|
H.T THÍCH THANH TỪ
HOAVÔ ƯU Tập 9
NHÀ XUẤT BẢN PL. 254 – 200
LỜI ĐẦU SÁCH Quyển Hoa Vô Ưu này được kết tập từ các bài giảng của Ḥa thượng Viện chủ Thiền viện Thường Chiếu Thích Thanh Từ. Trong đó, gồm một số bài Ḥa thượng giảng cho Tăng Ni, Phật tử tại các Thiền viện và một số bài giảng phổ thông cho Phật tử trong cũng như ngoài nước. Để đáp ứng nhu cầu t́m hiểu pháp thiền và hâm mộ tu thiền của Tăng Ni, Phật tử, nhưng quí vị chưa đủ điều kiện tu học trực tiếp nơi Ḥa thượng, chúng tôi tŕnh xin ư kiến của Ngài và được Ngài hoan hỷ cho biên tập lại các bài giảng trên. Tuy nhiên, v́ là văn nói nên tập sách không sao tránh khỏi sự trùng lặp tất yếu của nó. Rất mong độc giả đạt ư quên lời. Được thế, hy vọng tập sách sẽ đến tay quư vị với những lợi ích thiết thực nhất. Như vậy, chúng ta có thể t́m hiểu thâm nhập và hành tŕ pháp thiền. Đồng thời trên bước đường tu học, chúng ta có thêm bạn đồng hành luôn cảm thông với chúng ta. Thường Chiếu, ngày 01.08.2002 THÍCH NHẬT QUANG ?
BẢN CHẤT ĐẠO PHẬT BI QUAN HAY LẠC QUAN ? Chùa Phổ Đà Ottawa - 1994 Hôm nay đủ duyên chúng tôi về đây thăm chư Tăng Ni cùng tất cả quí Phật tử. Tuy ở xa nhưng quí vị vẫn c̣n mến đạo ham tu, là điều rất đáng mừng. V́ thế để nhắc nhở thêm trên đường tu, chúng tôi sẽ nói về bản chất của đạo Phật là lạc quan hay bi quan cho Tăng Ni cũng như Phật tử hiểu thật rơ. Nhiều người hiểu lầm đạo Phật là bi quan. Tại sao như vậy? Điều này không phải không có lư do. Bởi họ thường nghe kinh Phật nói “Nước mắt chúng sanh nhiều hơn nước biển cả”. Nghe có vẻ bi quan quá. Trong kinh A-hàm, Phật kể không chỉ một đời này chúng ta khóc, mà trong vô số kiếp luân hồi sanh đi tử lại, chúng ta đă từng khóc, cho nên nước mắt gom lại nhiều hơn nước biển cả. Mỗi một đời có thể tạm nói, chúng ta khóc chừng một lít nước mắt thôi, th́ trăm ức muôn đời gom lại mới thành nhiều. Đức Phật v́ muốn cảnh tỉnh con người đừng hiểu sai lầm rằng cuộc đời toàn là vui, mà c̣n có bao nhiêu đau khổ. Đă khổ ở đời này rồi khổ ở đời kế, nghĩa là không biết bao nhiêu đời khổ nhiều hơn vui. Qua câu nói này người ta cho đạo Phật là bi quan. Đó là lư do thứ nhất. Lư do thứ hai, trong bài thuyết pháp đầu tiên của đức Phật ở vườn Lộc Uyển, bài Tứ diệu đế. Đế đầu tiên là Khổ đế. Như vậy mở đầu thời kỳ giáo hóa, đức Phật đă đưa cái khổ ra trước hết, nên người ta cho rằng đạo Phật bi quan. Đó là lư do thứ hai. Lư do thứ ba, theo giáo lư Nguyên thủy đức Phật dạy các thầy Tỳ-kheo quán pháp Tứ niệm xứ. Trong đó, đầu tiên là quán thân bất tịnh, kế quán thọ là khổ, quán tâm vô thường và quán pháp vô ngă. Khi quán thân thấy nhớp nhúa, chúng ta c̣n quí thân nữa không? Nếu không quí thân là chán đời rồi. Kế đó quán thọ là khổ. Thọ tức cảm thọ của sáu căn mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ư. Tất cả các cảm thọ đó Phật nói đều là khổ. Tại sao? Chúng ta nghe mắng chửi khổ đă đành, nghe âm nhạc du dương đâu có khổ, tại sao Phật nói thọ nào cũng khổ. Như mắt thấy những sắc xấu, không vừa ư ta buồn tức, bực bội nên khổ đành, c̣n thấy những sắc đẹp, vừa ư sao gọi là khổ. Lưỡi nếm những vị đắng cay không vừa ư th́ khổ, nếm những vị ngon ngọt sao cũng khổ. Thế nhưng Phật nói tất cả thọ đều là khổ. Nếu không hiểu sâu chúng ta cũng sẽ đồng ư đạo Phật là bi quan. Nhà Phật chia có ba thứ thọ: một là thọ khổ, hai là thọ lạc, ba là thọ không khổ không lạc. Tại sao Phật dạy quán tất cả thọ là khổ? Sở dĩ Phật nói thế v́ Ngài căn cứ trên lư vô thường. Có cảm thọ nào không bị vô thường chi phối đâu. Ví dụ cái lưỡi được ăn ngon, th́ trong thời gian món ăn c̣n ở lưỡi ta cảm thọ lạc. Chưa tới năm phút món ăn qua khỏi lưỡi, cảm thọ lạc cũng mất đi. Như vậy tất cả cảm thọ dù khổ, dù lạc cũng đều hiện tướng của vô thường. Đă là vô thường th́ không cái vô thường nào vui hết, tất cả đều đi tới bại hoại, không có cái vui thực, chỉ là hiện tướng của đau khổ thôi. Ví dụ như bây giờ ta xách một giỏ nặng thấy khổ, nếu có ai tới xách giùm lúc đó ḿnh thấy vui. Như vậy vui từ đâu mà có? Qua hết khổ tạm gọi là vui, chớ không có cái vui thật. Thế gian chỉ vui trong cái khổ thôi, chớ không có vui thật. Nỗi buồn kéo dài người ta chịu không nổi, nên t́m thú vui trong chốc lát để tạm quên sự đau buồn, chớ không có niềm vui chân thật. V́ vậy Phật nói tất cả cảm thọ đều vô thường, đều đau khổ. Như chúng ta thấy người già, người bệnh, người chết là khổ hay vui? Là khổ. Già đi lụm cụm nhức mỏi đủ thứ nên nói là khổ, rồi bệnh đau rên rỉ khổ, đến chết th́ càng khổ hơn. Như vậy ba tướng già, bệnh, chết là tướng khổ. Thế th́ tướng trẻ, c̣n sung sức là vui chăng? Người trẻ cũng khóc dài dài, chớ không phải trẻ mà hoàn toàn vui. Bởi vậy cho nên tất cả chúng ta đều bị vô thường thúc đẩy đi tới khổ. V́ vậy Phật nói tất cả cảm thọ là khổ. Kế đến Phật dạy quán tâm vô thường. Tâm chúng ta cứ biến đổi không dừng. Người thế gian khi thương nhau hay thề thốt nghe oai lắm: “Dầu cho biển cạn, núi ṃn, ḷng này cũng không thay đổi”. Nói thế nhưng chẳng bao lâu đổi mất hết. Như vậy để thấy rằng người ta chỉ đùa gạt nhau thôi, chớ không có thật. Đạo Phật nói tâm con người luôn thay đổi theo hai chiều, chiều tốt và chiều xấu. Có khi thay đổi từ dở xấu thành hay tốt. Đó là thay đổi theo chiều tốt. Có khi thay đổi từ tốt hoặc b́nh thường tuột xuống dở xấu. Đó là thay đổi theo chiều xấu. Bởi vậy đức Phật dạy tất cả tâm niệm con người đều vô thường. Đây là lẽ thực. Kế đến Phật dạy quán các pháp vô ngă hay gần hơn quán thân vô ngă. Vô ngă là sao? Chữ vô ngă này nhiều Phật tử hiểu lầm lắm. Ngă là chủ thể, vô ngă là không có chủ thể. Ngay nơi thân này thấy không có cái ǵ là chủ thể hết, chẳng qua do duyên tứ đại chung hợp thành thân. Khi tứ đại tan ră th́ nó mất, chớ không có chủ thể. V́ vậy nói vô ngă. Nhưng người ta nghe nói không có ḿnh thật th́ buồn, cho đó là bi quan. Tiến hơn nữa Phật dạy quán thân duyên hợp không thật, như huyễn như hóa. Nếu thấy thân này không thật, như huyễn như hóa chúng ta có chán đời không? Kể sơ qua những điều như thế, đủ để ta thấy nhiều người kết luận đạo Phật bi quan cũng có lư chứ. V́ vậy ai mới t́m hiểu đạo Phật chút chút, nghe người ta nói đạo Phật bi quan cũng dễ chấp nhận theo. Từ đó cho rằng tu theo đạo Phật buồn quá, khổ quá. Tự nhiên Phật tử đâm ra bi quan, chán đời không muốn tu nữa. Đó là căn bệnh làm cho chúng ta thối tâm. Như vậy đạo Phật dạy cho con người bi quan sao? Đây là vấn đề chúng ta cần phải hiểu rơ. Nếu không Phật tử sẽ lúng túng v́ thấy đạo Phật dường như mâu thuẫn. Bởi v́ một đằng đức Phật phân tích cho chúng ta thấy cuộc đời là khổ, thân này không thật, nhưng đồng thời Phật cũng dạy thân người khó được. Đă được thân người, chúng ta phải nên trân quí nương tựa nó để tu tập, vượt qua khổ trầm luân sanh tử. Tại sao Phật chê nó nhớp nhúa, không có chủ thể, vô thường v.v... mà bây giờ Ngài lại nói “nhân thân nan đắc, Phật pháp nan văn”, tức là thân người khó được, Phật pháp khó nghe. Như vậy có mâu thuẫn không? Trong kinh Tạp A-hàm Phật nói thế này: Người thế gian khi mất thân này rồi, muốn t́m lại thân sau, khó như con rùa mù t́m bọng cây giữa biển. Ngoài biển cả có một bọng cây nổi, theo sóng trôi dạt khắp nơi, dưới đáy biển có con rùa mù một trăm năm mới trồi đầu lên một lần để t́m bọng cây chun vào. Chúng ta thử tưởng xem chừng nào con rùa mù t́m được bọng cây? Khó mà tưởng tượng nổi. Phật nói chúng ta mất thân này, được trở lại làm người cũng khó như thế. Như vậy được thân người là rất quí, phải không? Thế nên người Phật tử chân chính gặp chuyện buồn, có ǵ chán đời liền nghĩ tới tự tử, đó là Phật tử chưa hiểu đạo. Bởi v́ tự tử, mất thân này rồi muốn trở lại làm người không phải là chuyện dễ. Đă được thân này rất là quí báu, chúng ta lại bỏ nó đi một cách vô nghĩa, đó là tự hủy hoại cái quí của chính ḿnh. Thế nên đức Phật nói tuy thân này nhớp nhúa, không thật nhưng một khi đă được thân người, chúng ta phải tôn trọng tuyệt đối. Có hai câu thơ chữ Hán thế này: Thiên niên thiết thọ khai hoa dị, Nhất thất nhân thân vạn kiếp nan. Nghĩa là: Ngàn năm cây sắt nó trổ hoa dễ. Một phen mất thân được lại khó. Nói cây sắt chúng ta thấy xa quá, bây giờ nói như cây thiết mộc lan chẳng hạn, một ngàn năm mới trổ hoa một lần, như vậy mà c̣n dễ. Chớ một phen mất thân này rồi, muôn kiếp khó t́m lại được. Phật dạy hai điều dường như trái nhau: một là chê thân này, hai là quí trọng thân này. Tại sao lạ vậy? Ở đây tôi dùng một ví dụ để giải thích cho quí vị hiểu. Như có người đi biển bị ch́m thuyền, kẻ ấy bơi ra ngoài vớ được một gốc cây mục. Nếu thông minh anh ta phải bám chặt gốc cây mục đó để bơi vào bờ hoặc chờ người cứu. Như vậy gốc cây mục lúc đó đối với anh ta là quí hay tiện? Rất quí, v́ nhờ có nó anh mới được sống. Tuy nhiên, lên được bờ rồi anh ta có nên tiếc gốc cây mục kia và quảy theo không? Chắc là không. Đó là trường hợp người thông minh. Trường hợp thứ hai nếu người vớ được gốc cây mục rồi, thấy ḿnh không bị chết ch́m nên hài ḷng, cứ nằm đó chơi hoài, quí vị nghĩ sao? Chắc chắn phải chết thôi. Đó là trường hợp của kẻ khờ. Qua thí dụ trên tôi muốn nói đạo Phật thấy thân này không quí, không đẹp, không thật, bởi vậy Phật mới dạy quán bất tịnh. Quán bất tịnh để chúng ta thấy được sự thật về thân như huyễn này. Nói thân này nhơ nhớp là nói sự thật, chớ không phải tưởng tượng. Nói sự thật nhưng người ta lại buồn, v́ không chấp nhận sự thật ấy. Quí vị thấy những hăng nước hoa, hăng xà bông thơm ra đời là để làm ǵ? Để che đậy sự thật xấu xí kia. Nếu thân này thơm sạch như mùi hoa sen th́ những thứ đó đâu cần. Người ta chế những thứ đó là v́ thân thể hôi quá, phải dùng mùi thơm bên ngoài phủ lên cho giảm bớt mùi hôi. Vậy mà khi có chút ít nước hoa vào th́ hănh diện, tưởng như ḿnh sạch vậy. Đó chỉ là sự tưởng tượng thôi, bản chất của nó là không sạch. Ngày xưa khi Phật sắp thành đạo, ngồi dưới cội Bồ-đề, lúc đó ma quân kéo tới quấy phá. Chúng hiện thành mỹ nữ kiều diễm để dụ dỗ Ngài. Phật liền nói: “Đăy da hôi thối hăy đi, ta không dùng các ngươi”. Nghe thế chúng xấu hổ bỏ đi hết. Với con mắt của đức Phật, thân này như đăy đựng đồ nhơ, chớ không có ǵ quí hết. Đó là do đức Phật thấy đúng như thật, chớ không phải tưởng tượng. Ngài quán thọ là khổ, quán tâm vô thường, quán pháp vô ngă cũng vậy, đều là những lẽ thật. Nhưng ở đời ít ai dám nh́n sự thật. Thiên hạ vẫn bảo ḿnh đi t́m chân lư, nhưng nói sự thật th́ họ sợ. Đó là chuyện lạ lùng. Như có ai tới nhà ḿnh đầu năm chúc anh hay chị mạng sống trong hơi thở, ḿnh vui không? Không vui. Tại sao nói mạng sống trong hơi thở là nói thực mà ḿnh không vui? C̣n nếu họ chúc sống tới trăm tuổi, ta lại chịu mặc dù biết đó chỉ là lời chúc hảo thôi. Rơ ràng con người chỉ chuộng những cái không thật. Nghe nói thật th́ sợ, th́ buồn. Cho nên tôi nói ít ai dám nh́n thẳng lẽ thật, cứ bịa chuyện mà tán dốc với nhau thôi. Cuộc sống trên thế gian không có lẽ thật, mà ai cũng tuyên bố ḿnh nói thật. Đạo Phật thấy thế nào nói như thế ấy, chớ không lừa bịp chúng sanh. Ví dụ thấy người xấu ḿnh nói xấu, nếu họ biết nghe lẽ thật th́ không làm điều bậy xấu nữa. C̣n nếu họ xấu mà ta cứ khen tốt, họ tưởng những việc xấu của họ không ai thấy nên cứ làm xấu măi. Như vậy nói thật với nói gạt nhau, cái nào tốt? Nói thẳng sự thật người ta nghe sợ, nhưng tránh được những điều xấu dở, đó là cứu người. C̣n không dám nói lẽ thật, mà nói để được ḷng, vô t́nh ta dung dưỡng những tội lỗi xấu xa của người, như vậy là hại nhau. Ai cũng than ở đời khó quá! Tại sao khó? Tại ai cũng sợ sự thật hết. Sở dĩ người ta kết tội đạo Phật bi quan cũng v́ đạo Phật nói lẽ thật. Đó là do con người điên đảo, chớ Phật không có lỗi. Trở lại vấn đề thân này. Như tôi đă nói Phật dạy thân nhơ nhớp, nhưng cũng bảo thân người khó được. Giống như ví dụ đă nêu, chúng ta được thân tựa như được khúc gỗ mục trôi giữa biển. Nếu cứ đeo nó ở ngoài biển hoài, không chịu bơi vào bờ, đến ngày nó ră ḿnh cũng chết ch́m luôn. Người khôn ngoan là biết lợi dụng khúc gỗ mục bơi vào bờ. Lên bờ rồi nó có ră, ḿnh cũng không ngại. Như vậy đức Phật chỉ rơ thân này nhớp nhúa, vô thường, không lâu bền giống như ta ôm khúc gỗ mục vậy. Thấy rơ thế rồi chúng ta phải nương thân này, nỗ lực tu hành để được đến bờ giải thoát an vui. Không nên ôm chấp thân tạm bợ nhơ nhớp này để rồi tan ră theo nó. V́ vậy đang lúc c̣n mạnh khỏe, chúng ta tranh thủ tu tập làm sao tiến lên chỗ cao đẹp hơn. Đó mới là người khôn ngoan. Quí Phật tử kiểm lại xem ḿnh có khôn ngoan không? Hay cứ gh́ khúc gỗ mục ở ngoài biển hoài? Đó là điều tôi muốn nhắc cho tất cả nhớ, chúng ta có thân là phương tiện tốt để tiến lên, đi tới chỗ an lành. Tuy không quí nhưng v́ nó giúp chúng ta giải thoát sanh tử được nên ta trân trọng giữ ǵn nó. Nếu mất thân rồi làm sao ta tu tiến được, v́ vậy mỗi người phải làm sao cho ḿnh, cho người được vui, được lợi ích. Đó là sáng suốt. Ngược lại được thân rồi cứ lo cưng dưỡng nó, hôm nào ngă đùng ra chết, giống như người ôm gh́ khúc gỗ mục ở ngoài biển mà không chịu bơi vào bờ, một ngày kia nó ră người ấy chết ch́m theo, có phải vô ích không? Hoặc có trường hợp khác, nếu chưa tới bờ mà ta hủy hoại khúc gỗ mục là khôn hay dại? Rất dại. Cũng vậy, tu hành chưa được ǵ hết mà giận ai đi tự tử, đó là khờ dại, hủy hoại một cái rất quí. Thế nên để nhắc nhở cho chúng ta biết lợi dụng thân này tu hành, Phật mới nói thân người khó được, v́ một khi đă mất nó rồi t́m lại rất khó. Không t́m được thân, làm sao tu hành giải thoát sanh tử đây? Phật dạy chúng ta phải siêng tu giống như là người cứu lửa cháy đầu. Quí vị tưởng tượng đầu tóc ḿnh có một tàn lửa rớt lên, lúc đó ta làm sao? Từ từ dập tắt hay phải dập liền? Không dám để trễ một phút một giây nào, phải dập ngay. Cũng vậy, hiểu được thân này vô thường, nhớp nhúa, chúng ta phải gắng sức tu. Nhờ tu có phước đức, nếu mất thân này ta sẽ được thân sau tốt hơn, chớ không bị tuột xuống. Tuột xuống t́m lại thân người không được, như con rùa mù t́m gặp bọng cây rất khó. Bây giờ tu là làm sao? Là qui y Tam bảo ǵn giữ năm giới. Đạo Phật dạy Ngũ thừa Phật giáo tức là năm thừa để cho người tu theo. Thừa thấp nhất là Nhân thừa Phật giáo, tức giáo lư Phật dạy tu để đời này làm người xứng đáng, đời sau trở lại làm người tốt hơn. Nhân thừa Phật giáo căn cứ trên năm giới làm gốc. Quí Phật tử kiểm lại xem ḿnh giữ đủ năm giới chưa? Nếu chưa là lui sụt rồi, cẩn thận đừng để tuột xuống kéo lên không nổi. Người giữ giới không sát sanh đời sau sanh ra sống lâu. Giữ giới không trộm cướp đời sau sanh ra giàu sang, tiền của không bị hao mất. Giữ giới không tà dâm đời sau sanh ra được thân thể đẹp đẽ trang nghiêm. Giữ giới không nói dối đời sau sanh ra lời nói lưu loát, ai nghe cũng tin cũng quí. Giữ giới không uống rượu đời sau sanh ra có trí tuệ thông minh. Năm giới như thế nếu giữ trọn đời này đă là người tốt, đời sau sanh ra lại c̣n tốt hơn. Quí vị kiểm lại ḿnh tự biết thiếu giới nào th́ ráng tu cho đủ. Tối thiểu phải giữ năm điều đó mới không bị tuột xuống. Người không giữ giới dù có niệm Phật mấy, Phật kéo cũng không nổi nữa. Cho nên giữ năm giới là gốc của kiếp sau được trở lại làm người. Đó là tu, chớ không phải vô chùa cạo đầu mới gọi là tu. Người nào tiến hơn tùy theo sức của ḿnh tu pháp Thập thiện, đời sau sanh lên cơi trời sung sướng hơn. Người tu các pháp như Tứ đế, Mười hai nhân duyên th́ đời sau chứng quả A-la-hán, Duyên giác v.v... Nhưng nhớ thấp nhất là trở lại làm người, đừng để tuột xuống. Chư Tăng Ni thương Phật tử là dạy họ tu như vậy, chớ không phải thương là nay mời tới chùa ăn cơm chay, mốt đi tụng cầu an cho Phật tử, bữa kia đi thăm bệnh bổn đạo, làm thế không phải là thương. Nhắc Phật tử biết tu để đời này làm người tương đối tốt, đời sau càng tốt hơn, đừng để tuột xuống. Đó là thương, là cứu chúng sanh. Cứu cái ǵ? Cứu cái nhân chớ không phải cứu quả. Ở đời, thường người ta mang ơn kẻ cứu quả hơn người cứu nhân. Ví dụ như có hai người đang căi vă sắp đánh nhau, ḿnh tới khuyên can: Thôi, anh hay chị nhịn nhau chút cho qua, đánh lộn càng khổ thêm, có lợi ích ǵ? Khuyên như vậy, họ không thấy quan trọng đâu, nhiều khi c̣n bực bội nữa là khác. Chừng đánh nhau lỗ đầu rồi, ai đem đi cứu thương băng bó giùm, họ cám ơn rối rít. Nhưng lúc đó đă bị thương tích rồi. Người thương ḿnh để trọn vẹn không bị thương tích lại không cám ơn, có đáng buồn không? Nếu người thông minh được bạn hữu nhắc nhở tránh ngay từ cái nhân ban đầu, ta nên trân quí mang ơn người đó chứ. C̣n đợi đến chuốt quả khổ mới cứu th́ quá muộn, dù cứu cũng đỡ phần nào thôi, chớ đâu trọn vẹn như buổi đầu. Hiểu như thế rồi Phật tử mới biết tại sao quí thầy quí cô xuất gia, ít làm việc từ thiện lại hay giảng kinh. V́ giảng kinh là nhắc nhở từ nhân, cứu từ gốc; c̣n làm việc từ thiện là cứu trên quả, tức phần ngọn. Nắm rơ vấn đề này, Phật tử mới không buồn khi thấy những tôn giáo bạn làm từ thiện nhiều, c̣n đạo Phật chỉ dạy cho người tu hành, chuyển đổi tâm, không tạo các nghiệp ác là chánh. Thế nhưng hầu hết Phật tử bây giờ thích được cứu trên quả. Làm ǵ đó thất bại hoặc gặp đau khổ kêu Phật cứu con, b́nh thường quên Phật mất tiêu. Vui th́ quên, buồn mới nhớ Phật. Như vậy chỉ nghĩ tới Phật trong khi khổ, chớ không biết Phật lúc khỏe mạnh vui tươi. Tu không phải thế. Ngay bây giờ, lúc c̣n khỏe mạnh vui tươi, ta nỗ lực tu, chớ đợi tới khổ tu đâu kịp. Tôi nói trong phạm vi năm giới thôi, nếu Phật tử vâng giữ đúng, từ một người hai người cho tới cả trăm người, ngàn người, hết cả xóm đều giữ đúng năm giới th́ xóm ấy có phải thiên đường chưa? Không có chuyện ǵ lôi thôi hết. Không lo sợ ai hại ḿnh, lừa đảo ḿnh, ăn trộm của ḿnh, phá hoại hạnh phúc gia đ́nh ḿnh, không sợ rối loạn trật tự bởi những chuyện say sưa v.v... Như vậy xă hội đẹp biết mấy! Người ta ít ai chịu nghe những lời thật, chịu nh́n nguyên nhân đúng đắn để tránh quả khổ đau. Bởi vậy trong kinh Phật mới dạy chúng ta phải gấp tu như cứu lửa cháy đầu, không thể chần chừ. V́ không ai bảo đảm ḿnh sống tới tám mươi tuổi mới chết. Trẻ có cái chết của trẻ, già có cái chết của già, không ai biết trước và ngăn ngừa được. Đă không bảo đảm đời ḿnh mà ngang đây chưa lo tu th́ sao? Chừng vô thường tới trở tay không kịp. V́ vậy phải lo cứu ḿnh gấp như cứu lửa cháy đầu. Đạo Phật dạy quán thân bất tịnh, thọ là khổ, tâm vô thường v.v... cốt chỉ lẽ thật cho chúng ta cố gắng tu, để không bị những khổ đau trong đời này và những đời sau. Khi biết tu rồi chúng ta sẽ hết khổ, giống như người vớ được gốc cây mục bơi gấp vào bờ, được lên bờ rồi mới thật an lành. Như vậy quan niệm của đạo Phật bi quan hay lạc quan? Mới nghe dường như bi quan nhưng xét kỹ đó là thấy rơ lẽ thật để chúng ta vươn lên. Hiểu vậy mỗi Phật tử phải cố gắng, tinh tấn tu hành từ năm giới là mức chót, giữ để khỏi tuột xuống các loài thấp hơn người. Phật tử giữ năm giới đàng hoàng chân chính rồi, những ǵ đă qua th́ sám hối, kể từ bây giờ ráng tu không gây tạo hay sai phạm lỗi lầm nữa. Như vậy bảo đảm nhắm mắt, quí Phật tử khỏi lo sợ ǵ hết. Khi gần tắt thở có ai hỏi anh chị sẽ đi đâu, quí vị trả lời tôi sẽ trở lại làm người, bảo đảm 100%. V́ Phật đă dạy như vậy, ta làm đúng như vậy th́ kết quả không nghi ngờ ǵ cả. Nếu người không giữ được giới, lúc gần nhắm mắt hoảng hốt sợ sệt, không biết ḿnh sẽ ra sao? Nỗi khổ lúc đó không thể kể hết. Đă khổ v́ thân bại hoại, lại khổ v́ tâm mờ mịt tối tăm, không biết đường trước ra sao. Cho nên ngay bây giờ chúng ta biết lo tu th́ sau này sẽ hết khổ. Sở dĩ các Thiền sư gần nhắm mắt, các Ngài cười từ giă mọi người ra đi, v́ biết trước con đường của ḿnh, nên an vui tự tại không lo sợ chi cả. Người thế gian gần tắt thở, con cái nh́n cha mẹ khóc lóc bi lụy vô cùng. Rồi kẻ đi bơ vơ, đau khổ không biết bao nhiêu nữa. Thế nên chúng ta thương cha thương mẹ, thương anh thương em nên ráng khuyên giữ năm giới. Đó mới là thật ḷng giúp nhau, chớ khóc lóc thở than chỉ càng làm khổ thêm cho người thân, chớ có ích ǵ. Thuở xưa, sau khi thành đạo rồi đức Phật trở về thành Ca-tỳ-la-vệ giảng đạo cho Phụ vương và Hoàng hậu nghe. Nghe xong Phụ vương Ngài và Hoàng hậu phát tâm qui y Tam bảo, ǵn giữ năm giới. Về sau Hoàng hậu tức Di mẫu của Ngài phát tâm đi tu. Bà xin Phật cho xuất gia, Ngài không bằng ḷng. Bấy giờ Tôn giả A-nan thấy vậy sốt ruột, mới thưa với Thế Tôn rằng: - Di mẫu có công ơn lớn với Thế Tôn, khi Hoàng hậu sanh Ngài ra có bảy hôm th́ tịch, Di mẫu là người nuôi Thế Tôn từ nhỏ cho tới lớn khôn. Công ơn kia vô cùng thâm trọng, mà bây giờ Thế Tôn không cho bà xuất gia, như vậy là phụ ơn Di mẫu sao?" Phật trả lời: - Ta không quên ơn, mà đă đền ơn Di mẫu rồi. Ngài A-nan ngạc nhiên hỏi: - Bạch Thế Tôn, Ngài đền bằng cách nào? Phật nói: - Khi trở về thành Ca-tỳ-la-vệ, ta đă khuyên và giải thích cho Phụ vương cùng Di mẫu hiểu được đạo lư, phát tâm qui y Tam bảo giữ ǵn năm giới. Đó là đă đủ để ta đền ơn song thân rồi. Qua câu chuyện của đức Phật, chúng ta thấy người con muốn đền ơn cha mẹ không ǵ hơn là khuyên cha mẹ ráng giữ ǵn năm giới, để khi chết khỏi đọa đường khổ. C̣n dành dụm tiền cho nhiều, chết làm đám ma cho lớn, chưa hẳn là thương cha mẹ. Đó là lời đức Phật đă dạy trước kia. Bây giờ trở lại vấn đề đạo Phật bi quan hay lạc quan? Như tôi đă tŕnh bày, đạo Phật nh́n thẳng lẽ thật, nói thẳng lẽ thật. Chúng ta quen hoặc buồn hoặc vui, nhưng đạo Phật không phải vậy. Đạo Phật không buồn cũng không vui. V́ sao? V́ thế gian mất th́ buồn, được th́ vui, chê th́ buồn, khen th́ vui. Vui buồn của thế gian là vui buồn đối đăi, không có sự thật. Đạo Phật là đạo như thật, nói lẽ thật, chỉ cho người ta nhận ra lẽ thật. Nhờ nhận ra sự thật nên mọi người tập sống đúng như thật, không lừa đảo nhau, không gây đau khổ cho nhau. Một đời sống mà mọi người đều biết tôn trọng sự thật, sống đúng như sự thật th́ cuộc sống đó có hạnh phúc không? Thấy được lẽ thật th́ đâu có ǵ phải buồn, phải phiền năo. Hồi xưa có một thầy Tỳ-kheo tu hành rất chân chánh, ở trong khu rừng cạnh làng. Trong làng, một thiếu nữ thấy Thầy tu hành chân chánh nên quí kính, mỗi ngày đều sớt bát cúng dường. Đều đặn như vậy một thời gian, người trong xóm bắt đầu đàm tiếu lôi thôi. Cô nghe cô buồn, mới thuật lại cho thầy nghe. Cô nói “Con tới cúng dường là để cho thầy yên tu, đạt đạo. Bây giờ trong xóm giềng đồn xấu con với thầy”. Thầy Tỳ-kheo nghe thế buồn quá, đợi khi cô ấy về, Thầy t́m sợi dây định thắt cổ tự tử. Khi đó có một thiện thần hiện ra hỏi: - Tại sao thầy tự tử? Thầy Tỳ-kheo trả lời: - Tôi tu hành rất thanh tịnh, mà người ta nói xấu, đàm tiếu, chê cười tôi phạm giới nên tôi tự tử cho rồi. Vị thần kia hỏi: - Giả sử có người nói Thầy chứng A-la-hán, trong khi Thầy chưa chứng, Thầy có chịu không? - Tôi chưa chứng mà họ nói chứng, tôi đâu có chịu. - Nếu có người nói Thầy đọa địa ngục, Thầy có đọa không? - Tôi tu hành đàng hoàng, đâu làm ǵ có tội mà đọa địa ngục. - Như vậy Thầy chưa chứng A-la-hán, nói chứng cũng không được. Thầy không xuống địa ngục nói Thầy xuống cũng không xuống. Bây giờ Thầy không phạm giới, họ nói Thầy phạm giới, Thầy cũng đâu có phạm mà tự tử? Nghe đến đó, thầy Tỳ-kheo thức tỉnh, từ bỏ ư định tự tử. Từ đó Thầy nỗ lực tu hành nhiều hơn, thời gian sau chứng quả A-la-hán. Chúng ta thấy rơ ràng lời khen, lời chê không có sự thật. Vậy mà đa số người đều khổ ở lời khen tiếng chê. Cứ khen là vui, chê là buồn, quí những ǵ không đúng sự thật. Chúng ta biết lẽ thật không mắc kẹt cái khen cái chê. Đạo Phật là đạo như thật, mà đă đúng như thật th́ có ǵ là bi quan, có ǵ là lạc quan? Bởi v́ bi quan hay lạc quan chẳng qua là cái khen cái chê theo thường t́nh mà thôi. Làm cho người ta vui th́ họ nói lạc quan, làm cho người ta buồn th́ thành bi quan. Đạo Phật nói lẽ thật, người ta nghe buồn, nhưng thật sự đạo Phật có bi quan đâu? Kẻ nói gạt khiến thiên hạ vui chưa chắc là lạc quan. Nếu nói thẳng, đạo Phật không phải bi quan cũng không phải lạc quan, mà đạo Phật là đạo nói như thật và hành như thật. Chữ Phật là tiếng Phạn, Trung Hoa dịch là giác. Cho nên gọi Phật-đà tức là Giác giả hay người giác ngộ. Đức Phật do giác ngộ được lẽ thật, thấy biết lẽ thật nên chỉ dạy lại cho chúng ta lẽ thật ấy. Chúng ta là đệ tử Phật, tin lời lẽ của Ngài bằng lẽ thật, chớ không phải bằng tưởng tượng. Đă là Phật tử, chúng ta phải cố gắng ứng dụng tu theo lời Phật dạy để khỏi đọa trong những cảnh khổ. Đừng để mất thân này phải tiếp tục trầm luân trong những cơi khổ đau, không biết bao giờ được trở lại. Phật chỉ con đường cho chúng ta không bị trầm luân. Đó là căn bản, là gốc của sự tu. ] LỤC H̉A Quảng Ngăi - 2002 Hôm nay đột xuất tôi được chư Tăng Ni và Phật tử tỉnh Quảng Ngăi mời về đây thăm viếng, đồng thời xin một thời pháp ngắn. Đến nơi, được sự đón tiếp của đông đảo quí vị, lại c̣n có các em trong Gia đ́nh Phật tử nữa, tất cả đều vượt ngoài sức tưởng tượng của chúng tôi. V́ thế tuy đi đường nhọc nhằn, tôi cũng không nỡ từ chối nói pháp cho quư vị nghe, do đó có bài pháp Lục Ḥa này. Tăng Ni là hàng xuất gia đều biết tính quan trọng của phép Lục Ḥa đối với đời sống Tăng đoàn. Quí vị phải ứng dụng cho được những điều căn bản đức Phật đă dạy, đồng thời nhắc nhở gia đ́nh Phật tử cùng hiểu biết, sống đúng với tinh thần ấy. Khi lập Thiền viện, nghiên cứu kỹ giới luật nhà Phật, tôi thấy sáu phép ḥa thuận là phần căn bản, đức Thế Tôn dạy cho hàng tu sĩ chúng ta. Thế nên nói tới Tăng, Ni là nói tới Lục ḥa. Tăng, chữ Phạn là Sangha, Trung Hoa dịch âm là Tăng già, dịch nghĩa là Ḥa hợp chúng. Tức chỉ một số tu sĩ, hoặc Tăng hoặc Ni sống chung với nhau trong tập thể, ḥa hợp vui vẻ tu hành, nên c̣n gọi là ḥa hợp Tăng. Quí thầy, quí cô sống ḥa hợp th́ gọi là Tăng, không ḥa hợp th́ không đủ nghĩa của Tăng. Đức Phật đặt sự ḥa hợp trên tất cả các giới luật. Nếu chúng ta sống không ḥa hợp th́ sự tu hành không bao giờ tiến. Đa số Tăng Ni đều biết Lục ḥa rồi, nhưng ở đây tôi cũng xin nhắc lại từng phần để quư vị thấy được chỗ thấu đáo Phật dạy. 1. Thân ḥa đồng trụ: Điều này vào thời đức Phật thực hiện rất dễ, nhưng thời chúng ta ngày nay hơi khó một chút. Bởi v́ sống chung một chùa, một Tinh xá th́ chư Tăng hoặc chư Ni cùng ăn, cùng ở, cùng làm, cùng tu như nhau không khó. Tất cả nếp sống, công tác, hạnh kiểm tu hành hằng ngày đều như nhau, gọi là thân ḥa đồng trụ. Trong trường hợp mỗi thầy, mỗi cô ở mỗi chùa th́ việc ḥa hơi khó. V́ vậy thân ḥa đồng trụ là chỉ cho một tập thể chung sống một chỗ, chứ không chỉ cho những người sống rời rạc. Cho nên các vị sống riêng tư phải chịu thiệt tḥi này. Chúng ta sống trong chùa hay thiền viện th́ thực hiện thân ḥa đồng trụ dễ. Bởi v́ không ở riêng, không có quyền lợi riêng nên làm cùng làm, ăn cùng ăn, mặc cùng mặc, mọi công tác hay giờ tu hành đều nhịp nhàng với nhau. Ḥa hợp như vậy th́ nếp sống đạo đức rất tốt. Đó là nói về thân ḥa đồng trụ. 2. Khẩu ḥa vô tránh: Tức miệng cùng ḥa hợp nhau, không gây gổ, không nói những lời dữ, lời nặng nề, không tranh hơn thua với nhau. Tăng Ni thấy điều này dễ hay khó? Nhất là phái nữ sống chung với nhau một chùa, có căi không? Có, nên điều này rất khó. Ở đây tôi nhắc chung cho cả các Phật tử tại gia. Chúng ta sống làm sao được khẩu ḥa vô tránh, tức là miệng nói những lời ḥa nhă, nhẹ nhàng, dễ mến, chớ không căi lẫy, rầy la lớn tiếng. Nhưng e rằng có vị làm Trụ tŕ hoặc Tri sự nói: “Sai làm mà không làm, không rầy sao được? Mới nghe thấy có lư nhưng trên tinh thần đạo đức th́ khác. Chúng ta lâu nay có quan niệm, những ǵ ḿnh nghĩ đều cho là đúng, ai nói khác hơn ḿnh không vui, mà không vui th́ có căi. Ví dụ có hai người, một người khen hoa hồng đẹp, một người chê xấu. Người khen hoa hồng đẹp bị người kia chê: “Nói bậy, nó xấu như vậy mà nói đẹp, đẹp ở chỗ nào?” Bấy giờ người khen hoa hồng đẹp chắc khó nín được. Khi ḿnh nói đẹp, người khác chê xấu th́ bực bội nên căi nhau. Cả hai đều không biết điều đó đúng hay không? Mỗi người có quyền nh́n, có quyền nhận định riêng. Ta thấy đẹp, đó là nhận định