật dạy các thầy Tỳ-kheo quán pháp Tứ niệm xứ. Trong đó, đầu tiên là quán thân bất tịnh, kế quán thọ là khổ, quán tâm vô thường và quán pháp vô ngă. Khi quán thân thấy nhớp nhúa, chúng ta c̣n quí thân nữa không? Nếu không quí thân là chán đời rồi. Kế đó quán thọ là khổ. Thọ tức cảm thọ của sáu căn mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ư. Tất cả các cảm thọ đó Phật nói đều là khổ. Tại sao? Chúng ta nghe mắng chửi khổ đă đành, nghe âm nhạc du dương đâu có khổ, tại sao Phật nói thọ nào cũng khổ. Như mắt thấy những sắc xấu, không vừa ư ta buồn tức, bực bội nên khổ đành, c̣n thấy những sắc đẹp, vừa ư sao gọi là khổ. Lưỡi nếm những vị đắng cay không vừa ư th́ khổ, nếm những vị ngon ngọt sao cũng khổ. Thế nhưng Phật nói tất cả thọ đều là khổ. Nếu không hiểu sâu chúng ta cũng sẽ đồng ư đạo Phật là bi quan. Nhà Phật chia có ba thứ thọ: một là thọ khổ, hai là thọ lạc, ba là thọ không khổ không lạc. Tại sao Phật dạy quán tất cả thọ là khổ? Sở dĩ Phật nói thế v́ Ngài căn cứ trên lư vô thường. Có cảm thọ nào không bị vô thường chi phối đâu. Ví dụ cái lưỡi được ăn ngon, th́ trong thời gian món ăn c̣n ở lưỡi ta cảm thọ lạc. Chưa tới năm phút món ăn qua khỏi lưỡi, cảm thọ lạc cũng mất đi. Như vậy tất cả cảm thọ dù khổ, dù lạc cũng đều hiện tướng của vô thường. Đă là vô thường th́ không cái vô thường nào vui hết, tất cả đều đi tới bại hoại, không có cái vui thực, chỉ là hiện tướng của đau khổ thôi. Ví dụ như bây giờ ta xách một giỏ nặng thấy khổ, nếu có ai tới xách giùm lúc đó ḿnh thấy vui. Như vậy vui từ đâu mà có? Qua hết khổ tạm gọi là vui, chớ không có cái vui thật. Thế gian chỉ vui trong cái khổ thôi, chớ không có vui thật. Nỗi buồn kéo dài người ta chịu không nổi, nên t́m thú vui trong chốc lát để tạm quên sự đau buồn, chớ không có niềm vui chân thật. V́ vậy Phật nói tất cả cảm thọ đều vô thường, đều đau khổ. Như chúng ta thấy người già, người bệnh, người chết là khổ hay vui? Là khổ. Già đi lụm cụm nhức mỏi đủ thứ nên nói là khổ, rồi bệnh đau rên rỉ khổ, đến chết th́ càng khổ hơn. Như vậy ba tướng già, bệnh, chết là tướng khổ. Thế th́ tướng trẻ, c̣n sung sức là vui chăng? Người trẻ cũng khóc dài dài, chớ không phải trẻ mà hoàn toàn vui. Bởi vậy cho nên tất cả chúng ta đều bị vô thường thúc đẩy đi tới khổ. V́ vậy Phật nói tất cả cảm thọ là khổ. Kế đến Phật dạy quán tâm vô thường. Tâm chúng ta cứ biến đổi không dừng. Người thế gian khi thương nhau hay thề thốt nghe oai lắm: “Dầu cho biển cạn, núi ṃn, ḷng này cũng không thay đổi”. Nói thế nhưng chẳng bao lâu đổi mất hết. Như vậy để thấy rằng người ta chỉ đùa gạt nhau thôi, chớ không có thật. Đạo Phật nói tâm con người luôn thay đổi theo hai chiều, chiều tốt và chiều xấu. Có khi thay đổi từ dở xấu thành hay tốt. Đó là thay đổi theo chiều tốt. Có khi thay đổi từ tốt hoặc b́nh thường tuột xuống dở xấu. Đó là thay đổi theo chiều xấu. Bởi vậy đức Phật dạy tất cả tâm niệm con người đều vô thường. Đây là lẽ thực. Kế đến Phật dạy quán các pháp vô ngă hay gần hơn quán thân vô ngă. Vô ngă là sao? Chữ vô ngă này nhiều Phật tử hiểu lầm lắm. Ngă là chủ thể, vô ngă là không có chủ thể. Ngay nơi thân này thấy không có cái ǵ là chủ thể hết, chẳng qua do duyên tứ đại chung hợp thành thân. Khi tứ đại tan ră th́ nó mất, chớ không có chủ thể. V́ vậy nói vô ngă. Nhưng người ta nghe nói không có ḿnh thật th́ buồn, cho đó là bi quan. Tiến hơn nữa Phật dạy quán thân duyên hợp không thật, như huyễn như hóa. Nếu thấy thân này không thật, như huyễn như hóa chúng ta có chán đời không? Kể sơ qua những điều như thế, đủ để ta thấy nhiều người kết luận đạo Phật bi quan cũng có lư chứ. V́ vậy ai mới t́m hiểu đạo Phật chút chút, nghe người ta nói đạo Phật bi quan cũng dễ chấp nhận theo. Từ đó cho rằng tu theo đạo Phật buồn quá, khổ quá. Tự nhiên Phật tử đâm ra bi quan, chán đời không muốn tu nữa. Đó là căn bệnh làm cho chúng ta thối tâm. Như vậy đạo Phật dạy cho con người bi quan sao? Đây là vấn đề chúng ta cần phải hiểu rơ. Nếu không Phật tử sẽ lúng túng v́ thấy đạo Phật dường như mâu thuẫn. Bởi v́ một đằng đức Phật phân tích cho chúng ta thấy cuộc đời là khổ, thân này không thật, nhưng đồng thời Phật cũng dạy thân người khó được. Đă được thân người, chúng ta phải nên trân quí nương tựa nó để tu tập, vượt qua khổ trầm luân sanh tử. Tại sao Phật chê nó nhớp nhúa, không có chủ thể, vô thường v.v... mà bây giờ Ngài lại nói “nhân thân nan đắc, Phật pháp nan văn”, tức là thân người khó được, Phật pháp khó nghe. Như vậy có mâu thuẫn không? Trong kinh Tạp A-hàm Phật nói thế này: Người thế gian khi mất thân này rồi, muốn t́m lại thân sau, khó như con rùa mù t́m bọng cây giữa biển. Ngoài biển cả có một bọng cây nổi, theo sóng trôi dạt khắp nơi, dưới đáy biển có con rùa mù một trăm năm mới trồi đầu lên một lần để t́m bọng cây chun vào. Chúng ta thử tưởng xem chừng nào con rùa mù t́m được bọng cây? Khó mà tưởng tượng nổi. Phật nói chúng ta mất thân này, được trở lại làm người cũng khó như thế. Như vậy được thân người là rất quí, phải không? Thế nên người Phật tử chân chính gặp chuyện buồn, có ǵ chán đời liền nghĩ tới tự tử, đó là Phật tử chưa hiểu đạo. Bởi v́ tự tử, mất thân này rồi muốn trở lại làm người không phải là chuyện dễ. Đă được thân này rất là quí báu, chúng ta lại bỏ nó đi một cách vô nghĩa, đó là tự hủy hoại cái quí của chính ḿnh. Thế nên đức Phật nói tuy thân này nhớp nhúa, không thật nhưng một khi đă được thân người, chúng ta phải tôn trọng tuyệt đối. Có hai câu thơ chữ Hán thế này: Thiên niên thiết thọ khai hoa dị, Nhất thất nhân thân vạn kiếp nan. Nghĩa là: Ngàn năm cây sắt nó trổ hoa dễ. Một phen mất thân được lại khó. Nói cây sắt chúng ta thấy xa quá, bây giờ nói như cây thiết mộc lan chẳng hạn, một ngàn năm mới trổ hoa một lần, như vậy mà c̣n dễ. Chớ một phen mất thân này rồi, muôn kiếp khó t́m lại được. Phật dạy hai điều dường như trái nhau: một là chê thân này, hai là quí trọng thân này. Tại sao lạ vậy? Ở đây tôi dùng một ví dụ để giải thích cho quí vị hiểu. Như có người đi biển bị ch́m thuyền, kẻ ấy bơi ra ngoài vớ được một gốc cây mục. Nếu thông minh anh ta phải bám chặt gốc cây mục đó để bơi vào bờ hoặc chờ người cứu. Như vậy gốc cây mục lúc đó đối với anh ta là quí hay tiện? Rất quí, v́ nhờ có