riêng của ḿnh. Người khác thấy xấu, đó là nhận định riêng của họ. Cho nên muốn khỏi căi nhau, chúng ta lắng nghe Phật dạy trong kinh A-hàm: Người biết tôn trọng chân lư là khi nói điều ǵ, chỉ nói “đây là cái nghĩ của tôi”. Ngang đó thôi, không thêm chữ “đúng”. Nếu nói tôi nghĩ đúng th́ sanh chuyện ngay. Mỗi người có quyền nhận định riêng, hoa hồng không căi đẹp xấu, mà ḿnh căi với nhau làm chi? Nó là nó thôi. Tại v́ ta cho nhận định của ḿnh là đúng, người khác nói ngược lại th́ nổi sân lên. Mà nhận định của ḿnh có đúng chân lư chưa? Dĩ nhiên là chưa. Tôi thường ví dụ, hôm trước tôi ngồi trên núi, thấy hướng Nam có cụm mây đen, gió thổi đùa qua, một lát mưa xuống ào ào. Hôm nay tôi thấy cụm mây đen như thế, nghĩ thế nào cũng mưa nên bảo quí thầy đem đồ vô. Nếu thầy nào không nghe lời tôi sẽ giận và rầy la. Đó là do tôi lấy kinh nghiệm hôm trước đặt cho hôm nay. Nhưng không ngờ một lát gió đổi hướng, mây tan, trời không mưa. Lúc đó sao? Ḿnh kêu người ta đem đồ vô, nhưng trời không mưa, ḿnh có xin lỗi không? Lỡ rồi làm thinh, không ai nhắc tới th́ thôi, thông qua luôn. Quư vị làm Trụ tŕ, Tri chúng hay vấp phải lỗi này lắm. Trên thế gian, mọi sự việc xảy ra đều tùy duyên. Hôm qua duyên khác hôm nay duyên khác. Vậy tất cả suy nghĩ của chúng ta có đúng không? Đúng một phần thôi, chứ chưa phải tuyệt đối. Nhưng khi suy nghĩ điều ǵ, ta thường cho đó là đúng tuyệt đối, ai làm khác th́ nổi giận liền. Do nổi giận nên gây ác khẩu, nói bậy, nói những lời vô nghĩa, khiến cho người ta đau buồn. Đó là phạm lỗi khẩu ḥa vô tránh. Tăng Ni phải nhớ, sống sao cho người đến chùa, Tinh xá không nghe một tiếng la hét nào hết. Như thế mới tốt, mới vui ḥa. Nếu vào chùa lát nghe cô này la, cô kia cự th́ có ḥa không? Người tu c̣n không ḥa, làm sao dạy Phật tử sống ḥa vui được. Cho nên Phật bắt buộc chúng ta phải lấy chữ “Ḥa” làm nền tảng tu và dạy người. Phải hiểu nhận định của ḿnh chỉ đúng phần nào thôi, chớ không bảo đảm trăm phần đều đúng. Nên khi tŕnh bài ư kiến của ḿnh với người khác, chỉ nên nói “cái hiểu của tôi như thế, anh chị có thể nghĩ khác” th́ không có lỗi, chớ đừng vội căi vă. Nhiều khi ta căi trước khi sự việc đến. Đó là điều không có tốt trong đạo. Cho nên Tăng Ni phải tự kiểm để biết những ǵ sai lầm của ḿnh, mà chỉnh lại cho đúng. 3. Ư ḥa đồng duyệt: Ư của chúng ta ḥa hợp, vui vẻ với nhau. Ḥa th́ vui. Muốn ḥa vui th́ phải làm sao? Phải đừng cho cái nghĩ của ḿnh là đúng. Ta thích điều đó mà người khác không làm, không giúp, c̣n ngăn cản th́ ḿnh có giận không? Chắc chắn là giận. Nhưng quí vị thử nghiệm lại xem, huynh đệ sống chung, tất cả ư niệm, suy gẫm đều giống hệt hay mỗi người mỗi ư? Hầu hết là mỗi người mỗi ư, không ai giống ai. Nếu giống hệt Phật không bắt chúng ta ḥa làm chi. Người nghĩ thế này, người nghĩ thế nọ, không giống nhau th́ sống chung có vui không? Sống gượng thôi chớ không vui. Người tu mà bực bội, không vừa ḷng măn ư th́ sống năm mười người, hai ba chục người hoặc cả trăm người th́ chắc lộn xộn lắm. Bởi vậy nên cái ḥa của ư hết sức quan trọng. Bây giờ muốn ư ḥa chúng ta phải làm sao? Phật dạy muốn ḥa thuận với nhau, trước hết không nên bám giữ, cố chấp ư riêng của ḿnh. Tại sao? V́ ư là cái suy nghĩ luôn luôn sanh diệt. Mà suy nghĩ th́ không bao giờ đúng 100%, mười phần trúng được năm ba phần thôi. Có sai nên biết ư ḿnh chưa toàn vẹn, chưa bảo đảm, làm sao cố chấp được. Nếu trên thế gian, suy nghĩ cái ǵ đúng cái ấy th́ người ta có nghèo khổ không? Chắc không ai nghèo khổ hết. Bởi v́ suy nghĩ đâu đúng đó, th́ thiên hạ đều làm giàu hết rồi. Trong đạo cũng vậy, nếu ta nghĩ ǵ đều đạt hết th́ ngày nay chùa nào cũng to, Phật cũng lớn, mọi người đều quy hướng về ḿnh, nhưng sự thật không phải vậy. Ư nghĩ không hoàn toàn mà ta cố chấp, bảo vệ, đó là sai lầm. Từ sai lầm này sanh ra tranh căi, bực bội với nhau, đi đến chỗ không c̣n t́nh, không c̣n nghĩa ǵ cả. Nên biết Phật dạy người tu sống giữ ư ḥa đồng duyệt để cuộc sống ḥa vui, chớ không buồn giận, oán hờn nhau. Thực tế ở trong chùa hay thiền viện, tất cả Tăng Ni đều hoàn toàn hài ḷng, vui vẻ hết hay ráng nhịn nhau? Ráng nhịn nhau mới yên, chớ không ai bằng ḷng ai. Đó là chuyện thường. Trong việc tu hành, chúng ta phải xét thật kỹ, tu là để giải thoát sanh tử, cứu độ chúng sanh. Nếu trong chúng năm mười người, mỗi người nghĩ khác, ai cũng cố chấp ư nghĩ của ḿnh là đúng th́ cuộc sống có ḥa vui không? Năm mười người đă không ḥa được, nói ǵ độ chúng sanh! Chẳng lẽ độ cho nhiều để căi cho lắm sao? Cho nên quí vị thu đệ tử, phải khéo ḥa hợp chúng, không để có những ư niệm riêng tư. Sống được ḥa vui như vậy, ai đến chùa cũng thấy niềm vui toát ra cả, không có ǵ khó chịu hết. Ngược lại nếu nội bộ trong chùa không ḥa vui, ư Tăng Ni không hợp, Phật tử bắt gặp những bất b́nh của ḿnh, khiến họ kinh sợ, không dám đến chùa nữa. Thế nên quan trọng là chúng ta phải ḥa vui với nhau. Điều này không thể thiếu được ở một người tu. 4. Kiến ḥa đồng giải: Tức những thấy biết của ḿnh, chúng ta cùng đem ra giải thích để huynh đệ cùng hiểu, cùng thông cảm với nhau. 5. Giới ḥa đồng tu: Chúng ta cùng giữ giới với nhau, không dám sai phạm để cùng an vui tu tập. 6. Lợi ḥa đồng huân: Ở trong chùa hay Tinh xá, nếu có ai cúng dường th́ Tăng Ni cùng chia đồng đều nhau, không được người nhiều, kẻ ít. Nhưng bệnh của Phật tử bây giờ thấy thầy, cô nào dễ thương th́ cúng nhiều, thầy cô nào quí vị không thích th́ cúng ít hoặc không cúng. Người được nhiều cũng không dám chia cho người ít, sợ bổn đạo biết được buồn. Do đó sau một thời gian trong chùa có người giàu, kẻ nghèo. Người nghèo không có xu con, người giàu dư dă xài không hết. Như vậy đâu thể gọi là lợi ḥa đồng huân. Bởi thế, muốn thực hiện điều này tôi bắt buộc Tăng Ni trong các thiền viện không được nhận tiền riêng. Ai cúng th́ cúng chung cho tập thể, Ban quản chúng nhận rồi dùng cho những nhu cầu chung, chia đều toàn chúng, không được thương người này chia nhiều, ghét người kia chia ít. Tóm lại, trong sáu điều “ḥa” của nhà Phật, chúng ta xét thật kỹ để ứng dụng tu hành. Nếu chư Tăng, chư Ni sống chung trong một chùa hoặc Tinh xá ḥa hợp như vậy, th́ Phật pháp truyền bá rất dễ dàng. Ta khỏi cần thuyết pháp cho Phật tử nghe, chỉ cần nh́n thấy nếp sống của ḿnh, trên dưới ḥa thuận vui vẻ th́ họ liền quư mến. Quí vị thuyết pháp hay, người ta mới nghe th́ phục, nhưng tới chùa ḿnh thấy lục đục, kẻ phiền người giận tất nhiên Phật tử sẽ thối Bồ-đề tâm. Thế nên trọng tâm của người tu, dù không giỏi nhưng khéo sống đúng với tinh thần lục ḥa của đạo Phật th́ việc tu tập sẽ được tiến triển đều, đồng thời giúp cho tín tâm Phật tử ngày càng sâu đối với Tam bảo, nhất là Tăng bảo. Tăng Ni trong mùa an cư kiết hạ, quư vị cố gắng tập sống theo tinh thần lục ḥa. Dù chưa trọn vẹn nhưng chúng ta cố tập, từ từ cũng sẽ được hoàn bị. Có thế việc tu mới lợi lạc. Nếu chúng ta không tập sống lục ḥa th́ sự tu chỉ có h́nh thức thôi, niềm an vui lợi lạc không được bao nhiêu. Đó là tôi nói riêng về Tăng Ni. Tiếp theo, tôi nói qua giới Phật tử. Quí vị ai cũng muốn có cuộc sống vui ḥa nhưng thật ra rất khó. Như năm 1996 tôi có qua Mỹ, một số Phật tử ở Cali ham tu thiền, họ xin lập đạo tràng khoảng ba, bốn chục vị. Tôi nhớ chư Tăng th́ giữ lục ḥa, nên Phật tử giữ tam ḥa được rồi. Nếu Phật tử ở tại gia đ́nh mà giữ được tam ḥa là đă tiến bộ lắm. Tam ḥa là ǵ? Là thân ḥa, khẩu ḥa, ư ḥa. Thân ḥa th́ dễ rồi c̣n khẩu ḥa, ư ḥa dễ hay khó? Phần nhiều Phật tử tại gia ít được khẩu ḥa. Tại sao? V́ quí vị luôn luôn nghĩ ḿnh đúng, nên nói ǵ người khác không nghe theo th́ giận. Trong bụng giận rồi th́ thốt ra lời nói khó chịu, nặng nề. Người nghe lời nói nặng cũng không chịu nhịn, sợ thua nên sanh ra đôi chối, căi vă, thành ra không ḥa. Ví như chúng ta ra đường, bị ai đó có ác ư chửi “Cha chị”. Lúc đó ḿnh giận không? Nổi giận liền. Nhưng nếu khi người ta nói “Cha chị”, ḿnh liền thưa: “Cám ơn anh, cám ơn chị đă nhắc tới cha tôi”. Vậy thôi. Ḿnh quên người ta nhắc lại cho nhớ, nổi giận làm ǵ? Hoặc giả sử ta làm trái ư ai, họ mắng ḿnh là con ḅ. Khi ấy ta nên nói thế này “Dạ phải, tôi có uống sữa ḅ”. Uống sữa ḅ th́ tế bào ḅ có trong ḿnh, căi làm chi, có xấu hổ ǵ đâu. Nhưng nghe nói con ḅ th́ quí vị giận đùng đùng lên, rồi hung dữ với nhau. Nếu xét theo lẽ thật, đâu có ǵ đáng kể. Hiểu vậy Phật tử cười hoài không giận ǵ hết. Khi trí tuệ không sáng, người ta bực bội nói lời vô nghĩa, ḿnh chấp lời vô nghĩa kia để giận thêm th́ cả hai đều vô nghĩa hết. Thế nên người biết tu phải tập đức nhu ḥa. Chúng ta thấy đâu phải những vị có đức hạnh không ai dám chửi, người lớn cũng bị chửi như thường. Kể cả đức Phật cũng thế, nhưng khi bị chửi Ngài xử sự khác chúng ta. Có lần Phật đi khất thực vào xóm của Bà-la-môn. Các đệ tử Bà-la-môn thấy Phật khất thực, họ đem cơm cúng dường. Ngài đến dưới cội cây ngồi ăn, sau đó thuyết pháp cho họ nghe. Kết quả họ xin quy y theo Phật hết. Qua đôi ba lần, xóm đó từ từ chuyển thành Phật tử hết. Các thầy Bà-la-môn tức quá, chờ đức Phật vào làng khất thực, họ theo sau kêu tên Phật chửi rất thậm tệ. Chửi th́ chửi Phật cũng cứ đi từ từ, không trả lời chi hết. Chịu hết nổi, vị thầy Bà-la-môn kia chặn đầu Ngài hỏi: - Cồ-đàm, có nghe tôi chửi không? Phật nói: - Nghe. - Nghe sao không trả lời? Phật đáp: - Như nhà ông có đám giỗ mời thân quyến tới dự. Khi cúng kính xong, quà c̣n nhiều nên ông phân chia để tặng họ. Những thân quyến không nhận, vậy những món quà đó thuộc về ai? - Tôi tặng mà người ta không nhận th́ nó thuộc về tôi, chớ về ai? Phật nói: - Cũng vậy, ông chửi mà ta không nhận th́ những lời ấy thuộc về ai? Bây giờ quư Phật tử nghe người ta chửi có nhận không? Nhận, nên tức tối phiền năo hoài. C̣n Phật không nhận nên Ngài chẳng dính dáng ǵ. Người chửi tự nhớ, tự chịu, tự khổ. Ngày nay chúng ta quư trọng đức Phật ở chỗ Ngài cũng bị người ta chửi, nhưng b́nh thản không dao động, chớ đâu phải Ngài không bị chửi. Chẳng những đức Thế Tôn không giận, không buồn mà c̣n thương người chửi nữa, v́ biết họ nói bậy. Phật tử đừng nói chửi, vừa thấy ai nói lén nhỏ nhỏ sau lưng đă lắng nghe rồi. Lắng nghe để nhận. Đức Phật bị kêu tên chửi c̣n không màng, nên bây giờ chúng ta mới lạy Ngài. Nếu Thế Tôn cũng như ḿnh th́ ngày nay làm ǵ có đạo Phật. Chính v́ Phật không nhận nên Ngài không buồn không giận. V́ vậy Ngài trả lời một cách tự nhiên “Ông chửi ta không nhận th́ lời đó thuộc về ông.” Ngoại đạo nghe thế tự xấu hổ bỏ đi. Chính nhờ tâm sáng suốt, từ bi ấy mà bây giờ chúng ta mới lạy Ngài. Rồi một lần nữa, Phật đi khất thực cũng một thầy Bà-la-môn kêu tên Ngài chửi, Phật vẫn ung dung đi. Cuối cùng Bà-la-môn kia chạy lên chặn đường Phật: - Cồ-đàm, ông thua tôi chưa? Phật liền nói bài kệ: Người hơn th́ thêm oán, Kẻ thua ngủ không yên. Hơn, thua hai đều xả, Ấy được yên ổn ngủ. Người nào không nghĩ hơn thua mới ngủ yên. Nếu thấy ḿnh thua th́ oán hờn người hơn, tức quá ngủ không yên. C̣n hơn người th́ bị người oán. V́ vậy đức Phật dạy: “Hơn thua hai đều xả, Ấy được yên ổn ngủ”. Sở dĩ chúng ta cung kính quư trọng đức Phật, v́ đứng trước ngang trái Ngài luôn nhẫn nhịn được. Ngày nay chúng ta tu muốn người quư trọng ḿnh, mà động tới sân si đủ thứ th́ ai kính phục được? Nên người thật tu không giành hơn, không cho thắng người là thành công. Hơn thắng như thế là mê. Chúng ta tỉnh sáng phải giữ thái độ an b́nh, ḥa nhă, không giận hờn. Tôi thường ví dụ, như chúng ta vào bệnh viện tâm thần thăm người thân trong đó. Khi vào ḿnh không chọc ghẹo ai hết, nhưng họ xúm quanh chửi ḿnh, lúc đó chúng ta nghĩ sao? Nên giận hay nên thương? Người bệnh tâm thần không biết phải quấy nên chửi ḿnh, ta biết họ bệnh nên thương, chớ không giận. Cũng thế, chúng ta sống với mọi người chung quanh, có khi ḿnh không làm việc xấu quấy mà họ cứ đổ cho ta xấu quấy, như vậy người đó tỉnh sáng hay bệnh? Việc không mà nói có, đó là bệnh. Họ cũng giống người bệnh tâm thần, nên ta thương chớ đâu có giận. Nếu gặp người bệnh tâm thần chửi, ta chửi lại, kẻ bàng quan sẽ nói sao? Ông kia điên gặp chị nọ khùng, phải không? Nếu không điên th́ khi họ chửi, ḿnh đừng chửi lại, đừng giận mà thương hơn. Người biết tu, gặp kẻ mê ta phải tỉnh, người kia điên chúng ta phải sáng suốt, chớ không ai ăn thua với người điên. Đó là điều quan trọng mà thế gian không biết. Nhiều khi nghe một lời nói hết sức vô nghĩa mà ta lại nổi nóng, căi nhau thành việc lớn. Từ đó làm khổ nhau, từ cái khổ này kéo đến cái khổ nọ. Trong đạo cũng vậy, nhiều chuyện rất nhỏ mà do không khéo ḥa với nhau nên thành lớn. Nhiều người v́ căi thua, tức quá muốn tự tử, thật hết sức dại khờ. Vừa rồi có một Phật tử nữ đến thưa với tôi: “Thầy làm ơn về cầu siêu giùm người bạn của con”. Tôi hỏi: “Bạn của con làm sao, phải cầu siêu?” Cô ta thưa: “Anh ấy tinh thần không được sáng, tự tử bằng cách thắt cổ chết trong vườn nhà. Sau khi anh chết hai ba hôm, con nằm mộng thấy anh về đứng ngoài sân kêu hoài: “Lạnh quá, làm sao cho anh bớt lạnh”. Con đem mền ra bảo đắp, anh nói “không được”. Trải qua mấy hôm như vậy”. Chúng ta thấy kẻ mê chết liều lĩnh như thế phải sanh vào loài ngạ quỷ, lang thang khổ sở, chớ đâu phải chết là hết. Chết không phải là hết, càng chết oan chừng nào vong linh càng lang thang khổ sở chừng đó. Nên người biết tu, dù có xảy ra chuyện buồn phiền mấy cũng bỏ qua, phải sáng suốt tu hành. Đó là cứu ḿnh, c̣n liều chết bậy bạ chẳng những không cứu ḿnh mà c̣n tự hại ḿnh nữa. Chúng ta nên nhớ tự tử chết là mối nguy hiểm nhất, v́ như thế chẳng những không giải thoát mà c̣n làm ḿnh luân hồi triền miên, khổ sở vô cùng. Khổ cho bản thân ḿnh và khổ lây cho nhiều người khác nữa. Chúng ta tu không chỉ tụng kinh, niệm Phật, tọa thiền là đủ, mà phải sống đúng với tâm của người hiểu đạo. Mọi việc hơn thua, phải quấy của các huynh đệ đều là chuyện nhỏ, không có ǵ quan trọng hết. Việc lớn của chúng ta là làm sao thoát ly sanh tử, đó mới là cao siêu, là mục đích chúng ta nhắm đến. Muốn thoát ly sanh tử trước hết sống với huynh đệ, chúng ta phải ḥa nhă, thuận thảo, vui tươi. Nhờ sự ḥa vui đó ḷng ta yên ổn, việc tu hành được nhẹ nhàng. Nếu tới giờ niệm Phật, ngồi thiền mà cứ nhớ việc căi vă hồi chiều, nhớ câu người ta chửi ḿnh hoài, th́ niệm Phật ngồi thiền có yên không? Dĩ nhiên là không. Nhớ lời qua tiếng lại hoài, rốt cuộc ḿnh chịu thiệt tḥi. Nên người biết tu phải sống đúng tinh thần lục ḥa. Dù chưa giải thoát nhưng giữ được lục ḥa th́ trên đường tu chúng ta sẽ an ổn. Niệm Phật được nhất tâm, tọa thiền dễ định. Đó là thành công rồi. Nếu không như vậy, chúng ta sẽ bị nhiều khổ lụy, tu mà không giải thoát, ngược lại c̣n trầm luân! V́ vậy tôi thấy vấn đề lục ḥa rất thiết yếu, rất quan trọng đối với cuộc sống tu hành của chúng ta. Hôm nay đủ duyên gặp quư thầy quư cô tiếp đón và xin nghe pháp, chúng tôi đem hết tâm tư của ḿnh, khuyến nhủ Tăng Ni sống đúng theo tinh thần Lục ḥa của Phật dạy, để đời tu của chúng ta xứng đáng. Quí vị nên nhớ chùa to, Phật lớn, đệ tử bao nhiêu cũng là tṛ chơi thôi, quan trọng là tâm ḿnh an ổn thanh tịnh, không c̣n vướng bận những trói buộc của thế tục nữa. Đó là nhân giải thoát. Chúng ta đă gieo nhân giải thoát, phải ráng nuôi trồng nó cho tới ngày đạt được quả giải thoát, đừng nản chí bỏ nửa chừng. Đó là lời tha thiết của chúng tôi, mong tất cả Tăng Ni cố gắng thực hiện tu hành cho tới ngày viên măn. ] ÔNG PHẬT HAY ÔNG BỤT Trường Trung cấp Phật Học B́nh Thuận - 2002 Hôm nay chúng tôi đủ duyên về đây dự lễ Khánh thành Trường Trung cấp Phật Học tỉnh B́nh Thuận, đồng thời được ban tổ chức mời giảng một thời. V́ ḷng tha thiết của Tăng Ni, Phật tử nên tôi cố gắng nói một thời pháp nhỏ để quí vị nhớ tu hành. Đề tài tôi nói hơi lạ một chút Ông Bụt và ông Phật là một hay hai. Tất cả chúng ta ai có đọc lại những áng văn cổ của Việt Nam, từ thế kỷ thứ 13 trở về trước sẽ thấy nói đến ông Bụt chớ không gọi ông Phật như ngày nay. Vậy ông Bụt và ông Phật là một hay hai. Nếu một th́ ngày xưa đúng hay bây giờ đúng? Đây là một vấn đề nhỏ nhưng cũng rất quan trọng, có liên quan đến sự tu hành của chúng ta. Lịch sử Việt Nam ngày xưa có những chuyện như Tấm Cám… trong đó h́nh ảnh Bụt hiện ra rất đẹp, cứu độ người hiền lành, nghèo khó. Chớ không nói Phật độ. Nhưng bây giờ chúng ta lại lễ Phật, cầu Phật cứu độ, mà không nói Bụt. Chắc rằng quí vị đồng ư ông Bụt và ông Phật là một, chớ không phải hai, nhưng tại sao trên từ ngữ lại khác nhau? Nhiều người cứ nghĩ rằng Phật giáo Việt Nam là từ Trung Quốc truyền sang, nhưng thật sự không phải như vậy. Nếu nói khởi đầu là khoảng thế kỷ thứ hai thứ ba, Phật giáo nước ta đă sung thịnh rồi, do các Sư từ ấn Độ truyền sang. Từ thế kỷ thứ hai thứ ba, đến thế kỷ thứ mười ba chúng ta đă được nghe hiệu Bụt. Bởi v́ thời xưa vùng Luy Lâu cách Hà Nội chừng ba mươi cây số, nơi đó việc buôn bán rất phồn thịnh. Thương nhân trong cũng như ngoài nước tụ hội về đây buôn bán rất đông. Cho nên có những vị sư theo thuyền buôn từ Ấn Độ sang Việt Nam truyền giáo luôn. Chữ Bụt phát xuất từ tiếng Phạn Buddha. Chữ “Bud” dịch là giác ngộ, chữ “dha” dịch là người, chúng ta kính trọng nên gọi là ông. Như vậy Buddha là người giác ngộ. Nhưng tại sao dân ta lại gọi là ông Bụt mà không gọi ông giác ngộ? Bởi nhiều lư do. Chữ giác ngộ trong nhà Phật là giác ngộ viên măn hay cùng tột, so với giác ngộ ở thế gian có cạn, sâu khác nhau. Ví dụ như có kẻ ăn trộm được người thân chỉ dạy nhắc nhở, kẻ ấy thức tỉnh bỏ nghề ăn trộm, xóm làng sẽ nói người kia giác ngộ rồi. Chữ giác ngộ này với chữ giác ngộ của Phật cách nhau rất xa. V́ vậy chư Tổ thuở xưa không muốn giải nghĩa mà dùng nguyên chữ Bụt, để chúng ta biết rằng từ này phải giải nghĩa kỹ mới đầy đủ, chớ không thể nói đơn sơ giác ngộ là đủ nghĩa của Phật. V́ vậy người xưa dùng danh từ Bụt. Chữ Buddha là nói chính xác, dân ta gọi trại thành ra “Bụt”. Sau đời Trần đến khoảng giữa đời Lê, quân Minh sang chiếm nước ta. Tất cả kinh sách Phật giáo Việt Nam bị chúng thu gom đem về Kim Lăng, một phần thiêu đốt, phần c̣n lại sung vào thư khố người Hoa. Vua Trung Quốc nhà Minh bấy giờ xuất thân là một chú Sa di đi tu, sau khởi nghĩa cách mạng đánh giặc thành công được làm vua, tức vua Chu Nguyên Chương. Là Phật tử rồi xuất gia, sau làm vua nhưng tại sao qua Việt Nam ông lại đốt hết sách vở Phật hoặc tóm thu về Trung Hoa? Lư do cũng dễ hiểu thôi, bởi v́ người Trung Hoa thấy Phật giáo Việt Nam có mầm mống, có chỗ đứng vững vàng, làm nền tảng cho văn hóa dân tộc Việt Nam, nên ông tóm thu về Tàu hết. Sau khi tóm thu xong, ông tặng lại cho chúng ta tạng kinh đời nhà Minh. Chữ Buddha nhà Minh dịch âm là Phật đà, gọi tắt là Phật. Như vậy thói quen người xưa kêu Bụt, bây giờ chúng ta gọi là Phật, cả hai từ này đều chỉ cho một vị đă được giác ngộ viên măn, từ Ấn Độ truyền bá Phật pháp măi cho tới xứ Việt Nam chúng ta. Chữ Phật chúng ta dịch theo chữ Buddha là người giác ngộ, Trung Hoa dịch là giác giả cũng chỉ người giác ngộ. Như vậy nói cho rơ nghĩa Phật là người giác ngộ viên măn, chớ không phải giác ngộ từng phần hay chút ít, phải giác ngộ viên măn mới gọi là Phật. V́ vậy muốn nói đủ trong kinh thường nói Phật là bậc tự giác, giác tha, giác hạnh viên măn. Nghĩa là tự ḿnh giác ngộ rồi, chỉ dạy lại cho người khác được giác ngộ như ḿnh. Giác ngộ tṛn đầy như vậy gọi là Phật. Thế th́ hiện giờ chúng ta học Phật là học cái ǵ? Học đạo giác ngộ. Nhưng chúng ta có giác ngộ được chưa? Nói giác ngộ quí vị lại nghi, sợ giác ngộ viên măn như Phật th́ chưa được, nhưng nếu giác ngộ từng phần chúng ta có làm được. Bởi v́ từ Bồ-tát nguyên chữ Phạn là Bodhisattva, tức giác từng phần. Bồ-tát là người giác ngộ từng phần, chưa được viên măn. Nên chư Tăng Ni và Phật tử đều dám thọ giới Bồ-tát, tức nguyện thực hành giác ngộ từng phần. Tất cả chúng ta tu Phật là tu theo phương pháp đưa tới giác ngộ, đi từ giác ngộ từng phần dần dần tới giác ngộ cao hơn. V́ vậy Bồ-tát có chia ra Thập tín, Thập hạnh, Thập trụ, Thập hồi hướng, Thập địa, rồi tới Đẳng giác, Diệu giác, chừng đó mới gọi là Phật. Tu giác ngộ từng phần rồi tiến từ từ tới giác ngộ viên măn. Nếu đời này chưa viên măn, đời sau chúng ta tiếp tục, tu đến khi nào giác ngộ viên măn thành Phật mới thôi. Đó là sở nguyện trên con đường giác ngộ giải thoát của chúng ta. Bây giờ nói về giác ngộ và mê lầm. Phật ra đời là cứu khổ chúng sanh, trong tất cả nỗi khổ, không có khổ nào bằng cái khổ mê lầm. Thế nên trong kinh Phật có đoạn Phật dạy: Đoạ xuống địa ngục bị hành h́nh thiêu đốt chưa phải là khổ, làm ngạ quỷ đói khát lang thang chưa phải là khổ, làm thân trâu ngựa kéo xe kéo cày cực khổ cũng chưa phải là khổ; chỉ si mê không biết lối đi mới là khổ. Như vậy Phật xác nhận si mê là khổ trên tất cả các thứ khổ. Từ si mê chúng ta phải trầm luân muôn kiếp, đoạ lạc không biết bao nhiêu lần, sinh đi, tử lại, khi làm người, khi làm vật, khi ở địa ngục, ngạ quỷ… măi măi không ra khỏi. V́ vậy chư Phật ra đời cứu khổ chúng sanh là chỉ cho mọi người con đường giác ngộ, có giác ngộ mới thoát ly sanh tử, được giải thoát. Cho nên chúng ta tu Phật, mục đích không ǵ hơn là từng bước, từng bước đi trên con đường giác ngộ. Bây giờ có người khi cha mẹ mất, đến ngày làm tuần, liền dán cho cái nhà lầu, tôi tớ, đốt xuống dưới để ba má có chỗ ở, có người hầu hạ sung sướng hoặc sợ ba má nghèo thiếu, nên mua giấy tiền vàng bạc đốt cho thật nhiều, để cho ba má xài. Đó là tư cách của người mê lầm, v́ làm việc không có ư nghĩa ǵ hết. Nếu cha mẹ làm tội mới đoạ xuống địa ngục, khi đă có tội làm sao dùng nhà lầu xe hơi được. Như một ông lớn quyền thế trên thế gian, có con phạm tội nặng bị nhốt trong tù. Ông đem xe hơi vô cho con đi chơi được không? Đem vô cũng đâu đi được v́ bị nhốt. Cũng vậy, nếu cha mẹ xuống địa ngục là đă làm tội, vậy mà đem xe hơi nhà lầu xuống để dùng th́ chuyện vô lư quá. Vô lư mà vẫn làm có phải là si mê không? Rơ ràng đang si mê. Học đạo giác ngộ mà làm việc si mê, như vậy đúng là con Phật chưa? Bồ-tát giác ngộ từng phần, c̣n Phật tử th́ giác ngộ nhỏ xíu thôi, cho nên không dám nói từng phần mà chỉ nói giác ngộ chút chút, giác ngộ cỏn con, nhưng cũng là những người đang đi trên con đường giác ngộ. V́ vậy chúng ta phải nh́n xem việc làm của ḿnh có đúng như Phật dạy không. Phật dạy tu phải biết lư nhân quả. Chúng ta gieo nhân lành gặp quả lành, tạo nhân ác phải chịu quả ác. Nhân lành và quả lành theo nhau chớ không tách rời, nhân ác và quả ác cũng thế. Như hiện giờ Phật tử có những tai họa phải chịu khổ đau, th́ biết tại v́ ḿnh đă tạo nhân ác từ trước bây giờ quả ác đến, chúng ta khổ đau. Tự biết đó là nhân không tốt của ḿnh đă tạo, th́ bây giờ phải làm sao cho hết nhân ác ấy, phải tu thế nào để không c̣n tái phạm nhân đó nữa, như vậy mới hết khổ. Phật tử bây giờ đi chùa, khi gặp hoạn nạn đến cúng một ít cho Tam bảo rồi xin Phật cho gia đ́nh con được b́nh an hết hoạn nạn, cho con cái con được thi đậu… Phật đâu có cho được, v́ Ngài thường dạy “Ta không có quyền ban phước giáng họa cho ai hết”. Thế mà quí Phật tử đi chùa cứ xin Phật hoài. Như vậy là mê hay giác? Xét bao nhiêu đó cũng đủ thấy Phật tử có xứng đáng là con Phật chưa? Chúng ta phần nhiều đi trong mê lầm, chớ không đi trên đường giác ngộ. Người Phật tử phải hiểu đúng lư nhân quả của Phật dạy, ḿnh làm th́ ḿnh chịu chớ không bắt Phật chịu. Phật tử c̣n cầu xin Phật việc này việc nọ là chưa có can đảm, chưa thực hành theo lời Phật dạy. Muốn hết khổ phải làm điều lành, cứu giúp mọi người cho quả khổ giảm nhẹ, chớ c̣n xin Phật cho sao được. Nếu Phật cho được th́ Ngài đă không nói nhân quả. Đă nói nhân quả th́ biết Phật không cho được. Đây là một luật công bằng, không thể v́ chúng ta là người thân của Phật rồi Ngài giảm cho nhẹ tội. Trong kinh, Phật nói rằng: Người không phải đạo Phật làm mười điều ác, chịu khổ đúng như nhân ḿnh đă tạo; người theo đạo Phật làm mười điều ác, cũng chịu khổ đúng như người kia không khác. Luật nhân quả luôn luôn công bằng như vậy. Nói thế Phật tử sẽ hoang mang, ḿnh tu theo Phật mà Ngài không che chở ǵ hết? Có chứ, nhưng cách che chở của Phật rất đặc biệt. Tôi kể lại một câu chuyện xưa thế này. Khi đức Phật c̣n tại thế, bà Tỳ-kheo Ni Liên Hoa Sắc tu chứng quả A-la-hán rồi. Trên đường đi, bà gặp mấy đứa trẻ mười tám, hai mươi tuổi bà rủ đi tu, thọ giới Tỳ-kheo Ni. Mấy cô thưa: “Chúng con c̣n ham ăn, ham ngủ quá, đi tu lỡ phạm giới đọa xuống địa ngục làm sao?” Bà nói: “Không sao đâu, nếu lỡ phạm giới đọa địa ngục rồi trả hết tội, lên tu nữa”. Lời này có phải đùa không? Đó là một sự thật. Bởi v́ nếu người không tu, phạm tội đọa địa ngục dĩ nhiên phải xuống địa ngục. Bây giờ chúng ta có tu, có thọ giới, phạm tội đọa địa ngục, cũng xuống địa ngục nhưng khác hơn người. Kẻ kia xuống địa ngục, khi hết tội trở lên họ không biết đường tu, c̣n chúng ta khi hết tội, trở lên do c̣n chủng tử thọ giới tu tập lúc trước, nên bây giờ sớm thức tỉnh, hơn được hạt giống lành đó. Như ở thế gian nhiều người sinh ra được giàu sang, quyền quí nhưng lại hung hăng ác độc, như vậy là sao? Không có ǵ khó hết. Người có phước mới sanh ra trong nhà sang trọng quyền quí, bởi đời trước họ làm được điều lành, dù không theo tôn giáo nào nhưng thấy ai khổ họ cứu giúp. Do có tâm tốt ấy nên đời sau họ được hưởng giàu sang phú quí. Tuy nhiên chủng tử đạo đức không có, nên ai xúi giục điều xấu họ cũng có thể hưởng ứng theo. Nếu người vừa làm phước lại c̣n qui y Tam bảo, thọ tŕ ngũ giới th́ đời sau sanh ra vừa giàu sang, sung sướng vừa có chủng tử lành, do giới đức đời trước c̣n, nên họ không rơi vào chỗ dữ ác, tánh t́nh hiền ḥa nhu thuận. Tóm lại ở thế gian, có người sang quí mà rất hiền lành, có người sang quí nhưng lại hung dữ, đó là do chủng tử đời trước nên đời này hưởng tiếp tục. Người không gieo chủng tử sẵn, chỉ gặp duyên th́ làm phước, th́ ngày nay hưởng phước nhưng gặp duyên xấu xúi giục họ cũng làm xấu. Lư nhân quả rơ ràng như vậy. Chúng ta là Phật tử biết tu theo đạo Phật, là người giác ngộ. Dù giác ngộ ít cũng là giác ngộ, những ǵ trái với giác ngộ chúng ta không nên làm. Thế mà hiện giờ Phật tử c̣n cúng sao, cúng hạn không? C̣n. Cúng sao cúng hạn là cúng cho ai, được cái ǵ, quí vị biết không? Nếu không biết mà làm, đó là giác hay mê? Mê. Sao hạn ḿnh ở chỗ nào, quí vị chưa biết rơ nữa, mà cúng là cúng cái ǵ? Thật ra sao hạn là theo sách Tàu. Ngày xưa mấy ông đồ nho giỏi đọc sách Tàu, họ bắt chước coi sao hạn theo người Trung Hoa. Từ khi nước ḿnh bị Pháp thuộc về sau, không dạy chữ nho nữa nên các ông đồ lần lần mất hết. Bây giờ muốn coi sao hạn, chỉ c̣n nhờ quí thầy ở chùa biết kinh chữ Hán, thế là dân chúng đem những cuốn sách nho đến nhờ quí thầy coi giùm. Ban đầu quí thầy từ bi coi giùm. Về sau dân chúng thấy quí thầy coi giùm nhiều người quá, không làm được việc ǵ, trong chùa hết gạo, chẳng lẽ họ làm ngơ. Thế là thương thầy bỏ công coi giùm nên họ cúng lại vài trăm, mỗi người một chút, lâu ngày chày tháng thành lệ. Từ đó thầy thấy coi bộ được, thôi để thầy coi cho. Rốt cuộc trong chùa sanh chuyện coi ngày, coi tháng, cúng sao, cúng hạn hồi nào không hay. Đó là nguyên nhân cúng sao cúng hạn, thật ra trong sách Phật không có chuyện đó, Phật c̣n rầy nữa. Trong kinh Di Giáo Phật dạy các thầy Tỳ-kheo không được xin xâm bói quẻ, không được coi tướng coi sao… vậy mà bây giờ một số thầy cho đó là việc làm chính của nhà chùa th́ thật là sai lầm lớn. Chẳng qua v́ chiều ḷng Phật tử, lại thấy có lợi th́ làm, chớ không phải chủ trương của Phật dạy. Phật tử phải hiểu thật rơ điểm này để không bị lầm lẫn giữa cái mê và cái giác. Phật tử khi đă hiểu rồi, thấy việc làm đó vô lư, thử đặt lại câu hỏi “Ngôi sao của ḿnh là ngôi sao nào?” Nếu chúng ta được đi phi thuyền lên cung trăng, chắc sẽ giật ḿnh v́ không thấy ngôi sao nào độ mạng cho ḿnh hết. Bây giờ ngồi đó mà cúng lạy th́ thật vô lư quá, không giác ngộ chút nào hết. V́ vậy chúng ta phải sáng suốt, nhận định cho thật kỹ thế nào là lời Phật dạy, thế nào không phải lời Phật dạy. Lời Phật dạy chúng ta mới làm, không phải lời Phật dạy th́ không làm. Đó là người đang đi trên đường giác. Không phải Phật dạy mà làm là đang đi trên đường mê, đă lạc vào đường mê th́ c̣n là Phật tử nữa không? Mất tư cách Phật tử rồi, v́ Phật tử là con bậc của giác ngộ, th́ không thể làm điều mê được. Phật tử khéo tu, khéo hiểu, ứng dụng trong cuộc sống hiện tại, vừa hợp với lẽ thật vừa làm lợi ích cho ḿnh và mọi người. Chúng ta luôn biết tạo nhân lành sẽ được hưởng quả lành. Đối với mọi người ta không nỡ làm cho ai đau khổ, v́ làm cho người đau khổ tức là gây đau khổ cho ḿnh. Với người thiếu thốn khổ đau, ta giúp đỡ cho họ bớt thiếu thốn, bớt khổ đau. Đó là ta tạo nhân lành. Người bớt khổ được vui là ta đă tạo niềm vui cho người, cũng chính là gây nhân vui cho ḿnh. Đó là tu. Tu bằng cách luôn nhớ giúp mọi người bớt khổ, được vui. Tu bằng cách đem lại lợi lạc hữu ích cho mọi người, chớ không phải tu là làm những việc vô nghĩa vô lư. Có người đặt câu hỏi thế này, giả sử ta chưa từng chọc ghẹo ai hết, mà vừa gặp ta họ chửi bới đủ thứ. Như vậy là sao, có nhân quả không? Đây là câu hỏi nhiều Phật tử thấy khó xử, nhưng thật ra cũng không khó. Người chúng ta chưa từng chọc ghẹo, chưa làm ǵ cho họ phải bực bội, mà bây giờ bất thần gặp ḿnh họ chửi. Đứng trên mặt nhân quả mà nói, có oan cho ḿnh không? Thật ra không oan chút nào cả. Bây giờ tôi đặt câu hỏi lại, như b́nh thường Phật tử chưa từng biết người đó, chưa có quan hệ ǵ với người đó, vậy th́ có bao giờ họ dám đứng trước mặt ḿnh, họ chửi không? Không. Bởi v́ họ chưa biết ḿnh nữa, có đâu mà buồn phiền. Nhưng khi đối diện với ḿnh mà người kia chửi được, chứng tỏ họ đă từng buồn phiền ta nhiều rồi, phải không? Đó là v́ ta đă làm khổ họ mà ḿnh quên. Cho nên, đứng về nhân quả mà nói, khi thấy tai họa bất thường đến với ḿnh, chớ vội oán hờn. Mà phải xét lại từ trước đến giờ, ḿnh có làm ǵ cho người đó buồn không? Khi xét lại không thấy có lỗi ǵ, th́ nhẹ nhàng thưa anh thưa chị, không biết hồi trước đến giờ tôi có làm phiền ḷng anh chị không? Nếu người đó nói có, cứ để họ kể ra. Nếu họ kể lầm th́ ḿnh nói “Thưa anh thưa chị, đó là do anh chị hiểu lầm, chớ tôi không phải như thế”. Vậy tốt biết chừng nào! Đằng này vừa nghe người ta chửi, vội vàng chửi lại không thua lời nào. Đó không phải là tư cách của một người Phật tử. Người biết tu phải truy xét lại ḿnh, tạo cơ hội cho hai bên thông cảm nhau, th́ mọi vấn đề trở thành dễ dăi. Đó là ta biết tu nhân quả. Lại có người nói đời này tôi không làm ǵ ác mà sao nghèo hoài, làm ăn cất đầu lên không nổi? Rồi than trời, trách đất không thương, không ủng hộ, như vậy đúng không? Thấy những người làm ăn sơ sài thảnh thơi mà họ cứ giàu lên, đâm ra đố kỵ người đó. Cho rằng thế gian bất công, đâm ra oán hờn đủ thứ mà không hiểu nhân quả. Đạo Phật nói nhân quả không phải một đời, mà liên hệ tới ba đời quá khứ, hiện tại, vị lai. Quả hiện tại chúng ta thọ nhận đây là trả cho cái nhân đă gây trong đời quá khứ. Ví dụ những người trước đây làm ăn khá giả, bây giờ họ ra thành phố mua một căn phố. Một người khác ở quê lên cũng mua một căn phố ở gần đó. Người khá giả không làm ǵ mà cuộc sống vẫn sung túc, nhàn nhă, v́ họ c̣n vốn. Người ở quê lên làm lụng rất cần mẫn, siêng năng, mà cuối năm hỏi có dư chưa, chẳng những họ nói chưa dư mà c̣n thiếu nợ nữa. Quí vị thấy công bằng không? Người ở không mà có tiền, c̣n người làm đầu tắt mặt tối mà thiếu nợ. Nhưng nếu truy nguyên ra, người trước kia có dư họ mua phố vẫn c̣n dư tiền. C̣n người nghèo phải vay tiền mới mua nhà được. Nên khi làm ra tiền mà chưa đủ trả nợ, là phải nh́n lui lại quá khứ của họ. Chúng ta không thể chỉ nh́n ngay trong đời hiện tại mà kết luận bất công được. Thấy người không làm mà không thiếu, c̣n người làm nhiều vẫn thiếu, đó là chúng ta chỉ nh́n hiện tại mà quên quá khứ. Vậy nên nhân quả phải biết từ quá khứ đến hiện tại, từ hiện tại đến vị lai. Hiện tại chúng ta tạo nhân xấu th́ vị lai phải chịu quả xấu. Hiện tại làm điều tốt th́ vị lai hưởng quả tốt. Phật tử biết để ngừa đón nhân xấu và luôn luôn tạo nhân tốt, đó là chúng ta biết tu nhân quả. Tu tức là chúng ta phải làm sao mỗi ngày đều làm, đều nói, đều nghĩ những điều lành. Ngăn đón không cho nghĩ, không cho nói, không cho làm những việc xấu, đó là chúng ta tu từ gốc. Chúng ta đi trên con đường giác ngộ, trước nhất là giác ngộ về lư nhân quả. Không phải nghe ông đồng bà bóng ở đâu cũng chạy lại hỏi han chuyện này chuyện nọ. Đó là mê tín, không phải chánh tín, không phải đạo Phật. Chúng ta là Phật tử th́ ráng tỉnh đừng mê, v́ c̣n mê là c̣n cội gốc đau khổ. Tất cả quí vị đi tu là đă có giác ngộ chưa? Có rồi chứ. Nếu không giác ngộ làm sao cạo đầu, mặc áo nhuộm, ở chùa được? Người đời quan trọng trang sức đẹp đẽ, ăn uống ngon lành, ḿnh không trọng những việc đó nên mới bỏ vô chùa, ăn uống đạm bạc, đó là có giác ngộ rồi. Nhưng giác ngộ ấy mới là bước đầu, c̣n phải giác tiếp tục giác luôn luôn mới được. Tôi xin hỏi quí vị đă đi tu rồi, có c̣n sợ chết không? Vẫn c̣n sợ chết. Thế th́ quí vị có biết mạng sống của chúng ta bao lâu? Bảy tám mươi tuổi phải không? Đây là vấn đề tôi muốn nói cho tất cả nhận hiểu. Khi Phật c̣n tại thế, một hôm Ngài hỏi các thầy Tỳ-kheo: - Mạng người sống được bao lâu? Có thầy thưa: - Bạch Thế Tôn, mạng người sống được mười năm. Phật nói: - Ông chưa thấy đạo. Thầy Tỳ kheo khác thưa: - Mạng người sống được một năm. Phật lắc đầu nói: - Ông chưa thấy đạo. Cứ thế quí thầy Tỳ-kheo thay nhau trả lời mạng người sống trong ba tháng, một ngày, một bữa ăn… Phật đều lắc đầu nói: “Ông chưa thấy đạo”. Đến vị Tỳ-kheo sau chót đứng dậy bạch: - Thưa Thế Tôn, mạng người sống trong hơi thở. Phật gật đầu nói: - Ông đă thấy đạo. Như vậy chữ đạo ở đây là ǵ? Là lẽ thật, là chân lư. Muôn người như một, có người nào c̣n hơi thở mà chết đâu. Chỉ khi thở kh́ ra không hít vô mới chết. Thế th́ mạng sống chỉ trong hơi thở chớ ǵ? Bao nhiêu triệu người trên thế gian cũng vậy. Nói gần, nói xa ǵ cũng sai hết, chỉ nói mạng sống trong hơi thở là đúng lẽ thật. Đạo Phật nói lẽ thật, nhưng con người không quen nghe lẽ thật nên hơi buồn. Buồn v́ mạng sống mỏng manh quá, thở ra không hít vô th́ chết. Nghe thế có người sanh ra sợ, từ sợ nên không dám nói mạng ḿnh ngắn ngủi, cứ tưởng ḿnh sống lâu cho vui một chút. Người tu phải thấy mạng sống trong hơi thở, đó là lẽ thật. Nhưng khổ nỗi, lẽ thật nói ra người ta lại không ưa. Như ngày mùng một Tết, Phật tử tới chùa, quí thầy chúc: “Chúc đạo hữu mạng sống trong hơi thở” th́ bảo ông thầy trù ḿnh. C̣n người thế gian chúc quí vị sống bá niên giai lăo th́ vui lắm. Như vậy ở đời người ta chịu nói thật hay nói không thật? Nói không thật mà người ta chịu. Nên con người từ từ bắt chước nói dối với nhau, sống trong dối gạt mà vui, c̣n ai nói thật th́ không chịu. Người Nhật có kể câu chuyện Ḥa thượng chúc tết một vị Phật tử đến viếng chùa đầu năm thế này: Chúc ông nội chết, bà nội chết, cha chết, mẹ chết, anh chết, chị chết, đạo hữu chết, con chết. Vị cư sĩ kia nghe xong hoảng quá, không hiểu sao ông thầy chúc lạ đời vậy. Ḥa thượng giải thích, tôi chúc như vậy là hạnh phúc đó. Tại sao? V́ theo thứ tự từ trên xuống ông bà chết trước rồi tới cha mẹ, anh chị, tới ḿnh và sau nữa là con ḿnh. Như vậy là gia đ́nh có hạnh phúc, chỉ sợ con chết mà cha chưa chết mới khổ, mới bất hạnh. Nhưng người ta nghe nói chết sợ quá, liền tức giận. Cho nên nói đời không chịu nghe lẽ thật, chỉ thích nghe những lời dua nịnh, tô điểm cho vui mà không ngờ đó là gạt nhau. Đạo Phật là đạo giác ngộ, mà giác ngộ th́ nói lẽ thật, chớ không nói chuyện bâng quơ. Lẽ thật mới nghe hơi đau ḷng một chút, nhưng hiểu rồi việc tu hành sẽ tinh tấn. Như ta nghe mạng sống trong hơi thở, nên quí tiếc từng chút th́ giờ, tranh thủ làm ǵ có lợi cho ḿnh, cho người. Không dám chần chờ v́ không biết tắt thở lúc nào. Càng thấy thời gian ngắn ngủi ta càng tinh tấn, đó là cơ hội tốt. Khi biết rơ trên đời này không ai sống măi, có ngày phải chết, nên chúng ta thấy chết là một lẽ thật, không chạy trốn đâu được. Gần đây tôi đặt câu hỏi với một số Tăng Ni: Giả sử quí vị đang ngồi nói chuyện với người bạn thân, có ai đến nói thầy cô là giả, người bạn này cũng giả. Nghe như vậy quí vị vui không? Chắc là không vui. Nhưng lúc ấy lỡ người bạn bị cơn đau tim ngă đùng ra chết, bấy giờ nói sao? Mới phút trước đang nói chuyện với ḿnh, bây giờ tắt thở rồi. Nếu người bạn không thật th́ ḿnh thật không? Không thật. Thế nhưng ta c̣n mà nói không thật th́ không chịu, chừng nào tắt thở mới chịu, nhưng lúc đó đâu c̣n mà chịu hay không chịu. Thật t́nh con người không dám nhận lẽ thật. Khi biết thân này không thật, có ai chửi ta nghĩ ḿnh không thật th́ lời chửi có thật đâu, nên không quan trọng ǵ hết. Giả sử gặp cảnh buồn cũng không quan trọng. Được thế ta không c̣n lầm lẫn và cũng không tham đắm mọi thứ trên thế gian này. Nếu có của chia sớt với nhau mà sống, vui vẻ được ngày nào tốt ngày ấy, v́ đâu có cái riêng cho ḿnh. Mọi người khi biết được lẽ thật rồi, ứng dụng tu rất hay, rất có kết quả. Chúng ta cứ tưởng lầm mọi sự là thật, nên ai nói ǵ trái ư là giận, làm ǵ buồn phiền nhớ hoài không bỏ. Ôm ấp măi tới ngày nhắm mắt đi đâu? Trong nhà Phật chia ra sáu đường, đường xấu nhất là địa ngục, kế là ngạ quỉ, kế nữa là súc sanh, đây là ba đường ác. Tốt hơn là ba đường lành tức người, a-tu-la và trời. Hiện giờ ai nuôi tâm thù oán, giận hờn, ác độc, tham lam... là đi ba đường dữ. C̣n ai có tâm thương người, cứu giúp kẻ nghèo khó, làm việc lợi ích cho mọi người sẽ đi trên ba đường lành. Bây giờ quí Phật tử thử kiểm lại trong ḷng ḿnh, xem có đủ các đường đó không? Khi th́ ḿnh dữ như cọp, lúc lại hiền như voi. Ngày nay chúng ta biết nhân nào đưa xuống địa ngục phải chừa tránh đi, nhân nào đưa ḿnh trở lại làm người, hưởng phước báu th́ cố gắng làm. Đó là chúng ta khéo tu, chớ đừng ỷ lại, đừng cầu xin. Phật tử ḿnh có tật hay ỷ lại quá, cứ mỗi tháng cúng chùa vài ba trăm ǵ đó, rồi mời thầy lại cầu an. Nếu thầy không đi liền giận, nói thầy không thương. Cha mẹ mất mời thầy tới cầu siêu, mỗi tuần phải đến. Nếu tuần nào thầy bận việc không đi được cũng buồn, cũng giận. Như vậy Phật tử tu giỏi chưa? Nếu tu giỏi, biết rằng cha mẹ khi sanh tiền làm lành th́ được hưởng phước lành, c̣n làm ác th́ chịu quả ác. Quí vị thương cha mẹ th́ tới chùa nhờ quí thầy tụng kinh cầu nguyện, trợ lực một phần thôi, để thời giờ quí thầy tu học. Nếu một trăm bổn đạo có đám, một trăm chỗ mời các thầy đi. Đi riết đâu có th́ giờ mà tu, đă không tu th́ làm sao có công đức cầu an cầu siêu cho quí vị. Đó là Phật tử thương hay hại quí thầy? Muốn cho đạo được tốt hay làm cho đạo suy vi? Phật tử mời quí thầy không đi th́ buồn, nghĩ ḿnh cúng chùa nhiều mà mời không đi. Thôi ngang đây từ giă không đến chùa nữa. Nghĩ như thế có phải là tu chưa? Hiểu cho đáo để, người Phật tử chân chính phải biết trọng thời giờ tu hành của quí thầy, quí cô. Làm sao ủng hộ quí thầy quí cô tu được, không nên nghĩ riêng tư cho ḿnh. Đó là người Phật tử hiểu đạo, quí đạo. Nhiều người cho rằng, cúng quí thầy quí cô giống như đóng tiền bảo hiểm vậy. Khi nào ba má bệnh rước thầy cô về cầu an, nếu chết rước về cầu siêu. Thầy cô làm hết cho ḿnh, lúc nào cũng trông cậy, ỷ lại vào thầy cô. Ỷ lại như vậy là mê chớ không phải giác, tinh thần này không phải của người Phật tử. Quí vị nên hiểu thật kỹ, chúng ta tu xứng đáng là người Phật tử chân chính, đừng tu cho có tiếng mà không thực hành ǵ cả. Tôi mong tất cả Phật tử thương Tăng Ni, trợ lực giúp đỡ cho Tăng Ni có thời giờ tu được, có thờ giờ nghiền ngẫm Phật pháp, có th́ giờ toạ thiền tụng kinh. Thầy cô tu có kết quả rồi, khả dĩ mới đem lại lợi ích an vui chân thật cho quí Phật tử. Đó là nói về tinh thần tu tập chân chánh của Phật tử. Bây giờ tôi nói qua phần hơi cao siêu hơn một chút. Trong đạo Phật có dạy ba điều để được giải thoát sanh tử: một là giới tuệ, hai là định tuệ, ba là trí tuệ; c̣n gọi là Giới học, Định học, Tuệ học. Ba môn này nhà Phật gọi là Tam giải thoát môn, tức ba môn tu học để được giải thoát sanh tử. Người Phật tử hay Tăng Ni nào muốn tu giải thoát, đều phải qua ba môn này hết. Thứ nhất nói về Giới. Ví dụ Phật tử tại gia giữ năm giới: không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, không uống rượu mạnh, không hút á phiện… Giả sử có một Phật tử ban ngày phạm tội trộm cắp, tối về ngồi lần chuỗi niệm Phật, lúc đó nhớ Phật hay nhớ món đồ ḿnh lấy của người ta? Ngồi niệm Phật nhưng không biết người ta có đuổi theo ḿnh không, tâm bất an. Như vậy khi phạm giới tâm không an, tâm không an th́ tu định không được. Hàng xuất gia cũng vậy, trong mười giới Sa-di giữ không được th́ tự nhiên chúng ta cũng bị bất an. Ví dụ nhỏ thôi, giới chót của Sa-di là giới không ăn phi thời. Giả sử chiều ăn phi thời một chút, quen như vậy rồi, bữa nào hơi thiếu không ăn có buồn không, có chạy kiếm không? Chắc có. Cho nên giới ḿnh không giữ được tṛn, nó cũng làm rối cho ḿnh. V́ vậy người xưa tu giữ giới rất kỹ. Nhờ giữ giới kỹ nên tâm an định, tâm an định th́ ngồi thiền mới phát sinh trí tuệ. Người tu theo đạo Phật phải thực hiện ba môn vô lậu Giới Định Tuệ cho tṛn đủ. V́ đây ba môn học không rơi không rớt lại nên được giải thoát sanh tử. Quí Phật tử tại gia nếu giữ tṛn năm giới, đời này tu thanh tịnh, đời sau bảo đảm trở lại làm người, v́ quí vị đă tu Nhân thừa Phật giáo, giữ tṛn tư cách con người. Nếu người xuất gia giữ tṛn mười giới trở lên, đó là tu nhân giải thoát. V́ vậy Phật chế giới đi đầu, rồi tới định tức thiền định, sau là tuệ. Nói thiền định, có một số vị tu niệm Phật tưởng ḿnh không có định. Không phải. Trong kinh Di Đà, Phật dạy niệm tới nhất tâm bất loạn, tâm không c̣n dấy động nữa, đó là định. Tu niệm Phật cũng định, tu thiền cũng định. Được định rồi mới phát sinh trí tuệ phá trừ vô minh, giải thoát sanh tử. Đạo Phật dạy ngay nơi con người của chúng ta có cái giả lồng trong cái thật, mà ḿnh không biết. Cái nào giả? Phật bảo Thân tứ đại này là giả dối, v́ đủ duyên nó hợp thiếu duyên nó tan. Như vậy duyên hợp rồi duyên tan, có ǵ thật đâu. C̣n thở nói là thân, tắt thở đâu c̣n thân nữa mà nói thật. Thân không thật nhưng chúng ta ngỡ là thật, nên chấp vào nó tạo không biết bao nhiêu nghiệp ác. V́ vậy Phật dạy phải thấy rơ thân này duyên hợp, không thật. Đó là điểm thứ nhất. Chúng ta biết thân không thật rồi, tới tâm có thật không? Tâm của chúng ta là ǵ? Chữ Tâm chữ Hán chỉ cho cái biết. Cái biết đó chúng ta đang mắc kẹt bởi những suy nghĩ, hơn thua, phải quấy, tốt xấu, được mất… rồi cho cái suy nghĩ đó là tâm ḿnh. Nếu suy nghĩ là tâm th́ từ sớm tới chiều, quí vị suy nghĩ chừng bao nhiêu lần? Vô số. Nghĩ này lặng, nghĩ khác dấy lên liên miên. Cái nghĩ đó chợt có rồi mất, như vậy nói nó thật được không? Vậy mà chúng ta chấp cái suy nghĩ đó là tâm ḿnh thật, rồi bao nhiêu phiền hà, buồn vui, khổ đau đều cho là tâm ḿnh. Tâm tôi vui, tâm tôi buồn, tâm tôi khổ… Thế th́ chúng ta có bao nhiêu tâm? Từ khi cha mẹ sanh cho tới lúc nhắm mắt, ḿnh là một hay nhiều? Ta chỉ có một, chớ đâu phải nhiều. Nếu khi nghĩ lành là tâm ḿnh, th́ lúc nghĩ dữ là tâm ai? Nếu nghĩ lành cũng ḿnh, nghĩ dữ cũng ḿnh, nghĩ phải cũng ḿnh, nghĩ quấy cũng ḿnh, th́ ḿnh là cái tùm lum phải không? Nên biết cái suy nghĩ đó không phải thật ḿnh. Chúng ta v́ lầm nó là ḿnh nên chấp chặt vào đó, rồi sanh ra thù oán giận hờn, tạo nghiệp đi trong sanh tử. Bây giờ muốn thoát trầm luân sanh tử th́ phải dừng tâm tạo nghiệp. Đó là một điều hết sức khó, nhưng chúng ta có khả năng làm được. Tại sao? V́ muốn đừng chạy theo nghĩ suy hơn thua phải quấy, chúng ta chỉ việc nhớ thân này không thật, tâm suy nghĩ phân biệt cũng không thật, nên không chạy theo nó. Không chạy theo tâm lăng xăng đó, lúc đó chúng ta biết hay không biết? Ví dụ khi quí vị ngồi chơi trong vườn mát một ḿnh, không nghĩ ǵ hết, lúc đó có biết không? Gió thổi nghe mát, chim kêu nghe tiếng, ai đi ngang ta đều thấy biết rơ ràng. Cái biết đó tức là tâm chân thật vậy. Chúng ta có cái tâm thầm lặng không sanh không diệt luôn hiện hữu, mà ḿnh quên. V́ quên nên ta cứ chấp thân sanh diệt là ḿnh, tâm sanh diệt là ḿnh. Cứ thế tạo nghiệp luân hồi không có ngày cùng. Cho nên Phật dạy tu là định, là yên cái tâm sanh diệt đó. Để cho nó lặng xuống mà ḿnh vẫn hiện tiền, vẫn biết, chừng đó mầm sanh tử mới hết. Nên nói định rồi tới tuệ, tuệ tức là giác ngộ viên măn. Nếu muốn tu ra khỏi sanh tử phải đi từ Giới Định Tuệ. Phật thấy rơ nơi con người chúng ta có của quí mà ḿnh không biết. Nên trong kinh Pháp Hoa, Phật ví dụ kẻ nghiền rượu đi lang thang xin ăn khổ sở. Chợt gặp người bạn giàu dẫn về đăi đằng xong, anh bạn có việc gấp phải đi. Trước khi đi, anh lấy ḥn ngọc quí bỏ trong túi áo người bạn nghèo, nghĩ rằng tới chừng tỉnh dậy, anh bạn sẽ ṃ trong túi lấy ḥn ngọc quí ra dùng, sẽ trở nên giàu to. Không ngờ bạn anh không biết, vẫn cứ đi ăn xin lang thang. Tới chừng gặp lại, người bạn liền quở “Tại sao ngày xưa tôi cho anh ḥn ngọc quí, mà anh vẫn c̣n đi ăn mày?” Chừng đó người bạn nghèo mới sờ vô túi, thấy ḿnh có ḥn ngọc quí mà bấy lâu nay không biết. Ḥn ngọc quí đó Phật dụ cho tâm chân thật hiện tiền sẵn có nơi mỗi chúng ta. Tâm này là cái biết hằng hữu không sanh không diệt, luôn hiện tiền nơi ḿnh, nên gọi là ḥn ngọc quí. C̣n cái biết hơn thua phải quấy… là cái biết sanh diệt, tạo nghiệp. Nghĩ lành th́ tạo nghiệp lành, nghĩ dữ th́ tạo nghiệp dữ. Tạo nghiệp lành th́ đi đường lành, tạo nghiệp dữ th́ đoạ đường dữ. Nên cái biết suy nghĩ phân biệt không ra khỏi sanh tử. Tất cả pháp tu của đức Phật dạy cuối cùng đều qui về chỗ định tâm. dừng được tâm sanh diệt, tâm tạo nghiệp th́ mới giải thoát sanh tử. Như giáo lư Nguyên thủy dạy tu cho tới Diệt thọ tưởng định mới chứng quả A-la-hán. Pháp niệm Phật dạy phải niệm Phật tới nhất tâm bất loạn, nghĩa là không c̣n một niệm lăng xăng, mới thấy Phật Di-Đà. C̣n giáo lư Đại thừa dạy pháp Lục độ: bố thí, tŕ giới, tinh tấn, nhẫn nhục, thiền định, trí tuệ. Rơ ràng từ thiền định mới có trí tuệ. Trí tuệ này là trí tuệ vô sư, siêu xuất thế gian. Ngày xưa đức Phật ra đời cách chúng ta hơn hai ngàn năm, chưa ai dám nói ngoài vũ trụ này có vô số thế giới. Vậy mà với trí tuệ siêu việt này, đức Phật thấy thế giới nhiều như cát sông Hằng. Như vậy đủ biết trí vô sư có năng lực lớn lao đến thế nào. Nơi mỗi chúng ta có khả năng phi thường mà ḿnh không biết, cứ dùng những thứ tạm bợ tầm thường làm chỗ tựa cho ḿnh. Chấp thân sanh diệt là ḿnh, chấp tâm sanh diệt là tâm ḿnh mà quên cái tâm hằng giác thanh tịnh, sáng suốt. Nếu ta lặng được tâm sanh diệt th́ mới giác ngộ viên măn, gọi là thành Phật. Nói đến người tu là nói đến người đang làm một việc phi thường, chớ không phải tầm thường. Nhưng đáng thương, gần đây Tăng Ni hay làm việc tầm thường, không dám vươn lên chỗ phi thường kia. Cái đó là cái khả năng sẵn có của ḿnh, chớ không phải không có. V́ đang có nên chúng ta có quyền trở về với nó, có quyền hưởng những kỳ đặc mà nó đă chứa sẵn. V́ vậy nói tới tu Phật là nói tới con đường giác ngộ giải thoát. Người thế gian không bao giờ dám nghĩ tới, chỉ mong đời sau hưởng phước khá hơn đời này vậy thôi. Nhiều Phật tử nói nghe rất hiền lành, tôi tu không muốn ǵ hơn là được về Cực Lạc làm tôi tớ cho Phật. Chỉ muốn nhỏ nhỏ vậy thôi! Thật ra Phật dạy chúng ta tu để thành Phật, chớ đâu phải làm tôi tớ cho Ngài. Đức Phật là bậc tự thọ dụng, đâu cần ai phải phục vụ. Phật tử tự biện luận cho ḿnh, không dám khai triển năng lực vô hạn nơi ḿnh nên nói nghe như hiền lắm vậy. Thật ra đó là tự đánh mất khả năng giác ngộ của ḿnh, rất đáng thương xót! Chúng ta có phước lớn mới gặp được giáo pháp cao siêu tuyệt vời của Phật. Pháp Phật tuyệt vời v́ nó mang tính b́nh đẳng. Tại sao b́nh đẳng? V́ Phật có tánh Phật, chúng ta cũng có tánh Phật. Ai cũng có hết, nếu ḿnh biết trở về th́ tất cả đều thành Phật. Vậy mà Phật tử không muốn b́nh đẳng, cứ muốn làm tôi tớ Phật, hài ḷng với cái tôi tớ đó, chớ không chịu làm Phật. Mà Phật không muốn cho chúng ta làm tôi tớ Ngài, Phật muốn chúng ta thành Phật như Ngài. Khả năng đó chúng ta làm được, chỉ cần gan dạ biết đúng như thật thôi. Cho nên tu theo đạo Phật không nên chán nản cũng không nên tự khi ḿnh, mà phải cố gắng. Đừng nghĩ những bậc tôn túc, đức hạnh cao siêu mới làm được, c̣n ḿnh vô phần. Tất cả chúng ta đều có khả năng đi tới chỗ cứu kính chân thật. Trong kinh Phật nói tất cả chúng sanh đều sẽ thành Phật hoặc có chỗ nói đều đă thành Phật. Nói sẽ thành Phật, chúng ta c̣n hy vọng, chớ nói đă thành Phật nghe sợ quá. Thành hồi nào đâu? Nhưng thật ra đứng trên mặt vô sư trí sẵn có của ḿnh, Phật nói chúng ta đă thành Phật từ lâu. V́ đă có sẵn tánh Phật rồi nên có sẵn trí vô sư. Nhưng đứng về sự tu hành th́ chúng ta cố gắng sống trở về tánh thật ấy, nên nói sẽ được thành Phật. Chúng ta rất là đủ phước, đủ duyên nên ngày nay ra đời gặp Phật pháp tu hành. Dù không có đức Phật hiện tiền, nhưng pháp của Ngài vẫn c̣n, chúng ta nên ǵn giữ, bảo vệ hạt giống tốt đừng cho nó tiêu ṃn, cố gắng nuôi dưỡng càng ngày càng tăng trưởng. Nhất là giới tu sĩ phải làm sao thấy rơ rằng chúng ta có đủ khả năng vươn lên, tiến tới chỗ giải thoát sanh tử, để cứu độ cha mẹ, thân quyến và tất cả chúng sanh. Không phải đi tu để yên phần ḿnh, để được nhẹ nhàng khỏi lo nghèo đói, mà đi tu để làm một việc lớn lao là giải thoát sanh tử, cứu độ chúng sanh đều được giải thoát sanh tử. Tôi mong tất cả Tăng Ni và Phật tử nghe giảng xong, suy ngẫm kỹ càng, cố gắng tu. Đó là con đường chúng ta đă t́m gặp, không nên bỏ mất, không nên thả trôi uổng một đời quí báu. Mỗi chúng ta phải làm sao tự nhận lại ông Phật của chính ḿnh, sống và trân quí ông Phật đó, mới xứng đáng là người tu Phật chân chánh. ] L̉NG TIN CỦA NGƯỜI CON PHẬT Chùa Sùng Ân – Phan Rang - 2002 V́ muốn cho tất cả Tăng Ni Phật tử đều hiểu đạo theo đúng tinh thần của đạo Phật, nên hôm nay chúng tôi giảng dạy đề tài Ḷng tin của người con Phật. Con Phật ở đây là hàng xuất gia cũng như các Phật tử cư sĩ tại gia. Chúng ta nghe nhận giáo pháp của Phật khéo hiểu, đó là con đường tu thực tế của bản thân, cũng như hướng dẫn chỉ dạy cho mọi người đồng chí hướng tu hành. Vậy ḷng tin của người Phật tử là ǵ? Là tin Tam bảo, tức tin Phật, tin Pháp, tin Tăng. Ḷng tin ấy đối với Phật tử dễ tin hay khó tin? Trước hết nói về tin Phật. Tin Phật là tin như thế nào? Lâu nay chúng ta cứ ngỡ tin vào đức Phật là tin Ngài có đủ tất cả pháp nhiệm mầu, đủ công đức vô lượng vô biên. Chúng ta tin tưởng ở Ngài th́ sẽ ban bố phước lành cho ḿnh, sẽ gia hộ cho ta b́nh an, hạnh phúc. Nhưng sự thật không phải, chúng ta tin Phật v́ Ngài là bậc giác ngộ. Chữ Phật nói đủ là Phật đà có nghĩa là bậc giác ngộ viên măn. V́ giác ngộ viên măn nên những ǵ Ngài chỉ dạy cho chúng ta đều là chân lư không xê dịch, không đổi khác theo thời gian không gian. Vậy chúng ta tin Phật là tin bậc giác ngộ, một bậc sẽ đưa ta đến chỗ sáng suốt, chớ không phải tin bằng ân huệ Ngài ban cho. Trong kinh Phật thường dạy: “Ta không có quyền ban phước xuống họa cho ai”. Ngài đă không có quyền ban phước xuống họa th́ ta xin được phước, xin khỏi họa được không? Xin như vậy là trái với chủ trương, trái với lẽ thật đức Phật đă dạy. Ai đọc sử cũng nhớ, đêm thứ bốn mươi chín ngồi dưới cội Bồ-đề, đức Phật thiền định từ canh một tới canh hai chứng được Túc mạng minh, từ canh hai tới canh ba chứng được Thiên nhăn minh, từ canh ba tới canh năm chứng được Lậu tận minh. Từ chỗ tu chứng ấy, những ǵ thấy biết Ngài nói lại cho chúng ta nghe đều là chân lư, là sự thấu triệt nguồn gốc của con người và muôn vật. Chúng ta ai cũng thắc mắc tự nghĩ, không biết ḿnh từ đâu đến đây, chết rồi đi về đâu? Đức Phật sau khi đă chứng Túc mạng minh, Ngài thấu suốt được sanh mạng của bản thân ḿnh từ vô số kiếp trở về trước, chớ không phải năm đời mười đời thôi. Trong các kinh A-hàm c̣n ghi lại lời Thế Tôn nói: “Ta nhớ vô số kiếp về trước như người nhớ việc mới xảy ra hôm qua”. Nhớ rơ ràng không có ǵ sai sót. Do đó Ngài biết được ta từ đâu đến đây. Chứng được Thiên nhăn minh, Ngài có con mắt sáng thấy thấu suốt từ những vật rất xa cho tới những vật rất nhỏ nhiệm, mà con mắt phàm chúng ta không thể thấy được. Ngài thấy rơ con người khi chết rồi, sẽ theo nghiệp dẫn luân hồi trong lục đạo, chúng sanh bị lôi kéo đi theo nghiệp của ḿnh đă tạo. Trong lục đạo luân hồi có ba đường lành và ba đường dữ. Ba đường lành là người, a-tu-la và trời; ba đường dữ là địa ngục, ngạ quỹ và súc sanh. Nếu người nghiệp thiện khi nhắm mắt sẽ đi theo ba đường lành. Nếu người nghiệp xấu ác, khi nhắm mắt sẽ đi ba đường dữ, chớ không phải chết là hết. Do thấy như vậy nên đức Phật nói: “Ta thấy chúng sanh đi trong luân hồi lục đạo như người đứng trên lầu cao nh́n xuống ngă tư đường thấy kẻ qua, người lại rơ ràng không lầm lẫn”. Đức Phật thấy rơ ḍng luân hồi của chúng sanh từ đời này tới đời kia không dừng, không hết nên Ngài mới dạy chúng ta cách tu để thoát khỏi ḍng luân hồi ấy. Đến canh năm khi sao mai vừa mọc, Phật chứng Lậu tận minh. Lậu tận minh là thấu tột được nguyên nhân nào khiến cho chúng sanh trầm luân trong sanh tử và phương pháp nào đưa chúng sanh ra khỏi ṿng luân hồi ấy, không c̣n buộc ràng trong lục đạo nữa. Biết rơ nhân biết quả như vậy nên Ngài dạy chúng ta cách tu hành thoát ly sanh tử. Phật không bắt chúng ta nhất quyết phải tin, mà ḿnh có quyền kiểm nghiệm lại xem điều nào đáng tin th́ tin, điều nào không đáng tin th́ thôi. Thứ nhất, đức Phật thấy được con người từ vô số kiếp về trước đă từng sanh nơi này, nơi kia rồi mới đến đây. Chúng ta tự kiểm lại, xem ḿnh có mang tính cách ǵ của quá khứ dẫn đến hiện tại không? Như trong một gia đ́nh cùng cha cùng mẹ sanh ra, nhưng những người con có đứa sáng suốt thông minh, có đứa lại khù khờ u tối. Hoặc có đứa đẹp, có đứa xấu v.v… không giống nhau. Tại sao lại có sự sai biệt như thế? Nói theo khoa học hiện nay, tất cả mầm sanh ra con người đều từ gien của cha mẹ. Gien cha mẹ thế nào th́ người con cũng giống như thế ấy. Nếu do gien cha mẹ sanh ra, tại sao mỗi người lại mang h́nh dáng khác nhau, tâm tư khác nhau, trí tuệ khác nhau. Đó là từ đâu? Nhà Phật dạy rằng chúng ta có mặt ở đây là do tích lũy nghiệp của đời trước. Đời trước ta đă từng làm ǵ th́ đời này sanh ra ảnh hưởng nghiệp của đời trước. Như hiện giờ chúng ta nghe những vị thần đồng trên thế giới, có vị giỏi về âm nhạc từ lúc năm bảy tuổi, có vị giỏi toán từ lúc chín mười tuổi, có vị giỏi văn chương v.v… Đó là do ai dạy? Điều này chứng tỏ thuyết nhân quả của nhà Phật không sai. Đời trước chúng ta đă từng làm việc lành dữ nào, đời này sanh ra chủng tử nghiệp của quá khứ c̣n nên ảnh hưởng tới đời này. V́ vậy mỗi người ra đời mang theo những tâm tư, ư niệm, thói quen khác nhau. Bởi thế không thể giống hệt cha mẹ, chỉ giống phần nào do tính di truyền của gien thôi. Đó là một lẽ thật không nghi ngờ ǵ cả. Đức Phật thấy biết rơ, nhưng nói ra quá tầm hiểu biết của chúng ta, có khi ḿnh chưa dám tin. Nhưng kiểm nghiệm lại thật kỹ, rơ ràng đó là một lẽ thật, không nghi ngờ. Như tất cả người thế gian lớn lên đều nghĩ tới chuyện đôi bạn hoặc tạo dựng sự nghiệp cho khá giả… Nhưng có người lớn lên đ̣i đi tu. Điều này ai dạy? Cha mẹ không dạy, thầy cô giáo không dạy. Như vậy chủng tử tu trước đă có nên bây giờ không ai xúi giục, không ai bắt buộc mà tự phát nguyện đi tu. Chúng ta hiểu rồi th́ biết những việc này không phải mới có, mà nó đă có từ thuở nào. Sau khi thấy tột lư đó rồi, Phật mới dạy chúng ta làm sao trong đời này tu tạo những nghiệp lành, để khi nhắm mắt sanh vào cơi lành. Không phải chết rồi hết, đừng nghĩ lầm như vậy. Người thế gian cứ ngỡ chết là hết, nên nhiều vị c̣n trẻ tuổi khi gặp điều ǵ bức bách, không chịu nổi đ̣i tự tử. V́ họ ngỡ rằng tự tử là giải quyết xong việc đời này, không ngờ tự tử rồi lại càng khổ sở dai dẳng hơn đời này nữa. Quí vị vô chùa thấy tượng Phật, tượng