nó anh mới được sống. Tuy nhiên, lên được bờ rồi anh ta có nên tiếc gốc cây mục kia và quảy theo không? Chắc là không. Đó là trường hợp người thông minh. Trường hợp thứ hai nếu người vớ được gốc cây mục rồi, thấy ḿnh không bị chết ch́m nên hài ḷng, cứ nằm đó chơi hoài, quí vị nghĩ sao? Chắc chắn phải chết thôi. Đó là trường hợp của kẻ khờ. Qua thí dụ trên tôi muốn nói đạo Phật thấy thân này không quí, không đẹp, không thật, bởi vậy Phật mới dạy quán bất tịnh. Quán bất tịnh để chúng ta thấy được sự thật về thân như huyễn này. Nói thân này nhơ nhớp là nói sự thật, chớ không phải tưởng tượng. Nói sự thật nhưng người ta lại buồn, v́ không chấp nhận sự thật ấy. Quí vị thấy những hăng nước hoa, hăng xà bông thơm ra đời là để làm ǵ? Để che đậy sự thật xấu xí kia. Nếu thân này thơm sạch như mùi hoa sen th́ những thứ đó đâu cần. Người ta chế những thứ đó là v́ thân thể hôi quá, phải dùng mùi thơm bên ngoài phủ lên cho giảm bớt mùi hôi. Vậy mà khi có chút ít nước hoa vào th́ hănh diện, tưởng như ḿnh sạch vậy. Đó chỉ là sự tưởng tượng thôi, bản chất của nó là không sạch. Ngày xưa khi Phật sắp thành đạo, ngồi dưới cội Bồ-đề, lúc đó ma quân kéo tới quấy phá. Chúng hiện thành mỹ nữ kiều diễm để dụ dỗ Ngài. Phật liền nói: “Đăy da hôi thối hăy đi, ta không dùng các ngươi”. Nghe thế chúng xấu hổ bỏ đi hết. Với con mắt của đức Phật, thân này như đăy đựng đồ nhơ, chớ không có ǵ quí hết. Đó là do đức Phật thấy đúng như thật, chớ không phải tưởng tượng. Ngài quán thọ là khổ, quán tâm vô thường, quán pháp vô ngă cũng vậy, đều là những lẽ thật. Nhưng ở đời ít ai dám nh́n sự thật. Thiên hạ vẫn bảo ḿnh đi t́m chân lư, nhưng nói sự thật th́ họ sợ. Đó là chuyện lạ lùng. Như có ai tới nhà ḿnh đầu năm chúc anh hay chị mạng sống trong hơi thở, ḿnh vui không? Không vui. Tại sao nói mạng sống trong hơi thở là nói thực mà ḿnh không vui? C̣n nếu họ chúc sống tới trăm tuổi, ta lại chịu mặc dù biết đó chỉ là lời chúc hảo thôi. Rơ ràng con người chỉ chuộng những cái không thật. Nghe nói thật th́ sợ, th́ buồn. Cho nên tôi nói ít ai dám nh́n thẳng lẽ thật, cứ bịa chuyện mà tán dốc với nhau thôi. Cuộc sống trên thế gian không có lẽ thật, mà ai cũng tuyên bố ḿnh nói thật. Đạo Phật thấy thế nào nói như thế ấy, chớ không lừa bịp chúng sanh. Ví dụ thấy người xấu ḿnh nói xấu, nếu họ biết nghe lẽ thật th́ không làm điều bậy xấu nữa. C̣n nếu họ xấu mà ta cứ khen tốt, họ tưởng những việc xấu của họ không ai thấy nên cứ làm xấu măi. Như vậy nói thật với nói gạt nhau, cái nào tốt? Nói thẳng sự thật người ta nghe sợ, nhưng tránh được những điều xấu dở, đó là cứu người. C̣n không dám nói lẽ thật, mà nói để được ḷng, vô t́nh ta dung dưỡng những tội lỗi xấu xa của người, như vậy là hại nhau. Ai cũng than ở đời khó quá! Tại sao khó? Tại ai cũng sợ sự thật hết. Sở dĩ người ta kết tội đạo Phật bi quan cũng v́ đạo Phật nói lẽ thật. Đó là do con người điên đảo, chớ Phật không có lỗi. Trở lại vấn đề thân này. Như tôi đă nói Phật dạy thân nhơ nhớp, nhưng cũng bảo thân người khó được. Giống như ví dụ đă nêu, chúng ta được thân tựa như được khúc gỗ mục trôi giữa biển. Nếu cứ đeo nó ở ngoài biển hoài, không chịu bơi vào bờ, đến ngày nó ră ḿnh cũng chết ch́m luôn. Người khôn ngoan là biết lợi dụng khúc gỗ mục bơi vào bờ. Lên bờ rồi nó có ră, ḿnh cũng không ngại. Như vậy đức Phật chỉ rơ thân này nhớp nhúa, vô thường, không lâu bền giống như ta ôm khúc gỗ mục vậy. Thấy rơ thế rồi chúng ta phải nương thân này, nỗ lực tu hành để được đến bờ giải thoát an vui. Không nên ôm chấp thân tạm bợ nhơ nhớp này để rồi tan ră theo nó. V́ vậy đang lúc c̣n mạnh khỏe, chúng ta tranh thủ tu tập làm sao tiến lên chỗ cao đẹp hơn. Đó mới là người khôn ngoan. Quí Phật tử kiểm lại xem ḿnh có khôn ngoan không? Hay cứ gh́ khúc gỗ mục ở ngoài biển hoài? Đó là điều tôi muốn nhắc cho tất cả nhớ, chúng ta có thân là phương tiện tốt để tiến lên, đi tới chỗ an lành. Tuy không quí nhưng v́ nó giúp chúng ta giải thoát sanh tử được nên ta trân trọng giữ ǵn nó. Nếu mất thân rồi làm sao ta tu tiến được, v́ vậy mỗi người phải làm sao cho ḿnh, cho người được vui, được lợi ích. Đó là sáng suốt. Ngược lại được thân rồi cứ lo cưng dưỡng nó, hôm nào ngă đùng ra chết, giống như người ôm gh́ khúc gỗ mục ở ngoài biển mà không chịu bơi vào bờ, một ngày kia nó ră người ấy chết ch́m theo, có phải vô ích không? Hoặc có trường hợp khác, nếu chưa tới bờ mà ta hủy hoại khúc gỗ mục là khôn hay dại? Rất dại. Cũng vậy, tu hành chưa được ǵ hết mà giận ai đi tự tử, đó là khờ dại, hủy hoại một cái rất quí. Thế nên để nhắc nhở cho chúng ta biết lợi dụng thân này tu hành, Phật mới nói thân người khó được, v́ một khi đă mất nó rồi t́m lại rất khó. Không t́m được thân, làm sao tu hành giải thoát sanh tử đây? Phật dạy chúng ta phải siêng tu giống như là người cứu lửa cháy đầu. Quí vị tưởng tượng đầu tóc ḿnh có một tàn lửa rớt lên, lúc đó ta làm sao? Từ từ dập tắt hay phải dập liền? Không dám để trễ một phút một giây nào, phải dập ngay. Cũng vậy, hiểu được thân này vô thường, nhớp nhúa, chúng ta phải gắng sức tu. Nhờ tu có phước đức, nếu mất thân này ta sẽ được thân sau tốt hơn, chớ không bị tuột xuống. Tuột xuống t́m lại thân người không được, như con rùa mù t́m gặp bọng cây rất khó. Bây giờ tu là làm sao? Là qui y Tam bảo ǵn giữ năm giới. Đạo Phật dạy Ngũ thừa Phật giáo tức là năm thừa để cho người tu theo. Thừa thấp nhất là Nhân thừa Phật giáo, tức giáo lư Phật dạy tu để đời này làm người xứng đáng, đời sau trở lại làm người tốt hơn. Nhân thừa Phật giáo căn cứ trên năm giới làm gốc. Quí Phật tử kiểm lại xem ḿnh giữ đủ năm giới chưa? Nếu chưa là lui sụt rồi, cẩn thận đừng để tuột xuống kéo lên không nổi. Người giữ giới không sát sanh đời sau sanh ra sống lâu. Giữ giới không trộm cướp đời sau sanh ra giàu sang, tiền của không bị hao mất. Giữ giới không tà dâm đời sau sanh ra được thân thể đẹp đẽ trang nghiêm. Giữ giới không nói dối đời sau sanh ra lời nói lưu loát, ai nghe cũng tin cũng quí. Giữ giới không uống rượu đời sau sanh ra có trí tuệ thông minh. Năm giới như thế nếu giữ trọn đời này đă là người tốt, đời sau sanh ra lại c̣n tốt hơn. Quí vị kiểm lại ḿnh tự biết thiếu giới nào th́ ráng tu cho đủ. Tối thiểu phải giữ năm điều đó mới không bị tuột xuống. Người không giữ giới dù có niệm Phật mấy, Phật kéo cũng không nổi nữa. Cho nên giữ năm giới là gốc của kiếp sau được trở lại làm người. Đó là tu, chớ không phải vô chùa cạo đầu mới gọi là tu. Người nào tiến hơn tùy theo sức của ḿnh tu pháp Thập thiện, đời sau sanh lên cơi trời sung sướng hơn. Người tu các pháp như Tứ đế, Mười hai nhân duyên th́ đời sau chứng quả A-la-hán, Duyên giác v.v... Nhưng nhớ thấp nhất là trở lại làm người, đừng để tuột xuống. Chư Tăng Ni thương Phật tử là dạy họ tu như vậy, chớ không phải thương là nay mời tới chùa ăn cơm chay, mốt đi tụng cầu an cho Phật tử, bữa kia đi thăm bệnh bổn đạo, làm thế không phải là thương. Nhắc Phật tử biết tu để đời này làm người tương đối tốt, đời sau càng tốt hơn, đừng để tuột xuống. Đó là thương, là cứu chúng sanh. Cứu cái ǵ? Cứu cái nhân chớ không phải cứu quả. Ở đời, thường người ta mang ơn kẻ cứu quả hơn người cứu nhân. Ví dụ như có hai người đang căi vă sắp đánh nhau, ḿnh tới khuyên can: Thôi, anh hay chị nhịn nhau chút cho qua, đánh lộn càng khổ thêm, có lợi ích ǵ? Khuyên như vậy, họ không thấy quan trọng đâu, nhiều khi c̣n bực bội nữa là khác. Chừng đánh nhau lỗ đầu rồi, ai đem đi cứu thương băng bó giùm, họ cám ơn rối rít. Nhưng lúc đó đă bị thương tích rồi. Người thương ḿnh để trọn vẹn không bị thương tích lại không cám ơn, có đáng buồn không? Nếu người thông minh được bạn hữu nhắc nhở tránh ngay từ cái nhân ban đầu, ta nên trân quí mang ơn người đó chứ. C̣n đợi đến chuốt quả khổ mới cứu th́ quá muộn, dù cứu cũng đỡ phần nào thôi, chớ đâu trọn vẹn như buổi đầu. Hiểu như thế rồi Phật tử mới biết tại sao quí thầy quí cô xuất gia, ít làm việc từ thiện lại hay giảng kinh. V́ giảng kinh là nhắc nhở từ nhân, cứu từ gốc; c̣n làm việc từ thiện là cứu trên quả, tức phần ngọn. Nắm rơ vấn đề này, Phật tử mới không buồn khi thấy những tôn giáo bạn làm từ thiện nhiều, c̣n đạo Phật chỉ dạy cho người tu hành, chuyển đổi tâm, không tạo các nghiệp ác là chánh. Thế nhưng hầu hết Phật tử bây giờ thích được cứu trên quả. Làm ǵ đó thất bại hoặc gặp đau khổ kêu Phật cứu con, b́nh thường quên Phật mất tiêu. Vui th́ quên, buồn mới nhớ Phật. Như vậy chỉ nghĩ tới Phật trong khi khổ, chớ không biết Phật lúc khỏe mạnh vui tươi. Tu không phải thế. Ngay bây giờ, lúc c̣n khỏe mạnh vui tươi, ta nỗ lực tu, chớ đợi tới khổ tu đâu kịp. Tôi nói trong phạm vi năm giới thôi, nếu Phật tử vâng giữ đúng, từ một người hai người cho tới cả trăm người, ngàn người, hết cả xóm đều giữ đúng năm giới th́ xóm ấy có phải thiên đường chưa? Không có chuyện ǵ lôi thôi hết. Không lo sợ ai hại ḿnh, lừa đảo ḿnh, ăn trộm của ḿnh, phá hoại hạnh phúc gia đ́nh ḿnh, không sợ rối loạn trật tự bởi những chuyện say sưa v.v... Như vậy xă hội đẹp biết mấy! Người ta ít ai chịu nghe những lời thật, chịu nh́n nguyên nhân đúng đắn để tránh quả khổ đau. Bởi vậy trong kinh Phật mới dạy chúng ta phải gấp tu như cứu lửa cháy đầu, không thể chần chừ. V́ không ai bảo đảm ḿnh sống tới tám mươi tuổi mới chết. Trẻ có cái chết của trẻ, già có cái chết của già, không ai biết trước và ngăn ngừa được. Đă không bảo đảm đời ḿnh mà ngang đây chưa lo tu th́ sao? Chừng vô thường tới trở tay không kịp. V́ vậy phải lo cứu ḿnh gấp như cứu lửa cháy đầu. Đạo Phật dạy quán thân bất tịnh, thọ là khổ, tâm vô thường v.v... cốt chỉ lẽ thật cho chúng ta cố gắng tu, để không bị những khổ đau trong đời này và những đời sau. Khi biết tu rồi chúng ta sẽ hết khổ, giống như người vớ được gốc cây mục bơi gấp vào bờ, được lên bờ rồi mới thật an lành. Như vậy quan niệm của đạo Phật bi quan hay lạc quan? Mới nghe dường như bi quan nhưng xét kỹ đó là thấy rơ lẽ thật để chúng ta vươn lên. Hiểu vậy mỗi Phật tử phải cố gắng, tinh tấn tu hành từ năm giới là mức chót, giữ để khỏi tuột xuống các loài thấp hơn người. Phật tử giữ năm giới đàng hoàng chân chính rồi, những ǵ đă qua th́ sám hối, kể từ bây giờ ráng tu không gây tạo hay sai phạm lỗi lầm nữa. Như vậy bảo đảm nhắm mắt, quí Phật tử khỏi lo sợ ǵ hết. Khi gần tắt thở có ai hỏi anh chị sẽ đi đâu, quí vị trả lời tôi sẽ trở lại làm người, bảo đảm 100%. V́ Phật đă dạy như vậy, ta làm đúng như vậy th́ kết quả không nghi ngờ ǵ cả. Nếu người không giữ được giới, lúc gần nhắm mắt hoảng hốt sợ sệt, không biết ḿnh sẽ ra sao? Nỗi khổ lúc đó không thể kể hết. Đă khổ v́ thân bại hoại, lại khổ v́ tâm mờ mịt tối tăm, không biết đường trước ra sao. Cho nên ngay bây giờ chúng ta biết lo tu th́ sau này sẽ hết khổ. Sở dĩ các Thiền sư gần nhắm mắt, các Ngài cười từ giă mọi người ra đi, v́ biết trước con đường của ḿnh, nên an vui tự tại không lo sợ chi cả. Người thế gian gần tắt thở, con cái nh́n cha mẹ khóc lóc bi lụy vô cùng. Rồi kẻ đi bơ vơ, đau khổ không biết bao nhiêu nữa. Thế nên chúng ta thương cha thương mẹ, thương anh thương em nên ráng khuyên giữ năm giới. Đó mới là thật ḷng giúp nhau, chớ khóc lóc thở than chỉ càng làm khổ thêm cho người thân, chớ có ích ǵ. Thuở xưa, sau khi thành đạo rồi đức Phật trở về thành Ca-tỳ-la-vệ giảng đạo cho Phụ vương và Hoàng hậu nghe. Nghe xong Phụ vương Ngài và Hoàng hậu phát tâm qui y Tam bảo, ǵn giữ năm giới. Về sau Hoàng hậu tức Di mẫu của Ngài phát tâm đi tu. Bà xin Phật cho xuất gia, Ngài không bằng ḷng. Bấy giờ Tôn giả A-nan thấy vậy sốt ruột, mới thưa với Thế Tôn rằng: - Di mẫu có công ơn lớn với Thế Tôn, khi Hoàng hậu sanh Ngài ra có bảy hôm th́ tịch, Di mẫu là người nuôi Thế Tôn từ nhỏ cho tới lớn khôn. Công ơn kia vô cùng thâm trọng, mà bây giờ Thế Tôn không cho bà xuất gia, như vậy là phụ ơn Di mẫu sao?" Phật trả lời: - Ta không quên ơn, mà đă đền ơn Di mẫu rồi. Ngài A-nan ngạc nhiên hỏi: - Bạch Thế Tôn, Ngài đền bằng cách nào? Phật nói: - Khi trở về thành Ca-tỳ-la-vệ, ta đă khuyên và giải thích cho Phụ vương cùng Di mẫu hiểu được đạo lư, phát tâm qui y Tam bảo giữ ǵn năm giới. Đó là đă đủ để ta đền ơn song thân rồi. Qua câu chuyện của đức Phật, chúng ta thấy người con muốn đền ơn cha mẹ không ǵ hơn là khuyên cha mẹ ráng giữ ǵn năm giới, để khi chết khỏi đọa đường khổ. C̣n dành dụm tiền cho nhiều, chết làm đám ma cho lớn, chưa hẳn là thương cha mẹ. Đó là lời đức Phật đă dạy trước kia. Bây giờ trở lại vấn đề đạo Phật bi quan hay lạc quan? Như tôi đă tŕnh bày, đạo Phật nh́n thẳng lẽ thật, nói thẳng lẽ thật. Chúng ta quen hoặc buồn hoặc vui, nhưng đạo Phật không phải vậy. Đạo Phật không buồn cũng không vui. V́ sao? V́ thế gian mất th́ buồn, được th́ vui, chê th́ buồn, khen th́ vui. Vui buồn của thế gian là vui buồn đối đăi, không có sự thật. Đạo Phật là đạo như thật, nói lẽ thật, chỉ cho người ta nhận ra lẽ thật. Nhờ nhận ra sự thật nên mọi người tập sống đúng như thật, không lừa đảo nhau, không gây đau khổ cho nhau. Một đời sống mà mọi người đều biết tôn trọng sự thật, sống đúng như sự thật th́ cuộc sống đó có hạnh phúc không? Thấy được lẽ thật th́ đâu có ǵ phải buồn, phải phiền năo. Hồi xưa có một thầy Tỳ-kheo tu hành rất chân chánh, ở trong khu rừng cạnh làng. Trong làng, một thiếu nữ thấy Thầy tu hành chân chánh nên quí kính, mỗi ngày đều sớt bát cúng dường. Đều đặn như vậy một thời gian, người trong xóm bắt đầu đàm tiếu lôi thôi. Cô nghe cô buồn, mới thuật lại cho thầy nghe. Cô nói “Con tới cúng dường là để cho thầy yên tu, đạt đạo. Bây giờ trong xóm giềng đồn xấu con với thầy”. Thầy Tỳ-kheo nghe thế buồn quá, đợi khi cô ấy về, Thầy t́m sợi dây định thắt cổ tự tử. Khi đó có một thiện thần hiện ra hỏi: - Tại sao thầy tự tử? Thầy Tỳ-kheo trả lời: - Tôi tu hành rất thanh tịnh, mà người ta nói xấu, đàm tiếu, chê cười tôi phạm giới nên tôi tự tử cho rồi. Vị thần kia hỏi: - Giả sử có người nói Thầy chứng A-la-hán, trong khi Thầy chưa chứng, Thầy có chịu không? - Tôi chưa chứng mà họ nói chứng, tôi đâu có chịu. - Nếu có người nói Thầy đọa địa ngục, Thầy có đọa không? - Tôi tu hành đàng hoàng, đâu làm ǵ có tội mà đọa địa ngục. - Như vậy Thầy chưa chứng A-la-hán, nói chứng cũng không được. Thầy không xuống địa ngục nói Thầy xuống cũng không xuống. Bây giờ Thầy không phạm giới, họ nói Thầy phạm giới, Thầy cũng đâu có phạm mà tự tử? Nghe đến đó, thầy Tỳ-kheo thức tỉnh, từ bỏ ư định tự tử. Từ đó Thầy nỗ lực tu hành nhiều hơn, thời gian sau chứng quả A-la-hán. Chúng ta thấy rơ ràng lời khen, lời chê không có sự thật. Vậy mà đa số người đều khổ ở lời khen tiếng chê. Cứ khen là vui, chê là buồn, quí những ǵ không đúng sự thật. Chúng ta biết lẽ thật không mắc kẹt cái khen cái chê. Đạo Phật là đạo như thật, mà đă đúng như thật th́ có ǵ là bi quan, có ǵ là lạc quan? Bởi v́ bi quan hay lạc quan chẳng qua là cái khen cái chê theo thường t́nh mà thôi. Làm cho người ta vui th́ họ nói lạc quan, làm cho người ta buồn th́ thành bi quan. Đạo Phật nói lẽ thật, người ta nghe buồn, nhưng thật sự đạo Phật có bi quan đâu? Kẻ nói gạt khiến thiên hạ vui chưa chắc là lạc quan. Nếu nói thẳng, đạo Phật không phải bi quan cũng không phải lạc quan, mà đạo Phật là đạo nói như thật và hành như thật. Chữ Phật là tiếng Phạn, Trung Hoa dịch là giác. Cho nên gọi Phật-đà tức là Giác giả hay người giác ngộ. Đức Phật do giác ngộ được lẽ thật, thấy biết lẽ thật nên chỉ dạy lại cho chúng ta lẽ thật ấy. Chúng ta là đệ tử Phật, tin lời lẽ của Ngài bằng lẽ thật, chớ không phải bằng tưởng tượng. Đă là Phật tử, chúng ta phải cố gắng ứng dụng tu theo lời Phật dạy để khỏi đọa trong những cảnh khổ. Đừng để mất thân này phải tiếp tục trầm luân trong những cơi khổ đau, không biết bao giờ được trở lại. Phật chỉ con đường cho chúng ta không bị trầm luân. Đó là căn bản, là gốc của sự tu. ] LỤC H̉A Quảng Ngăi - 2002 Hôm nay đột xuất tôi được chư Tăng Ni và Phật tử tỉnh Quảng Ngăi mời về đây thăm viếng, đồng thời xin một thời pháp ngắn. Đến nơi, được sự đón tiếp của đông đảo quí vị, lại c̣n có các em trong Gia đ́nh Phật tử nữa, tất cả đều vượt ngoài sức tưởng tượng của chúng tôi. V́ thế tuy đi đường nhọc nhằn, tôi cũng không nỡ từ chối nói pháp cho quư vị nghe, do đó có bài pháp Lục Ḥa này. Tăng Ni là hàng xuất gia đều biết tính quan trọng của phép Lục Ḥa đối với đời sống Tăng đoàn. Quí vị phải ứng dụng cho được những điều căn bản đức Phật đă dạy, đồng thời nhắc nhở gia đ́nh Phật tử cùng hiểu biết, sống đúng với tinh thần ấy. Khi lập Thiền viện, nghiên cứu kỹ giới luật nhà Phật, tôi thấy sáu phép ḥa thuận là phần căn bản, đức Thế Tôn dạy cho hàng tu sĩ chúng ta. Thế nên nói tới Tăng, Ni là nói tới Lục ḥa. Tăng, chữ Phạn là Sangha, Trung Hoa dịch âm là Tăng già, dịch nghĩa là Ḥa hợp chúng. Tức chỉ một số tu sĩ, hoặc Tăng hoặc Ni sống chung với nhau trong tập thể, ḥa hợp vui vẻ tu hành, nên c̣n gọi là ḥa hợp Tăng. Quí thầy, quí cô sống ḥa hợp th́ gọi là Tăng, không ḥa hợp th́ không đủ nghĩa của Tăng. Đức Phật đặt sự ḥa hợp trên tất cả các giới luật. Nếu chúng ta sống không ḥa hợp th́ sự tu hành không bao giờ tiến. Đa số Tăng Ni đều biết Lục ḥa rồi, nhưng ở đây tôi cũng xin nhắc lại từng phần để quư vị thấy được chỗ thấu đáo Phật dạy. 1. Thân ḥa đồng trụ: Điều này vào thời đức Phật thực hiện rất dễ, nhưng thời chúng ta ngày nay hơi khó một chút. Bởi v́ sống chung một chùa, một Tinh xá th́ chư Tăng hoặc chư Ni cùng ăn, cùng ở, cùng làm, cùng tu như nhau không khó. Tất cả nếp sống, công tác, hạnh kiểm tu hành hằng ngày đều như nhau, gọi là thân ḥa đồng trụ. Trong trường hợp mỗi thầy, mỗi cô ở mỗi chùa th́ việc ḥa hơi khó. V́ vậy thân ḥa đồng trụ là chỉ cho một tập thể chung sống một chỗ, chứ không chỉ cho những người sống rời rạc. Cho nên các vị sống riêng tư phải chịu thiệt tḥi này. Chúng ta sống trong chùa hay thiền viện th́ thực hiện thân ḥa đồng trụ dễ. Bởi v́ không ở riêng, không có quyền lợi riêng nên làm cùng làm, ăn cùng ăn, mặc cùng mặc, mọi công tác hay giờ tu hành đều nhịp nhàng với nhau. Ḥa hợp như vậy th́ nếp sống đạo đức rất tốt. Đó là nói về thân ḥa đồng trụ. 2. Khẩu ḥa vô tránh: Tức miệng cùng ḥa hợp nhau, không gây gổ, không nói những lời dữ, lời nặng nề, không tranh hơn thua với nhau. Tăng Ni thấy điều này dễ hay khó? Nhất là phái nữ sống chung với nhau một chùa, có căi không? Có, nên điều này rất khó. Ở đây tôi nhắc chung cho cả các Phật tử tại gia. Chúng ta sống làm sao được khẩu ḥa vô tránh, tức là miệng nói những lời ḥa nhă, nhẹ nhàng, dễ mến, chớ không căi lẫy, rầy la lớn tiếng. Nhưng e rằng có vị làm Trụ tŕ hoặc Tri sự nói: “Sai làm mà không làm, không rầy sao được? Mới nghe thấy có lư nhưng trên tinh thần đạo đức th́ khác. Chúng ta lâu nay có quan niệm, những ǵ ḿnh nghĩ đều cho là đúng, ai nói khác hơn ḿnh không vui, mà không vui th́ có căi. Ví dụ có hai người, một người khen hoa hồng đẹp, một người chê xấu. Người khen hoa hồng đẹp bị người kia chê: “Nói bậy, nó xấu như vậy mà nói đẹp, đẹp ở chỗ nào?” Bấy giờ người khen hoa hồng đẹp chắc khó nín được. Khi ḿnh nói đẹp, người khác chê xấu th́ bực bội nên căi nhau. Cả hai đều không biết điều đó đúng hay không? Mỗi người có quyền nh́n, có quyền nhận định riêng. Ta thấy đẹp, đó là nhận định riêng của ḿnh. Người khác thấy xấu, đó là nhận định riêng của họ. Cho nên muốn khỏi căi nhau, chúng ta lắng nghe Phật dạy trong kinh A-hàm: Người biết tôn trọng chân lư là khi nói điều ǵ, chỉ nói “đây là cái nghĩ của tôi”. Ngang đó thôi, không thêm chữ “đúng”. Nếu nói tôi nghĩ đúng th́ sanh chuyện ngay. Mỗi người có quyền nhận định riêng, hoa hồng không căi đẹp xấu, mà ḿnh căi với nhau làm chi? Nó là nó thôi. Tại v́ ta cho nhận định của ḿnh là đúng, người khác nói ngược lại th́ nổi sân lên. Mà nhận định của ḿnh có đúng chân lư chưa? Dĩ nhiên là chưa. Tôi thường ví dụ, hôm trước tôi ngồi trên núi, thấy hướng Nam có cụm mây đen, gió thổi đùa qua, một lát mưa xuống ào ào. Hôm nay tôi thấy cụm mây đen như thế, nghĩ thế nào cũng mưa nên bảo quí thầy đem đồ vô. Nếu thầy nào không nghe lời tôi sẽ giận và rầy la. Đó là do tôi lấy kinh nghiệm hôm trước đặt cho hôm nay. Nhưng không ngờ một lát gió đổi hướng, mây tan, trời không mưa. Lúc đó sao? Ḿnh kêu người ta đem đồ vô, nhưng trời không mưa, ḿnh có xin lỗi không? Lỡ rồi làm thinh, không ai nhắc tới th́ thôi, thông qua luôn. Quư vị làm Trụ tŕ, Tri chúng hay vấp phải lỗi này lắm. Trên thế gian, mọi sự việc xảy ra đều tùy duyên. Hôm qua duyên khác hôm nay duyên khác. Vậy tất cả suy nghĩ của chúng ta có đúng không? Đúng một phần thôi, chứ chưa phải tuyệt đối. Nhưng khi suy nghĩ điều ǵ, ta thường cho đó là đúng tuyệt đối, ai làm khác th́ nổi giận liền. Do nổi giận nên gây ác khẩu, nói bậy, nói những lời vô nghĩa, khiến cho người ta đau buồn. Đó là phạm lỗi khẩu ḥa vô tránh. Tăng Ni phải nhớ, sống sao cho người đến chùa, Tinh xá không nghe một tiếng la hét nào hết. Như thế mới tốt, mới vui ḥa. Nếu vào chùa lát nghe cô này la, cô kia cự th́ có ḥa không? Người tu c̣n không ḥa, làm sao dạy Phật tử sống ḥa vui được. Cho nên Phật bắt buộc chúng ta phải lấy chữ “Ḥa” làm nền tảng tu và dạy người. Phải hiểu nhận định của ḿnh chỉ đúng phần nào thôi, chớ không bảo đảm trăm phần đều đúng. Nên khi tŕnh bài ư kiến của ḿnh với người khác, chỉ nên nói “cái hiểu của tôi như thế, anh chị có thể nghĩ khác” th́ không có lỗi, chớ đừng vội căi vă. Nhiều khi ta căi trước khi sự việc đến. Đó là điều không có tốt trong đạo. Cho nên Tăng Ni phải tự kiểm để biết những ǵ sai lầm của ḿnh, mà chỉnh lại cho đúng. 3. Ư ḥa đồng duyệt: Ư của chúng ta ḥa hợp, vui vẻ với nhau. Ḥa th́ vui. Muốn ḥa vui th́ phải làm sao? Phải đừng cho cái nghĩ của ḿnh là đúng. Ta thích điều đó mà người khác không làm, không giúp, c̣n ngăn cản th́ ḿnh có giận không? Chắc chắn là giận. Nhưng quí vị thử nghiệm lại xem, huynh đệ sống chung, tất cả ư niệm, suy gẫm đều giống hệt hay mỗi người mỗi ư? Hầu hết là mỗi người mỗi ư, không ai giống ai. Nếu giống hệt Phật không bắt chúng ta ḥa làm chi. Người nghĩ thế này, người nghĩ thế nọ, không giống nhau th́ sống chung có vui không? Sống gượng thôi chớ không vui. Người tu mà bực bội, không vừa ḷng măn ư th́ sống năm mười người, hai ba chục người hoặc cả trăm người th́ chắc lộn xộn lắm. Bởi vậy nên cái ḥa của ư hết sức quan trọng. Bây giờ muốn ư ḥa chúng ta phải làm sao? Phật dạy muốn ḥa thuận với nhau, trước hết không nên bám giữ, cố chấp ư riêng của ḿnh. Tại sao? V́ ư là cái suy nghĩ luôn luôn sanh diệt. Mà suy nghĩ th́ không bao giờ đúng 100%, mười phần trúng được năm ba phần thôi. Có sai nên biết ư ḿnh chưa toàn vẹn, chưa bảo đảm, làm sao cố chấp được. Nếu trên thế gian, suy nghĩ cái ǵ đúng cái ấy th́ người ta có nghèo khổ không? Chắc không ai nghèo khổ hết. Bởi v́ suy nghĩ đâu đúng đó, th́ thiên hạ đều làm giàu hết rồi. Trong đạo cũng vậy, nếu ta nghĩ ǵ đều đạt hết th́ ngày nay chùa nào cũng to, Phật cũng lớn, mọi người đều quy hướng về ḿnh, nhưng sự thật không phải vậy. Ư nghĩ không hoàn toàn mà ta cố chấp, bảo vệ, đó là sai lầm. Từ sai lầm này sanh ra tranh căi, bực bội với nhau, đi đến chỗ không c̣n t́nh, không c̣n nghĩa ǵ cả. Nên biết Phật dạy người tu sống giữ ư ḥa đồng duyệt để cuộc sống ḥa vui, chớ không buồn giận, oán hờn nhau. Thực tế ở trong chùa hay thiền viện, tất cả Tăng Ni đều hoàn toàn hài ḷng, vui vẻ hết hay ráng nhịn nhau? Ráng nhịn nhau mới yên, chớ không ai bằng ḷng ai. Đó là chuyện thường. Trong việc tu hành, chúng ta phải xét thật kỹ, tu là để giải thoát sanh tử, cứu độ chúng sanh. Nếu trong chúng năm mười người, mỗi người nghĩ khác, ai cũng cố chấp ư nghĩ của ḿnh là đúng th́ cuộc sống có ḥa vui không? Năm mười người đă không ḥa được, nói ǵ độ chúng sanh! Chẳng lẽ độ cho nhiều để căi cho lắm sao? Cho nên quí vị thu đệ tử, phải khéo ḥa hợp chúng, không để có những ư niệm riêng tư. Sống được ḥa vui như vậy, ai đến chùa cũng thấy niềm vui toát ra cả, không có ǵ khó chịu hết. Ngược lại nếu nội bộ trong chùa không ḥa vui, ư Tăng Ni không hợp, Phật tử bắt gặp những bất b́nh của ḿnh, khiến họ kinh sợ, không dám đến chùa nữa. Thế nên quan trọng là chúng ta phải ḥa vui với nhau. Điều này không thể thiếu được ở một người tu. 4. Kiến ḥa đồng giải: Tức những thấy biết của ḿnh, chúng ta cùng đem ra giải thích để huynh đệ cùng hiểu, cùng thông cảm với nhau. 5. Giới ḥa đồng tu: Chúng ta cùng giữ giới với nhau, không dám sai phạm để cùng an vui tu tập. 6. Lợi ḥa đồng huân: Ở trong chùa hay Tinh xá, nếu có ai cúng dường th́ Tăng Ni cùng chia đồng đều nhau, không được người nhiều, kẻ ít. Nhưng bệnh của Phật tử bây giờ thấy thầy, cô nào dễ thương th́ cúng nhiều, thầy cô nào quí vị không thích th́ cúng ít hoặc không cúng. Người được nhiều cũng không dám chia cho người ít, sợ bổn đạo biết được buồn. Do đó sau một thời gian trong chùa có người giàu, kẻ nghèo. Người nghèo không có xu con, người giàu dư dă xài không hết. Như vậy đâu thể gọi là lợi ḥa đồng huân. Bởi thế, muốn thực hiện điều này tôi bắt buộc Tăng Ni trong các thiền viện không được nhận tiền riêng. Ai cúng th́ cúng chung cho tập thể, Ban quản chúng nhận