Tổ có hào quang phía sau đỉnh đầu. Hào quang là ánh sáng, đó là biểu hiện cho nghiệp lành tỏa ra. Những người hung ác nghiệp dữ cũng tỏa ra. Nhưng với con mắt chúng ta, khả năng giới hạn quá nên không thể thấy được. Lạ một điều, đôi khi con mèo, con chó lại có thể nhận được năng lượng tỏa ra từ những người hung ác. Chúng ta để ư sẽ thấy mấy người làm hàng thịt, khi vào xóm dù họ không đem theo dụng cụ bắt heo bắt chó, mà chó thấy là sủa rùm hết. Chúng sủa một cách oán ghét, giận dữ, chớ không phải sủa như sủa khách b́nh thường. Đó là do ác nghiệp của họ tỏa ra khiến những loài cũng có nghiệp xấu nh́n thấy được. Đức Phật thấy ngoài vũ trụ có vô số thế giới. Ngài nói nhưng không bắt buộc chúng ta tin hay không tin. Phật thấy sao th́ nói vậy thôi. Ngày nay chúng ta thấy rơ ràng trong bầu hư không này không phải chỉ có một thế giới của ḿnh, mà có vô số thế giới. Đă là vô số thế giới th́ có thế giới nhỏ, có thế giới lớn, có thế giới tốt, có thế giới xấu. Con người sanh trong những thế giới đó nhất định phải có sai biệt, tốt xấu đủ thứ. Suy gẫm như thế, chúng ta không c̣n ǵ để ngờ vực về trí tuệ của Như Lai nữa. Lời Phật dạy do Ngài tu mà thấy, đó là một lẽ thật chớ không phải lời huyễn hoặc. Ngày xưa tŕnh độ khoa học c̣n thấp kém, người ta không hiểu nổi những ǵ Thế Tôn thấy biết và nói ra. Ngày nay khoa học từ từ có nhiều phát minh, chúng ta mới tin lời Phật nói là có thật. Sở dĩ đức Phật nói ra những điều đó là để cho chúng ta biết mà tu, chớ không phải nói ra để khoe sự thấy biết sâu rộng của Ngài. Phật thấy chúng sanh theo nghiệp luân hồi chịu quả báo khổ vui, nên nói những bài kinh dạy về nhân quả nghiệp báo luân hồi. Nếu dứt sạch những nghiệp duyên này sẽ thoát khỏi sanh tử. Người tu phải biết không có ǵ xảy ra ngoài nhân quả hết. Biết được quả khổ th́ truy nguyên ra nhân để phá dẹp nó. Phá dẹp được nhân rồi th́ quả khổ theo đó hết. Như vậy chúng ta tin Phật là tin qua những lẽ thật Ngài đă tŕnh bày, tin ở sự tu hành giác ngộ viên măn của Ngài, nên những ǵ đức Phật nói ra không sai lệch. Đó là niềm tin thứ nhất, tin Phật. Thứ hai là tin pháp của Phật. Pháp của Phật dạy chúng ta tu về lư nhân quả, lư luân hồi, lư nhân duyên rất rơ ràng, rất khoa học. Như nói gieo nhân th́ gặt quả. Người làm nghề nông lựa giống tốt, sửa soạn đất sạch, nước phân đầy đủ rồi gieo giống xuống. Giống tốt nên cây lúa tốt, bông lúa nặng trĩu, nhiều hạt v.v… Từ hạt giống tốt đem lại quả tốt là điều tất nhiên, không ai chối căi được. Chúng ta không thể nói rằng, muốn trúng mùa không cần lựa giống tốt, không chăm sóc kỹ, không làm cỏ bón phân, cứ mỗi ngày ra ngoài bờ ruộng chắp tay nguyện Phật trời cho con mùa lúa trúng! Không chịu gieo giống, không chịu tạo nhân mà đ̣i có quả th́ không bao giờ có được. Đó là lẽ thật. Muốn được quả tốt, chúng ta phải tạo nhân tốt và những duyên phụ thuộc cũng phải tốt mới được. Từ lư nhân quả này, chúng ta xét thấy mọi việc trên thế gian không có ǵ xảy ra một cách bỗng dưng. Phải đi từ nhân tới quả. Nhân ḿnh làm tốt th́ quả tốt, nhân ḿnh làm xấu th́ quả xấu. Biết được nhân quả rồi, chúng ta nên ngừa đón từ nhân. Không tạo nhân xấu mà tạo nhân tốt, không tạo nhân dữ mà tạo nhân hiền. Đó là người biết tu. Người sáng suốt chọn nhân tốt để gầy dựng cho cuộc đời ḿnh được kết quả tốt. Chẳng những tốt trong đời này mà tốt ở đời sau nữa. Ngược lại, người không biết tu, chẳng những không chọn nhân tốt, mà c̣n tạo nhân xấu ác, th́ quả xấu ác sẽ đến không nghi ngờ. Tất cả Phật tử hiểu rồi, y cứ theo lời Phật dạy về nhân quả mà sống cho ḿnh, cho mọi người. Làm việc ǵ chúng ta cũng lấy nhân quả làm chuẩn th́ lợi ích vô cùng. Thế gian nhiều người gây nhân mà không dám lănh quả. Ví dụ đứa bé lỡ làm bể cái chén đẹp của cha mẹ. Nó không dám nhận lỗi nên đem giấu, khi cha mẹ hỏi nó không dám chịu, nên đổ thừa người này người kia, làm rối rắm nhiều người. Chúng ta đă lỡ tạo nhân th́ phải chịu quả, phải can đảm nhận lỗi của ḿnh: Đây là lỗi của con, con lỡ như vậy, xin cha mẹ thương tha thứ cho. Biết nhận lỗi như vậy, cha mẹ nào chẳng thương yêu tha thứ, khỏi phiền hà anh em, khỏi nghi ngờ người này người nọ, có phải tốt không. Thế nên người tin được nhân quả là người can đảm, c̣n người không tin nhân quả là người khiếp nhược, yếu đuối. Người hiểu được lư nhân quả cuộc sống rất an lành, rất tự tại, v́ dám làm dám chịu, không bao giờ trốn tránh. Như vậy xă hội tốt đẹp biết mấy. Đó là nói về tin nhân quả. Kế nữa, nếu tin được lư luân hồi chúng ta lại càng dè dặt hơn. Như muốn đời sau bằng và tốt hơn đời này, chúng ta phải giữ tṛn năm giới: không sát sanh, không trộm cướp, không tà dâm, không nói dối, không uống rượu say, không hút á phiện x́ ke ma túy. Giữ được năm điều đó bảo đảm đời sau trở lại làm người bằng hoặc tốt hơn đời này. Chúng ta tu là để tṛn tư cách một con người tốt trong đời này và cả đời sau. V́ vậy nói tu là nói đến chuyện thực tế, chớ không phải nói chuyện viễn vong, huyền ảo. Nhiều người không hiểu cho rằng tu là tiêu cực, huyền bí. Đó là một sai lầm. Người không sát sanh đời sau tuổi thọ dài. Không trộm cướp đời sau có của nhiều. Không tà dâm đời sau đẹp đẽ trang nghiêm. Không nói dối đời sau nói năng lưu loát, nói ra mọi người đều tin quí. Không uống rượu say, không hút á phiện x́ ke ma túy đời sau sanh ra trí tuệ đầy đủ. Như vậy bảo đảm một tương lai tốt đẹp cho ḿnh quá. C̣n những kẻ không biết th́ đâu có tu, nên đời sau họ sẽ khổ. V́ vậy tu nhân là điều thiết yếu. Gia đ́nh nào người chồng hoặc vợ không giữ tṛn năm giới, gia đ́nh đó có vui không? Trong nhà có kẻ trộm cướp hoặc say sưa, hút á phiện x́ ke ma túy… Đó là họa lớn. Cho nên biết tu là đem lại hạnh phúc cho ḿnh và an ninh trật tự cho xă hội. Nếu xóm làng nào mọi gia đ́nh đều biết giữ năm giới th́ xóm làng đó chắc chắn b́nh yên vô cùng, nhà khỏi đóng cửa cũng không sợ mất đồ. Cho nên tu Phật là vấn đề cần thiết cho con người mà ít ai để ư tới. Chúng ta nhờ tin được lời Phật dạy, tức tin pháp nên ứng dụng tu, đạt kết quả thiết thực trong cuộc sống. Qua đó ta mới thấy lời Phật dạy là một lẽ thật, ứng dụng tu có kết quả tốt cho bản thân và mọi người, cho đời này và cả đời sau. Đó là nói về tin pháp. Thứ ba là tin Tăng. Chỗ này chúng ta nên dè dặt một chút. Phật dạy đối với Tam bảo Phật, Pháp, Tăng ta phải tin trọn vẹn. Nhưng với tôi, Tăng bảo chúng ta nên tin một cách có chọn lọc. Tại sao? Bởi v́ thời đức Phật c̣n tại thế, Ngài biết căn cơ, tâm tánh của mọi người, nên khi đi giáo hóa gặp ai có cơ duyên, Ngài dạy xong họ nhận hiểu và ứng dụng rất mau ngộ đạo. V́ vậy thời Phật trực tiếp giáo hóa Tăng Ni cũng như Phật tử được gọi là thời chánh pháp, một trăm người tu th́ một trăm người ngộ đạo. Sau khi Phật nhập Niết-bàn rồi, hàng đệ tử của Ngài, có vị chứng A-la-hán nhưng có vị chưa chứng, nên sự dạy dỗ không đúng như chỗ thấy của Phật. Do các Ngài không biết rơ căn cơ, nên pháp dành cho người này lại dạy lệch qua người khác. Điển h́nh như lúc Phật c̣n tại thế, Tôn giả A-nan đi giáo hóa có một người thợ rèn qui y với ngài. Tôn giả dạy ông pháp tu quán bất tịnh. Đến nơi khác lại có một người giữ nghĩa địa qui y với ngài, Tôn giả dạy pháp tu quán hơi thở. Hai ông tu hoài không tiến, mới than: Sao thầy dạy con tu không tiến chút nào hết! Ngài liền kể lại tự sự cho Phật nghe và xin thỉnh giáo. Phật bảo: Tại ông dạy sai, chớ không phải tại họ tu sai. Ông phải dạy lại. Người thợ rèn nên dạy quán hơi thở, v́ họ thổi ống bể ph́ phịch hoài, quán hơi thở sẽ nhịp nhàng với công việc, tu như thế mau tiến hơn. Người giữ nghĩa địa thường thấy thây chết, nên dạy quán bất tịnh mới có kết quả. Ngài nghe lời dạy của Thế Tôn, đem dạy lại hai vị đệ tử của ḿnh. Quả nhiên, chẳng bao lâu cả hai đều tu có kết quả. Như vậy mới thấy việc dạy người tu mà ta không nắm vững tŕnh độ, căn cơ, nghề nghiệp của họ, đôi khi dạy không có kết quả. Đă không kết quả tất nhiên người tu khó đạt được đạo quả mà họ mong đợi. Năm trăm năm sau khi Phật nhập diệt là thời Tượng pháp. Tượng là tương tợ. Hồi Phật tại thế th́ trăm người tu trăm người ngộ, đến thời Tượng pháp, trăm người tu chỉ có năm chục người ngộ thôi. Rồi một ngàn năm sau khi Phật nhập Niết bàn là thời Mạt pháp. Thời này người tu chứng đạo quá ít, nên làm sao dạy đệ tử chứng được. V́ vậy một muôn người tu, may ra chỉ có một người ngộ thôi. Từ chánh pháp một trăm người tu một trăm người ngộ, đến tượng pháp một trăm người tu năm mươi người ngộ, đến mạt pháp một muôn người tu chỉ có một người ngộ. Như vậy số người tu đông mà ngộ ít, bắt buộc chúng ta phải lựa chọn thôi. V́ vậy đối với Tăng bảo trong thời này cần chọn lọc kỹ một chút. Nhiều khi có vị truyền giới cho đệ tử, không được uống rượu mà bản thân ḿnh lại uống hết chai này đến chai khác. Như vậy ai tin được? Buộc ḷng chúng ta phải chọn lọc, không thể thấy h́nh thức người tu rồi nói sao tin vậy. Cho nên chúng ta phải cẩn thận. Được vậy giá trị Tăng mới c̣n. Nếu chúng ta dễ tin, tin bừa quá vô t́nh làm cho giá trị Tăng bảo ngày càng suy sụp đi. Đó là tin về Tăng. Như vậy đối với Phật, Pháp, Tăng là ba ngôi quí báu. Phật bảo th́ chúng ta không nghi ngờ, thật là quí báu tuyệt vời. Pháp bảo chúng ta cũng tin trăm phần trăm. Nhưng Tăng bảo cần phải chọn lọc. Đó là tôi nói rơ để tất cả chúng ta hiểu và tin Tam bảo. Kế đến, ngoài tin Tam bảo Phật dạy chúng ta phải tự tin nơi ḿnh. Dù người xuất gia hay tại gia đều phải có sức mạnh tin ở nơi ḿnh. Tin ḿnh là tin cái ǵ? Tin ta có đủ khả năng thay đổi hay là chuyển hóa những nghiệp xấu dở trở thành nghiệp hay tốt. Như trên tôi đă nói, Phật dạy chúng ta phải bỏ nhân xấu, tạo nhân tốt. Ḿnh tin rằng ḿnh có khả năng bỏ được những nhân xấu và cố gắng tạo được nhân tốt. Ví dụ Phật tử lúc trước rượu chè say sưa, bây giờ qui y thọ giới rồi biết đó là nhân xấu, quyết tâm bỏ rượu để hết nghiệp nhân xấu. Tự ḿnh quyết tâm bỏ th́ bỏ được, chớ đâu ai bỏ thế cho ḿnh được. Nếu chúng ta tin ở khả năng có thể chuyển của ḿnh th́ bỏ được các nghiệp xấu, chắc chắn như vậy. Nhờ thế Phật tử sẽ tiến bộ nhiều, sẽ tăng trưởng nhiều, nhất là tăng trưởng phần đạo đức. Ngược lại nếu không tin ḿnh, nói đă lỡ ghiền làm sao bỏ được. Thầm nghĩ như vậy th́ phải chịu ghiền suốt đời thôi. Cho nên niềm tin nơi chính ḿnh rất quan trọng, có tính quyết định nhiều nhất trên con đường tu tập của chúng ta. Song tự tin như vậy cũng chưa đủ, c̣n phải tin đặc biệt hơn nữa. Tin như thế nào? Lịch sử ghi rơ ràng đức Phật Thích-ca Mâu-ni khi đi tu, Ngài học hỏi với các tiên nhân nhưng tu không có kết quả như ư. Cuối cùng từ bỏ hết, Ngài đến ngồi dưới gốc Bồ-đề thệ rằng: “Nếu nơi này ta không thành đạo, dù xương tan thịt nát quyết không rời cội cây này”. Thệ nguyện như vậy rồi, suốt bốn mươi chín ngày đêm thiền định, tâm lóng lặng trong sạch, tự Ngài sáng ra những điều trước kia chưa từng biết. Như vậy trí tuệ của Phật từ đâu mà có? Không ai dạy, không học ǵ thêm tại sao lại biết, biết quá tầm hiểu biết của thế gian. Điều đó minh chứng rằng khi tâm ḿnh hoàn toàn thanh tịnh th́ trí tuệ sáng suốt sẵn có phát ra. Trí tuệ ấy vượt ngoài tất cả trí sáng suốt thường, nên Phật gọi là vô sư trí, tự nhiên trí hay căn bản trí. Chúng ta có trí vô sư, có trí căn bản, có trí tự nhiên, nhưng không chịu khai thác nên không dùng được. Đức Phật đă giác ngộ viên măn nên trí tuệ của Ngài cũng viên măn. V́ vậy những ǵ Phật dạy chúng ta đến bây giờ hơn hai ngàn năm vẫn không lạc hậu, không sai sót. Đức Phật là một con người, chúng ta cũng là con người, đức Phật có sẵn trí vô sư, trí tự nhiên, trí căn bản, chúng ta cũng có đầy đủ như Ngài. Quí vị có tin không? Ḷng tin của chúng ta c̣n yếu quá. Bởi thế Phật tu giác ngộ, c̣n ḿnh tu hoài không thấy giác ngộ. Nếu chúng ta vững tin, khẳng định ḿnh cũng sẽ giác ngộ như Phật, mới mong thực hiện được nguyện vọng ấy. Ở thế gian, các nhà khoa học hoặc bác học, khi muốn nghiên cứu một đề tài ǵ, họ phải dồn cả tâm lực, có khi quên cả vợ con, quên cả tắm rửa, dồn sức đi sâu trong vấn đề đang nghiên cứu. Nhờ dồn sức như vậy, qua một thời gian bỗng dưng họ sáng lên gọi là phát minh. Như vậy ai dạy họ phát minh? Tự họ sáng ra do tâm chuyên nhất, không tạp loạn. Đó là trí vô sư đă sẵn, nhưng trước kia họ lo học, lo t́m kiếm bên ngoài, lượm lặt bên ngoài nên trí ấy không thể phát ra được. Bây giờ họ trở lại chuyên tâm dồn sức để phát huy trí tuệ của ḿnh, do đó nó phát ra. Điều này chứng tỏ chúng ta ai cũng có sẵn trí vô sư, mà bỏ quên nên không dùng được rồi tự cho ḿnh khờ dại… Trong kinh Phật có nói rơ: “Nhất thiết chúng sanh giai hữu Phật tánh”, nghĩa là tất cả chúng sanh đều có tánh Phật. Chữ tánh là sẵn, ai cũng có sẵn tánh giác, không riêng ǵ Phật. Nhưng chúng ta có mà không biết t́m cách khơi dậy, không biết t́m cách phát sáng, nên nó cứ im ĺm ch́m lặng. Nếu chúng ta tu đúng cũng sẽ thành Phật. V́ vậy thành Phật hay không là chuyện của ḿnh, chớ không phải của ai. Chúng ta dám xưng là Phật tử mà không dám tin ḿnh sẽ thành Phật th́ vô lư quá. Nếu là con Phật, Ngài tu thành Phật, ta tu cũng thành Phật. Thế mà Như Lai ngại chúng ta yếu đuối không dám nhận, nên Ngài nói thêm: “Ta là Phật đă thành, các ngươi là Phật sẽ thành”. Như vậy tất cả chúng ta đều có chủng tử, có nhân duyên sẽ thành Phật. Người tu quyết chí đi tới giác ngộ viên măn, chớ không phải tu để mà tu, th́ nhất định sẽ thành Phật. Ngoài ra, có chỗ Phật c̣n nói: “Tất cả chúng sanh đă thành Phật”. Nghe câu này đa số không hiểu nổi. Nói sẽ thành Phật th́ chịu, c̣n đă thành Phật th́ lắc đầu, không chịu. Phật nói như vậy có quá đáng không? Thật ra v́ y cứ trên tánh giác sẵn có từ thuở nào của chúng sanh nên Ngài nói như thế. Bây giờ chúng ta làm sao cho tánh giác hiện đủ th́ thành Phật ngay thôi. Song, nếu tánh giác chưa hiện th́ nó cũng đă có sẵn nơi chúng ta rồi. V́ vậy đức Phật mới nói “tất cả chúng sanh đều đă thành Phật”, tức đều đă có Phật nhân. Ví như có người có ḥn ngọc quí vô giá. Nếu lấy ra dùng th́ họ sẽ thành người giàu có sang trọng. Nếu không lấy ra dùng, tuy họ mang thân nghèo khó trong hiện tại, nhưng ḥn ngọc quí vẫn nằm sẵn trong túi áo, nghĩa là họ vẫn có ḥn ngọc như thường. Đă có ḥn ngọc th́ lúc nào chẳng giàu. Tuy nhiên, dùng được th́ sự giàu sang ấy hiện rơ, c̣n chưa dùng được th́ sự giàu sang ấy tiềm ẩn, chớ không phải không giàu. Cũng vậy Phật đă khơi dậy được tánh giác nên Ngài thành Phật, c̣n chúng ta có tánh giác mà chưa khơi dậy nên ông Phật của ḿnh c̣n ngủ quên, chớ không phải không có. Ta cũng là Phật mà Phật ngủ. Bây giờ nếu khéo tu, khéo chuyển chúng ta sẽ thành Phật như Ngài, giác ngộ như Ngài. Đừng nghĩ ḿnh không có khả năng, rồi tự lui sụt. Cứ ôm mặc cảm thành Phật là chuyện của Phật, c̣n ḿnh là chúng sanh phàm phu xấu tệ, th́ phải chịu trôi lăn trong sanh tử, không biết bao giờ mới ra khỏi. Vấn đề là làm sao để khơi dậy tánh Phật đây? Thật ra không có ǵ khó hết. Như mùa mưa nước đục ngầu, ta cần nước nên xuống hồ múc nước đục đổ vô khạp. Nước này đục măi hay sẽ trong? Tuy nước đục mới đổ vô khạp c̣n nhiều cáu bợn, không thể dùng được. Nhưng nếu chúng ta khéo gạn lọc, nước đục từ từ lắng xuống, nó sẽ trở thành nước trong. Nếu không lắng mà cứ quậy hoài th́ nước đục sẽ không bao giờ trong. Khi nước trong rồi, ta nh́n vô thấy rơ mặt mũi ḿnh, phải không? Chẳng những thấy mặt ḿnh mà c̣n thấy những cảnh trời mây bên ngoài nữa. Như vậy nước trong từ đâu lại? Từ nước đục chớ ǵ. Nước trong đă sẵn, nhưng v́ hoà tan với đất bùn nên biến thành đục, nếu chúng ta khéo lóng nó sẽ trở thành trong. Tánh nước vốn trong, tại bụi đất ḥa tan thành đục. Cũng vậy, tâm chúng ta sẵn có tánh giác chân thật, nhưng v́ ta vọng tưởng điên đảo quá thành ra mờ tối. Bây giờ muốn hết mờ tối th́ dừng hết những vọng tưởng điên đảo ấy đi, đừng quậy nó lên nữa. Đức Phật nói: “Ta là Phật đă thành, các ngươi là Phật sẽ thành”, đó là một cách an ủi thúc đẩy chúng ta tiến lên. Có nhiều người cứ nghĩ ḿnh đủ thứ mê muội, đủ thứ xấu xa trông ǵ thành Phật. Cũng như thấy nước đục quá, không biết làm sao cho nó trong nên đổ bỏ, thật đáng tiếc! Chỉ cần lắng hết cặn bả th́ nước đục thành trong. Bởi tánh nó trong sẵn nên lắng nó mới trong, nếu tánh nó là đục th́ lắng ǵ lắng, vẫn đục như thường. Hiểu như vậy mới thấy lời Phật là chân thật, mở ra một con đường cho chúng ta tu hành. Bởi v́ chư Phật luôn muốn chúng sanh được giác ngộ, chớ các Ngài không muốn chúng ta ch́m măi trong luân hồi sanh tử. Chư Tăng Ni hay Phật tử tập tu thiền, ngồi ngó xuống im ĺm một hai giờ, không làm ǵ hết. Người ngoài thấy tu như vậy là ích kỷ, tiêu cực. Đối với thế gian một hai giờ làm ra tiền khá lắm chứ, c̣n ngồi ngó xuống hoài mất th́ giờ, có lợi ích ǵ đâu? V́ vậy họ cho rằng việc tọa thiền không thích hợp. Đó là v́ họ không hiểu, thật ra việc làm này rất phi thường. Tại sao? Bởi v́ nơi tâm chúng ta đă sẵn có tánh giác, nhưng v́ vọng tưởng điên đảo che phủ hoài. Bây giờ ta ngồi yên nh́n xem thực tướng nó là ǵ. Khi biết vọng tưởng chỉ là bóng dáng hư ảo, không thật ta không đắm mê chạy theo nó nữa, chúng tự lui tan. Đó là ta đang vén những áng mây mờ phủ che tánh giác xưa nay của ḿnh. Một việc làm để giải quyết tận căn để số phận con người trong ba cơi sáu đường như vậy mà cho là vô ích, tiêu cực được sao? Quí vị khi nào được năm ba phút không nghĩ việc này, việc nọ sẽ thấy trong đầu thảnh thơi sáng suốt vô cùng. Càng suy nghĩ càng rối rắm, càng suy nghĩ càng mờ tối, chớ không thể sáng được. Cũng như nước đục mà cứ quậy măi th́ đục hoài, không bao giờ trong được. Cũng vậy, tâm chúng ta điên đảo rối nuồi, cuồng loạn. Bây giờ phải ngồi lại nh́n nó, thấy được nó rồi tự nhiên hạn chế bớt sự cuồng loạn, bớt loạn lần lần sẽ đi đến yên định. Định rồi phát trí tuệ, nên trong nhà Phật dạy ba môn giải thoát là Giới, Định, Tuệ. Giới để ngăn ngừa, kềm chế tiếp xúc các duyên, th́ trong tâm sẽ bớt vọng tưởng. Tâm bớt vọng th́ dễ yên. Cho nên người giữ giới được rồi, ngồi tu tâm dễ yên định. Tâm đă yên định th́ trí tuệ chân thật hiện tiền, chớ không có ǵ lạ hết. Hiểu rơ như thế mới thấy việc tọa thiền rất quan trọng. Ta ngồi im lặng nhưng thật ra đang làm một việc, chuyển con người mê muội trở thành con người sáng suốt giác ngộ. Đó là chuyện phi thường chớ đâu phải thường. Nếu chúng ta không muốn trầm luân muôn đời muôn kiếp th́ phải vượt thoát ṿng sanh tử. Muốn vượt ra ngoài ṿng sanh tử chúng ta phải giác ngộ tṛn đầy. Ngồi thiền là cố gắng nỗ lực dẹp bỏ tâm điên đảo, để được giác ngộ tṛn đầy. Đây là việc làm của những con người sáng suốt lạc quan, yêu đời yêu đạo, chớ đâu phải như một số người đă hiểu sai lầm. Tôi xin hỏi quí vị một câu: Hiện giờ trong tâm quí vị nhớ cái ǵ nhiều nhất? Chắc chắn là nhớ người ḿnh thương hoặc nhớ người ḿnh ghét nhiều nhất, phải không? Có nhiều người nói tôi thù kẻ đó nguyện không đội trời chung, tức là nhớ tới muôn kiếp. Như vậy trong ḷng ḿnh chất chứa cái thương cái ghét, cái buồn cái giận, đủ thứ hết. Những thứ đó là nhân sẽ đưa chúng ta đi trong luân hồi sanh tử, gặp lại nhau để đền trả măi không thôi. Nếu ta cứ mặc t́nh cho những nhân ấy lồng lộn, làm rối rắm ḿnh măi th́ chừng nào mới ra khỏi luân hồi sanh tử. Cho nên phải chận, phải dừng hết không cho nó phát triển nữa. Nhà Phật gọi thương nhiều là ái, từ ái dẫn tới đời sau gặp lại nhau. Ghét nhiều là tắng, cũng là nhân dẫn tới đời sau gặp lại nhau. Muốn không gặp khổ đau bởi người thương kẻ ghét ở mai sau nữa, chúng ta phải làm sao? Thôi, đừng thèm thương ghét ai hết, bỏ hết, quên hết đi th́ đời sau không gặp lại. Người đă làm khổ ḿnh, nếu ta cứ giận hoài là nuôi lớn thêm nỗi khổ, chớ có được ǵ đâu. Như vậy bỏ hết lợi hơn hay ôm ấp lợi hơn? Biết bỏ là lợi, nhưng đa số chịu ôm chớ không chịu bỏ. Giữ hoài không nỡ bỏ, biết nó khổ nhưng vẫn ôm giữ nên Phật nói chúng sanh đáng thương. Do không tỉnh giác, cứ ôm ấp những nhân đau khổ, v́ vậy đời này khổ, đời sau càng khổ hơn. Thế nên Phật dạy chúng ta phải luyện lọc, chừa bỏ những niệm xấu ác để đời sau có mặt trên thế gian không gặp đau khổ, xấu ác nữa. Đó là tu. Nên nhớ chủ tạo thành nghiệp là tâm. Chúng ta ngừa đón được tâm, làm chủ được tâm rồi th́ sẽ không tạo nghiệp xấu ác. Không làm chủ được tâm, gặp duyên tới sanh đủ thứ chuyện không dừng được. Bây giờ ngồi lại tu cho tâm yên tịnh là ta giành quyền làm chủ, không để tâm rối loạn, muốn nghĩ ǵ th́ nghĩ. Người dụng công như thế, sức làm chủ không phải thường. Thế gian chịu làm chủ người này người kia, can thiệp dạy bảo thiên hạ. C̣n chính ḿnh làm chủ ḿnh không được. Gặp việc bất như ư giận la như điên, gặp việc thích thú th́ mê man tàn tịch. Người tu Phật không thể như thế được, phải tập làm chủ ư niệm. Một niệm vừa khởi lên ta bắt nó phải dừng, được như vậy mai kia mới làm chủ được nghiệp. Làm chủ được nghiệp mới tránh khỏi những con đường luân hồi đau khổ. Người tu ngồi yên tỉnh mới thấy coi như không làm ǵ hết, nhưng họ đang tranh đấu quyết liệt để chiến thắng chính ḿnh. Có thắng được ḿnh rồi chừng đó mới nói chuyện người khác. Ḿnh không thắng ḿnh mà muốn thắng người, đó là chuyện viển vông vô nghĩa. Ư chí quyết liệt thắng ḿnh là ư chí rất dũng căm. Người có ư chí dũng căm như vậy tu mới thành công. Hơn nữa việc chuyển từ một phàm phu thành Thánh nhân là chuyện lớn hay nhỏ, tầm thường hay phi thường? Chuyện rất lớn, rất phi thường. Người thế gian không phân biệt được phàm phu với Thánh nhân. Họ cứ ngỡ bay lên trời hay chui dưới đất mới là phi thường. C̣n ngồi yên lặng để chiến thắng ḿnh là tầm thường. Song người biết đạo thấy chiến thắng được ḿnh mới là phi thường. Đức Phật có dạy: “Chiến thắng vạn quân không bằng thắng ḿnh. Thắng ḿnh mới là chiến công oanh liệt nhất”. Cho nên việc tu tập này hết sức quan trọng, hết sức cần thiết. Chúng ta tiến lên từng bước, làm sao đời này là phàm phu, nhưng những đời sau tiến lên thành bậc phần giác tức Bồ-tát, lần lần đến viên măn. Nên nhớ ta không được dừng ở một chỗ. Đó là ư nghĩ quan trọng đối với người tu Phật. Người tu phải nỗ lực, phải quyết tâm cố gắng chuyển hóa tâm tư, chuyển hóa hành động, chuyển hóa nghiệp thức của ḿnh, xấu trở thành tốt. Để rồi chúng ta chuyển từ một phàm phu trở thành Thánh nhân. Đó là quyền của ḿnh, ta có thể làm được, phải tin chắc như vậy. Gốc của sự tu hành chính là tin nơi khả năng giác ngộ của ḿnh, tin nơi trí tuệ sẵn có của ḿnh. Tôi nhắc lại, chúng ta là Phật tử nên có ḷng tin đúng đắn về đạo Phật. Có ḷng tin đúng đắn rồi, trên đường tu chúng ta mới xứng đáng là đệ tử Phật, đang tập tiến lên trên con đường giác ngộ. Quí vị nhớ hiểu ứng dụng cho đúng th́ cuộc đời tu hành không tiến nhanh cũng tiến chậm, chớ không bao giờ dừng ở một chỗ. Ngược lại nếu cứ đi sai hoài, chẳng những không được tiến mà có thể c̣n bị lạc lối nữa. Tôi mong tất cả Tăng Ni là người lănh đạo Phật tử, quí vị đi và dẫn dắt Phật tử cùng đi đúng theo con đường đức Phật đă đi. Đừng đi sai, đừng đi lệch uổng một đời tu, không biết mai kia có gặp lại Phật pháp không? Làm sao chúng ta đứng vững và luôn luôn không bị những luồng gió nhơ nhớp của thế gian làm lem luốc, phải trong sạch vững vàng trên con đường đạo. Đó là chỗ tha thiết mong mơi của tôi. ] TẠI SAO NGƯỜI PHẬT TỬ PHẢI TỤNG KINH, NIỆM PHẬT, TR̀ CHÚ VÀ TỌA THIỀN? Chùa Quang Minh - Melbourne - 2002 Buổi giảng hôm nay tôi nói đề tài rất gần gũi với quí vị: Tại sao người Phật tử phải tụng kinh, niệm Phật, tŕ chú và tọa thiền. Phật tử thường nghĩ rằng ḿnh tu th́ phải tụng kinh, niệm Phật, tŕ chú và tọa thiền. Tất cả những việc ấy là một hay khác, chúng ta nên thực hiện hết hay thực hiện từng phần? Đó là nội dung buổi giảng hôm nay. Nếu Phật tử tu vừa tụng kinh, vừa niệm Phật, vừa tŕ chú, vừa tọa thiền th́ quá nhiều. Phật bảo: “Chúng sanh có nhiều phiền năo nên Phật cũng có nhiều pháp môn để đối trị”. Cho nên mỗi một phương pháp tu là thích ứng với mỗi căn cơ, mỗi bệnh của chúng sanh. Ai thích hợp với pháp môn nào th́ tu pháp môn ấy, tu một cách triệt để cũng đạt đến kết quả viên măn. Không nhất thiết tu một lượt hai ba pháp môn, mà chẳng pháp nào ra pháp nào, rốt cuộc không có kết quả ǵ. Tại sao chúng ta phải tụng kinh? Khi nói tới tụng kinh, nên biết có hai ư nghĩa quan trọng. Ưù nghĩa thứ nhất, tụng kinh là để nghe nhớ lời Phật dạy, ứng dụng tu hành. Ư nghĩa thứ hai, tụng kinh cốt làm sao cho tâm ḿnh không xao động, không chạy theo ngoại cảnh như lúc b́nh thường. Cho nên khi tụng kinh bắt buộc chúng ta phải chú ư từng lời, từng chữ trong kinh, dồn hết tâm vào kinh, tụng cho đúng. Vừa tụng vừa nghe tiếng tụng của ḿnh, tâm lắng diệu, tỉnh sáng. C̣n vừa tụng kinh vừa nghĩ chuyện này chuyện nọ là làm mất giá trị của việc tụng kinh. Tụng kinh đúng pháp, tâm chúng ta từ từ bớt xao xuyến, bớt loạn động. Đó là hiệu quả của tụng kinh. Tại sao Phật tử phải niệm Phật? V́ muốn về Cực Lạc. Pháp môn này chắc quí Phật tử đă từng thực hành. Thật ra niệm Phật là một pháp rất thiết yếu đối với người Phật tử. Phật tử nào đầy đủ ḷng tin là Tín, nguyện sanh về Cực Lạc là Nguyện và luôn luôn niệm Phật là Hạnh. Nói rơ hơn Tín là tin cơi Cực Lạc có thật, tin đức Phật A Di Đà sẽ đến đón ḿnh. Hạnh là đi đứng nằm ngồi luôn luôn niệm Phật. Nguyện là khi lâm chung, mong Phật sẽ đến đón chúng ta về Cực Lạc. Có đầy đủ ba yếu tố Tín, Hạnh, Nguyện th́ niệm Phật sẽ đạt được kết quả tốt. Nhưng hiện nay Phật tử niệm Nam mô A Di Đà Phật, mà đă hiểu ư nghĩa câu niệm Phật ấy chưa? Nhiều người thế gian hơi khó tính hay giễu cợt: “Ông bà nếu nghe người ta kêu tên ḿnh hoài chắc giận lắm.” Quí Phật tử nghĩ sao? Niệm Phật là gọi tên Phật hoài phải không, vậy Ngài có buồn có giận không? Đó là điều rắc rối, nếu chúng ta không hiểu sẽ không giải quyết được những thắc mắc của người thế gian. A Di Đà là danh hiệu Phật, tức tên của Ngài. Khi chúng ta niệm Phật là niệm Nam mô A Di Đà Phật. Chữ Nam mô nghĩa là cung kính. Nam mô A Di Đà Phật là cung kính đức Phật A Di Đà. Nhiều Phật tử đơn giản quá cứ A Di Đà Phật thôi, đó là gọi tên mà không nói lời cung kính. C̣n chúng ta xưng danh hiệu Ngài với ḷng cung kính quy ngưỡng th́ không có lỗi. Phật tử cần nên biết điều này để có ai thắc mắc hỏi, chúng ta giải đáp rơ ràng. Câu hỏi kế, chúng ta niệm danh hiệu đức Phật A Di Đà để Ngài đón ḿnh về Cực Lạc hay để làm ǵ? Kinh A Di Đà nói rơ quá, người niệm danh hiệu đức Phật A Di Đà từ một ngày cho tới bảy ngày, nhất tâm bất loạn th́ sẽ thấy đức Phật hiện tiền. Như vậy mục đích Phật dạy niệm danh hiệu đức A Di Đà, trước hết là để chúng ta nhất tâm bất loạn. Mà nhất tâm là vô niệm, v́ không c̣n một niệm tạp loạn nào. Nên nói niệm đến chỗ vô niệm, tức là chúng ta niệm Phật tới khi tâm không c̣n dấy niệm. Chỉ một tâm hoàn toàn tri giác không dấy động, gọi là nhất tâm. Bấy giờ nhắm mắt đức Phật A Di Đà và chư Thánh chúng sẽ hiện ở trước. Chúng ta thấy ư nghĩa tu hành quá rơ ràng. Dùng câu niệm Phật với ḷng cung kính, quên hết chuyện thế gian, chỉ nhớ Phật thôi. Nhớ cho tới bao giờ câu niệm Phật lặng, chỉ c̣n một tâm thanh tịnh, lúc đó thấy Phật A Di Đà ở trước mắt. H́nh ảnh này nói lên điều ǵ? Chúng ta tu là để lặng tâm lăng xăng điên đảo hàng ngày của ḿnh. Muốn lặng tâm đó phải tin tuyệt đối vào đức Phật, dốc ḷng niệm danh hiệu Phật càng ngày càng miên mật. Cho tới bao giờ được nhất tâm tức là vô niệm th́ Phật Di Đà hiện ở trước, không nghi ngờ ǵ hết. Quí Phật tử niệm Phật tới chỗ miên mật chưa? Chưa. Vậy mà đ̣i Phật đón ḿnh, lỡ Ngài quên không đón th́ sao? Tại ḿnh tu chưa đến nơi đến chốn nên không có kết quả, chớ không phải tại Phật quên. Người nào niệm Phật đến nơi đến chốn cũng đều có kết quả tốt. Tôi kể câu chuyện có thật để quí Phật tử, nhất là các Phật tử lớn tuổi cố gắng niệm Phật miên mật. Bà thân của thầy chúng tôi có nhiều con và tất cả đều ham tu. Thầy chúng tôi là con thứ chín. Bà ăn chay một tháng mười ngày thôi, nhưng chuyên niệm Phật, lúc nào cũng có xâu chuỗi huyền trên cổ. Khi bà quét nhà, một tay lần chuỗi một tay quét, nhổ cỏ cũng vậy, một tay lần chuỗi một tay nhổ. Ngày nào tháng nào năm nào cũng thế. Đến 84 tuổi bà bệnh nặng sắp tịch, chúng tôi về trợ niệm. Bà đang mệt nằm trên giường, thầy chúng tôi đứng trên đầu, Tăng Ni đứng hai bên, con cháu ngồi ở dưới chân cùng nhau trợ niệm cho bà. Khi bớt mệt bà cười hết sức vui, đứa cháu nội gọi: - Bà nội, bà nội! Bà thấy ǵ mà cười? Bà nói: - Thấy Phật A Di Đà đến rước tao. Đứa cháu hỏi: - Có cho tụi con theo không bà nội. Bà nói: - Không được, rước có ḿnh tao hà. Rồi bà lại cười, cười một hồi th́ im. Chừng mười phút sau bà cười một lần nữa y như vậy. Như thế đến ba lần th́ bà tắt thở. Cho nên bà chết không ai khóc được, v́ thấy bà cười mọi người đều mừng vui theo. Quí vị thấy người niệm Phật chí tâm, đi tới chỗ miên mật th́ thấy Phật không nghi ngờ. Đó là điều xác thật, không phải là tưởng tượng. Chúng ta niệm Phật cốt để đi tới chỗ nhất tâm. Nhờ câu niệm Phật không nhớ ǵ hết, nhất là quí cụ già có bệnh hay nhớ con nhớ cháu. Bây giờ đổi lại, nhớ niệm Phật, nhớ măi như thế sẽ quên nhớ con nhớ cháu. Nếu nhớ con nhớ cháu khi nhắm mắt sẽ lẩn quẩn theo con cháu nữa, chịu khổ trầm luân không biết bao giờ ra khỏi. Nên người tu lớn tuổi phải dồn hết tâm lực nhớ Phật thôi. Chỉ nhớ Phật th́ khi nhắm mắt theo Phật, không đi đường nào khác. Đó là ra khỏi ṿng sanh tử, hết khổ đau. Nếu c̣n nhớ con nhớ cháu th́ c̣n đi lại trong thế gian, lúc tốt lúc xấu không cố định. Nhiều khi đời này tốt mà đời sau không tốt. Cho nên Phật tử phải dè dặt cẩn thận. Các vị Tổ trong Tịnh độ thường nói câu này: “Người tu Tịnh độ như người đạp gai lấy gai mà lể” Nghĩa là sao? Tâm chúng ta lỡ lăng xăng lộn xộn quá, bây giờ muốn hết tâm đó phải mượn câu niệm Phật để trấn áp nó. Do đó câu niệm Phật giống như cây gai thứ hai để lể cây gai thứ nhất ra. Gai thứ nhất đă lấy ra rồi, nếu để cây gai thứ hai ở vết thương cũ th́ vết thương có lành không? Không. Lể rồi cũng phải bỏ cây gai thứ hai luôn vết thương mới lành. Chúng ta niệm Phật nhập tâm rồi, được miên mật không c̣n một niệm nào chen lẫn, cuối cùng câu niệm Phật cũng lặng luôn. Đó mới gọi là nhất tâm. Khi ấy nhắm mắt thấy Phật. Phật A Di Đà, Trung Hoa dịch là vô lượng thọ, vô lượng quang. Vô lượng thọ là sống lâu vô lượng, Vô lượng quang là ánh sáng vô lượng. Sáng suốt và sống măi đó là danh hiệu của Phật A Di Đà. Đức Phật dạy tất cả chúng ta khi tu đến chỗ kết quả viên măn sẽ có đầy đủ ba thân: Pháp thân, Báo thân và Hóa thân. Pháp thân không c̣n chết nên gọi là vô lượng thọ. Pháp thân luôn luôn sáng suốt, không mờ tối nên gọi là vô lượng quang. Quí Phật tử thấy Phật A Di Đà tức thấy được Pháp thân của ḿnh. Bấy giờ Phật khỏi đón về Cực Lạc, ta cũng nhập Niết-bàn được như thường. Kinh nói thấy Phật hiện tiền chính là ư này, chớ không phải mong Phật đón về Cực Lạc mà được thấy Ngài hiện tiền. Chúng ta tu nếu không nắm vững, không biết lối đi, cứ lẩn quẩn hoài. Càng niệm Phật càng quên chuyện đời, niệm càng lâu càng nhiều th́ việc đời càng giảm. Cho tới câu niệm Phật cũng lặng luôn, chừng đó nhất tâm bất loạn, đâu c̣n mong muốn sanh về chốn nào nữa. Chính khi ấy đức Phật mới hiện tiền. Phật đó chính là Phật pháp thân của ḿnh. Đó là kết quả của sự tu. Hiện giờ thân của chúng ta là thân ǵ? Báo thân. Báo là thân theo quả báo mà có. Người quả báo lành được thân đẹp, ít bệnh. Người quả báo dữ tuy được thân người mà bệnh hoạn tàn tật. Thân chúng ta không giống nhau tùy theo phước nghiệp của mỗi người. Đă là thân quả báo, chúng ta không thể nào giữ được măi, v́ hết nghiệp nó phải đi. C̣n Hóa thân ở đâu, chúng ta có không? Thật ra chúng ta cũng có Hóa thân mà ít ai biết. Tôi nhớ trong kinh Pháp Hoa, phẩm Hiện Bảo Tháp đức Phật Thích-ca giới thiệu với đại chúng trong tháp báu có thân của đức Phật Đa Bảo. Lúc đó chư tăng hỏi làm sao thấy được thân đức Phật Đa Bảo. Phật Thích Ca trả lời: Muốn thấy thân Phật Đa Bảo th́ các Hóa thân của Ngài đi làm Phật sự khắp nơi tụ họp về, mới thấy được. Thân Phật Đa Bảo trong tháp tượng trưng cho Pháp thân, các Phật đi làm Phật sự khắp nơi là Hóa thân. Khi nào Hóa thân tụ hội về một chỗ th́ thấy được Pháp thân. Chúng ta cũng có Pháp thân mà không thấy v́ Hóa thân đi làm việc nhiều quá, chạy ngược chạy xuôi đầu này đầu nọ liên miên. Chừng nào Hóa thân tức những niệm vọng động dừng lặng, bấy giờ Pháp thân mới hiện ra. Một ngày quí vị nghĩ chừng bao nhiêu việc? Có khi chạy từ đây qua Mỹ, rồi trở về Việt Nam… xong lại chạy tiếp, chạy liên miên. Thử hỏi làm sao Pháp thân xuất hiện được? Tất cả kinh Phật dạy ư không khác, đều nhắc chúng ta phải qui tụ tâm lăng xăng về chỗ lặng lẽ, không c̣n dấy động nữa. Lúc đó Pháp thân hiện ra, là giải thoát sanh tử. C̣n nếu chạy theo tâm lăng xăng, tích cực làm Phật sự trong cơi ngũ dục, th́ ngược xuôi trong ba cơi hoài, không có ngày ngừng. Chúng ta tu cố gắng làm đúng như lời Phật dạy, nhất định sẽ được kết quả tốt. Đó là tôi nói về ư nghĩa niệm Phật. Tại sao chúng ta tŕ chú? Tŕ chú là sao? Thí dụ quí bà khi gặp tai nạn hay qua chỗ tối sợ ma, th́ tŕ chú để bớt sợ. Quí vị tưởng nhờ thần chú ma quỷ hoảng chạy. Như vậy tŕ chú để dẹp ma dẹp quỷ hay tai qua nạn khỏi. Hiểu như thế là quá sơ sài. Phật không dạy điều này bao giờ. Vậy ư nghĩa tŕ chú ra sao? Mật tông dạy chúng ta tŕ chú muốn được kết quả viên măn th́ phải tam mật: là Thân mật, Khẩu mật và Ư mật. Mật là thâm diệu. Thâm diệu tới chỗ ba nghiệp lặng lẽ hoàn toàn, thân lặng, khẩu lặng, ư lặng. Nói tam mật chớ động cơ chủ yếu là ư. Ư mật th́ tất nhiên thân, miệng cũng mật, dù ta vẫn đi vẫn nói nhưng tâm luôn thanh tịnh. Ư lặng yên th́ c̣n lăng xăng không? Không. Như vậy tŕ chú được tam mật có khác với nhất tâm đâu. Cho nên tŕ chú cũng với mục đích đưa chúng ta tới chỗ ư mật, tức là nhất tâm. V́ vậy niệm Phật, tŕ chú đều gặp nhau ở chỗ cứu kính, chỉ khác nhau ở phương pháp. Nếu niệm Phật muốn có kết quả th́ khởi đầu phải Tin. Tin cơi Cực Lạc, tin đức Phật A Di Đà, rồi tới Hạnh, Nguyện. C̣n tŕ chú khởi đầu là tin sự huyền bí của câu chú. Như chú này linh lắm, khi tŕ chú này được các vị thần ủng hộ, ma quỷ chạy hết. Một bên tin Phật, một bên tin sự linh nghiệm, mầu nhiệm của thần chú. Nhờ ḷng tin đó hành giả cố gắng niệm. Kết quả một bên được nhất tâm, một bên được ư mật. Rơ ràng hai phương pháp khác nhưng cứu kính không hai. Tại sao chúng ta tu thiền định? Hiểu hai pháp trên th́ sẽ hiểu được pháp tu thiền định. Phật dạy chúng ta tu thiền định cốt để buông xả các niệm tạp loạn, tâm lặng lẽ thanh tịnh. Theo kinh Nguyên thủy Phật dạy Bát chánh đạo, trong Bát chánh đạo từ Chánh kiến cho tới cuối cùng là Chánh định. Theo kinh Đại thừa Phật dạy Lục độ, thứ nhất là bố thí tới thứ năm là thiền định, thứ sáu là trí tuệ. Như vậy có giống kinh Di Đà không? Định giống như niệm Phật được nhất tâm, Tuệ giống như thấy Phật Di Đà vô lượng thọ, vô lượng quang. Rơ ràng Kinh và pháp tu thiền không rời nhau. Hệ Nguyên thủy đạt tới Chánh định là chót, nhưng hệ Đại thừa từ định phải qua trí tuệ mới rốt ráo. Đúng như kinh Di Đà, Phật dạy nhất tâm rồi thấy Phật Di Đà. Chúng ta tu thiền định là tu thế nào? Nhiều vị không hiểu nói người mới tu thiền phải quán hơi thở tức là sổ tức. Sổ tức là đếm số, hít vô cùng đếm một, thở ra sạch đếm hai, đếm tới mười bỏ, rồi đếm trở lại một. Cứ như vậy đếm hoài cả buổi có lợi ích ǵ đâu, mầu nhiệm ǵ đâu. C̣n người ta niệm Phật có phước. Nhưng tại sao chúng ta đếm hơi thở? V́ muốn dừng tâm lăng xăng. Như hít vô nhớ ḿnh hít vô tới đâu, thở ra nhớ ḿnh thở ra tới đâu, rồi nhớ số nữa. Bắt nhớ như thế để tâm quên chạy theo vọng tưởng. Pháp tu có khác nhưng trọng tâm không hai, cốt dừng tâm chạy ngược chạy xuôi hàng ngày. Dừng được tâm này là định nên nói thiền định. Thiền định là tiếng Ấn Độ, Trung Hoa dịch là Tĩnh lự, nghĩa là lặng cái suy nghĩ lăng xăng, chớ không ǵ lạ. Qua giai đoạn đếm hơi thở rồi đến giai đoạn theo hơi thở. Khi ta chú tâm đếm hơi thở, tâm không chạy bậy, lần lần thuần thục ta bỏ đếm, chỉ theo hơi thở thôi. Nghĩa là hít vô tới đâu biết, thở ra tới đâu biết. Theo dơi như người thiếu nợ trốn chủ, bất thần chủ nợ t́m gặp, nên theo sát lưng không bỏ. Tu cũng vậy, ban đầu đếm hơi thở, sau đó theo hơi thở thật khít khao để tâm không tán loạn. Đó là phương tiện buổi đầu của người tập tu thiền. Ở đây chúng tôi dạy tu thiền hơi khác hơn một chút. Tôi dạy khi niệm dấy khởi lên biết nó là hư dối, bỏ. Không chạy theo mà cứ chỉ mặt nó hoài, lâu ngày nó tan mất. Bởi v́ khởi nghĩ của ḿnh không thật, mà mê theo nó th́ thành thật. Như giận người A, khi dấy niệm giận ḿnh theo niệm đó phát nổi hung hăng, muốn chửi đánh người ta, thành ra có tạo nghiệp. C̣n vừa nhớ tới chú A liền bỏ không nghĩ, th́ đâu c̣n tức mà muốn đánh chửi người ta. Manh mối ban đầu vừa mọc mầm liền thấy, chỉ mặt nó th́ nó dừng lại nhẹ nhàng. Niệm Phật là dùng câu niệm để dẹp vọng tưởng, tŕ chú là dùng câu thần chú để dẹp vọng tưởng, c̣n tọa thiền dùng trí thấy thẳng, chỉ thẳng vọng tưởng để dẹp nó. Nhưng chỉ thẳng để dẹp là thấy ngay lẽ thật, chớ không mượn phương tiện để dẹp. V́ vậy tới chừng vọng tưởng lặng là xong, không c̣n ǵ để bỏ nữa. Như vậy tu tụng kinh, niệm Phật, tŕ chú, tọa thiền, trọng tâm đều dừng các niệm lăng xăng. Tất cả pháp Phật dạy không có ư khác, chỉ khác ở phương tiện thôi. Thiền tông dạy trực chỉ nhân tâm tức chỉ thẳng tâm người, kiến tánh thành Phật là nhận ra bản tánh của ḿnh th́ thành Phật. Chỉ thẳng tâm người là tâm lăng xăng, tâm điên đảo đó. Nó vừa dấy lên, chỉ mặt rầy th́ nó lặng. Cho tới bao giờ tâm ấy hoàn toàn lặng hết th́ tánh Phật hiện ra. Tánh Phật là Pháp thân, ngang đó gọi là kiến tánh thành Phật, tức nhận ra bản tánh th́ thành Phật, cũng như thấy Phật Di Đà. V́ vậy người tu thiền không đặt ḷng tin mà đặt trí tuệ lên hàng đầu. Nh́n thẳng thấy rơ ràng, không để nó lừa gạt ḿnh. Nó rủ đi đâu là chận liền, không cho nó dụ dỗ. Ba pháp tu tuy nói ba nhưng gốc chỉ có một. Cho nên người tu Tịnh độ không nên chê người tu thiền. Người tu thiền không nên chê người tu Mật v.v… Chỉ chê là chê tu không đúng thôi. Nếu tu đúng lời Phật dạy th́ pháp nào cũng đưa đến nhất tâm, đưa đến chỗ cứu kính thành Phật. Phật tử bây giờ có bệnh, ḿnh tu thích hợp với pháp này liền chê pháp của người khác, khen pháp của ḿnh. Do đó tâm lăng xăng càng tăng trưởng chớ không giảm. Như vậy đâu phải tu. V́ tu là để giảm suy nghĩ lăng xăng, rối bời đó mà ḿnh tu càng ngày càng tăng là không đúng rồi. Cho nên thấy người tu niệm Phật, ta hoan hỷ nói “Chị tu niệm Phật tốt. Ráng niệm cho nhất tâm”. Thấy người tu tŕ chú, nói “Anh tu tŕ chú tốt. Ráng tŕ cho tới tam mật”. Thấy người tu thiền nói “Anh tu thiền tốt. Ráng ngồi thiền cho được định”. Như vậy ai cũng tốt hết. Người biết tu phải hiểu cho thấu đáo để không hờn phiền những người đồng đạo. Nếu không khéo sẽ dẫn tới t́nh trạng người này trách người kia, người kia phiền người nọ. Chính huynh đệ trong đạo chỉ trích nhau hoài, không ḥa thuận nói ǵ tu hành. Bởi vậy nên tất cả quí vị phải thấy rơ điều này. Tại sao Phật dạy chúng ta phải dẹp cái nghĩ lăng xăng lộn xộn của ḿnh? Những ư nghĩ quấy dẹp th́ phải, nhưng ư nghĩ phải tại sao cũng dẹp? Nếu nghĩ xấu sai, ta sẽ nói làm theo nghiệp ác. Nếu nghĩ tốt dĩ nhiên ta nói làm theo nghiệp lành. Như vậy nghiệp lành, nghiệp ác từ ư nghĩ mà ra. Nghiệp ác th́ đọa vào đường dữ, nghiệp lành th́ sanh về cơi lành. Nhưng dù lành hay dữ cũng c̣n trong ḍng trầm luân sanh tử, c̣n trở đi trở lại măi trong ba cơi là c̣n khổ. Tại sao nghiệp lành vẫn không giải thoát? V́ nghiệp lành th́ sanh cơi lành, như được làm người sung sướng. Nhưng mấy chục năm hưởng hết phước rồi cũng chết. Hoặc sanh lên cơi Trời, ở cảnh cao sang muốn ǵ được nấy, nhưng hết phước cũng đọa xuống trở lại. Lên lên xuống xuống không có ngày cùng. Chỉ có ra khỏi ḍng sanh tử mới được giải thoát, hết khổ đau. Bây giờ nếu chúng ta tu tới nhất tâm, không c̣n nghĩ thiện nghĩ ác th́ đi đâu? Hết nghĩ th́ hết nghiệp, hết nghiệp là hết sanh tử, đó là giải thoát chớ ǵ. Chỗ cứu kính chân thật đức Phật chỉ cho chúng ta thấy là cái sáng suốt, bất sanh bất diệt nên gọi là Niết-bàn, vô sanh. Không có sanh lấy ǵ có tử. Đức Phật v́ thương chúng sanh mê lầm đuổi theo hư ảo cho là ḿnh, rồi cả ngày sống trong cái hư ảo đó, chịu vô lượng khổ đau. Đă sống trong hư ảo th́ dù làm việc tốt cũng chưa hẳn là tốt. Ví như có hai nhóm đi làm từ thiện. Nhóm A được nhiều người hoan nghênh, nhóm B cũng làm từ thiện nhưng lại bị nhiều người chỉ trích. Vậy nhóm B có có vui nh́n nhóm A không? Bị thua th́ giận rồi, mặc dù giận v́ làm việc thiện. Bởi vậy nói tâm của chúng ta không chân thật. V́ nó hư ảo nên biến chuyển luôn. Do đó nhiều người lúc nhỏ rất hiền lành, nhưng lớn lên bị ngoại duyên không tốt tác động lâu ngày trở thành hung dữ. C̣n có người lúc nhỏ hung dữ, nhưng lớn lên nhờ gần gũi duyên tốt nên trở lại hiền lành. Tâm ta luôn đổi thay, không đứng một chỗ. Gặp môi trường tốt, thầy tốt, bạn tốt th́ tốt theo, gặp môi trường xấu, thầy xấu, bạn xấu th́ xấu theo. Tâm đó tùy thuộc ngoại cảnh chớ không tự làm chủ được. Vậy mà tất cả chúng ta đều đuổi theo nhận nó là ḿnh, thử hỏi có đáng buồn không? Nếu chúng ta không nhận những suy nghĩ lăng xăng lộn xộn đó là tâm ḿnh, th́ dù ở chung cả trăm ngàn người cũng không có chuyện căi vă, nói ǵ đánh đập nhau. Sở dĩ chúng ta ở chung có chuyện này, chuyện kia là v́ không đồng ư nhau. Mỗi người đều cho cái suy nghĩ là đúng, là tâm ḿnh nên rồi hơn thua, phải quấy, oán thù đủ chuyện. Nuôi tâm ấy như nuôi kẻ cướp trong nhà vậy. Do đó Phật nói: “Nhận giặc làm con”. V́ nhận giặc làm con nên cưng nó, nghe lời nó, không chịu bỏ nó. Đă vậy th́ đời ta cứ đi trong trầm luân đau khổ không có ngày cùng. Muốn ra khỏi ḍng sanh tử không ǵ hơn là lặng được chú tạo nghiệp đó. Nghĩa là đừng nhận nó làm con nữa, đuổi nó ra khỏi nhà. Dễ quá, nó không phải là con ḿnh th́ đuổi đi. Nhưng khổ nỗi ta lại thương nó, không chịu đuổi. Khi thấy chúng sanh mê lầm như vậy, đức Phật có thương không? Có. Chúng ta thấy tượng đức Phật A Di Đà đứng duổi tay xuống, phía dưới là chúng sanh đang lặn hụp giữa biển cả mênh mông. Ngài đưa tay xuống chờ chúng sanh ngốc đầu dậy th́ kéo liền. Nhưng chúng sanh cứ mải miết lặn hụp không chịu đưa tay cho Ngài kéo. Ngài sẵn sàng vớt mà ḿnh không chịu đưa tay. Mỗi một ngày hết mười hai tiếng chúng ta chạy theo cái hư giả, chỉ c̣n một hai tiếng trở về cái thật, nên ráng buông xả cho các vọng tưởng lặng xuống, giành quyền làm chủ phần nào. Nếu không ḿnh cứ bị nó làm chủ ḿnh hoài. Ngày nào ta giảm bớt được hơn thua, phải quấy th́ ngày đó an vui. Ngược lại, nếu cứ để nó lôi dẫn chạy ngược chạy xuôi hoài, khi nhắm mắt chắc chắn phải luân hồi sanh tử. Phật tử tu mà không hiểu, cứ ỷ lại vào thầy. Tháng nào cũng đi chùa cúng thầy một ít, chừng nào nhắm mắt mời thầy tới độ cho về Cực Lạc, khỏe ru. Tu như vậy th́ oan cho đạo Phật quá. Quí vị phải nhớ chúng ta lo cho Tam bảo, để việc giáo hóa mọi người thức tỉnh được trường tồn, được phát triển. Muốn thế bản thân ḿnh phải tu, rồi tạo điều kiện hỗ trợ Tam bảo tồn tại lâu dài nơi thế gian, đem lại lợi ích cho tất cả chúng sanh. Hôm nay tôi nhắc những điều thiết yếu cho tất cả quí Phật tử biết, ứng dụng tu đúng pháp Phật dạy. Bây giờ quí vị đă hiểu tại sao chúng ta phải tụng kinh, niệm Phật, tŕ chú, tọa thiền rồi, mong tất cả thực hành đúng theo chủ ư Phật dạy. Đừng v́ sự tu mà tạo phân biệt, nuôi lớn thêm phải quấy đối đăi, trái xa với bản ư Phật dạy, cũng là tự vùi lấp sự giác ngộ của ḿnh. Hiểu vậy trên đường tu tôi tin chắc quí vị sẽ tiến, sẽ đạt được kết quả tốt đẹp. ] NHỮNG ĐIỀU CẦN THIẾT TRONG SỰ TU HÀNH Thiền tự Hỷ Xả – Nam Úc - 2002 Đây là lần thứ hai chúng tôi đến đây giảng Phật pháp. Sau lần này, không biết c̣n có duyên trở lại nữa không, nên hôm nay chúng tôi nói hết những điều cần thiết trong sự tu hành cho quí Phật tử nghe hiểu và ứng dụng tu. Nói về những điều cần thiết trong sự tu hành, ở đây tôi nêu ra hai nghi vấn: Nghi vấn thứ nhất, tại sao trong đạo Phật nhất là Phật giáo Việt Nam hiện nay, đa số các chùa dạy tu Tịnh độ, niệm Phật cầu về Cực Lạc dễ tu, mà tôi lại chủ trương tu thiền, khó khăn nhọc nhằn? Nghi vấn thứ hai, thời đại ngày nay thời gian rất quí báu. Một ngày, một buổi, một giờ đều rất quí, thế mà Tăng Ni ngồi thiền ngó xuống im ĺm cả một giờ, hai giờ. Như vậy có phí phạm thời giờ không? Tôi sẽ tuần tự giải thích từng vấn đề một cho quí Phật tử biết. Vấn đề thứ nhất, hiện nay Phật giáo Việt Nam phần đông đều tu Tịnh độ, phương pháp này rất dễ tu. Tại sao tôi lại dạy tu thiền? Tu thiền khó hay dễ? Lư do thứ nhất, nếu đọc lịch sử đức Phật, quí Phật tử thấy Ngài tu cách nào được giác ngộ thành Phật? Ai cũng biết Ngài tu thiền. Hiện giờ chúng ta nh́n lên tượng Phật Thích Ca, thấy khắc tượng Ngài ngồi thiền. Chúng ta là đệ tử của Phật th́ tu theo Ngài là hợp lư. Nếu Phật tu một đường, ḿnh hướng một nẻo th́ quả là không trung thành với Phật. Ngài đă ứng dụng tu thiền thành công, đạt kết quả viên măn, ngày nay chúng ta là đệ tử Ngài, ứng dụng theo con đường Phật đă đi, điều này không ai có thể chối căi được. Lư do thứ hai, đệ tử của đức Phật thời Ngài c̣n tại thế cũng như sau khi Ngài nhập diệt đều cũng đều tu thiền chứng quả A-la-hán. Từ tổ Ca Diếp được truyền tâm ấn măi cho tới chư Tổ thế kỷ gần đây đều nương pháp tu thiền mà chứng quả, thành Tổ. Ở Việt Nam chúng ta, những bài vị thờ chư Tổ trong các chùa cổ, đều ghi kế thừa các ḍng thiền ở Trung Hoa hoặc Việt Nam. Đến cuối thế kỷ XVIII tới thế kỷ XX, Phật giáo Việt Nam bắt đầu chuyển sang tu Tịnh độ. Như vậy đạo Phật có mặt ở Việt Nam từ thế kỷ thứ III đến thế kỷ XIX, tổng cộng mười sáu thế kỷ, chư Tổ đều tu thiền. Chỉ một hai thế kỷ sau này các Ngài mới tu Tịnh độ. Thế th́ cái nào gốc, cái nào ngọn? Chúng tôi có bổn phận hướng dẫn Tăng Ni Phật tử tu, nên khơi dậy cội gốc cho quí vị biết rơ để ứng dụng tu hành, nếu không chúng ta sẽ đi lệch. Hiện nay, trên thế giới những nước có đạo Phật như Tích Lan, Miến Điện, Thái Lan, Cao Miên đều tu thiền, chỉ có ở Việt Nam tu Tịnh độ. Điều này cũng có lư do, nhưng trong phạm vi bài giảng này, thời gian có hạn, chúng tôi tạm gác qua. Chúng tôi muốn người Phật tử tu theo đạo Phật phải nắm vững cái gốc, biết tột cái nguồn. Chớ không thể nghe người ta nói liền tin mà không hiểu rơ nguồn gốc tu hành của ḿnh. V́ vậy chúng tôi cố khơi dậy pháp môn tu thiền. Quí Phật tử thường hoang mang, tu thiền có một phương pháp hay nhiều phương pháp? Nhiều Phật tử nghiên cứu kinh điển Nguyên thủy, thấy dạy tu thiền Tứ niệm xứ hoặc quán hơi thở. Nhưng chúng tôi dạy hơi khác. Tôi sẽ giảng trạch chỗ khác ấy cho quí Phật tử biết rơ. Khi đức Phật Thích-ca Mâu-ni thành đạo dưới cội Bồ-đề, thời gian đầu Ngài chần chờ không muốn truyền bá giáo pháp. Đến khi chư thiên xuống đảnh lễ, cầu xin Ngài nên v́ chúng sanh mà lập bày phương tiện giáo hóa. Lúc trước đọc sử tới đoạn này tôi hơi ngạc nhiên. V́ đức Phật phát thệ nguyện lớn, thị hiện nơi đời để độ chúng sanh, sao bây giờ thành Phật rồi, Ngài không chịu đi truyền bá chánh pháp, đợi năn nỉ mới chịu thuyết pháp. Về sau nghiên cứu kỹ tôi mới thấy rơ, quả là chỗ đức Phật thấy, đức Phật được không thể nói cho người thế gian hiểu. Tại sao? Bởi v́ chỗ đó ngược hẳn với cái thấy của người phàm tục, nên làm sao nói giảng cho họ hiểu được. V́ vậy Phật không muốn nói. Khi chư thiên nài nỉ Phật dùng phương tiện giáo hóa chúng sanh, từ từ sẽ có người hiểu. Phật xét thấy điều này hợp lư nên kể từ đó mới chuyển bánh xe đại pháp. Bài pháp đầu tiên ở vườn Lộc Uyển là bài Tứ đế, nói đủ là Tứ diệu đế. Lâu nay người học Phật xem đây là chân lư đầu tiên, đức Phật tŕnh bày rất đúng, rất thật. Nhưng đó là phương tiện, chớ không phải chỗ cứu kính chân thật. Nếu quí vị có đọc kinh Kim Cang, kinh Viên Giác sẽ thấy Phật dạy rằng: Pháp của Phật như con thuyền hay chiếc bè đưa người qua sông. Khi lên bờ rồi phải bỏ chiếc bè. Kinh Viên Giác nói, ví như người muốn thấy mặt trăng đêm mùng năm, mùng sáu. V́ nó nhỏ khó thấy, người ấy hỏi bạn ḿnh mặt trăng ở đâu? Người bạn thấy được liền lấy tay chỉ bảo “mặt trăng ở đó”. Nương ngón tay người kia nh́n thấy mặt trăng. Khi thấy mặt trăng rồi ngón tay là vô nghĩa. Cũng thế, pháp của Phật dạy là phương tiện, giống như ngón tay để chỉ cho chúng ta đi tới chỗ chân thật. Chỗ chân thật ví như mặt trăng, đạt được chỗ chân thật rồi th́ phương tiện phải bỏ. Chúng ta nên biết pháp Phật là phương thuốc trị lành tâm bệnh cho chúng sanh. Bệnh lành th́ thuốc phải bỏ. Giả sử bây giờ chúng ta bị sốt rét phải uống thuốc sốt rét. Khi bệnh đă lành hoàn toàn, nếu thấy thuốc hay quá tiếp tục uống nữa th́ sao? Bệnh trở lại. Cho nên bệnh lành rồi phải bỏ thuốc. Pháp của Phật dạy là tùy bệnh cho thuốc. Chúng sanh có bệnh nào Phật cho thứ thuốc ấy. Ví dụ người tham ái nhiều, Phật dạy phương thuốc quán bất tịnh. Thấy thân nhơ nhớp quá sanh gớm nên hết tham ái. Người hiếu danh nhiều Phật dạy quán vô thường, danh vọng được rồi sẽ mất, chớ không bền, nhờ quán như thế nên bớt hiếu danh. Từng phương thuốc trị từng bệnh cho chúng sanh. Nhưng tất cả đều là phương tiện chớ không phải cứu kính. Ban đầu Phật dùng phương tiện dẫn dắt chúng ta, từ từ đi tới kết quả là cứu kính. Thế nên muốn đến chỗ cứu kính, trước phải qua phương tiện, nhưng đạt được cứu kính rồi th́ phải bỏ phương tiện. Chúng ta ngày nay cứ đem kinh đọc cho Phật nghe hoài, cho đó là tu kỹ. Ngày nào cũng đem kinh ra đọc mà không hiểu được ư Phật dạy. Học kinh để hiểu, hiểu để tu chớ không phải đem đọc cho Phật nghe. Phật tử chẳng những đọc cho Phật nghe, mà c̣n tính bộ với Ngài nữa. Quả thật là một sai lầm đáng thương! Sau một thời gian truyền bá lâu, đức Phật thấy tâm của các đệ tử đă thuần thục. Một hôm trên hội Linh Sơn, Ngài đưa hoa sen lên rồi nh́n toàn thể hội chúng. Các thầy Tỳ-kheo ngơ ngác không biết Phật muốn dạy ǵ, nhưng khi Phật nh́n tới ngài Ca Diếp th́ Tôn giả nh́n lại Phật mĩm cười. Phật liền xác nhận Ngài là người hiểu Phật và truyền tâm ấn của Như Lai cho tức th́. Chúng ta thấy bài thuyết pháp đó có ngôn ngữ ǵ không? Chỉ đưa cành hoa thôi, rồi nh́n hết hội chúng không nói một lời. Những người ngơ ngác th́ thôi, chỉ có ngài Ca Diếp mĩm cười. Phật biết Tôn giả đă lănh hội được cái Phật muốn chỉ, nhưng nó không có lời. Từ đó về sau ngài Ca Diếp truyền bá thiền tông ở Ấn Độ, trải qua hai mươi tám vị Tổ. Tổ thứ hai mươi tám là Bồ-đề-đạt-ma, Ngài lại truyền sang Trung Hoa sáu vị nữa. Sau đó người ngộ đạo đông quá nên không truyền riêng nữa, mà mở rộng thiền tông cho nhiều người tu, nhiều người hiểu. Đó là pháp tu đức Phật đă ngộ nhưng không thể nói được. V́ thế Ngài mượn phương tiện giáo hóa, nương nơi đó mà thấy được cái chân thật. Cũng v́ “cái đó” khó thấy khó nhận, nên chỉ một ít vị căn tánh nhậm lẹ mới thâm nhập được thôi. Như vậy pháp ấy khó hay dễ? Tổ Đạt-ma khi sang Trung Hoa có đặt bốn câu kệ, được nhà thiền xem như phương châm để nhắc nhở thiền tăng: Bất lập văn tự, Giáo ngoại biệt truyền. Trực chỉ nhân tâm, Kiến tánh thành Phật. Bất lập văn tự là không lập văn tự, chữ nghĩa ǵ hết. Giáo ngoại biệt truyền là truyền ngoài giáo lư, kinh điển. Trực chỉ nhân tâm là chỉ thẳng tâm người. Kiến tánh thành Phật là thấy tánh liền thành Phật. Tại sao truyền ngoài giáo lư? V́ giáo lư là phương tiện, mà ở đây không dùng phương tiện, chỉ thẳng thôi. Nên nói trực chỉ nhân tâm, thấy tánh thành Phật. V́ thế các Thiền sư thường chọn những người can đảm, chí khí trượng phu mới truyền tâm ấn. Ngài Huệ Khả trước tên Thần Quang, tu thiền cũng lâu. Khi nghe Tổ Đạt-ma sang Trung Hoa, ở chùa Thiếu Lâm ngồi xây mặt vào vách núi, mấy năm không nói chuyện với ai. Ngài t́m tới không biết làm sao thưa. Lúc ấy nhằm mùa đông tuyết xuống tới đầu gối, Ngài vẫn đứng thản nhiên từ đầu hôm đến sáng để cầu đạo. Biết được, Tổ xoay lại hỏi: - Ông cầu cái ǵ mà chịu khổ hạnh vậy? Ngài thưa: - Cúi mong Ḥa thượng từ bi mở cửa cam lồ, rộng độ chúng con. Tổ bảo: - Diệu đạo vô thượng của chư Phật, dù nhiều kiếp tinh tấn, hay làm được việc khó làm, hay nhẫn được việc khó nhẫn, c̣n không thể đến thay! Huống là dùng chút công lao nhỏ này mà cầu được pháp chân thừa ư? Nghe thế, Ngài liền đi ra phía sau, mượn cây dao chặt một cánh tay dâng lên Tổ để tỏ ḷng thiết tha cầu đạo. Tổ Đạt-ma đồng ư và nhận làm đệ tử, đặt tên là Huệ Khả. Huệ là trí tuệ, Khả là khá. Ư Tổ khen ngài Thần Quang có trí tuệ khá lắm nên mới dám hy sinh như vậy. Khi được nhận làm đệ tử rồi, một hôm Ngài thưa với Tổ Đạt-ma: “Bạch Ḥa thượng, tâm con không an xin Ḥa thượng dạy con pháp an tâm”. Tổ Đạt-ma không trả lời thẳng, mà bảo: “Đem tâm ra ta an cho”. Ngài Huệ Khả xoay lại t́m một hồi, tâm bất an mất tiêu, không thấy nó ở đâu. Ngài liền thưa: “Bạch Ḥa thượng, con t́m tâm không được”. Tổ bảo: “Ta đă an tâm cho ngươi rồi”. Ngay đó ngài Huệ Khả liền biết đường vào. Phật tử ai có tập ngồi thiền rồi, mới thấy tâm ḿnh lăng xăng lộn xộn thế nào. Cho nên ngài Huệ Khả xin pháp an tâm là điều hợp lư vô cùng. Chúng ta cũng giống hệt vậy thôi. Nhưng câu trả lời của Tổ dường như hơi ngược ngạo, dạy pháp an tâm mà lại bảo “đem tâm ra ta an cho”. Chính chỗ này ngày xưa tôi cứ ngỡ dường như Tổ đùa chơi vậy. Người ta tha thiết học hỏi, mà Tổ lại như đùa, không ngờ ngài Huệ Khả lănh hội được. Đó là điều chúng ta thấy khó hiểu. Sau này khi nhập thất tu, chúng tôi đọc lại sử, mới giật ḿnh thấy cái ngu trước. Bởi v́ chúng ta bị si mê nên măi ch́m trong sanh tử. Si mê cái ǵ? Si mê chấp thân này là thật, chấp suy nghĩ lăng xăng là tâm ḿnh thật. Hai cái si mê này khiến chúng ta cứ tạo nghiệp, đi măi trong sanh tử. Hiện giờ quí vị đều thầm đồng ư thân này thật nên mới quí, mới lo đủ thứ cho nó. Nếu ai nói không thật quí vị tin không? Chắc khó tin. Ví dụ có hai người đối trước một món đồ giả, một người nói thật, một người nói giả. Vậy trong hai người đó, ai ngu ai trí? Giả mà tưởng thật là ngu, c̣n giả biết giả là trí. Vậy tôi đặt câu hỏi lại, thân này thật hay giả? Giả. Nếu quí vị chỉ thấy giả theo câu hỏi của tôi, th́ khi ra khỏi giảng đường này sẽ thấy nó thật hết. Đó là chỗ mê lầm của chúng ta. Tôi đơn cử ví dụ thế này, như quí vị đang ngồi nói chuyện chơi với người thân, bất thần người ấy đứt gân máu ngă xuống tắt thở. Khi c̣n nói chuyện ta gọi đó là thật, đến lúc tắt thở mới biết nó giả. Nếu thật th́ lúc nào cũng thật, trước thật sau cũng thật. Mọi người khi c̣n đi đứng, nói năng đều cho là thật, đến chừng ngă ra chết ai cũng bảo giả hết. Như vậy là sao? Chẳng lẽ nửa thật nửa giả. Thật ra trong giả có thật mà chúng ta không biết, nên lầm cho nó hoặc toàn giả hoặc toàn thật. Chúng ta thử xét lại xem, hiện giờ ḿnh sống đây, lỗ mũi đang thở. Hít vô là mượn không khí bên ngoài vào. Thở ra là trả không khí ra ngoài. Hít vô trả ra đều đều th́ sống. Hít vô mà không trả ra không được, trả ra mà không hít vô th́ chết. Như vậy thật ở chỗ nào? Nếu thật th́ khỏi mượn, đă mượn th́ không thật. Một lát mượn tách nước, chút xíu lại trả ra. Đem vô trả ra. Đem vô được mà trả ra không được th́ đi cấp cứu. Mượn trả đều đặn th́ yên, không đều đặn không yên. Lâu hơn nữa th́ mượn chén cơm. Mượn rồi cũng phải trả. Rơ ràng thân này sống bằng sự vay mượn liên tục. Đă vay mượn mà nói thật th́ biết trí tuệ chúng ta tới cở nào? Chẳng lẽ ḿnh ngu hết sao! Thế mà ra đường ai nói ngu đâu có chịu, trong khi thực sự ḿnh ngu quá chừng? Nói thế để thấy chúng ta đang mê lầm. Từ mê lầm đuổi theo thân, lo cho nó, rốt cuộc rồi cũng mất. Như vậy có đáng thương không? Đức Phật giác ngộ thấy thân này giả, do đất, nước, gió, lửa hợp lại thành. Chất cứng là đất, chất ướt là nước, động là gió, ấm là lửa. Bốn thứ này cứ đem vô trả ra. C̣n mượn c̣n trả th́ c̣n sống, mượn mà không trả ra th́ chết. Như vậy ta có thân này, chẳng qua là cuộc sống vay mượn. Đó là điều thứ nhất. Thứ hai, quí vị thường cho những suy nghĩ phân biệt là tâm ḿnh. V́ thế buồn, thương, giận, ghét… đều là tâm ta. Nói “tôi buồn quá” th́ buồn là