rồi dùng cho những nhu cầu chung, chia đều toàn chúng, không được thương người này chia nhiều, ghét người kia chia ít. Tóm lại, trong sáu điều “ḥa” của nhà Phật, chúng ta xét thật kỹ để ứng dụng tu hành. Nếu chư Tăng, chư Ni sống chung trong một chùa hoặc Tinh xá ḥa hợp như vậy, th́ Phật pháp truyền bá rất dễ dàng. Ta khỏi cần thuyết pháp cho Phật tử nghe, chỉ cần nh́n thấy nếp sống của ḿnh, trên dưới ḥa thuận vui vẻ th́ họ liền quư mến. Quí vị thuyết pháp hay, người ta mới nghe th́ phục, nhưng tới chùa ḿnh thấy lục đục, kẻ phiền người giận tất nhiên Phật tử sẽ thối Bồ-đề tâm. Thế nên trọng tâm của người tu, dù không giỏi nhưng khéo sống đúng với tinh thần lục ḥa của đạo Phật th́ việc tu tập sẽ được tiến triển đều, đồng thời giúp cho tín tâm Phật tử ngày càng sâu đối với Tam bảo, nhất là Tăng bảo. Tăng Ni trong mùa an cư kiết hạ, quư vị cố gắng tập sống theo tinh thần lục ḥa. Dù chưa trọn vẹn nhưng chúng ta cố tập, từ từ cũng sẽ được hoàn bị. Có thế việc tu mới lợi lạc. Nếu chúng ta không tập sống lục ḥa th́ sự tu chỉ có h́nh thức thôi, niềm an vui lợi lạc không được bao nhiêu. Đó là tôi nói riêng về Tăng Ni. Tiếp theo, tôi nói qua giới Phật tử. Quí vị ai cũng muốn có cuộc sống vui ḥa nhưng thật ra rất khó. Như năm 1996 tôi có qua Mỹ, một số Phật tử ở Cali ham tu thiền, họ xin lập đạo tràng khoảng ba, bốn chục vị. Tôi nhớ chư Tăng th́ giữ lục ḥa, nên Phật tử giữ tam ḥa được rồi. Nếu Phật tử ở tại gia đ́nh mà giữ được tam ḥa là đă tiến bộ lắm. Tam ḥa là ǵ? Là thân ḥa, khẩu ḥa, ư ḥa. Thân ḥa th́ dễ rồi c̣n khẩu ḥa, ư ḥa dễ hay khó? Phần nhiều Phật tử tại gia ít được khẩu ḥa. Tại sao? V́ quí vị luôn luôn nghĩ ḿnh đúng, nên nói ǵ người khác không nghe theo th́ giận. Trong bụng giận rồi th́ thốt ra lời nói khó chịu, nặng nề. Người nghe lời nói nặng cũng không chịu nhịn, sợ thua nên sanh ra đôi chối, căi vă, thành ra không ḥa. Ví như chúng ta ra đường, bị ai đó có ác ư chửi “Cha chị”. Lúc đó ḿnh giận không? Nổi giận liền. Nhưng nếu khi người ta nói “Cha chị”, ḿnh liền thưa: “Cám ơn anh, cám ơn chị đă nhắc tới cha tôi”. Vậy thôi. Ḿnh quên người ta nhắc lại cho nhớ, nổi giận làm ǵ? Hoặc giả sử ta làm trái ư ai, họ mắng ḿnh là con ḅ. Khi ấy ta nên nói thế này “Dạ phải, tôi có uống sữa ḅ”. Uống sữa ḅ th́ tế bào ḅ có trong ḿnh, căi làm chi, có xấu hổ ǵ đâu. Nhưng nghe nói con ḅ th́ quí vị giận đùng đùng lên, rồi hung dữ với nhau. Nếu xét theo lẽ thật, đâu có ǵ đáng kể. Hiểu vậy Phật tử cười hoài không giận ǵ hết. Khi trí tuệ không sáng, người ta bực bội nói lời vô nghĩa, ḿnh chấp lời vô nghĩa kia để giận thêm th́ cả hai đều vô nghĩa hết. Thế nên người biết tu phải tập đức nhu ḥa. Chúng ta thấy đâu phải những vị có đức hạnh không ai dám chửi, người lớn cũng bị chửi như thường. Kể cả đức Phật cũng thế, nhưng khi bị chửi Ngài xử sự khác chúng ta. Có lần Phật đi khất thực vào xóm của Bà-la-môn. Các đệ tử Bà-la-môn thấy Phật khất thực, họ đem cơm cúng dường. Ngài đến dưới cội cây ngồi ăn, sau đó thuyết pháp cho họ nghe. Kết quả họ xin quy y theo Phật hết. Qua đôi ba lần, xóm đó từ từ chuyển thành Phật tử hết. Các thầy Bà-la-môn tức quá, chờ đức Phật vào làng khất thực, họ theo sau kêu tên Phật chửi rất thậm tệ. Chửi th́ chửi Phật cũng cứ đi từ từ, không trả lời chi hết. Chịu hết nổi, vị thầy Bà-la-môn kia chặn đầu Ngài hỏi: - Cồ-đàm, có nghe tôi chửi không? Phật nói: - Nghe. - Nghe sao không trả lời? Phật đáp: - Như nhà ông có đám giỗ mời thân quyến tới dự. Khi cúng kính xong, quà c̣n nhiều nên ông phân chia để tặng họ. Những thân quyến không nhận, vậy những món quà đó thuộc về ai? - Tôi tặng mà người ta không nhận th́ nó thuộc về tôi, chớ về ai? Phật nói: - Cũng vậy, ông chửi mà ta không nhận th́ những lời ấy thuộc về ai? Bây giờ quư Phật tử nghe người ta chửi có nhận không? Nhận, nên tức tối phiền năo hoài. C̣n Phật không nhận nên Ngài chẳng dính dáng ǵ. Người chửi tự nhớ, tự chịu, tự khổ. Ngày nay chúng ta quư trọng đức Phật ở chỗ Ngài cũng bị người ta chửi, nhưng b́nh thản không dao động, chớ đâu phải Ngài không bị chửi. Chẳng những đức Thế Tôn không giận, không buồn mà c̣n thương người chửi nữa, v́ biết họ nói bậy. Phật tử đừng nói chửi, vừa thấy ai nói lén nhỏ nhỏ sau lưng đă lắng nghe rồi. Lắng nghe để nhận. Đức Phật bị kêu tên chửi c̣n không màng, nên bây giờ chúng ta mới lạy Ngài. Nếu Thế Tôn cũng như ḿnh th́ ngày nay làm ǵ có đạo Phật. Chính v́ Phật không nhận nên Ngài không buồn không giận. V́ vậy Ngài trả lời một cách tự nhiên “Ông chửi ta không nhận th́ lời đó thuộc về ông.” Ngoại đạo nghe thế tự xấu hổ bỏ đi. Chính nhờ tâm sáng suốt, từ bi ấy mà bây giờ chúng ta mới lạy Ngài. Rồi một lần nữa, Phật đi khất thực cũng một thầy Bà-la-môn kêu tên Ngài chửi, Phật vẫn ung dung đi. Cuối cùng Bà-la-môn kia chạy lên chặn đường Phật: - Cồ-đàm, ông thua tôi chưa? Phật liền nói bài kệ: Người hơn th́ thêm oán, Kẻ thua ngủ không yên. Hơn, thua hai đều xả, Ấy được yên ổn ngủ. Người nào không nghĩ hơn thua mới ngủ yên. Nếu thấy ḿnh thua th́ oán hờn người hơn, tức quá ngủ không yên. C̣n hơn người th́ bị người oán. V́ vậy đức Phật dạy: “Hơn thua hai đều xả, Ấy được yên ổn ngủ”. Sở dĩ chúng ta cung kính quư trọng đức Phật, v́ đứng trước ngang trái Ngài luôn nhẫn nhịn được. Ngày nay chúng ta tu muốn người quư trọng ḿnh, mà động tới sân si đủ thứ th́ ai kính phục được? Nên người thật tu không giành hơn, không cho thắng người là thành công. Hơn thắng như thế là mê. Chúng ta tỉnh sáng phải giữ thái độ an b́nh, ḥa nhă, không giận hờn. Tôi thường ví dụ, như chúng ta vào bệnh viện tâm thần thăm người thân trong đó. Khi vào ḿnh không chọc ghẹo ai hết, nhưng họ xúm quanh chửi ḿnh, lúc đó chúng ta nghĩ sao? Nên giận hay nên thương? Người bệnh tâm thần không biết phải quấy nên chửi ḿnh, ta biết họ bệnh nên thương, chớ không giận. Cũng thế, chúng ta sống với mọi người chung quanh, có khi ḿnh không làm việc xấu quấy mà họ cứ đổ cho ta xấu quấy, như vậy người đó tỉnh sáng hay bệnh? Việc không mà nói có, đó là bệnh. Họ cũng giống người bệnh tâm thần, nên ta thương chớ đâu có giận. Nếu gặp người bệnh tâm thần chửi, ta chửi lại, kẻ bàng quan sẽ nói sao? Ông kia điên gặp chị nọ khùng, phải không? Nếu không điên th́ khi họ chửi, ḿnh đừng chửi lại, đừng giận mà thương hơn. Người biết tu, gặp kẻ mê ta phải tỉnh, người kia điên chúng ta phải sáng suốt, chớ không ai ăn thua với người điên. Đó là điều quan trọng mà thế gian không biết. Nhiều khi nghe một lời nói hết sức vô nghĩa mà ta lại nổi nóng, căi nhau thành việc lớn. Từ đó làm khổ nhau, từ cái khổ này kéo đến cái khổ nọ. Trong đạo cũng vậy, nhiều chuyện rất nhỏ mà do không khéo ḥa với nhau nên thành lớn. Nhiều người v́ căi thua, tức quá muốn tự tử, thật hết sức dại khờ. Vừa rồi có một Phật tử nữ đến thưa với tôi: “Thầy làm ơn về cầu siêu giùm người bạn của con”. Tôi hỏi: “Bạn của con làm sao, phải cầu siêu?” Cô ta thưa: “Anh ấy tinh thần không được sáng, tự tử bằng cách thắt cổ chết trong vườn nhà. Sau khi anh chết hai ba hôm, con nằm mộng thấy anh về đứng ngoài sân kêu hoài: “Lạnh quá, làm sao cho anh bớt lạnh”. Con đem mền ra bảo đắp, anh nói “không được”. Trải qua mấy hôm như vậy”. Chúng ta thấy kẻ mê chết liều lĩnh như thế phải sanh vào loài ngạ quỷ, lang thang khổ sở, chớ đâu phải chết là hết. Chết không phải là hết, càng chết oan chừng nào vong linh càng lang thang khổ sở chừng đó. Nên người biết tu, dù có xảy ra chuyện buồn phiền mấy cũng bỏ qua, phải sáng suốt tu hành. Đó là cứu ḿnh, c̣n liều chết bậy bạ chẳng những không cứu ḿnh mà c̣n tự hại ḿnh nữa. Chúng ta nên nhớ tự tử chết là mối nguy hiểm nhất, v́ như thế chẳng những không giải thoát mà c̣n làm ḿnh luân hồi triền miên, khổ sở vô cùng. Khổ cho bản thân ḿnh và khổ lây cho nhiều người khác nữa. Chúng ta tu không chỉ tụng kinh, niệm Phật, tọa thiền là đủ, mà phải sống đúng với tâm của người hiểu đạo. Mọi việc hơn thua, phải quấy của các huynh đệ đều là chuyện nhỏ, không có ǵ quan trọng hết. Việc lớn của chúng ta là làm sao thoát ly sanh tử, đó mới là cao siêu, là mục đích chúng ta nhắm đến. Muốn thoát ly sanh tử trước hết sống với huynh đệ, chúng ta phải ḥa nhă, thuận thảo, vui tươi. Nhờ sự ḥa vui đó ḷng ta yên ổn, việc tu hành được nhẹ nhàng. Nếu tới giờ niệm Phật, ngồi thiền mà cứ nhớ việc căi vă hồi chiều, nhớ câu người ta chửi ḿnh hoài, th́ niệm Phật ngồi thiền có yên không? Dĩ nhiên là không. Nhớ lời qua tiếng lại hoài, rốt cuộc ḿnh chịu thiệt tḥi. Nên người biết tu phải sống đúng tinh thần lục ḥa. Dù chưa giải thoát nhưng giữ được lục ḥa th́ trên đường tu chúng ta sẽ an ổn. Niệm Phật được nhất tâm, tọa thiền dễ định. Đó là thành công rồi. Nếu không như vậy, chúng ta sẽ bị nhiều khổ lụy, tu mà không giải thoát, ngược lại c̣n trầm luân! V́ vậy tôi thấy vấn đề lục ḥa rất thiết yếu, rất quan trọng đối với cuộc sống tu hành của chúng ta. Hôm nay đủ duyên gặp quư thầy quư cô tiếp đón và xin nghe pháp, chúng tôi đem hết tâm tư của ḿnh, khuyến nhủ Tăng Ni sống đúng theo tinh thần Lục ḥa của Phật dạy, để đời tu của chúng ta xứng đáng. Quí vị nên nhớ chùa to, Phật lớn, đệ tử bao nhiêu cũng là tṛ chơi thôi, quan trọng là tâm ḿnh an ổn thanh tịnh, không c̣n vướng bận những trói buộc của thế tục nữa. Đó là nhân giải thoát. Chúng ta đă gieo nhân giải thoát, phải ráng nuôi trồng nó cho tới ngày đạt được quả giải thoát, đừng nản chí bỏ nửa chừng. Đó là lời tha thiết của chúng tôi, mong tất cả Tăng Ni cố gắng thực hiện tu hành cho tới ngày viên măn. ] ÔNG PHẬT HAY ÔNG BỤT Trường Trung cấp Phật Học B́nh Thuận - 2002 Hôm nay chúng tôi đủ duyên về đây dự lễ Khánh thành Trường Trung cấp Phật Học tỉnh B́nh Thuận, đồng thời được ban tổ chức mời giảng một thời. V́ ḷng tha thiết của Tăng Ni, Phật tử nên tôi cố gắng nói một thời pháp nhỏ để quí vị nhớ tu hành. Đề tài tôi nói hơi lạ một chút Ông Bụt và ông Phật là một hay hai. Tất cả chúng ta ai có đọc lại những áng văn cổ của Việt Nam, từ thế kỷ thứ 13 trở về trước sẽ thấy nói đến ông Bụt chớ không gọi ông Phật như ngày nay. Vậy ông Bụt và ông Phật là một hay hai. Nếu một th́ ngày xưa đúng hay bây giờ đúng? Đây là một vấn đề nhỏ nhưng cũng rất quan trọng, có liên quan đến sự tu hành của chúng ta. Lịch sử Việt Nam ngày xưa có những chuyện như Tấm Cám… trong đó h́nh ảnh Bụt hiện ra rất đẹp, cứu độ người hiền lành, nghèo khó. Chớ không nói Phật độ. Nhưng bây giờ chúng ta lại lễ Phật, cầu Phật cứu độ, mà không nói Bụt. Chắc rằng quí vị đồng ư ông Bụt và ông Phật là một, chớ không phải hai, nhưng tại sao trên từ ngữ lại khác nhau? Nhiều người cứ nghĩ rằng Phật giáo Việt Nam là từ Trung Quốc truyền sang, nhưng thật sự không phải như vậy. Nếu nói khởi đầu là khoảng thế kỷ thứ hai thứ ba, Phật giáo nước ta đă sung thịnh rồi, do các Sư từ ấn Độ truyền sang. Từ thế kỷ thứ hai thứ ba, đến thế kỷ thứ mười ba chúng ta đă được nghe hiệu Bụt. Bởi v́ thời xưa vùng Luy Lâu cách Hà Nội chừng ba mươi cây số, nơi đó việc buôn bán rất phồn thịnh. Thương nhân trong cũng như ngoài nước tụ hội về đây buôn bán rất đông. Cho nên có những vị sư theo thuyền buôn từ Ấn Độ sang Việt Nam truyền giáo luôn. Chữ Bụt phát xuất từ tiếng Phạn Buddha. Chữ “Bud” dịch là giác ngộ, chữ “dha” dịch là người, chúng ta kính trọng nên gọi là ông. Như vậy Buddha là người giác ngộ. Nhưng tại sao dân ta lại gọi là ông Bụt mà không gọi ông giác ngộ? Bởi nhiều lư do. Chữ giác ngộ trong nhà Phật là giác ngộ viên măn hay cùng tột, so với giác ngộ ở thế gian có cạn, sâu khác nhau. Ví dụ như có kẻ ăn trộm được người thân chỉ dạy nhắc nhở, kẻ ấy thức tỉnh bỏ nghề ăn trộm, xóm làng sẽ nói người kia giác ngộ rồi. Chữ giác ngộ này với chữ giác ngộ của Phật cách nhau rất xa. V́ vậy chư Tổ thuở xưa không muốn giải nghĩa mà dùng nguyên chữ Bụt, để chúng ta biết rằng từ này phải giải nghĩa kỹ mới đầy đủ, chớ không thể nói đơn sơ giác ngộ là đủ nghĩa của Phật. V́ vậy người xưa dùng danh từ Bụt. Chữ Buddha là nói chính xác, dân ta gọi trại thành ra “Bụt”. Sau đời Trần đến khoảng giữa đời Lê, quân Minh sang chiếm nước ta. Tất cả kinh sách Phật giáo Việt Nam bị chúng thu gom đem về Kim Lăng, một phần thiêu đốt, phần c̣n lại sung vào thư khố người Hoa. Vua Trung Quốc nhà Minh bấy giờ xuất thân là một chú Sa di đi tu, sau khởi nghĩa cách mạng đánh giặc thành công được làm vua, tức vua Chu Nguyên Chương. Là Phật tử rồi xuất gia, sau làm vua nhưng tại sao qua Việt Nam ông lại đốt hết sách vở Phật hoặc tóm thu về Trung Hoa? Lư do cũng dễ hiểu thôi, bởi v́ người Trung Hoa thấy Phật giáo Việt Nam có mầm mống, có chỗ đứng vững vàng, làm nền tảng cho văn hóa dân tộc Việt Nam, nên ông tóm thu về Tàu hết. Sau khi tóm thu xong, ông tặng lại cho chúng ta tạng kinh đời nhà Minh. Chữ Buddha nhà Minh dịch âm là Phật đà, gọi tắt là Phật. Như vậy thói quen người xưa kêu Bụt, bây giờ chúng ta gọi là Phật, cả hai từ này đều chỉ cho một vị đă được giác ngộ viên măn, từ Ấn Độ truyền bá Phật pháp măi cho tới xứ Việt Nam chúng ta. Chữ Phật chúng ta dịch theo chữ Buddha là người giác ngộ, Trung Hoa dịch là giác giả cũng chỉ người giác ngộ. Như vậy nói cho rơ nghĩa Phật là người giác ngộ viên măn, chớ không phải giác ngộ từng phần hay chút ít, phải giác ngộ viên măn mới gọi là Phật. V́ vậy muốn nói đủ trong kinh thường nói Phật là bậc tự giác, giác tha, giác hạnh viên măn. Nghĩa là tự ḿnh giác ngộ rồi, chỉ dạy lại cho người khác được giác ngộ như ḿnh. Giác ngộ tṛn đầy như vậy gọi là Phật. Thế th́ hiện giờ chúng ta học Phật là học cái ǵ? Học đạo giác ngộ. Nhưng chúng ta có giác ngộ được chưa? Nói giác ngộ quí vị lại nghi, sợ giác ngộ viên măn như Phật th́ chưa được, nhưng nếu giác ngộ từng phần chúng ta có làm được. Bởi v́ từ Bồ-tát nguyên chữ Phạn là Bodhisattva, tức giác từng phần. Bồ-tát là người giác ngộ từng phần, chưa được viên măn. Nên chư Tăng Ni và Phật tử đều dám thọ giới Bồ-tát, tức nguyện thực hành giác ngộ từng phần. Tất cả chúng ta tu Phật là tu theo phương pháp đưa tới giác ngộ, đi từ giác ngộ từng phần dần dần tới giác ngộ cao hơn. V́ vậy Bồ-tát có chia ra Thập tín, Thập hạnh, Thập trụ, Thập hồi hướng, Thập địa, rồi tới Đẳng giác, Diệu giác, chừng đó mới gọi là Phật. Tu giác ngộ từng phần rồi tiến từ từ tới giác ngộ viên măn. Nếu đời này chưa viên măn, đời sau chúng ta tiếp tục, tu đến khi nào giác ngộ viên măn thành Phật mới thôi. Đó là sở nguyện trên con đường giác ngộ giải thoát của chúng ta. Bây giờ nói về giác ngộ và mê lầm. Phật ra đời là cứu khổ chúng sanh, trong tất cả nỗi khổ, không có khổ nào bằng cái khổ mê lầm. Thế nên trong kinh Phật có đoạn Phật dạy: Đoạ xuống địa ngục bị hành h́nh thiêu đốt chưa phải là khổ, làm ngạ quỷ đói khát lang thang chưa phải là khổ, làm thân trâu ngựa kéo xe kéo cày cực khổ cũng chưa phải là khổ; chỉ si mê không biết lối đi mới là khổ. Như vậy Phật xác nhận si mê là khổ trên tất cả các thứ khổ. Từ si mê chúng ta phải trầm luân muôn kiếp, đoạ lạc không biết bao nhiêu lần, sinh đi, tử lại, khi làm người, khi làm vật, khi ở địa ngục, ngạ quỷ… măi măi không ra khỏi. V́ vậy chư Phật ra đời cứu khổ chúng sanh là chỉ cho mọi người con đường giác ngộ, có giác ngộ mới thoát ly sanh tử, được giải thoát. Cho nên chúng ta tu Phật, mục đích không ǵ hơn là từng bước, từng bước đi trên con đường giác ngộ. Bây giờ có người khi cha mẹ mất, đến ngày làm tuần, liền dán cho cái nhà lầu, tôi tớ, đốt xuống dưới để ba má có chỗ ở, có người hầu hạ sung sướng hoặc sợ ba má nghèo thiếu, nên mua giấy tiền vàng bạc đốt cho thật nhiều, để cho ba má xài. Đó là tư cách của người mê lầm, v́ làm việc không có ư nghĩa ǵ hết. Nếu cha mẹ làm tội mới đoạ xuống địa ngục, khi đă có tội làm sao dùng nhà lầu xe hơi được. Như một ông lớn quyền thế trên thế gian, có con phạm tội nặng bị nhốt trong tù. Ông đem xe hơi vô cho con đi chơi được không? Đem vô cũng đâu đi được v́ bị nhốt. Cũng vậy, nếu cha mẹ xuống địa ngục là đă làm tội, vậy mà đem xe hơi nhà lầu xuống để dùng th́ chuyện vô lư quá. Vô lư mà vẫn làm có phải là si mê không? Rơ ràng đang si mê. Học đạo giác ngộ mà làm việc si mê, như vậy đúng là con Phật chưa? Bồ-tát giác ngộ từng phần, c̣n Phật tử th́ giác ngộ nhỏ xíu thôi, cho nên không dám nói từng phần mà chỉ nói giác ngộ chút chút, giác ngộ cỏn con, nhưng cũng là những người đang đi trên con đường giác ngộ. V́ vậy chúng ta phải nh́n xem việc làm của ḿnh có đúng như Phật dạy không. Phật dạy tu phải biết lư nhân quả. Chúng ta gieo nhân lành gặp quả lành, tạo nhân ác phải chịu quả ác. Nhân lành và quả lành theo nhau chớ không tách rời, nhân ác và quả ác cũng thế. Như hiện giờ Phật tử có những tai họa phải chịu khổ đau, th́ biết tại v́ ḿnh đă tạo nhân ác từ trước bây giờ quả ác đến, chúng ta khổ đau. Tự biết đó là nhân không tốt của ḿnh đă tạo, th́ bây giờ phải làm sao cho hết nhân ác ấy, phải tu thế nào để không c̣n tái phạm nhân đó nữa, như vậy mới hết khổ. Phật tử bây giờ đi chùa, khi gặp hoạn nạn đến cúng một ít cho Tam bảo rồi xin Phật cho gia đ́nh con được b́nh an hết hoạn nạn, cho con cái con được thi đậu… Phật đâu có cho được, v́ Ngài thường dạy “Ta không có quyền ban phước giáng họa cho ai hết”. Thế mà quí Phật tử đi chùa cứ xin Phật hoài. Như vậy là mê hay giác? Xét bao nhiêu đó cũng đủ thấy Phật tử có xứng đáng là con Phật chưa? Chúng ta phần nhiều đi trong mê lầm, chớ không đi trên đường giác ngộ. Người Phật tử phải hiểu đúng lư nhân quả của Phật dạy, ḿnh làm th́ ḿnh chịu chớ không bắt Phật chịu. Phật tử c̣n cầu xin Phật việc này việc nọ là chưa có can đảm, chưa thực hành theo lời Phật dạy. Muốn hết khổ phải làm điều lành, cứu giúp mọi người cho quả khổ giảm nhẹ, chớ c̣n xin Phật cho sao được. Nếu Phật cho được th́ Ngài đă không nói nhân quả. Đă nói nhân quả th́ biết Phật không cho được. Đây là một luật công bằng, không thể v́ chúng ta là người thân của Phật rồi Ngài giảm cho nhẹ tội. Trong kinh, Phật nói rằng: Người không phải đạo Phật làm mười điều ác, chịu khổ đúng như nhân ḿnh đă tạo; người theo đạo Phật làm mười điều ác, cũng chịu khổ đúng như người kia không khác. Luật nhân quả luôn luôn công bằng như vậy. Nói thế Phật tử sẽ hoang mang, ḿnh tu theo Phật mà Ngài không che chở ǵ hết? Có chứ, nhưng cách che chở của Phật rất đặc biệt. Tôi kể lại một câu chuyện xưa thế này. Khi đức Phật c̣n tại thế, bà Tỳ-kheo Ni Liên Hoa Sắc tu chứng quả A-la-hán rồi. Trên đường đi, bà gặp mấy đứa trẻ mười tám, hai mươi tuổi bà rủ đi tu, thọ giới Tỳ-kheo Ni. Mấy cô thưa: “Chúng con c̣n ham ăn, ham ngủ quá, đi tu lỡ phạm giới đọa xuống địa ngục làm sao?” Bà nói: “Không sao đâu, nếu lỡ phạm giới đọa địa ngục rồi trả hết tội, lên tu nữa”. Lời này có phải đùa không? Đó là một sự thật. Bởi v́ nếu người không tu, phạm tội đọa địa ngục dĩ nhiên phải xuống địa ngục. Bây giờ chúng ta có tu, có thọ giới, phạm tội đọa địa ngục, cũng xuống địa ngục nh |