tôi. Tôi vui, tôi giận, tôi ghét v.v… tất cả là tôi hết. Cả trăm thứ, biết cái nào là tôi thật? Nên không có cái tôi thật. Như ta đang có chuyện buồn, bất thần một người bạn tri kỷ từ xa về, gặp lại nhau ḿnh vui liền. Như vậy buồn không thật, nếu thật khi vui đến buồn đi đâu? Như vậy vui buồn không phải thật ḿnh, chỉ là cái tạm bợ qua mất, mà ta lại chấp nó là tâm ḿnh. Từ chấp đó, ta nghĩ việc này phải làm như thế này mới đúng, làm khác là sai. Nếu ai đề nghị khác ḿnh, hoặc phản đối ư kiến nghĩ của ḿnh, ta sẽ nổi nóng liền. Bởi chấp tâm suy nghĩ là ḿnh, nên phiền năo phát sinh. Song chúng ta thử hỏi lại, những suy nghĩ của ḿnh có đúng trăm phần trăm không? Nếu ai cũng nghĩ đúng trăm phần trăm th́ bây giờ nhà toàn cả chục tầng, chớ không phải một hai tầng. V́ khi nghĩ đúng khi nghĩ trật, nên làm ăn mới thất bại. Nếu nghĩ đúng hết đâu có thất bại. Cuộc đời này thất bại nhiều, thành công ít, chứng tỏ con người nghĩ sai nhiều, nghĩ đúng ít. Vậy mà ai cũng cố chấp cái nghĩ của ḿnh là đúng, rồi sanh buồn giận, thương ghét đủ thứ hết. Lại nữa, những khi ta khởi nghĩ th́ thấy có nó, nhưng khi không nghĩ nó ở đâu? T́m không ra. Không có chỗ, không có h́nh tướng nên biết nó không thật. Lúc ngồi thiền, ư cứ nghĩ lăng xăng hoài, ta bực ḿnh nói tâm bữa nay xao động quá. Như thế cho cái nghĩ lăng xăng xao động ấy là tâm ḿnh. Phật bảo đây là kẻ mê. V́ vậy khi ngài Huệ Khả nói tâm con không an, tổ Đạt-ma biết Ngài đang lầm cái suy nghĩ là tâm thật, nên bảo “đem tâm ra ta an cho”. Ngài Huệ Khả t́m lại tâm, giật ḿnh không thấy nó ở đâu, mới thật thà thưa: “Con t́m tâm không được”. Tổ bảo “Ta đă an tâm cho ngươi rồi”. Như vậy an tâm bằng cách nào? Chỉ là nh́n lại tâm bất an xem nó từ đâu ra. Nh́n lại nó mất tiêu, đó là an tâm rồi. Tổ chỉ thẳng tâm ḿnh, không có phương pháp nào nên gọi là trực chỉ nhân tâm. Cái nào giả biết nó giả, để hiện bày cái thật. Rất đơn giản. Quí vị ngồi thiền, nghĩ cái này nghĩ cái kia, cho đó là tâm nên bị nó dẫn hoài. Nếu biết những suy nghĩ ấy vốn hư giả, không thèm theo th́ nó hết dẫn ta. Như vậy tu dễ hay khó? Rất dễ. Chỉ hết mê là giác. Biết những ǵ không thật, chúng ta tỉnh không theo liền hết mê. Tu Phật quan trọng nhất là t́m ra cái không thật. T́m được cái không thật rồi mới hiển bày cái thật. Lối dạy này có phương pháp không? Không có phương pháp. Có hợp với kinh điển không? Không có kinh nào nói “đem tâm ra ta an cho” hết. V́ chỉ thẳng nên không đi trong kinh điển, không có một pháp cho người. Tự ḿnh nh́n lại bằng trí tuệ của ḿnh. Nh́n lại để biết cái ǵ không thật, đừng lầm nó nữa. Lâu nay chúng ta cứ nhận hư giả là ḿnh nên Phật gọi chúng sanh si mê. Khi thấy thân này là vay mượn, nếu bị ai chê anh hay chị xấu, ta không quan tâm nên không buồn phiền. Sở dĩ người bị chê nổi sân đùng đùng là tại cho ḿnh thật, ḿnh quí, nên chê là làm nhục ḿnh. C̣n biết rơ thân tâm này không thật th́ việc tu không khó. Chúng ta hiện giờ đang cố chấp, đang mê trong sự sai lầm, v́ vậy tu rất khó. Chấp thân thật nên động tới la thôi là la, chấp tâm thật nên gặp điều trái ư nổi giận đùng đùng. Do đó khổ cả ngày. Chừng nào thấy được thân không thật, tâm không thật chúng ta sẽ sống thảnh thơi. Mỗi người đều có quyền thấy khác ḿnh, nên ai làm trái ư ta không giận. Hiểu như vậy là giải thoát được nhiều rồi. Phật thường dạy nếu chúng ta có nghĩ điều ǵ nên nói “đây là cái nghĩ của tôi”. Đừng nói cái nghĩ của tôi đúng, thêm chữ “đúng” th́ có chuyện. Bởi v́ hai cái đúng ngược nhau th́ đập nhau. Chỉ nói cái nghĩ của tôi, không luận đúng hay sai, dù khác nhau chúng ta vẫn thấy dễ chịu, có khi c̣n trao đổi ư kiến để rút kinh nghiệm thêm. Sống trên tinh thần ấy th́ hay quá. Nên người sáng suốt muốn t́m chân lư phải thấy rơ như vậy. Tâm không thật biết nó không thật, là người trí, người giác rồi. Thế nên biết ngồi yên tĩnh tu không làm ǵ hết, không phải vô ích, thật ra việc ấy có lợi ích lớn lao vô cùng. V́ vậy chúng tôi dạy tu thiền, chỉ dẫn quí vị ngồi yên tịnh nh́n lại xem niệm khởi từ đâu. Nó vừa dấy lên, ta biết vọng tưởng hư dối không theo, cứ thế công phu. Mới nghe thấy đơn giản, không có giá trị ǵ, nhưng thật ra chúng ta đang làm một việc lớn, đó là phá sai lầm muôn đời của ḿnh. Thấy rơ các tư tưởng sanh diệt liên tục, tạm bợ hư dối, không theo nó th́ nó phải chịu thua ḿnh. Đó là pháp an tâm của nhà thiền. Nói pháp nhưng thật ra không có pháp ǵ cả. Thiền tông chủ trương không có một pháp dạy người, chỉ dùng trí ḿnh soi lại để thấy cái thật cái hư nơi ḿnh. Đó là điều thiết yếu. Như vậy tôi đă giải quyết vấn đề thứ nhất rồi. Vấn đề thứ hai, chúng ta ngồi yên lặng có phải vô ích không? Ngồi yên lặng đúng như Phật Tổ dạy có một giá trị phi thường, mà người đời không biết. Trước hết chúng ta ngồi nh́n lại từng tâm niệm của ḿnh. Nếu chưa dẹp hết những tâm niệm lăng xăng, ít nhất vừa khởi nghĩ xấu nghĩ bậy, chúng ta biết đây là “nghĩ xấu nghĩ bậy”, bỏ. C̣n nghĩ tốt lúc đầu chưa bỏ, từ từ chúng ta cũng bỏ luôn, để đi tới chỗ vô tâm mới hợp với đạo. Miệng chúng ta nói, thân hành động gốc từ ư nghĩ mà ra. Khi biết ư nghĩ xấu bậy ta dừng, th́ miệng không nói xấu, thân không làm bậy nữa. Đó là ta chận ngay từ manh mối ban đầu. Để nói thành lời rồi xin lỗi cũng muộn màng quá. Ngồi lại để gạn lọc nội tâm ḿnh, những ǵ xấu dở buông bỏ, đó là việc rất có lợi. Chúng ta học những bài luân lư hay mà không thấy được ḿnh, khi làm quấy, nói quấy rồi hối hận cũng đă muộn. Người vừa nghĩ điều vô ích, bậy bạ liền chừa bỏ. Làm chủ được như vậy chắc không bao giờ đau thần kinh. Sở dĩ con người đau thần kinh là v́ nghĩ miên man, dừng không nổi. Loạn riết thành đau. Bỏ được loạn tưởng, sức mạnh tinh thần ngày càng cứng cỏi hơn. Đó là chúng ta làm chủ được một phần tâm niệm của ḿnh. Thời này người bệnh tâm thần nhiều ít? Khoa học càng tiến bộ, bệnh tâm thần càng nhiều. Tại sao? V́ khoa học tinh vi quá, người ta đuổi theo măi thành ra rối cái đầu, nên sanh loạn là lẽ thường. Chúng ta biết chận những cái nào không cần thiết, đừng để nó xảy ra, đó là lợi ích lớn. Nên nhớ khoa học là con dao hai lưỡi, nó có thể giúp được ḿnh rất nhiều, nhưng cũng đem đến tai hại cho con người không phải nhỏ. Nếu con người không kềm chế được tâm hay tinh thần vững vàng, th́ khoa học sẽ trở thành mối hiểm nguy lớn. Hiểm nguy cho bản thân, hiểm nguy cho cả nhân loại nữa. V́ vậy khoa học càng tiến, việc làm chủ tâm ḿnh lại càng cần thiết hơn. V́ vậy thời này tu thiền là điều rất thiết yếu, chớ không phải chuyện thường. Đó là nhu cầu không thể thiếu. Cho nên ở đây chúng tôi dạy tu từ gốc. Ư niệm tốt càng ngày càng tăng trưởng, đó là chặng thứ nhất. Kế đến, khi chúng ta buông bỏ được vọng tưởng, lúc đó ḿnh có làm chủ không? Tuy thời gian ấy rất ngắn, nhưng ta có làm chủ. Người không biết tu, niệm dấy lên cứ chạy theo hoài, đến lúc nằm xuống ngủ cũng không yên, hết nhớ chuyện này tới nhớ chuyện kia. Chúng ta biết chận đứng ngay khi niệm vừa dấy lên là làm chủ được nó. Thường ta làm chủ người ngoài dễ hơn làm chủ ḿnh. Đối với người ngoài ḿnh có thế lực mạnh hơn th́ làm chủ được họ. C̣n tâm dù ta là ông lớn cở nào, làm chủ cũng không được. V́ vậy phải làm chủ ḿnh trước. Phật dạy: “Thắng một vạn quân không bằng thắng ḿnh. Thắng ḿnh mới là chiến công oanh liệt”. Thắng ḿnh là thắng những tâm niệm lăng xăng dấy khởi. C̣n thắng người ngoài thấy như mạnh, nhưng rốt cuộc không hơn ai. Đọc truyện Tàu, ta thấy Từ Hải rất mạnh, vậy mà thua Thúy Kiều. Cho nên thắng được ḿnh mới là người làm chủ tất cả. Làm chủ như vậy mới xứng đáng là người hoàn toàn sáng suốt trên thế gian. Chúng ta tu thiền là tập làm chủ ḿnh từ từ. Ban đầu không thể lặng được các vọng tưởng, nhưng ta biết chận nó, không theo nó, lần lần ta sẽ làm chủ được phần nào. Đó là chỗ thiết yếu. Khi ngồi thiền, vọng tưởng khởi lên ta biết có vọng tưởng, vọng tưởng lặng xuống ta biết vọng tưởng lặng. Vậy cái ǵ biết vọng tưởng? Vọng tưởng không phải ḿnh, là cái bị ḿnh biết. Trong mười mục chăn trâu, mục thứ nhất t́m trâu, thằng chăn với con trâu là hai. Khi bắt được trâu rồi, dằn co với nó là nói lên h́nh ảnh khi chúng ta biết nh́n lại nội tâm, những thứ lâu nay ta cho là tâm ḿnh, bây giờ nó bị ta biết hết. Vậy ai biết? Chính cái hay biết luôn nằm sẵn bên trong mà ta quên, chỉ nhớ những nghĩ suy nổi trôi thôi. Đó là v́ chúng ta quên gốc chạy theo ngọn. Phút giây nào ngồi thấy được niệm khởi, phút giây đó ta thấy rơ ràng có hai bên: một bên bị thấy và một bên hay thấy. Bị thấy là khách, hay thấy là chủ. Khách, chủ rơ ràng mà ta chỉ nhớ khách quên chủ, có phải si mê không? Như vậy để thấy việc tu thiền đem lại một sự thức tỉnh mạnh mẽ cho mọi người. Trong lúc ngồi phản quan nh́n lại ḿnh, đă có cái hiện tiền nên mới thấy được cái giả. Cái giả hết nổi lên lại lặng xuống. Nổi lên là sanh, lặng xuống là diệt, cứ sanh diệt liên miên. Nhưng thấy được cái sanh diệt đó, cái thấy này không có sanh diệt. Như vậy chúng ta có một cái chân thật mà ḿnh bỏ quên hoàn toàn. Bây giờ có thời gian nghiệm lại, chúng ta mới biết lâu nay ḿnh mê muội. Khi biết rơ vọng tưởng hư dối, từ từ ta bớt say mê theo nó, như mục đồng chăn trâu, cầm roi đánh vào mông nó vậy. Ở đây làm sao đánh vào tâm được, nên ta chỉ quở: “Vọng tưởng không thật”. Quở vậy để ḿnh đừng lầm theo nó nữa. Khi vọng tưởng từ từ thưa dần, ông chủ sẽ hiện ra từ từ. Như vậy muốn thấy mặt thật của chủ, phải đuổi hết khách. Ví dụ tôi ngồi trong thất, có hai ba chục vị khách tới thăm. Khi tiếp khách th́ chủ khách nói chuyện lộn xộn khó phân. Nhưng một lát khách về hết, c̣n người ngồi lại là chủ chớ ai. Cũng thế, chúng ta điều phục được vọng tưởng lặng hết th́ ông chủ hiện ra, đâu c̣n nghi ngờ ǵ. Như vậy có một cái thật ở trong mà ta quên, cứ chạy theo cái giả nên rồi điên đảo suốt đời. Dùng trí tuệ thấy đúng như thật, th́ trên đường tu không khó. Nếu người uyển chuyển khéo tu, những vọng tưởng hư dối từ từ tạm thưa, bấy giờ cái chân thật lóe ra từ từ. Ta không t́m kiếm cái ǵ khác, cũng không mượn pháp nào. Đó là trực chỉ nhân tâm. Khi thấy cái thật của ḿnh rồi, các thứ giả tan hết, gọi là nhận ra bản tánh sẵn có từ muôn đời, gọi là kiến tánh thành Phật. Đơn giản, thật là đơn giản. Bởi thế đường lối tu này gọi là đốn giáo. Tức đi thẳng, không qua thứ tự phương tiện. Đi thẳng th́ ban đầu rất khó, nhưng tiến vô được rồi mới thấy việc làm không c̣n ngờ nữa, mà tin chắc. Tin ta có cái thật sẵn nơi ḿnh là tin ở khả năng giác ngộ của ḿnh. Thế mà Phật tử có ai dám nói tôi tu để giác ngộ thành Phật đâu. Chỉ nghĩ tu để đời này có phước, đời sau sanh ra đẹp hơn, sung sướng hơn. Hài ḷng ngang đó chớ không mong tu giác ngộ thành Phật. Đó là quí vị tự đánh mất khả năng giác ngộ của ḿnh rồi. Biết ḿnh có khả năng giác ngộ là một lẽ, nhưng phải làm sao mới giác ngộ? Chỗ này nhiều người hay nghi, sợ tu lâu trở thành người ngu. V́ các Thiền sư thường hay nói “như ngu như ngơ”. Một Thiền sư Việt Nam đă nói: Kinh điển lưu truyền tám vạn tư, Học hành không thiếu cũng không dư. Đến nay tưởng lại chừng quên hết, Chỉ nhớ trong đầu một chữ Như. Quên hết, chỉ c̣n một chữ “Như”, thế th́ tu hay hay tu dở? Khi buông hết suy nghĩ vọng tưởng, thấy ḿnh như ngu như ngơ, tưởng là ngu nhưng đó như như lặng lẽ, chớ không phải ngu. Tất cả chúng ta ngày nay ai cũng đua đuổi theo học vấn. Người nào hiếu học th́ được khen, được quí. Học càng nhiều càng trở thành học giả, bác học nên người ta thích lắm. Song đặt câu hỏi lại, tất cả những sở học đó có là chân lư chưa? Như khoa học, những phát minh trước kia với phát minh bây giờ giống nhau không? Không giống. Như vậy phát minh hồi xưa tới bây giờ bị bỏ mất, không dùng nữa. Thế th́ biết đâu những ǵ ḿnh học được ngày nay, mai kia cũng bỏ luôn. Cho nên ta lượm lặt các kiến thức bên ngoài, tới chừng nó lạc hậu phải bỏ, học cái khác nữa. Như vậy học chừng nào rồi? Tới chết cũng chưa rồi, v́ người ta cứ phát minh hoài. Đó là nói về khoa học. Nói về Triết lư. Những triết lư ngày xưa có c̣n hợp với triết lư ngày nay không? Nói gần nhất như Khổng Tử là vị Thánh mà tổ tiên chúng ta kính thờ. Nhưng nếu bây giờ Khổng Tử có mặt ở đây th́ thuyết khuê môn bất xuất của Ngài, mấy cô có chấp nhận không? Không. Thế là ngài trật rồi. Mỗi thuyết được ở lúc kia mà không được ở lúc này. Triết lư thế gian cũng vậy, tùy theo nhu cầu của thời đại mà nó được chấp nhận hay bị bác bỏ. Như vậy học tới đâu mới rồi? Ta thâu cứ thâu vô rồi bị lỗi thời, chớ không là chân lư muôn đời. Ngược lại nhà Phật tu th́ bỏ ra. Hành giả là bỏ ra chớ không thâu vô như học giả. Cho nên người tu là hành giả chớ không phải học giả. Đức Phật ngồi dưới cội Bồ-đề bốn mươi chín ngày đêm, Ngài học với ai? Không học với ai hết, chỉ thiền định cho tâm yên, dẹp hết tất cả suy tư nghĩ tưởng. Khi tâm yên định, trí tuệ phát sinh Ngài giác ngộ hoàn toàn. Giác ngộ rồi những ǵ thấy biết, Phật nói ra muôn đời không sai. Trong kinh kể khi giác ngộ viên măn, đức Phật có đầy đủ Tam minh, Lục thông. Tam minh là: Thứ nhất Túc mạng minh, tức Phật thấy biết vô số kiếp về trước của ḿnh cũng như của chúng sanh như chuyện mới xảy ra hôm qua. Thứ hai là Thiên nhăn minh, thấy suốt những vật hết sức xa và hết sức nhỏ. Như trong hư không Phật thấy thế giới nhiều như cát sông Hằng. Lời nói ấy tới ngày nay khoa học, thiên văn học mới t́m được phần nào thôi, chớ chưa thấy hết. Nh́n vào một bát nước Phật nói có vô số vi trùng. V́ thế có câu: Phật quán nhất bát thủy, Bát vạn tứ thiên trùng. Nghĩa là Phật nh́n trong bát nước, thấy có tám muôn bốn ngàn vi trùng. Hồi đó không có kiến hiển vi mà Ngài vẫn thấy, tới bây giờ không hề lạc hậu. Nh́n vào thân này, Phật cũng bảo có vô số vi trùng. Nguyên chữ Hán là: “Nhân thân chi nội hữu vô số vi trùng, tại trung vi trú”. Tức trong thân này có vô số vi trùng. Những tế bào là vi trùng chớ ǵ, nó sinh hoạt trong thân mà ḿnh có biết ǵ đâu. Như vậy cái thấy, cái biết từ sự buông hết loạn tưởng, tâm hoàn toàn an định gọi là tuệ. Đây là trí tuệ chớ không phải là trí thức. Trí thức là những ǵ chúng ta học được từ bên ngoài, c̣n trí tuệ là cái sáng suốt phát sinh từ bên trong, do thiền định mà có. Thứ ba là Lậu tận minh. Tức đức Phật thấu suốt được nguyên nhân nào chúng ta phải đi trong luân hồi sanh tử, làm cách nào để chúng ta thoát khỏi sanh tử. Nên bài pháp Tứ đế, Ngài nói rơ nguyên nhân và kết quả sanh tử, nguyên nhân và kết quả của giải thoát sanh tử. Trong nhà Phật dùng từ trí vô sư, tức trí không có thầy. Trí đó là tánh giác của ḿnh, nhưng v́ ta vô minh nên nó bị khỏa lấp từ lâu. Bây giờ lóng sạch hết những vọng tưởng lăng xăng, không c̣n ǵ che lấp nữa th́ nó sẽ sáng lên. Các nhà bác học khi muốn nghiên cứu một vấn đề ǵ, họ phải dồn hết tâm lực vào đó, có khi quên cả ăn ngủ, quên cả vợ con. Nhờ tập trung như vậy mới phát minh được việc này việc nọ. Thử hỏi lúc đó họ học với ai? Chỉ chú tâm vào một vấn đề, buông hết mọi chuyện chung quanh, tâm trí tự sáng lên. Cũng thế, trí vô sư có sẵn nơi ḿnh, nhưng ta không dùng được là tại không biết phát huy. Đạo Phật đúng ra không phải là một tôn giáo, một triết học, mà là một đạo giác ngộ. Phật là bậc giác ngộ, đạo là phương pháp đưa chúng sanh tới giác ngộ. Đến với đạo Phật không phải từ ḷng tin, mà từ trí tuệ. Tin mới gọi là tôn giáo, tín ngưỡng. C̣n triết lư do suy luận mà hiểu, có lúc sẽ lỗi thời. Đạo Phật dạy chúng ta giác ngộ, từ thâm tâm sáng lên thấy đúng như thật. Nên người học Phật là người t́m đến chỗ cứu kính như thật. Muốn tới chỗ cứu kính đó phải quên những vụn vặt lăng xăng, trí tuệ mới phát sinh. Rơ ràng trí tuệ ấy không phải từ đâu tới, nó có sẵn nơi ḿnh rồi nhưng tại ta bỏ quên. Tôi thường ví dụ, chúng ta múc nước đục đổ vào khạp. Ban đầu nước đục không xài được. Ta chịu khó lóng phèn hoặc để nó yên lặng một thời gian, nước trong trở lại mới dùng được. Tại sao nước đục? Tại có chất nhơ bẩn, đất bụi ḥa tan trong đó nên nó đục. Những chất ấy lắng xuống, ch́m lặng hết th́ nước trở thành trong. Khi nước đục th́ vô dụng, lúc thành trong là hữu dụng. Đục và trong, công dụng khác nhau. Thử hỏi nước trong từ đâu tới? Ngay trong nước đục có, chớ từ đâu. Nước đục mà khéo lóng th́ thành trong. Cũng thế, tâm chúng ta lăng xăng là đục, bao giờ nó lặng được th́ thành trong. Mà trong là sáng, nhà Phật gọi đó là tánh giác. Tánh giác từ đâu tới? Chỉ sạch đi cặn bă vọng tưởng th́ nó hiện ra. Tánh giác sẵn có nhưng v́ lâu nay bị những thứ khác ḥa tan, khuấy nhiễu làm cho nó đục. Bây giờ muốn nó trong trở lại, th́ chỉ cần lắng hết tất cả vọng tưởng tức là định, định rồi phát tuệ. Đó là một lẽ phi thường. Phi thường mà rất b́nh thường. Người ta cứ nghĩ tánh giác và mê lầm, hai cái khác nhau. Nhưng thật ra không khác. Mê v́ loạn, bây giờ bỏ hết loạn th́ trở thành giác. Giống như nước trong là từ nước đục lóng xuống mà có. Như chúng ta thấy sóng biển vỗ ầm ầm, chú ư nh́n từng lượn sóng nổi lên lặn xuống, nổi lên lặn xuống. Lúc đó biển chỉ bằng lượn sóng, v́ ta thấy có lượn sóng thôi. Nếu không chú ư vào từng lượn sóng th́ thấy biển mênh mông. Tâm ḿnh cũng vậy, khi ta chạy đuổi theo những lăng xăng th́ thấy tâm chỉ là cái vui buồn thương ghét. Bao giờ lặng hết những lăng xăng kia ta mới thấy nó thênh thang, b́nh ổn. Có cái chân thật mà chúng ta cứ đuổi theo cái hư dối và hài ḷng thỏa măn với nó, th́ đáng thương không? Với ḿnh, thấy không đáng thương v́ ta đang giẫy giụa trong đó. Với Phật, Ngài thấy thật đáng thương, cho nên Phật thương chúng sanh là vậy. V́ vậy đạo Phật lấy giác ngộ làm gốc, xem phương tiện không quan trọng. Nhiều người thắc mắc các tôn giáo khác có tổ chức rất tốt, thường làm việc bố thí. C̣n Phật giáo lơ mơ quá, không để tâm nhiều tới công tác từ thiện xă hội, chỉ đi giảng dạy. Có nhiều Phật tử mặc cảm đạo Phật lôi thôi, Thầy Cô cứ ngồi yên ngó xuống! Bởi v́ quí vị không hiểu việc ngồi yên ngó xuống này không phải việc nhỏ. Trong khi bố thí, giúp người v.v… chỉ là các công việc tốt mang tính tạm thời thôi. Chừng nào t́m ra cái thật của ḿnh, chỉ cho mọi người cùng t́m được, đó mới là trên hết, là tối quan trọng trong kiếp sống con người. Hiểu rồi mới thấy giá trị của đạo Phật, không hiểu tu Phật lâu dễ thấy chán. Người ta cứ tưởng tới chùa tụng kinh cầu an, cầu siêu là tu theo đạo Phật. Đó là phần phụ thôi, không phải việc chánh của đạo Phật. Đạo Phật dạy phải tu cho tâm lặng xuống, bao nhiêu phiền năo lắng sạch, chừng đó trí tuệ phát sáng, mới giác ngộ. Tu theo đạo Phật là đi trên con đường giác ngộ, người không giác ngộ không thể gọi là tu theo đạo Phật. Tới đây quí vị nghĩ tu theo Phật khó hay là dễ, mau hay chậm? Đa số ai cũng bảo khó. Tại sao khó? Phải chi bảo chúng ta cầu thần thánh ở đâu đến giúp th́ khó. Đằng này Phật dạy bỏ những niệm lăng xăng, là quyền của ḿnh, có ai rầy phạt đâu, tại sao lại khó. Trong kinh Phật có nói: “Sự tu hành nếu thấu suốt được rồi, thấy dễ như trở bàn tay, không có ǵ khó”. Đó là điều thứ nhất. Thứ hai, tu Phật mau hay chậm? Trung Hoa có kể câu chuyện về chú đồ tể, làm thịt heo bán. Hôm đó, được Thiền sư chỉ dạy, sau một thời gian tu bỗng dưng chú giác ngộ, làm bài kệ: Tạc nhật Dạ-xoa tâm, Kim triêu Bồ-tát diện. Dạ-xoa dữ Bồ-tát, Bất cách nhất điều tuyến. Nghĩa là: Ngày hôm qua tâm Dạ-xoa, Bữa nay mặt Bồ-tát. Bồ-tát với Dạ-xoa, Không cách một đường tơ. Giác là Bồ-tát, mê là Dạ-xoa. Ngày hôm qua ḿnh thấy thân này thật, vọng tưởng thật, đó là Dạ-xoa. Bữa nay biết thân này giả, vọng tưởng hư dối, liền thành Bồ-tát. Như vậy Bồ-tát với Dạ-xoa cách bao nhiêu? Một sợi tơ. Như tay tôi úp xuống là úp, lật lên là ngửa, chỉ một cái xoay thôi. Mê cũng ḿnh, mà giác cũng ḿnh, chỉ chuyển cái tâm. Cho nên đường đạo rất gần, rất ngắn, chỉ tại ta lơ mơ, cứ thả trôi hoài nên kéo dài tới ba vô số kiếp mới thành Phật. Bây giờ chúng ta tỉnh giác, giả biết giả không nghi ngờ, chắc chắn sẽ mau đạt đạo. Đó là điều tất cả Phật tử nên nghiền ngẫm mới thấy giá trị của người tu Phật. Đức Phật đă nói: “Ta là Phật đă thành, các ngươi là Phật sẽ thành”. Ai cũng có Phật tánh hết, chỉ khác nhau ở chỗ mê với giác thôi. Nếu trên đường tu chúng ta nỗ lực tiến tới th́ con đường Phật đạo không xa. Nói nỗ lực chớ thật ra không có ǵ phải nỗ lực. Chỉ cần đổi cái nh́n thôi, thấy giả với thấy thật có tốn bao nhiêu mồ hôi đâu. Vậy mà chúng ta làm không nổi, thật cũng không biết nói sao! Phật đạo là con đường hết sức ngắn, hết sức gần. Nhưng v́ chúng ta chưa nỗ lực, chưa quyết tâm nên lận đận lao đao, ch́m nổi trong ṿng luân hồi không có ngày ra. Đó là tại v́ ḿnh không can đảm. Nếu can đảm đổi cái nh́n th́ mê biến thành giác ngay, không có ǵ xa lạ hết. Trong kinh Pháp Bảo Đàn, Lục Tổ nói: “Có một trăm chúng sanh th́ có một trăm ông Phật”, đâu có lỗ, đâu có thiệt tḥi ǵ. Một trăm chúng sanh bị nh́n, nó mất th́ một trăm ông Phật đang giác hiện ra. Vọng tưởng dấy lên ta nh́n nó, biết là vọng tưởng không theo. Chú khác dấy lên cũng thế. Ngồi một giờ thấy một trăm lần như vậy cũng hoan hỷ như thường, bữa nay ḿnh thắng trận chớ không thua. Ngày xưa vọng tưởng ta lầm cho là tâm ḿnh, bây giờ vọng tưởng biết vọng tưởng, đó là đă thắng nó rồi. Ta điểm mặt nó rồi, nó đâu c̣n quyền làm chủ ḿnh nữa. cho nên thấy được vọng tưởng là từng bước ta đang chiến thắng, đừng buồn, đừng nản. Đó là điều thứ nhất. Thứ hai, quí vị nhớ người tu thiền lâu hay quên, nhưng đừng sợ điên. Quên là v́ chúng ta không muốn nhớ, chớ không phải quên của người điên. Pháp tu này nhẹ lắm, chỉ buông thôi, không kềm chế nên không sợ điên. Tôi thường ví dụ, như sáng chúng ta đi chợ định mua mấy món đồ. Hồi khởi sự đi tính năm bảy món. Từ nhà ra chợ hơi xa một chút, trong đầu lại không muốn nhớ, nên tới chợ quên món này, món khác. Quên là tại v́ ḿnh không muốn nhớ. Cũng vậy vọng tưởng dấy lên ta buông, buông riết phải quên thôi. Đó là một lẽ thật. Nhiều người không biết hoảng sợ, nói sao năm nay tôi ngu quá. Tưởng thế nên hết dám tu. Đầu đuôi gốc ngọn của sự tu rơ ràng như vậy. Hiểu rồi trên đường tu quí vị yên ḷng, không có ǵ khó khăn. Quí vị nghe rồi khéo nh́n, khéo ứng dụng sẽ có lợi lạc lớn. Nếu nghe mà không làm th́ việc tu không tiến bước nào. Đó là điều đáng buồn. Người nào ứng dụng được, tôi tin rằng trên đường tu vị đó sẽ có bước tiến nhiều hơn ḿnh mong mơi. Đó là những lời tha thiết của chúng tôi, gởi gắm lại cho tất cả quí vị. ] TINH THẦN TỰ DO TRONG ĐẠO PHẬT Úc Châu - 1996 Hôm nay chúng tôi đủ duyên qua đây, trước hết là thăm chư Tăng Ni cùng toàn thể quí Phật tử. Sau đó theo lời yêu cầu của quí vị, tôi có một thời pháp ngắn đề tài là Tinh thần tự do của đạo Phật. Khi nói tới tinh thần tự do của đạo Phật là nói tới mục đích cứu kính giải thoát. Tự do là nhân, giải thoát là quả. Từ nhân tự do đưa đến quả giải thoát. Bởi vậy người tu theo Phật phải thấm nhuần ư nghĩa tự do này. Có thế mới thực hiện được mục đích giải thoát tối hậu, v́ cái nhân là yếu tố quyết định nhất để đưa đến cái quả. Tăng Ni cũng như Phật tử đều biết nói đến tu Phật là nói đến đạo giải thoát. Nhưng nếu chúng ta chỉ biết quả giải thoát, mà không biết nhân nào để đưa tới quả giải thoát đó th́ làm sao tu giải thoát được. Muốn giải thoát sanh tử, trước hết chúng ta phải biết tinh thần tự do Phật dạy như thế nào. Ứng dụng được tinh thần tự do đó vào đời sống tu hành, ta mới có thể thu nhặt được kết quả tốt đẹp. Tinh thần tự do của đạo Phật khác hơn tự do ở thế gian. Tự do của thế gian là ta đ̣i tự do với người khác, c̣n tự do trong đạo Phật là tự do nơi chính ḿnh, tự do của nội tâm, chớ không phải tự do ở ngoại cảnh. Trên đường tu muốn thành đạt kết quả tốt đẹp, chúng ta phải biết tạo nhân tự do để đưa tới kết quả xứng đáng. Nhân tự do đó từ sự tu tập, không phải bỗng dưng mà có. Đó là điều quan trọng, chúng ta cần phải biết. Tất cả vui khổ trên thế gian này không phải bỗng dưng nó đến, đều do chúng ta tạo lập hoặc tu tập mà được. V́ vậy đạo Phật nói những khổ vui ấy không phải do áp lực của một đấng nào đặt ra cho ta, mà tự ḿnh gây tạo lấy. Chính chúng ta là chủ nhân chọn vui hay chọn khổ. Quí Phật tử ai cũng muốn vui, không ưa khổ. Như vậy chúng ta phải làm sao để được vui? Trong kinh, Phật thường nhắc câu “Ta không có quyền ban vui hoặc giáng khổ cho ai hết”. Rơ ràng cái vui khổ là do chúng sanh tự tạo. Tạo nhân vui th́ được quả vui, tạo nhân khổ th́ chuốt quả khổ. Nhưng lâu nay chúng ta hay đổ thừa, một là đổ thừa trời, hai là đổ thừa số mạng. Tại trời khiến cho tôi khổ nên gặp việc ǵ khổ cũng kêu trời. Nếu không do trời đặt định th́ số mạng đặt định. Cái số của tôi khổ hay cái số của tôi vui. Đó là hai ư niệm không đúng lẽ thật. Trong nhà Phật nói khổ vui không phải từ đâu đến, mà do tự chúng ta gây tạo nên. Điều này mới nghe quí vị thấy như khó hiểu nhưng lẽ thực là vậy. Ví dụ như có Phật tử gặp hoàn cảnh trái ngược liền bực bội than thở trách cứ. Làm như vậy có hết khổ không hay chỉ thêm khổ thôi. Ngược lại nếu Phật tử gặp khổ liền biết rơ khổ này không phải do ai đem đến mà do ta không khéo tu. Bởi thế bây giờ phải chịu khổ. Nghĩ như vậy th́ không trách hờn ai, chỉ tự trách ḿnh. Do đó không oán xă hội, không hờn người thân và mọi người chung quanh. Hiểu như vậy tự nhiên ḷng ḿnh bớt oán hờn, bớt thù hận. Như bây giờ Phật tử gặp người hoạn nạn khó khổ trăm bề, ta tùy theo khả năng của ḿnh, t́m cách giúp họ qua cơn khổ. Khi khổ họ khóc, bây giờ qua cơn khổ họ vui cười. Đó là ta tạo nhân tốt hay nhân xấu? Giúp cho người vui, qua cơn khổ th́ họ thương ḿnh. Đó là ta tạo một nhân tốt, nên được quả tốt là người quí mến. Nếu một xóm một làng có mười người, hai mươi người khổ, ta đều giúp như vậy th́ xóm làng đó đối với ḿnh tốt hay xấu? Rất tốt, đó là do ḿnh đă gieo nhân tốt. Ngược lại nếu trong xóm làng, ai ta cũng gây gổ hết th́ họ thương hay ghét ḿnh? Rất ghét. Rơ ràng khổ vui đó không phải do trời định, mà do ta ứng xử với mọi người tốt hay xấu thôi. Phật nói lẽ thật, chớ không đổ thừa viển vông. Nếu chúng ta muốn đời ḿnh an vui, gặp những điều tốt th́ phải sẵn sàng giúp đở những kẻ đau khổ buồn phiền cho họ bớt khổ, được vui. Như vậy đời ḿnh nhất định sẽ được vui. Nhiều người nói ḿnh có của giúp hết rồi, c̣n tiền nữa đâu mà vui? Quí vị nên nhớ người tốt bụng giúp kẻ này người kia, mới thấy như thiệt tḥi nhưng thật ra họ lại có nhiều người khác sẵn sàng giúp trở lại, chớ không mất mát đi đâu. Cho nên đừng sợ v́ tốt bụng mà nghèo đói. Chỉ những kẻ ích kỷ hẹp ḥi mới nghèo khổ hoài, v́ ai cũng ghét hết, nên đâu có giúp họ. Cuộc đời chúng ta đâu phải lúc nào cũng gặp cơ hội tốt. Nếu có phương tiện ta nên tranh thủ giúp người khác, để khi ḿnh gặp hoạn nạn, người ta giúp trở lại. C̣n khi đủ điều kiện ḿnh không giúp đỡ ai hết, đến lúc gặp hoàn cảnh xấu ai cũng ngó lơ. Đó là v́ ta không biết chọn con đường tốt. Đường tốt hay đường xấu đều do ḿnh quyết định cả. Quí vị muốn đi con đường nào? Con đường hạnh phúc nhất là con đường đem đến cho ḿnh an vui. Muốn thế ta phải ráng đem niềm vui đến cho mọi người chung quanh. Ngược lại, nếu ta đem đau khổ đến cho người cũng có nghĩa là ta đem đau khổ đến cho ḿnh. Lẽ công bằng như vậy. Phật tử cứ nghĩ tu là lên chùa tụng kinh. Lúc nào nghèo tụng kinh Pháp Hoa cho có tiền. Như vậy tụng kinh chỉ để cầu xin Phật ban cho ḿnh được vui vẻ, giàu sang, hạnh phúc. Do đó Phật đă tuyên bố hẳn hoi rằng Ngài không có quyền ban ơn giáng họa cho ai cả. Rơ ràng chúng ta là đệ tử Phật mà làm trái lại những ǵ Ngài đă dạy. V́ thế tôi muốn nhắc lại cho tất cả thấy chúng ta tu là tu trên ba nghiệp: ư niệm, hành động, lời nói. Nếu muốn mọi điều tốt lành đến với ḿnh th́ ư niệm, hành động, lời nói của chúng ta phải tốt với mọi người. Nếu ư niệm, hành động, lời nói đối với mọi người xấu th́ đừng mong quả tốt đến với ḿnh. Đó là một lẽ thật. Có nhiều vị thắc mắc ḿnh đối xử tốt với người khác mà thỉnh thoảng họ lại bất nghĩa với ḿnh? Điều này cũng có xảy ra trong đời sống nhưng không nhiều lắm. Con người thường có bệnh ai xử xấu với ḿnh th́ nhớ đời, ai xử tốt với ḿnh lại mau quên. Bởi vậy nên thấy người xấu nhiều, người tốt ít. Nhưng nếu như có người xử xấu với ḿnh ta phải nghĩ sao? Tôi từng nói nếu ta tốt với người mà họ xử xấu với ḿnh, ta đừng vội giận. Đó là v́ nhân tốt của ḿnh chưa đủ, chưa thật tốt nên người ta mới xấu với ḿnh, chớ không phải họ không biết ơn, không biết nghĩa. Ví như trước kia ta gây oán hờn với người nào đó một trăm phần. Bây giờ biết tu không gây oán hờn nữa, ăn ở hiền lành cho tốt. Nghĩ vậy ta xử sự tốt với họ. Nhưng ngày xưa do ḿnh xấu với người ta một trăm phần trăm, bây giờ mới tốt có năm chục phần trăm, chưa đủ sức bù đắp với nhân xấu trước. V́ thế họ vẫn không tốt với ḿnh. Thấy thế ta nổi giận, tại sao tôi tốt rồi mà chưa tốt lại với tôi? Tại cái tốt của tôi chưa đủ để họ hết giận. Bây giờ phải ráng tốt hơn nữa, tốt tới chừng nào đủ xóa hết nhân xấu trước th́ họ hết giận. Đừng nghĩ người đó là kẻ phản bội, bởi trước ḿnh làm họ giận một trăm phần, bây giờ mới tốt có năm chục phần, làm sao người ta hết giận được? Chúng ta cũng thế, nếu trước kia ai xử sự với ḿnh xấu một trăm phần trăm, bây giờ họ mới sửa đổi, mới hiền lành với ḿnh phần nào thôi, chưa đủ khỏa lấp sự bực bội trước, làm sao ta hết giận được? Chừng nào thấy người đó quả thật tốt bụng, quả thật hiền lành ḿnh mới hết giận. Đó là lẽ đương nhiên thôi. Nên chúng ta xử tốt với ai, mà họ chưa tốt lại với ḿnh th́ biết rằng đó là v́ trước kia ta đă làm khổ họ nhiều, bây giờ phải đền trả lại. Chúng ta chỉ thấy hiện tại mà đâu biết quá khứ. Nếu biết rơ quá khứ th́ việc hiện tại sẽ dễ chấp nhận ngay. Như trên đă nói chúng ta có quyền chọn cho ḿnh con đường tốt hay con đường xấu. Ở đây không ai muốn đi đường xấu hết, như vậy ta phải làm cho mọi người an vui, nhà Phật gọi đó là ban vui tức ḷng từ. Đừng gây khổ đau cho nhau nữa, nhà Phật gọi đây là cứu khổ tức ḷng bi. Gom chung cả hai tâm hạnh trên, gọi là tâm từ bi. Nếu không hiểu như vậy, lại cho rằng người ta ghét ḿnh quá, thôi ta tụng kinh cầu Phật gia bị cho thiên hạ đừng ghét nữa. Tu như vậy có kết quả không? Tụng kinh mà gặp thiên hạ vẫn nói lời hung dữ, hành động thô xấu, ư niệm bất chánh th́ càng làm cho người ta ghét thêm. Chúng ta không can đảm, không gan dạ nh́n sự thật, cứ né tránh, rồi đi cầu cứu chỗ này chỗ kia, không chịu ứng dụng tu hành. Nếu khổ vui do tự ḿnh chọn lựa th́ chúng ta có tự do không? Quá chừng tự do. Tự do chọn khổ, tự do chọn vui. Đă do ḿnh chọn th́ ta phải chịu trách nhiệm hoàn toàn về sự chọn lựa ấy. Khi gặp khổ ráng chịu, gặp vui cũng không nghĩ may, nghĩ rủi, v́ tất cả đều do ta tạo mà. Phật tử thường gặp việc tốt là may, gặp việc xấu là rủi. Nhưng hỏi may rủi từ đâu ra th́ không biết. Nghĩ như vậy là phó thác cuộc sống này cho cái ǵ ḿnh cũng không biết nữa. Phật chỉ cho chúng ta thấy ḿnh có quyền lựa chọn tốt xấu, tức Ngài muốn chúng ta ư thức được trách nhiệm của ḿnh. Không đổ thừa, không trốn tránh trách nhiệm. Người biết rơ như thế là người có sức mạnh. Có hiểu đạo ta mới đủ khả năng, đủ sức mạnh sắp đặt cuộc đời ḿnh, nếu không ta cứ cắm đầu kư thác gởi gắm đời ḿnh cho ai cũng không biết. Thật nguy hiểm. Đó là tôi nói bước tự do thứ nhất. Đến tự do thứ hai. Đạo Phật nói chúng ta muốn đi đâu th́ tự chọn xe mà đi. Đi xa th́ chọn xe chạy xa, đi gần th́ chọn xe chạy gần. Tùy nhu cầu của ḿnh mà chọn lựa. Trong nhà Phật có chia ra Ngũ thừa Phật giáo: Nhân thừa, Thiên thừa, Thanh văn thừa, Duyên giác thừa, Bồ-tát thừa. Thừa là cỗ xe, Ngũ thừa là năm cỗ xe. Trong năm cỗ xe đó chúng ta ưng chiếc nào th́ chọn chiếc đó, Phật không bắt buộc. Ví dụ người nào muốn đời này làm người được an vui hạnh phúc, đời sau trở lại làm người được an vui hạnh phúc hơn nữa th́ chọn cỗ xe Nhân thừa Phật giáo, tức là qui y Tam bảo, giữ ǵn năm giới, bảo đảm hiện tại tốt, đời sau trở lại làm người tốt hơn. Ai muốn đời sau tiến hơn đời này, được sanh vào cơi trời th́ tu Thiên thừa Phật giáo. Giáo lư này dạy tu Thập thiện tức mười điều lành. Ngoài năm giới ra, quí vị tu thêm mấy điều lành thuộc về thân, miệng, ư. Khi nhắm mắt sẽ được sanh lên các cơi trời cao đẹp hơn cơi người. Người muốn đời này hay đời sau chứng quả Thanh văn th́ phải bước vào hàng ngũ xuất gia như quí thầy quí cô, thọ giới Tỳ-kheo hay Tỳ-kheo Ni. Giữ giới nghiêm chỉnh, thường hành thiền định để phát sinh trí tuệ, chứng quả A-la-hán, đó gọi là Thanh văn thừa. Ai muốn tu Duyên giác thừa th́ lấy mười hai nhân duyên làm pháp quán căn bản. Ứng dụng quán chiếu cho đúng sẽ chứng được Duyên giác thừa, c̣n gọi là Bích chi Phật. Vị này do tu hành được giác ngộ nhưng chỉ mới xong trên phần tự lợi thôi. Ai muốn tu hạnh Bồ-tát cứu giúp mọi người, thương yêu muôn loài, Phật dạy tu pháp Lục độ: bố thí, tŕ giới, tinh tấn, nhẫn nhục, thiền định, trí tuệ. Thành tựu sáu pháp này một cách rốt ráo là hàng Đại Bồ-tát, thực hành hạnh tự giác, giác tha, giác hạnh viên măn. Trong năm cỗ xe đó, Phật không bắt chúng ta phải đi cỗ này, không được đi cỗ kia. Tùy chúng ta lựa chọn. Trong mấy cỗ xe này, quí vị chọn cỗ nào? Chắc xe số một. Phật tử thường thích làm sao đời này tốt đẹp, đời sau sanh ra được tốt đẹp hơn nữa. Bao nhiêu đó đủ rồi, không dám mong ǵ cao hơn. Như vậy cũng tốt. Muốn thế quí vị phải giữ năm giới: không sát sanh, không trộm cướp, không tà dâm, không nói dối, không uống rượu hay hút á phiện, x́ ke, ma túy. Trong năm giới này, nếu người không sát sanh th́ đời này khỏi tù tội, đời sau sanh ra được sống lâu ít bệnh hoạn. Người không trộm cướp, đời này khỏi sợ tù tội đời sau sanh ra lại có của cải giàu sang, không ai cướp giựt được. Người không tà dâm đời này gia đ́nh đầm ấm vui tươi hạnh phúc, đời sau sanh ra đoan chánh trang nghiêm. Người không nói dối đời này được mọi người tin quí, đời sau sanh ra nói năng lưu loát ai cũng kính tin. Người không uống rượu, hút á phiện, x́ ke, ma túy, đời này không khổ đời sau sanh ra trí tuệ sáng suốt, tinh thần minh mẫn. Trong năm điều tốt đẹp ở mai sau này, quí vị có muốn thiếu cái nào không? Chắc là không. Có ai muốn chết yểu không? Không. Có ai muốn nghèo khổ không? Không. Có ai muốn xấu xí không? Không. Có ai muốn nói ngọng nói lịu, nói ra chẳng ai nghe không? Không. Có ai muốn ngu tối đần độn không? Không. Như vậy cả năm giới là điều kiện đầy đủ tốt đẹp cho cuộc sống hiện tại và cả mai sau. Năm giới này giữ dễ hay khó? Thật t́nh không khó, nhưng người thế gian ít ai giữ đủ. Đây là điều đáng buồn. Chúng ta thấy thế gian, người có tật này người có tật kia, đó là v́ giữ không tṛn năm giới. Thiếu một giới nào th́ trở lại làm người sẽ bị khuyết tật thuộc về giới đó, không được toàn vẹn. Muốn bảo đảm đời này, đời sau được an lành th́ chúng ta phải giữ trọn vẹn năm giới. Đó là quyền của ḿnh, chớ đâu có ai đặt định cho ta. Đức Phật đă chỉ quá rơ, tùy chúng ta chọn lựa thôi. Như vậy đạo Phật có tôn trọng tự do không? Rất tôn trọng. Phật không can thiệp vào cuộc đời của ai cả, Ngài chỉ nói cho chúng ta biết thôi. Đó là bổn phận của người hướng đạo chân thật, ngay thẳng. Đạo Phật không bao giờ áp đặt điều ǵ cho bất cứ một ai hết. Thế Tôn chỉ vạch ra, tùy chúng sanh chọn lựa lấy. Nếu ta không khéo, chọn cái xấu th́ cam tâm chịu, chớ đừng trách Phật, trách trời, trách số mạng ǵ hết. Đó là bước tự do thứ hai. Đến tự do thứ ba. Phần này thuộc về nội tâm của chúng ta. Tôi xin hỏi tất cả quí Phật tử đối với tham sân si, quí vị thấy nó tốt hay xấu? Ba thứ này là ba thứ xấu, Phật gọi là tam độc. Đă là ba thứ độc mà c̣n chứa chấp nó th́ vô lư quá. Hơn nữa khi chứa chấp nuôi dưỡng nó, ta phải chịu nhiều đau khổ. Vậy tại sao không đuổi nó ra gấp, chứa chấp làm ǵ? Đó là quí vị tự muốn khổ thôi. Bởi vậy đức Phật dạy các thầy Tỳ-kheo: Trong nhà của các ông có ba con rắn độc đang ở, vậy các ông ngủ có ngon không? Ngủ không ngon. Nằm hồi hộp không biết lúc nào nó cắn ḿnh. Bây giờ muốn ngủ ngon phải làm sao? Phải thức dậy đuổi ba con rắn ấy chạy ra ngoài. Cũng vậy, chúng ta biết ba thứ độc tham, sân, si c̣n ở trong tâm th́ ḿnh luôn bị hiểm nguy không thể lường trước được. Đă biết thế chúng ta phải gấp rút tống cổ nó ra ngoài, không chút tiếc nuối. Đằng này ngược lại ḿnh không nỡ tống cổ nó. Muốn th́ muốn sướng mà chứa th́ chứa khổ. Có mâu thuẫn chưa? Quí Phật tử thấy như con rắn sân nằm ở trong tâm ḿnh, tai nạn xảy đến khó lường trước được. Đang đi đường b́nh yên, ai lỡ đụng ḿnh một cái nổi sân lên chửi mắng người ta, người kia bị mắng cũng nổi sân mắng lại. Mắng chửi một hồi cơn sân càng bốc cháy dữ dội, thế là nhào vô đánh lộn, cấu xé… dẫn tới thương tích hay tù tội. Đó, con rắn sân ở trong nhà th́ tai nạn không thể lường trước được. Rắn tham rắn si cũng vậy. Cho nên người tu Phật phải sạch hết ba thứ độc. Nếu chưa sạch nổi ít nhất cũng phải giảm bớt. Lưu ư quí vị xuất gia cũng c̣n bị ba con rắn này lẻn ḅ vào nhà, đừng nói chi đến Phật tử. Cho nên tất cả đều phải cẩn thận dè dặt trông chừng, ngăn đón, ruồng đuổi nó. Chúng ta tự do xây dựng một cuộc đời hạnh phúc cho ḿnh, cũng tự do tạo một kiếp sống khổ đau cho ḿnh. Thật ra chúng ta tự do với bên ngoài dễ, nhưng tự do với nội tâm rất khó. Như ta đâu muốn nóng giận, đâu muốn nói bậy cũng không muốn làm việc xấu. Nhưng khi nổi giận lên rồi th́ bắt nói bậy, bắt làm xấu. Chú sân bắt sao ta làm vậy, không cưỡng lại nổi. Lúc đó tự ḿnh cũng thấy bực bội, rơ ràng là mất tự do quá rồi. Cho nên Phật dạy phải đuổi cho được rắn tham, rắn sân, rắn si ra th́ ḿnh mới tự do, mới an vui. C̣n chứa nó là c̣n đau khổ, c̣n mất tự do. Chúng ta luôn đ̣i tự do mà gốc tự do th́ không biết. Giận cứ để giận, buồn cứ để buồn, đôi khi c̣n bảo vệ nó nữa. Đang nổi giận, ai nhắc “sao anh hay giận quá”, liền bào chữa “tánh tôi vậy đó”. Đă nghĩ “tánh tôi” th́ c̣n đuổi ǵ được nữa, bởi cho giận là cái tự nhiên của tôi rồi, không thể sửa được. Nhưng giận có phải tánh tự nhiên của ḿnh không? Nếu người bằng hoặc thấp hơn ḿnh, làm điều ǵ trái ư ta liền nổi sân. Nhưng với người lớn hơn, có quyền thế hơn, họ làm trái ư ḿnh, ta dám vỗ bàn hét với họ không? Rơ ràng đâu phải tánh, mà là coi mặt nổi sân. Chẳng qua do sự cố chấp mà sanh ra các thứ tham sân, phiền năo thôi. Nếu chúng ta khéo tu, khéo chuyển đổi nó sẽ giảm, chớ đừng nói tánh. Nói tánh là hết tu. Nơi tâm ḿnh có tham, có sân, có si chúng ta biết rơ để hạn chế chúng. Từ 100%, tu một năm c̣n 90%, tu hai năm c̣n 80%, sau đó mười năm hai mươi năm, nó giảm xuống lần lần đến ngó thấy, đó là chúng ta tu tiến. Ngược lại nếu người hồi chưa tu tham sân si 100%, tu được mười năm lên 120%, đó là tu xuống địa ngục chớ không phải tu lên Cực Lạc hay nhập Niết-bàn. Cho nên nói tới tu là nói tới sự chuyển biến. Chuyển biến bằng cách bỏ bớt những tập khí xấu, những khổ đau để được an vui. Đừng nghĩ tụng kinh niệm Phật nhiều là tu, trong khi thói xấu không chừa, th́ Phật khó rước về Cực Lạc lắm. Cho nên người thật tu phải biết gốc đừng theo ngọn. Gốc là nhân, ngọn là quả. Gốc xấu ác phải ngừa, phải tránh, phải bỏ th́ quả an lạc sẽ đến với ḿnh. Cực lạc là vui tột, mà muốn được vui tột th́ tất cả nhân khổ đau phải dẹp hết mới được. Chúng ta càng tu càng cố gắng vượt ra những nhân xấu xa, những nhân đau khổ mới gọi là người biết tu, thật tu. Nếu không như vậy chưa thể gọi là người biết tu, thật tu. Tu là cốt dẹp tham sân si mà ta c̣n bảo vệ nó, có phải giả dối không? Bởi vậy người thật tu phải nh́n cho sâu, thấy cho kỹ để không bị lầm lẫn v́ sự tự dối của chính ḿnh. Một khi tham sân si chứa chấp trong ḷng nhiều quá chúng ta không có tự do. Bây giờ muốn tự do th́ phải loại nó ra. Tự do đó mới là thứ thật. C̣n đ̣i tự do ở ngoài không phải thật. Được cái này đ̣i cái kia, đ̣i hoài không biết đâu là cùng. Trong khi chính ḿnh đang mất tự do v́ tham sân si chi phối, mà không đ̣i lại sự tự do cho ḿnh. Trong nhà Phật có pháp mười hai nhân duyên. Nhân duyên đầu là vô minh. Từ vô minh có hành, hành tức có nghiệp, rồi nghiệp dẫn thức đi thọ sanh v.v... Như vậy gốc trầm luân sanh tử là vô minh. Nhưng vô minh là ǵ? Có nhiều lối giải thích khác nhau. Trong các kinh A-hàm, Phật dạy không biết Tứ đế như thật là vô minh. Rồi c̣n chỗ khác Phật giải cái ǵ là vô minh. Trong kinh Viên Giác Phật giải thích vô minh, tôi thấy rất thấm thía. Có một vị Bồ-tát hỏi Phật: “Bạch Thế Tôn, thế nào là vô minh?” Đức Phật trả lời: “Thấy thân này thật, tâm suy nghĩ thật là vô minh”. Đơn giản làm sao! Chúng ta nh́n lại ḿnh có vô minh không? Trăm người như một, đều có hết phải không? Ai cũng thấy thân này thật, những suy nghĩ là tâm ḿnh thật. Chấp thân thật, chấp tâm suy nghĩ thật, đó là vô minh. Tại sao? Bởi v́ nếu thân này thật ḿnh th́ ta phải có quyền điều khiển toàn bộ, v́ nó là ḿnh. Nhưng trên thực tế ta có quyền điều khiển nó không? Biết bao thứ ḿnh không muốn xảy ra mà nó cứ xảy ra, ḿnh không muốn bệnh hoạn mà nó cứ bệnh hoạn. Rơ ràng ta không có quyền làm chủ nó. Đó là điểm thứ nhất. Điểm thứ hai, Phật dạy thân này do tứ đại ḥa hợp thành. Chất cứng trong người là đất, chất ướt là nước, chất động là gió, chất ấm là lửa. Bốn thứ này là bốn thứ vật chất căn bản để tạo thành thân người. Đất nước gió lửa là tri giác hay vô tri? Nó là vô tri. Bốn thứ vô tri hợp lại thành thân ḿnh, chẳng lẽ ḿnh là vô tri? Thế nên nói thân này là ḿnh không được. Nói vô tri không phải ḿnh, sẽ có người bảo vậy cái suy nghĩ hữu tri đó là ḿnh rồi. Hiểu như thế không đúng. Những nghĩ suy tính toán tuy có tri giác, nhưng nó đủ thứ. Khi ta nghĩ hiền lành như Phật, Bồ-tát; nhưng cũng có khi ta nghĩ dữ ác như cọp sói. Nếu nghĩ hiền lành là ḿnh th́ không có nghĩ dữ ác. Nếu nghĩ dữ ác là ḿnh th́ không có nghĩ hiền lành. Thế th́ ḿnh là cái nào? Nếu cái nào cũng ḿnh hết th́ nhiều thứ quá, chẳng lẽ ḿnh tạp nhạp như thế? Đó là một ư nghĩa thứ nhất. Ư nghĩa thứ hai, khi quí vị đang khởi tính toán ǵ đó, bất thần nh́n lại xem cái tính toán ấy từ đâu ra? Nó liền mất tiêu t́m không thấy. Như vậy nó chợt có chợt không, chợt sanh chợt diệt, làm sao thật ḿnh được? Chúng ta từ lúc cha mẹ sanh cho tới trăm tuổi, ḿnh là ḿnh. Không phải khi có khi không. Nếu nghĩ suy đó là thật ḿnh th́ nó phải hằng hữu, phút giây nào cũng thường có. Đằng này nó khi có khi không, làm sao thật ḿnh được? Thân tứ đại vô tri mà nói là ḿnh đó là vô minh. Tâm suy nghĩ lăng xăng chợt có chợt không, đủ thứ tốt xấu phải quấy, nói là ḿnh cũng vô minh. Do lầm chấp ta như thế nên lúc nào cũng muốn ta hơn, muốn ta được khen, muốn ta là quí v.v... Từ đó bao nhiêu thứ tham lam phát sinh. Tham được th́ vui, tham không được liền nổi sân lên. Nói tham sân si, nhưng thật ra si là gốc rồi mới tới tham, sân. Bởi thế Phật dạy phải lấy trí tuệ sáng suốt diệt trừ vô minh. Muốn vô minh hết chúng ta phải sáng, phải giác ngộ. Muốn được sáng, được giác ngộ, ta phải hằng dùng trí tuệ quán sát, chiếu soi xem cái ǵ thật là ḿnh. T́m cho ra cái thật đó mới hết vô minh. Nếu chưa t́m ra được mà ôm ấp thân này, tâm suy nghĩ lăng xăng này cho là ḿnh thật th́ c̣n vô minh măi măi. Vô minh c̣n th́ không bao giờ thoát khỏi ṿng luân hồi sanh tử. Đó là mất tự do. Bây giờ muốn tự do phải thoát khỏi ṿng luân hồi. Muốn thoát khỏi luân hồi phải dùng minh để phá vô minh, tức là dùng sáng để trừ tối. Như ban đêm không đèn, trong nhà có bàn ghế đủ thứ hết, nếu chúng ta đi tới đi lui trong đó th́ sẽ va vấp, đụng cái này cái kia, té ngă liên miên. Tại sao vấp té? V́ không thấy đường. Bây giờ muốn cho khỏi vấp, khỏi té th́ mở đèn lên. Rất là đơn giản. Cũng thế, muốn hết khổ trong đêm tối vô minh, luân hồi, chúng ta phải dùng đèn trí tuệ, giác ngộ để trừ nó. Đó là trọng tâm, là chủ yếu của đạo Phật. Người tu theo Phật mà không thấy được lẽ thật đó th́ suốt kiếp vẫn trầm luân sanh tử. Chỉ khi nào tỉnh sáng, giác ngộ ta mới tự do tự tại đi lại trong ṿng trầm luân sanh tử ấy, không c̣n bị nó lôi kéo nữa. Tự do tự tại trong sanh tử gọi là giải thoát sanh tử. Giải thoát đó là quả do tu diệt nhân tham sân si. Thế nên muốn được quả tự do cùng tột cứu kính, chúng ta phải cố gắng dẹp bỏ những nhân làm cho ḿnh mờ mịt u tối, bằng không chúng ta cứ quẩn quanh trong đêm dài sanh tử. Người tu Phật là người rất chuộng tự do, rất mong muốn tự do. Sự tự do ấy đ̣i hỏi ở chính ḿnh, phải chận đứng những nhân làm mất tự do. Tu Phật là như vậy. Quí Phật tử ít chịu thấy lẽ thật lắm. Thân ḿnh đă không thật mà cứ nghĩ đẹp quí, sống dai nên ai nói xấu ḿnh nổi giận liền. V́ chấp thân nên bao nhiêu thứ phiền năo vây quanh. Trên thế gian này có ai được mọi việc như ư đâu, nên ai cũng bị chê, bị trách. Rồi ai cũng bị bệnh, bị già, bị chết nên ai cũng khổ hết. Bây giờ muốn được vui th́ phải dẹp hết nhân khổ ấy đi. Đạo Phật nói khổ không có nghĩa là để ḿnh chịu khổ, mà nói khổ để ḿnh được vui. Ai cũng khao khát tự do, nhưng sự tự do đó phải quay lại ḿnh mà t́m, đừng trông cậy bên ngoài. Cầu xin trông cậy bên ngoài là lệ thuộc, chớ không phải tự do. Giả sử Phật nói “Ta có thể ban ơn xuống họa cho các ngươi”, rồi chúng ta cứ cầu Phật. Ngày nào cũng hướng về Ngài van xin đủ điều. Rơ ràng như thế là lệ thuộc, là mất tự do. Khi biết khổ vui, tất cả đều gốc ở ḿnh th́ ta dẹp nhân khổ, tạo nhân vui. Đó là tự do, hoàn toàn tự do không lệ thuộc vào ai cả. Bởi vậy tôi hay nói người tu dù là tu thiền mà cứ trông ơn trên giúp ḿnh, đó là đ̣i mất tự do. V́ lệ thuộc ở đâu cũng mất tự do hết. Tu như vậy là đúng với đạo Phật không? Không đúng. Cho nên hiểu được ư nghĩa này, quí vị có thể đoán định được cái ǵ tà, cái ǵ chánh. Chánh là lẽ thật, tà là không có lẽ thật. Bây giờ chúng ta khẳng định, là đệ tử Phật th́ phải tu sao cho được tự do, được giải thoát. Đó là con đường ḿnh phải đi. Phật tử can đảm hứa chắc như vậy mới thực là Phật tử. Mong tất cả xứng đáng là những người con của Phật, của đấng giác ngộ, đời đời không c̣n si mê nữa. ] HỒI QUANG PHẢN CHIẾU PHẢN QUAN TỰ KỶ Trúc Lâm Đà Lạt - 1996 Hôm nay toàn chúng thỉnh nguyện đều được thanh tịnh, đó là điều rất tốt. Chúng ta càng tu tâm càng an, thân nghiệp, khẩu nghiệp đều thanh tịnh. Đó là kết quả tốt của sự tu hành. Bây giờ tôi có ít vấn đề then chốt muốn giải thích cho toàn chúng hiểu thêm, để quí vị nắm vững những điểm cần yếu trên con đường tu. Trong nhà thiền có hai câu được xem như châm ngôn của hành giả tu thiền, đó là “Hồi quang phản chiếu” và “Phản quan tự kỷ”. Hai câu này là một hay khác? Nếu là một th́ nói một câu đủ rồi, dùng chi tới hai câu. Nếu khác th́ khác chỗ nào? Có khi ta nghe nói “Hồi quang phản chiếu”, có khi nghe nói “Phản quan tự kỷ”, câu nào cũng dạy xoay lại ḿnh hết, tại sao có hai cách gọi khác nhau? Trước hết tôi nói về “Hồi quang phản chiếu”. Chữ “hồi” là quay lại, “quang” là ánh sáng, “phản” là trở lại, chiếu là soi sáng. “Hồi quang phản chiếu” tức là quay ánh sáng trở lại, soi rọi chính ḿnh. Soi thế nào? Nhiều người không hiểu, tưởng ngồi nh́n chăm chăm thấu tim gan ruột phổi, đó là phản chiếu. Hiểu như vậy là sai lầm. Tôi sẽ dẫn kinh để nói rơ hơn về điều này. Trong kinh Lăng Nghiêm, khi đức Phật đưa tay lên hỏi ngài A-nan thấy không, ngài A-nan trả lời thấy. Rồi Phật để tay xuống hỏi ngài A-nan thấy không, ngài A-nan trả lời không thấy. Ngay đó Phật liền quở Ngài là quên ḿnh theo vật. Tất cả chúng ta từ người trí thức cho tới kẻ b́nh dân, suốt ngày ai cũng phóng sáu căn mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ư đuổi theo sáu trần bên ngoài, luôn luôn phân tích, chia chẻ, t́m hiểu. Cứ thấy h́nh sắc th́ phân tích đẹp xấu, nghe âm thanh cũng phân tích tiếng hay dở v.v… Đối diện với tất cả cảnh giới bên ngoài, đều đem hết khả năng soi sáng của ḿnh phân tích, chia chẻ sự vật. Càng phân tích, chia chẻ nhiều chừng nào th́ càng quên ḿnh nhiều chừng ấy. Do đó mắt vừa thấy h́nh tướng th́ nói thấy, khi h́nh tướng mất đi nói không thấy. Đó là chúng ta phóng ánh sáng của ḿnh đuổi theo vật, hay nói cách khác là phóng quang chiếu ngoại. Phóng quang này không phải phóng quang của chư Phật, mà đem cái tri giác hiểu biết của ḿnh phóng ra ngoài để phân tích, chia chẻ sự vật. V́ vậy khi có sự vật th́ tưởng như có ḿnh, khi mất sự vật tưởng như mất ḿnh. Đó là một mê lầm rất đáng thương. Phật quở ngài A-nan quên ḿnh theo vật là v́ thế. Cánh tay là vật ở ngoài, c̣n cái hay thấy tức là ánh sáng của chính ḿnh. Khi có cánh tay Ngài nói thấy, khi không có cánh tay Ngài nói không thấy. Như vậy nhớ ḿnh hay nhớ vật? Rơ ràng là nhớ vật mà quên ḿnh. Đúng ra khi thấy cánh tay nên nói thấy có cánh tay, khi tay để xuống nên nói thấy không có cánh tay. Tay khi có khi không, cái thấy luôn luôn sẵn có. Nếu tay để xuống nói không thấy như vậy thành mù sao? Chúng ta mê muội chỉ nhớ vật ở ngoài, không nhớ cái hay thấy của ḿnh. Chính cái hay thấy mới là ḿnh, c̣n vật ở ngoài chỉ là ngoại cảnh. Quên ḿnh theo vật, đó là chỗ tất cả chúng ta đang mắc phải. Mắt thấy sắc chỉ nhớ cảnh nhớ người mà không nhớ có cái hay thấy. Kế đó, Phật dạy La-hầu-la đánh tiếng chuông boong, rồi hỏi ngài A-nan nghe không, ngài A-nan trả lời nghe. Khi tiếng chuông lặng Phật hỏi nghe không, ngài A-nan trả lời không nghe, cũng bị Phật quở quên ḿnh theo vật một lần nữa. Tiếng chuông vang lên âm thanh phát ra bên ngoài, lỗ tai ta nghe. Cái hay nghe đó thường hằng, c̣n tiếng chuông khi đánh th́ có, khi dừng đánh th́ không. Tiếng có không, sanh diệt mà cái hay nghe thường hằng. Chúng ta lại lầm nhận tiếng là cái hay nghe, nên khi mất tiếng nói không nghe, tức là phủ nhận cái nghe thường hằng của chính ḿnh. Chúng ta tu hành thường vướng hai chứng bệnh rất thâm hậu, rất sâu kín, đó là quên ḿnh và mắc kẹt ngoại cảnh. V́ vậy các Thiền sư thường dạy nơi sáu căn phải luôn ǵn giữ đừng cho dính mắc sáu trần. Dính mắc tức là chạy theo, mà chạy theo tức là quên ḿnh. Đó là gốc của sự tu. Trong sáu căn dễ nhận dễ thấy nhất là mắt và tai. Nên các Thiền sư dùng nhiều thủ thuật để chỉ hai tánh thấy và nghe đó. Hoặc đưa phất tử, hoặc đưa cành hoa v.v… để nhắc nơi chúng ta có cái hay thấy. Nếu ngay h́nh ảnh đó, ta nhớ được ḿnh có cái hay thấy là nhớ được tâm chân thật rồi. H́nh ảnh Phật đưa cành hoa sen lên, ngài Ca-diếp mỉm cười, đó là sự cảm thông của hai thầy tṛ, Tôn giả đă lănh hội được điều đức Phật muốn chỉ. Thấy cành hoa không lệ thuộc vào cành hoa, mà biết được ḿnh có cái hay thấy. Khi Phật đưa mắt nh́n khắp đại chúng, tới Ca-diếp Ngài cười. Phật không nói câu nào hết, chỉ cần đưa cành hoa lên rồi nh́n từng vị Tỳ-kheo, chỉ riêng Tôn giả Ca-diếp khi chạm mắt Như Lai liền mỉm cười. Đó là người đệ tử hiểu được ư Phật, nh́n cảnh mà chẳng quên ḿnh, hay nói cách khác là nương nơi cảnh mà thấy ḿnh. V́ vậy trong nhà thiền có câu "kiến sắc minh tâm". Nghĩa là thấy h́nh sắc bên ngoài mà sáng được tâm của ḿnh. Tâm ḿnh ở đâu? Lâu nay nhiều người cứ cho tâm là cái suy nghĩ lăng xăng lộn xộn hằng ngày, không ngờ cái hay thấy hay biết mới là tâm ḿnh. Tâm đó không có lăng xăng lộn xộn. Thấy được cành hoa là chỉ cho "kiến sắc", nhận ra ḿnh có cái hay thấy, hay biết hằng hữu không thiếu vắng là "minh tâm". Rơ được tâm ḿnh th́ không chạy theo vật. Nếu chỉ biết cành hoa bên ngoài, có th́ nói thấy, không có th́ nói không thấy, đó là quên ḿnh theo vật. Quên ḿnh theo vật là mê, nhớ ḿnh không theo vật là giác. Như vậy th́ hồi quang phản chiếu nghĩa là soi ánh sáng trở lại ḿnh. Thay v́ trước kia ta phóng ánh sáng ấy theo sáu trần, bây giờ dừng lại, nhớ sáu ánh sáng đó hiện hữu nơi sáu căn của ḿnh, không theo sáu trần nữa, đó là hồi quang. Hồi quang tức là nhớ lại ḿnh chớ không có ǵ lạ. Trong nhà thiền gọi thấy như mù, nghe như điếc là đây vậy. Tại sao thấy như mù? Tức mọi người đi ngang ta đều thấy hết, nhưng qua rồi thôi, không lưu tâm chú ư, chỉ biết ḿnh đang thấy. Lúc đó ai hỏi hồi năy đi qua mấy người, người nào đẹp người nào xấu, ḿnh trả lời sao? Đâu có nhớ, đâu có dính ǵ mà biết đẹp xấu. Do đó nên nói thấy như mù. Mấy chú bên tăng tu nên nhớ mấy điểm này cho thật kỹ. Đó là trọng tâm các Thiền sư dạy cho chúng ta. Đến nghe tiếng, ai bàn tán ǵ ta cũng nghe hết. Nhưng chỉ nhớ ḿnh đang nghe thôi, không nhớ tiếng hay, tiếng dở, tiếng hơn, tiếng thua. Như vậy gọi là hồi quang. Tuy nghe nhưng ai hỏi “mấy người đó nói ǵ?” ḿnh không biết. Bởi v́ đâu có chú ư mà nhớ từng lời, từng câu. Nên nói nghe cũng như điếc. Đừng hiểu thấy như mù là không thấy ǵ hết, nghe như điếc là không nghe ǵ hết. Người được thấy như mù nghe như điếc, dù ngồi giữa chợ cũng như ngồi thiền. C̣n chúng ta nhiều khi ngồi thiền tại thiền đường mà ai nói trên kia liền lắng tai nghe. Hoặc ngồi đây mà thấy bóng ai đi ngang, liền nh́n kỹ phân tích xem bóng của người nào… Ngồi thiền như vậy cũng giống như ngồi ngoài chợ xem hàng. Hiểu rơ rồi mới thấy các Thiền sư luôn nhắc chúng ta phải hồi quang phản chiếu, quay lại ḿnh nhớ ḿnh, chớ đừng nhớ cảnh. Đó là gốc của sự tu. Thiền sư nhờ tu như thế nên các Ngài không bận bịu, không kềm chế trong khi ngồi thiền. Các Ngài sống rất tự tại thoải mái, nhưng thấy nghe đều không dính. Nếu chúng ta tu được vậy có thích không? Rất thích. Nhưng v́ ḿnh chưa được thế nên phải có câu thứ hai, tức là “phản quan tự kỷ”. Chữ “quang” của hồi quang có “g” để chỉ ánh sáng. Chữ “quan” của phản quan không có “g” để chỉ sự xem xét quán chiếu. “Phản quan tự kỷ” nghĩa là xem xét lại ḿnh, quán chiếu lại ḿnh. Hồi quang phản chiếu có tánh cách kỳ đặc dành cho bậc thượng cơ, nhất là những vị tu theo thiền tông. C̣n phản quan tự kỷ là nói tổng quát, bao trùm hết thảy giáo lư nhà Phật. Nghĩa là soi xét lại chính ḿnh, từ thân thể cho tới nội tâm, thấy rơ thân thể, nội tâm ḿnh như thế nào. Ví dụ Phật dạy tu thiền, quán Tứ niệm xứ là pháp căn bản trong các kinh A-hàm. Quán Tứ niệm xứ là quán cái ǵ? Một, quán thân bất tịnh, xem xét phân tích tường tận từng bộ phận thân này, thấy đều nhớp nhúa, đó là quán thân bất tịnh. Hai, quán thọ thị khổ, tức là tất cả cảm giác do sáu trần đến với ḿnh, ta cảm nhận rơ ràng chúng đều vô thường, không thật có, là gốc của đau khổ. Ba, quán tâm vô thường, tức những tâm niệm của ḿnh luôn luôn sanh diệt, không dừng, đó là quán tâm vô thường. Bốn, quán pháp vô ngă tức là quán tất cả pháp, từ tâm pháp cho tới ngoại cảnh đều do duyên hợp không có chủ. Phật dạy vị nào cột tâm trong Tứ niệm xứ được bảy ngày không dời đổi, người đó sẽ chứng quả A-la-hán. Chẳng những bảy ngày mà ba ngày, chẳng những ba ngày mà một ngày, cột tâm trong Tứ niệm xứ không dời đổi sẽ chứng quả A-na-hàm. Chúng ta thấy tu dễ chứng quá, phải không? Chỉ cột tâm trong Tứ niệm xứ trọn ngày không dời đổi liền chứng quả A-na-hàm. Dễ không? Quán như thế là phản chiếu lại ḿnh, soi sáng lại ḿnh, xét nét lại ḿnh, nên pháp của các kinh A-hàm hay của Phật giáo Nguyên thủy vẫn là pháp tu “Phản quan tự kỷ”. Cho tới như không dùng Tứ niệm xứ, mà dùng Ngũ đ́nh tâm quán th́ cũng là soi xét lại ḿnh. Đó là nói hệ thống A-hàm. Qua hệ thống Bát-nhă, mỗi đêm chúng ta đều tụng “Chiếu kiến ngũ uẩn giai không”. Chiếu kiến ngũ uẩn của ai? Ngũ uẩn của ḿnh. Như vậy cũng là soi sáng, xét nét lại chính ḿnh để biết rơ năm uẩn không thật, không có thực thể, từ đó mà qua tất cả khổ nạn. Chúng ta thấy từ hệ A-hàm tiến lên hệ Bát-nhă, Phật đều dạy phản chiếu lại ḿnh. Đến Thiền tông tôi thường hướng dẫn quí thầy cô nh́n lại từng niệm khởi, đừng chạy theo nó, gọi là biết vọng không theo. Như thế có phải phản quan không? Nếu không xoay lại làm sao thấy niệm khởi? Rơ ràng đó là lối phản quan. Tóm lại, từ pháp tu A-hàm, pháp tu Bát-nhă, tới pháp tu Thiền tông đều dạy phản quan. Câu chuyện tổ Huệ Khả t́m tâm không thể được cũng là phản quan chớ ǵ. T́m ở đâu? Quay lại ḿnh. Như vậy toàn bộ hệ thống tu của đạo Phật đều lấy phản quan tự kỷ làm trọng tâm. Câu “hồi quang phản chiếu” mới nghe thấy tương tự nhưng thật ra có khác. Đây là trường hợp dành cho những bậc kỳ đặc như tổ Lâm Tế hay Lục tổ Huệ Năng. Lục tổ Huệ Năng khi thấy tăng ngồi thiền, Ngài liền kéo lỗ tai thổi phù. Ngài Lâm Tế cũng không thích ngồi thiền, vậy các ngài tu cái ǵ? Các Ngài luôn hồi quang phản chiếu, tức nhớ nơi sáu căn thường sáng rỡ, không phóng ra ngoài. Cho nên tổ Lâm Tế nói rằng: Các ngươi t́m cái ǵ? Người đang nghe pháp đây là ai? Để chỉ cho nơi mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ư của chúng ta hiện có cái chân thật, ai sống được với nó tức là đang thiền. Người nào đạt được tŕnh độ như vậy dù ngồi giữa chợ cũng vẫn thiền như thường. C̣n chưa được tŕnh độ đó thôi chịu khó ngồi thiền, phản quan tự kỷ giùm một chút. Thấy trong từng niệm th́ không chạy ra ngoài, từ từ làm chủ các nghiệp, làm chủ được ḿnh th́ sống theo lối hồi quang phản chiếu của các Thiền sư. Cho nên biết tùy theo căn cơ mà lối tu có khác nhau. Hai câu “hồi quang phản chiếu” và “phản quan tự kỷ” là nền tảng của tất cả người tu Phật chúng ta. Nếu ḿnh làm chưa nổi trường hợp thứ nhất, th́ phải theo trường hợp thứ hai, tức là phản quan tự kỷ. Chừng nào nội tâm trong sạch, yên lặng hết mới bước qua tŕnh độ thứ nhất là hồi quang phản chiếu. Đi đứng nằm ngồi mà không dính nghiệp ǵ hết. Thấy như mù, nghe như điếc đó là tự tại vô ngại. Chúng ta hiện giờ giống như con cá mắc lưới đang vùng vẫy muốn lao ra ngoài, càng vùng vẫy th́ càng mắc thêm. Cho nên phải biết lối tu thiết yếu hơn hết đó là quay nh́n lại ḿnh. Cái quay lại của chúng ta đa số là ở trường hợp thứ hai. Chính Điều Ngự Giác Hoàng đă ứng dụng pháp tu này qua câu nói của Tuệ Trung Thượng Sĩ: Phản quan tự kỷ bổn phận sự, bất tùng tha đắc. Nghĩa là xoay lại quán xét nơi ḿnh là phận sự chính, không được từ ngoài vào. Tăng Ni nên nhớ trường hợp hồi quang phản chiếu chỉ dành cho người nào triệt ngộ, nghĩa là đi đứng nằm ngồi không quên ḿnh, mới dùng được. Ai c̣n quên ḿnh th́ khoan dùng, dùng rất nguy hiểm. Hiểu cho tường tận như thế để trong sự tu, chúng ta ứng dụng đúng, đạt kết quả tốt, không bị lầm lẫn đáng tiếc. Nhờ có hiểu biết tường tận, ta mới không vội kết luận tŕnh độ và h́nh thức tu tập của các huynh đệ khác. Nhiều người ngồi thiền giỏi, thấy ai không ngồi thiền th́ chê, tu sao không ngồi thiền? Nếu người đă sống được bằng chính sự hồi quang phản chiếu th́ đâu cần ngồi thiền, v́ ngồi giữa chợ họ cũng thiền như thường. C̣n nếu chúng ta chưa đạt được tŕnh độ đó mà lạm dụng ngôn từ này, e phải trầm luân đau khổ muôn kiếp. Cho nên hiểu tường tận th́ trên đường tu có hướng đi cụ thể, không mơ màng, hoang mang, sợ sệt khi nghe ai phê b́nh về pháp tu của ḿnh. Ví như ta đang thích ngồi thiền, nhưng nghe nói Lục Tổ thấy ai ngồi thiền, xách lỗ tai thổi phù, ḿnh hoang mang không biết ta tu có đúng không. Đó là chưa hiểu được ḿnh, chưa rơ được Tổ. Nếu được như Lục Tổ th́ ta nên làm như Ngài. Lục tổ một nghe ngàn ngộ, thấy cái chân thật hiện tiền trước mắt, không mất. Như vậy ngồi thiền cũng là dư. C̣n chúng ta ngàn nghe không được một ngộ, bởi vậy nên phải ngồi lại, lóng lặng tâm tư để phút giây nào đó thức tỉnh, giác ngộ. Đó là mấu chốt quan trọng trên con đường tu, Tăng Ni cần phải nắm thật vững để khỏi lầm lẫn. Đó là ư nghĩa tôi muốn nhắc nhở hôm nay. ] PHẬT GIÁO THIỀN TÔNG VIỆT NAM Chùa Vạn Đức – Hội An - 2002 Hôm nay đủ duyên tôi về chùa Vạn Đức thăm viếng và nói pháp cho tất cả Tăng Ni Phật tử nghe. Thời pháp này nội dung chuyên đề về Thiền tông, nhằm giúp quí vị biết rơ đường lối tu thiền của Tổ tiên ḿnh từ trước. Nói đến Phật giáo Việt Nam chúng ta không thể nào bỏ qua đường lối tu thiền của chư Tổ từ xưa. Nếu xét kỹ đường lối đó th́ thấy rơ ràng Phật giáo Việt Nam là một Phật giáo Thiền tông. Thế kỷ thứ VI tổ Tỳ-ni-đa-lưu-chi từ Ấn Độ sang Trung Hoa học đạo với tổ Tăng Xán. Sau khi ngộ đạo, được tổ Tăng Xán dạy đi về phương Nam truyền bá thiền tông, do đó Ngài sang Việt Nam ở tại chùa Dâu. Tổ Tỳ-ni-đa-lưu-chi được xem ngang với Tổ thứ tư ở Trung Hoa là ngài Đạo Tín. Đến thế kỷ thứ IX có ngài Vô Ngôn Thông là đệ tử tổ Bá Trượng ở Trung Hoa, sang Việt Nam truyền thiền nên có phái thiền Vô Ngôn Thông. Sau này có ngài Thảo Đường, khi nhà Lư chinh phục Chiêm Thành bắt được một số quan nhân đem về Việt Nam, trong đó có ngài. Đến Thăng Long mới phát hiện ngài là Thiền sư, từ đó các vua quan nhà Lư rất kính phục, tôn sùng và Ngài trở thành Tổ của phái thiền Thảo Đường ở Việt Nam. Như vậy từ thế kỷ thứ VI đến thế kỷ thứ X, Thiền tông hưng thịnh ở Việt Nam do ba hệ phái Tỳ-ni-đa-lưu-chi, Vô Ngôn Thông và Thảo Đường. Đến khi Thái tử Trần Khâm tức vua Trần Nhân Tông sau này, được vua Trần Thánh Tông gởi qua Tuệ Trung Thượng Sĩ học đạo lư. Khi từ giă trở về, Thái tử hỏi: “Mục tiêu chủ yếu của thiền là ǵ?” Ngài Tuệ Trung Thượng Sĩ trả lời: “Phản quan tự kỷ bổn phận sự, bất tùng tha đắc”, nghĩa là quay lại chiếu soi nơi ḿnh, đó là phận sự chính, không phải từ bên ngoài mà được. Nên biết Thiền mà Thượng Sĩ nói cho vua Trần Nhân Tông nghe là sự phản quan nội tâm ḿnh để được ngộ đạo, chớ không chuyện ǵ khác. Sau khi đăng vị, vua Trần Nhân Tông vừa lo việc trị nước vừa nghiên cứu nội điển để tu tập, không phút nào lơ là. Ở ngôi một thời gian, thấy đă có người kế thừa, năm 41 tuổi Ngài trao hết quyền hành cho con và đi xuất gia. Ngài lên núi Yên Tử và rừng Trúc ở Ngọa Vân Am chuyên tu. Năm năm tu khổ hạnh tại rừng Trúc, ngài hoàn toàn ngộ đạo, v́ vậy có hiệu là Trúc Lâm Đại Đầu Đà. Từ đó Ngài mới đi truyền bá, lập thành hệ phái thiền Trúc Lâm Yên Tử. Hệ phái Trúc Lâm Yên Tử ra đời thâu gồm tinh ba của ba hệ phái Tỳ-ni-đa-lưu-chi, Vô Ngôn Thông, Thảo Đường kết tụ thành hệ phái thiền thuần túy Việt Nam. Từ khi có hệ phái Trúc Lâm Yên Tử ra đời, các hệ phái kia đều vắng mặt không c̣n phát triển nữa. Nhưng từ thế kỷ thứ XIII đến thế kỷ thứ XV nhà Trần mất, nhà Lê lên. V́ sợ ảnh hưởng của nhà Trần nên nhà Lê không chấp nhận Phật giáo mà chấp nhận Nho giáo. Từ đó hệ phái Trúc Lâm Yên Tử lần lần tiêu ṃn cho đến mất tung tích. Đến thế kỷ XVIII, XIX Việt Nam chia làm hai: đàng trong và đàng ngoài. Đàng ngoài có vua Lê, đàng trong th́ chúa Nguyễn. Đàng trong chúa Nguyễn thỉnh các Tổ từ Trung Hoa thuộc hệ phái Lâm Tế sang truyền bá Phật pháp, như ngài Nguyên Thiều… Đàng ngoài vua Lê cũng thỉnh các Tổ Trung Hoa thuộc hệ phái Lâm Tế hoặc Tào Động như ngài Chuyết Công… Ngài Liễu Quán là Thiền sư Việt Nam, chịu ảnh hưởng của tông Lâm Tế đàng trong. Các Tổ hiện thời nhà Nguyễn đều chịu ảnh hưởng của hệ phái Lâm Tế. Nói tổng quát lịch sử Phật giáo nước ta, từ thế kỷ thứ III măi cho đến ngày nay, các Tổ đều tu thiền. Hiện giờ tất cả quí vị đa số thờ kính tổ Lâm Tế, nhưng có biết ngài tu như thế nào, ngộ đạo ra sao chưa? Chư Ḥa thượng ḿnh, vị nào tịch cũng đều để “Từ Lâm Tế” hoặc Chánh tông hoặc Gia phổ, như vậy các Ngài đều thừa kế ḍng Lâm Tế. Thế th́ tổ Lâm Tế là người thế nào, tu và ngộ đạo ra sao mà truyền bá ḍng thiền cho tới ngày nay? Đó là một vấn đề chúng ta tu theo Phật, theo Tổ có bổn phận phải nghiền ngẫm, tra cứu cho tường tận. Thật ra đa số chư Tăng Ni chúng ta c̣n hời hợt quá, xưa bày nay làm vậy thôi, chớ không chịu tra cứu. Tôi là người hơi khó tính, làm việc ǵ phải biết rơ đầu đuôi gốc ngọn mới chịu, c̣n biết không rơ th́ không làm. V́ vậy tôi phải tra cứu kỹ về lịch sử chư Tổ, nhờ thế biết được chút ít về hành trạng các Ngài. Do đó mới có quyển Thiền sư Việt Nam ra đời, bổ khuyết phần nào cho những thiếu sót của chúng ta về lịch sử Tổ tiên ḿnh. Giờ đây tôi dẫn riêng tổ Lâm Tế, là một Thiền sư Trung Hoa nhưng có ảnh hưởng sâu đậm với thiền tông Phật giáo Việt Nam cho quí vị hiểu đại khái. Tổ Lâm Tế hiệu Nghĩa Huyền, ở cuối đời Đường. Ngài phát tâm tu rất thiết tha, b́nh nhật ít nói nhưng hiểu đạo sâu xa thâm thúy. Ngài tới hội của Thiền sư Hoàng Bá - Hy Vận, tức đời thứ tư sau Lục Tổ Huệ Năng. Là người nhiệt tâm cầu đạo, tu hành cẩn mật, hạnh kiểm tề chỉnh nghiêm trang, nên trong chúng ai cũng kính nể Ngài. Ở trong hội đă lâu, nhưng không thấy Ngài lên hỏi tổ Hoàng Bá câu nào hết. Hôm đó Thủ tọa Trần Tôn Túc khuyên: “Huynh ở đây lâu quá, sao không hỏi thầy câu nào vậy?” Ngài nói: “Tôi biết hỏi ǵ đây?” Trần Tôn Túc khuyên Ngài hỏi câu: “Thế nào là đại ư Phật pháp?”, Ngài nhận lời. Hôm đó tổ Hoàng Bá thăng đường thuyết pháp. Ngài bước ra hỏi: “Bạch Ḥa thượng, thế nào là đại ư Phật pháp?” Tổ không nói câu nào hết, đập cho một gậy rồi đuổi xuống. Ngài cũng đi xuống. Năm ba hôm sau, Thủ tọa xúi tiếp: “Huynh lên hỏi nữa đi”. Ngài đắp y đàng hoàng lên hỏi: “Bạch Ḥa thượng, thế nào là đại ư Phật pháp?” Tổ Hoàng Bá đập cho một gậy nữa đuổi xuống. Bấy giờ Ngài bắt đầu hoang mang trong ḷng, nhưng cũng không dám nói ǵ. Đến lần thứ ba, Thủ tọa thúc: “Huynh lên hỏi một lần nữa đi”. Ngài nghe lời, hỏi lần nữa: “Bạch Ḥa thượng, thế nào là đại ư Phật pháp?” Tổ đánh cho một gậy nữa đuổi xuống. Lần này hết chịu nổi Ngài khóc, nghĩ chắc ḿnh không c̣n duyên ở đây. Ba lần hỏi Phật pháp, ba lần ăn đ̣n mà Tổ không dạy một câu, như vậy là sao? Đau khổ quá Ngài sửa soạn cuốn gói đi. Bấy giờ ngài Trần Tôn Túc đến nói nhỏ: “Trước khi đi huynh lên từ giă Hoà thượng rồi hăy đi”. Đồng thời Trần Tôn Túc cũng ngầm bạch với Ḥa thượng: “Huynh Nghĩa Huyền đạo đức rất thâm hậu, xin Ḥa thượng từ bi chỉ cho, chớ để uổng một bậc pháp khí”. Ngài Hoàng Bá đồng ư “Được, bảo ông ấy lên đây”. Khi lên từ giả, Ngài thưa: “Bạch Ḥa thượng, con không có duyên ở đây, xin đi nơi khác”. Ngài Hoàng Bá hỏi: “Ông định đi đâu?” Ngài thưa: “Con cũng không biết đi đâu”. Khi đó Hoàng Bá bảo: “Ông nên qua chỗ Thiền sư Đại Ngu, ở đó Đại Ngu sẽ chỉ cho”. Ngài khăn gói đi tới Thiền sư Đại Ngu. Tới nơi, đảnh lễ thưa thỉnh xong, ngài Đại Ngu hỏi: “Ông ở đâu đến?” Ngài đáp: “Con ở chỗ Hoàng Bá đến”. Ngài Đại Ngu lại hỏi: “Hoàng Bá dạy ông những ǵ?” Ngài nói: “Bạch Ḥa thượng, con ba lần thưa hỏi đại ư Phật pháp, ba lần ăn đ̣n, con không biết có lỗi hay không lỗi?” Đại Ngu nói: “Hoàng Bá thật là tâm lăo bà, chỉ cho ông chỗ tột cùng rồi, ông c̣n thấy có lỗi không lỗi”. Ngay câu đó Ngài đại ngộ, liền thốt lên: “Phật pháp của Hoàng Bá rất ít”. Ngài Đại Ngu nắm đứng hỏi: “Ngươi thấy cái ǵ mà nói Phật pháp Hoàng Bá rất ít”. Ngài thoi vô hông của Đại Ngu một cái. Bấy giờ Thiền sư Đại Ngu buông ra nói: “Thầy của ngươi là Hoàng Bá, chẳng liên can ǵ đến ta. Hăy về bên đó đi”. Ta thấy người xưa dạy đạo và ngộ đạo lạ đời. Tại sao khi đă ngộ đạo ngài Lâm Tế ngang ngược như vậy, thầy hỏi thấy cái ǵ không nói câu nào, lại thoi cho một thoi. Thế mà được khen “Thầy của ông là Hoàng Bá”. Thật là bí hiểm, ai đọc sử tới đây cũng lắc đầu, chẳng biết ngộ ở đâu? Đó cũng chính là điểm đặc biệt của các Thiền sư. Câu nói của ngài Đại Ngu hết sức nhẹ nhàng, “Hoàng Bá thật là tâm lăo bà, đă chỉ chỗ tột cùng, mà ông c̣n thấy có lỗi không lỗi”. Tâm lăo bà là tâm mẹ thương con, thương đáo để. Bởi v́ đại ư Phật pháp không có chỗ cho ta mở miệng. Vừa mở miệng hỏi, vừa phân biệt phải quấy đúng sai là không phải đại ư Phật pháp rồi. Đại ư Phật pháp là chỗ tâm hằng hữu không kẹt hai bên, mà mở miệng là đă kẹt hai bên. Cho nên nghe câu hỏi này, tổ Hoàng Bá chỉ c̣n đập chớ không nói được. Nếu nói th́ kẹt hai bên mất rồi. Nhưng ngài Lâm Tế lúc đó chưa hiểu, thấy Tổ hành động như vậy dường như hơi tàn nhẫn, không dạy mà đánh. Do đó Ngài đau khổ cùng cực nên từ giă ra đi. Khi ấy Hoàng Bá biết Đại Ngu là bạn ḿnh, sẽ hiểu chỉ yếu Ngài muốn chỉ dạy nên dặn Lâm Tế qua chỗ Đại Ngu. Ngài Lâm Tế tŕnh bày tự sự và thưa: “Không biết con có lỗi hay không lỗi?” Ngay câu đó, ngài Đại Ngu phá cho một câu sạch hết mối mang: Hoàng Bá rất tha thiết chỉ cho ông, ông c̣n thấy có lỗi không lỗi, tức c̣n thấy hai bên, làm sao nhận được chỗ dạy của Hoàng Bá? Nghe tới đó ngài Lâm Tế giật ḿnh ngộ đạo liền, mới biết vừa dấy niệm là hai bên. Đại ư Phật pháp là chỗ vô ngôn, vừa mở miệng đă trật rồi. Ngài Lâm Tế nói “Phật pháp Hoàng Bá rất ít” v́ đă ngộ được yếu chỉ kia. Do đó khi nghe Đại Ngu hỏi, biết chỗ ấy nói không được nên Ngài mới thoi vào hong Đại Ngu một thoi. Thiền sư Đại Ngu biết Lâm Tế ngộ được hoàn toàn yếu chỉ vô ngôn rồi nên mới bảo trở về Hoàng Bá. Từ đó về sau, Lâm Tế nổi tiếng là con người kỳ đặc trong giới Thiền sư. Sở dĩ ngài nổi tiếng kỳ đặc là nhờ ba lần ăn gậy của Tổ sư. Chúng ta bây giờ học đạo dễ quá, quí thầy giảng cho hiểu để tu. Tu được hay không cũng không sao, chẳng ai dám rầy rà ǵ. Hồi xưa chư Tổ dồn đệ tử tới chỗ chết, khi bừng sáng ra, vĩnh viễn không c̣n ngờ vực nữa. Hai bên, tinh thần dạy và học khác nhau rất xa, v́ vậy kết quả cũng không giống nhau. Sau này tổ Lâm Tế khi dạy người, ai tới hỏi ǵ Ngài chỉ hét một tiếng chớ không trả lời. Như hỏi “thế nào là đại ư Phật pháp?”, Ngài hét cho một tiếng rồi thôi. Thế th́ tiếng hét đó có ngôn ngữ hay không ngôn ngữ? Chỉ có tiếng hét thôi nên nó không thuộc về ngôn ngữ phân biệt. Nhờ vậy thiền tông mới được truyền bá lâu dài. Nói thế, song trên thực tế có lúc ngài Lâm Tế dạy tu rất rơ ràng. Tôi có dịch cuốn Lâm Tế Ngữ lục, trong đó những buổi thuyết pháp, Ngài đă hỏi tăng chúng: “Các ông đang nghe pháp đây là cái ǵ đang nghe?” Ngài muốn chỉ khi chúng ta đang nghe pháp, lắng ḷng không niệm nào dấy động, th́ cái nghe đó là ai? Hoặc có khi Ngài nói “Trong cục thịt đỏ có chân nhân không ngôi vị”, nghĩa là nơi thân xác thịt của chúng ta có cái chân thật, mà kinh gọi là Phật tánh. Cái đó phát ra ở đâu? Ở mắt, tai, mũi, lưỡi, thân của chúng ta mà ḿnh mê nên không nhận được. Từ đời Tống trở về sau, đồ đệ của Ngài thấy dùng hét hoặc đánh măi không ổn nên mới dạy tu thiền bằng câu thoại đầu. Nghĩa là nói một câu bí mật, bắt hành giả nghiền ngẫm hoài tới chừng nào thành khối nghi. Khối nghi này được nuôi lớn tới bao giờ vỡ tan th́ ngộ đạo. Thí dụ như câu: “Trước khi cha mẹ chưa sanh ta là ai?” Cứ đặt câu hỏi “ta là ai” hay “ta là ǵ”, trong đầu ôn tới ôn lui măi. Chỉ nhớ một câu đó không thèm học, không thèm tính toán, không thèm suy nghĩ ǵ hết, cứ dồn câu đó măi vô đầu ḿnh. Một ngày nào câu đó thành khối rồi vỡ tan ra là khán thành công. Đó là lư do hệ Lâm Tế từ đời Tống về sau dạy dùng câu thoại đầu. Tới thiền Lâm Tế sang Việt Nam, chúng ta cũng ảnh hưởng cách dạy này. Manh mối hệ thống tông Lâm Tế rất rơ ràng. Ngày nay tại nước ta có nhiều vị tu theo thoại đầu, đó là theo hệ tông Lâm Tế. Riêng tôi trong thời gian nhập thất tu cũng sử dụng câu thoại đầu. Tôi đề riết tới một hôm đề không lên, không biết làm sao tôi đành bó tay, lạy Phật khóc thôi. Dường như tôi không có duyên với thiền thoại đầu. Bấy giờ ngồi đọc lại tạng kinh, đọc hết ba mươi ba vị Tổ từ Ấn Độ tới Trung Hoa, đọc sang các vị tổ Nhật Bổn, t́m kiếm manh mối tu thiền ở chỗ nào, mà ḿnh không có duyên. Đọc tới câu chuyện ngài Huệ Khả đối đáp với tổ Đạt-ma, tôi lấy làm lạ. Tổ Đạt-ma khi sang Trung Hoa truyền đạo, Ngài gặp vua Lương Vơ Đế, nhưng đáng tiếc nhà vua không lănh hội được yếu chỉ của Ngài. V́ vậy Tổ trở về núi Tung Sơn ở chùa Thiếu Lâm, chín năm xây mặt vào vách. Cho rằng ḿnh chưa gặp người có duyên để truyền bá, nên ngài cứ ngồi im lặng không nói ǵ hết. Bấy giờ có Thiền sư Thần Quang học hỏi Phật pháp đă lâu mà chưa ngộ được. Nghe tin Tổ ở chùa Thiếu Lâm, ngài t́m tới xin học đạo, nhưng Tổ vẫn im lặng ngồi xây mặt vào vách. V́ thế Thần Quang đứng suốt đêm ngoài trời chắp tay hướng về Tổ, tới sáng tuyết ngập lên tới đầu gối. Tổ nh́n ra thấy, hỏi: Ngươi muốn cầu ǵ mà khổ hạnh vậy? Ngài thưa: Bạch Ḥa thượng, con muốn cầu pháp môn cam lồ để được giải thoát. Tổ nói: Người xưa học đạo hy sinh cả thân mạng, liều chết mới có thể được. Ông chỉ dùng chút ít khổ hạnh này làm sao cầu đạo vô thượng? Nghe thế, ngài Huệ Khả đi xuống bếp mượn dao chặt một cánh tay dâng lên Tổ nói: “Con xin dâng cánh tay này để cầu đạo”. Tổ nh́n thấy nói: “Khá đó”, mới nhận làm đệ tử đổi tên Thần Quang thành Huệ Khả, nghĩa là người có trí tuệ khá đó. Tôi thường gọi đây là câu chuyện chàng dũng sĩ chặt tay. Song e rằng đây là truyền thuyết chớ không phải sự thật. V́ nếu chặt tay phải băng bó, chớ máu tuôn dầm dề làm sao đem dâng Tổ được. Lại nữa, về sau đọc sử không thấy chỗ nào nói ngài Huệ Khả cụt tay hết. Có thể người xưa dạy chúng ta tu hành muốn đạt đạo th́ phải hy sinh, chớ không dễ dàng lười biếng hay tầm thường được. Do đó các Ngài mượn h́nh ảnh Tổ chặt tay để răn dạy chúng ta thôi, chớ không đến nổi như vậy. Sau khi nhận làm đệ tử rồi, một hôm ngài Huệ Khả thưa với Tổ: “Bạch Ḥa thượng, tâm con không an. Xin Ḥa thượng dạy con pháp an tâm”. Tổ Đạt-ma nh́n thẳng vào ngài Huệ Khả nói: “Đem tâm ra ta an cho”. Ngài Huệ Khả hoảng hốt quay lại t́m xem tâm ở đâu. T́m hoài không thấy mới thưa: “Bạch Ḥa thượng, con t́m tâm không được”. Tổ bảo: “Ta đă an tâm cho ngươi rồi”. Ngay đó ngài Huệ Khả biết đường tu, biết pháp an tâm. Người xưa rất tiếc lời, không nói trắng nói thẳng như ḿnh ngày nay. Hỏi pháp an tâm, Tổ nh́n thẳng bảo “Đem tâm ra ta an cho”. Ngài Huệ Khả rất thật thà, nghe thế liền xoay lại t́m tâm. T́m hoài không được, thưa thật với Tổ: “Dạ con t́m tâm không được”. Tổ bảo “Ta đă an tâm cho ngươi rồi”. Đó là vấn đề mà người ta đọc sử thường cho qua suông, không cố ư t́m sâu ư nghĩa của nó. Ngày xưa tôi cũng thấy chư Tổ như đùa cợt chơi vậy, không chịu chỉ dạy cho ḿnh. Sau này đủ duyên nhập thất, tôi mới hiểu ra. Khi bảo ngài Huệ Khả t́m tâm, t́m không được, Tổ bảo “Ta đă an tâm cho ngươi rồi”, quả là câu nói kỳ diệu phi thường, nhưng v́ chúng ta hời hợt quá nên không biết. Ngài Huệ Khả xoay lại t́m tâm lăng xăng xem nó ở đâu th́ nó mất tăm mất dạng. Tâm bất an ấy đă mất th́ an tâm chớ ǵ. Khi chạy lăng xăng nó không an, bây giờ nó mất tức là an rồi. Đó là Tổ đă chỉ cho cách an tâm. Cho nên muốn tâm an chỉ cần phản quan nh́n lại th́ an ngay. Rất là thẳng tắt. Bởi vậy Tổ Đạt-ma có bốn câu kệ làm tiêu chuẩn của Thiền tông: Bất lập văn tự, Giáo ngoại biệt truyền. Trực chỉ nhân tâm, Kiến tánh thành Phật. Bất lập văn tự, nghĩa là không lập văn tự. Chẳng hạn như câu đáp trên của Tổ đâu thuộc văn tự ǵ. Giáo ngoại biệt truyền, là truyền ngoài giáo lư. Trực chỉ nhân tâm là chỉ thẳng tâm người. Kiến tánh thành Phật là thấy tánh thành Phật. Nếu ta phản quan nh́n lại tâm lăng xăng th́ nó lặng, chứng tỏ tâm đó hư dối không thật. Khi tâm hư dối lặng rồi, ta liền nhận ra bản tánh Phật của ḿnh. Thế nên nói trực chỉ, chỉ thẳng chớ không quanh co, ṿng vo ǵ hết. Sau thời gian tu nữa, ngài Huệ Khả bạch với Tổ: “Bạch Ḥa thượng, con đă bặt hết các duyên”. Tổ bảo: “Coi chừng rơi vào không”. Ngài Huệ Khả thưa: “Rơ ràng thường biết, làm sao không được!” Tổ liền ấn chứng: “Ông được như vậy, ta cũng như vậy, chư Phật đều như vậy”. Thế là ngài Huệ Khả được Tổ truyền tâm ấn. Thật kỳ đặc. Dứt hết các duyên là ǵ? Là đối với sáu trần không c̣n dính mắc nữa. Không c̣n dính với sáu trần th́ tâm không c̣n lộn xộn, hoàn toàn an trú. Nghe thế Tổ sợ rơi vào không ngơ, nên nói “coi chừng rơi vào không”. Ngài thưa “Rơ ràng thường biết làm sao không được!” Đến đây Tổ mới xác nhận và ấn chứng cho chỗ ngộ của ngài Huệ Khả là thấu triệt. Đường lối Thiền tông là đường lối thẳng tắt, không quanh co, không mượn phương tiện. Song chư Tổ tạm mượn mười mục chăn trâu khéo diễn đạt rất đầy đủ từng giai đoạn tu tập của thiền giả. Ở đây tôi lược nói qua về mười bức tranh chăn trâu ấy cho quí vị có khái niệm. Muốn hiểu sâu bản thân mỗi vị phải thực hành mới được. Mục thứ nhất T́m trâu. Con trâu tượng trưng cho tâm ngỗ nghịch lăng xăng. Bây giờ nó đang hoang đàng, ta t́m xem nó ở đâu. Đây chính là chỗ tổ Huệ Khả t́m tâm bất an. T́m được trâu rồi phải chinh phục nó. Khi chịu phép đầu hàng trâu trở thành hiền ngoan. Lần lần trâu mất luôn, chỉ c̣n thằng chăn. Sau đó thằng chăn cũng không c̣n. Không c̣n trâu không c̣n chăn, bấy giờ chỉ c̣n một bầu trời hiện trăng sáng. Theo Thiền tông, đến đây c̣n phải qua giai đoạn chim bay về tổ, lá rụng về cội tức thể nhập Pháp thân. Thể nhập Pháp thân rồi mới ứng hóa tùy duyên, là h́nh ảnh ông già quảy b́nh rượu xách cá chép, vào trong xóm làng hóa độ chúng sanh. Chư Tổ Thiền tông dạy chúng ta phải phản quan nh́n lại những lăng xăng mà lâu nay chúng ta cho là tâm ḿnh đó, coi nó ở đâu. T́m lại nó mất tiêu th́ tự an chớ ǵ. Không có một phương pháp nào, chỉ phản quan bằng trí tuệ của ḿnh. Trí tuệ nh́n lại là thằng chăn, vọng tưởng bị ḿnh nh́n là con trâu. Lúc đầu trâu hoang đàng lắm, chạy tứ tung hết, không dừng nghỉ chút nào. Nhưng ta chịu khó nh́n măi lâu ngày mới chăn giữ được nó. Lúc đầu trâu hung hăng quá thằng chăn phải có roi, có vàm xỏ mũi lôi đi, lần lần nó mới trở thành con trâu ngoan hiền. Đức Phật dạy chúng ta giữ giới luật là sợi dây xỏ mũi, là cây roi đánh cho trâu thuần ḥa trở lại. Bởi vậy người không giữ giới luật tu thiền rất khó định, niệm Phật cũng khó nhất tâm. Tất cả quí vị thấy thân ḿnh thật không? Nếu thật th́ trẻ hoài, không già không chết. Ngày nay c̣n, ngày mai mất, làm sao thật được. Thân không thật mà chúng ta tưởng thật, đó là mê lầm lớn lao. Từ cái mê lầm về thân nên mới sanh ra chuyện giành giựt từng món ăn, từng cái mặc, khổ sở đủ thứ hết. Kế đó, quí vị thường cho rằng buồn là ḿnh, thương là ḿnh, giận là ḿnh, ghét là ḿnh. Khi giận nói tôi giận quá, như vậy chấp cái giận là tôi. Khi buồn nói tôi buồn quá, chấp cái buồn là tôi. Khi ghét nói tôi ghét quá, chấp cái ghét là tôi. Cứ chấp nhận những tâm buồn thương, giận ghét, hơn thua, phải quấy là tâm ḿnh, cho đó là tinh thần của ḿnh. Bên ngoài chấp thân tứ đại tạm bợ làm thân, bên trong chấp tâm sanh diệt buồn thương, giận ghét đổi thay luôn luôn làm tâm. Bám vào hai thứ giả dối sanh diệt cho là ḿnh, rồi từ đó tạo nghiệp. Thương th́ bày ra chuyện này chuyện kia để gần nhau, ghét cũng bày ra chuyện này chuyện nọ để hại nhau. Cứ thế suốt đời tạo nghiệp không dừng, đó là nhân dẫn đi trong luân hồi sanh tử. Bây giờ muốn thoát ly luân hồi sanh tử phải làm sao? Phải dừng tâm tạo nghiệp. Thân làm ác, miệng nói ác là từ tâm buồn thương, giận ghét đó xúi giục, sai khiến. Cho nên nó là gốc của trầm luân sanh tử. Nhưng tâm đó luôn đổi thay như chong chóng, không thật. Ôm ấp cái tâm không thật cho là tâm ḿnh, rồi theo đó chịu khổ, có phải si mê quá không? Bây giờ biết nó không thật, ta đừng theo nữa, để cho nó lặng. Nó lặng rồi th́ tâm chân thật hiện tiền. Có khi nào quí vị ngồi chơi dưới cội cây hay trong sân chùa, nh́n tất cả cảnh chung quanh không nghĩ ǵ hết, không có ư niệm nào hết, lúc đó có ḿnh hay không có ḿnh? Có. Ḿnh ở đâu? Khi không có cái giả dối, cái chân thật hiện tiền. Không nghĩ suy, không khởi niệm nhưng ta vẫn thấy, vẫn nghe, chớ đâu phải không biết ǵ. Lâu nay chúng ta cứ ngỡ suy nghĩ là ḿnh, bây giờ suy nghĩ lặng rồi, cái biết vẫn hiện tiền. Cái biết hiện tiền đó không tướng mạo, không sanh diệt mà ḿnh bỏ quên từ muôn đời muôn kiếp. Cho nên Phật dạy chúng ta phải dừng tâm sanh diệt, th́ tâm chân thật mới hiện tiền. Chúng ta tu thiền để làm ǵ? Để phá tan tâm vọng tưởng lăng xăng đó. Trong kinh Hoa Nghiêm Phật nói rơ: “Tất cả chúng sanh đều có đầy đủ đức tướng Như Lai”, nhưng v́ vọng tưởng điên đảo che phủ nên có mà không thấy. Lâu nay ta cứ chấp nhận tâm lăng xăng là ḿnh nên cái chân thật bị phủ che. Bây giờ muốn cái chân thật ấy hiện ra th́ tâm lăng xăng phải lặng. Thuật dạy khán thoại đầu trong nhà thiền cũng để chết tâm lăng xăng này. Chết tâm ấy rồi mới nhận ra tâm chân thật của ḿnh, gọi là ngộ đạo. Người tu niệm Phật th́ sao? Niệm Phật là một câu trung gian. Cứ tin nhớ niệm Phật hoài, chừng nào được nhất tâm bất loạn th́ không c̣n tâm lăng xăng, khi đó thấy Phật A Di Đà. Đây cũng là một phương tiện đưa hành giả tới chỗ giác ngộ. Nhưng nhớ phải nhất tâm bất loạn, chớ không được niệm sơ sơ rồi tính sổ với Phật. Một bên niệm Phật tới nhất tâm bất loạn, một bên tu thiền được định, cũng là nhất tâm. Điên đảo vọng tưởng phát xuất từ cái thấy hai, phải quấy, thương ghét, tốt xấu… Thấy phải th́ chịu, thấy quấy th́ ghét. Chính tâm thương ghét đó tạo nghiệp. Tổ nói “c̣n thấy có lỗi không lỗi”, là thấy hai nên không đạt được đại ư của Phật pháp. Thâm ư Phật pháp là chỗ không hai, ngài Lâm Tế nắm được ư này liền bỏ cái hai mới ngộ đạo. Từ đó về sau ai đến hỏi đạo, Ngài chỉ hét là để khỏi mắc kẹt hai bên. Hiểu như vậy chúng ta mới thấy trọng tâm tu của đạo Phật là giác ngộ. Giác ngộ cái ǵ? Kinh Bát-nhă dạy dùng trí tuệ soi thấy thân năm uẩn đều không. Thân năm uẩn gồm sắc uẩn là thân tứ đại, thọ tưởng hành thức là tâm. Thọ là cảm giác, tưởng là tưởng tượng, hành là suy nghĩ, thức là tâm nghĩ tưởng phân biệt. Năm uẩn này tánh nó là không, soi thấy như vậy là có trí tuệ Bát-nhă. Chúng ta ngày nay tụng th́ tụng mà không thấy ǵ hết. Tụng cho hết thời xuống kể công với Phật, bữa nay tụng mấy biến kinh, con tu khá rồi đó. Tụng kinh như vậy không gọi là tụng kinh. Bởi thế nên cứ thấy thân này là thật, vừa bị xúc phạm liền nổi giận đùng đùng. Thấy tâm này là thật, nên ai chống đối ư kiến ḿnh th́ cự căi với người ta, gây ra bao nhiêu đau khổ. Bây giờ biết thân không thật, tâm không thật th́ c̣n ǵ đau khổ nữa, nên nói qua hết khổ ách. Tụng kinh hết năm này tháng kia mà khổ vẫn khổ, th́ tu có kết quả ǵ? Đó là tại ḿnh không hiểu, không ứng dụng được lời Phật dạy vào cuộc sống, chớ đâu phải Ngài dạy sai. Nh́n qua mười mục chăn trâu, chúng ta thấy đường lối tu thiền của Thiền tông rơ ràng trong đó. Con trâu là tâm vọng tưởng, thằng chăn là trí tuệ của ḿnh dùng để điều phục nó. Lúc c̣n đang điều phục th́ c̣n đối đăi, có trâu có chăn. Khi trâu hết rồi chăn cũng tự mất. Ta dùng trí Bát-nhă là để ruồng phá tất cả các thứ chấp. Khi hết chấp rồi trí Bát-nhă cũng lặng, trở về tâm thể thanh tịnh của ḿnh. Đạo lư ấy thâm sâu vô cùng vô tận. Người tu muốn giải thoát sanh tử phải lặng hết tâm tạo nghiệp. C̣n nuôi dưỡng tâm tạo nghiệp th́ không bao giờ hết sanh tử. Lục Tổ khi nói bài pháp đầu tiên cho Thượng tọa Minh, người đuổi theo để giành y bát: “Không nghĩ thiện, không nghĩ ác, cái ǵ là bản lai diện mục của Thượng tọa Minh?” Ngay câu nói ấy, Thượng tọa Minh ngộ đạo. Bản lai diện mục là gương mặt thật sẵn có muôn đời của chúng ta, khi không nghĩ thiện không nghĩ ác nó sẽ hiện ra. Thế gian thường nói tu không nghĩ ác nhưng phải nghĩ thiện, tại sao ở đây không cho nghĩ thiện nữa? Bởi v́ Phật nói trong lục đạo luân hồi, ba đường ác là do nghĩ ác, làm ác mà đọa vào. Ba đường thiện là do nghĩ lành, làm lành mà sanh vào. Tuy nhiên c̣n sanh là c̣n tử, chưa ra khỏi ṿng luân hồi sanh tử. Cho nên dứt hết hai thứ thiện, ác mới dứt sạch nghiệp. Hết nghiệp th́ đi đâu? Là giải thoát sanh tử, mục đích tu duy nhất của chúng ta chỉ có thế thôi. Chúng ta có tánh Phật sẵn mà cứ bỏ quên chạy theo vọng tưởng hoài. Chạy theo vọng tưởng hoài th́ khổ hoài, lang thang trong luân hồi lục đạo. Chừng nào chúng ta trở về với tánh Phật của ḿnh rồi, chừng đó ḿnh như chư Phật chư Tổ, chuyển phàm thành Thánh, không có xa xôi ǵ hết. Cho nên tu Phật là điều thiết yếu vô cùng. Nhưng nhớ phải tu từ gốc, tu từ tâm chân thật, chớ không phải chỉ tu trên h́nh thức thôi. Tu chân thật là phải phản quan trở lại ḿnh. Tại sao chúng tôi chủ trương khôi phục Thiền tông đời Trần? Như trên đă nói, Thái tử Trần Khâm khi từ giă Tuệ Trung Thượng Sĩ đă hỏi về chỗ chủ yếu của thiền. Ngài Tuệ Trung dạy: “Phản quan tự kỷ bổn phận sự, bất tùng tha đắc”, tức phải soi lại chính ḿnh, không nên t́m bên ngoài, đó là phận sự gốc. Ngay câu này Ngài lănh hội liền. Lên ngôi Hoàng Đế một thời gian, sau đó thấy Anh Tông đă lớn, đủ sức cán đáng việc nước, Ngài giao ngôi vua cho con, xuất gia vào núi tu hành. Như vậy chỗ nh́n, chỗ thấy của Ngài rất chí thiết, rất rơ ràng, đúng với tinh thần của Tổ Huệ Khả. T́m lại tâm là phản quan chớ ǵ. Phản quan ở đâu? Ở chính ḿnh, trở lại chính ḿnh. Nh́n lại hệ thống thiền từ tổ Huệ Khả truyền tới tổ Huệ Năng, sang các Thiền sư Việt Nam cùng một hệ thống không khác. Các Ngài đều chỉ cho chúng ta thấy thân không thật, tâm lăng xăng không thật. Nhưng tâm đó là chủ tạo nghiệp nên phải đập tan cho nó hết tâm lăng xăng th́ gốc tạo nghiệp sẽ không c̣n. Không c̣n tạo nghiệp là giải thoát sanh tử. Muốn thế trước phải có trí tuệ Bát-nhă ruồng phá các chấp thân, chấp tâm. Trí tuệ Bát-nhă là điều kiện hàng đầu để dẹp trừ tâm tạo nghiệp. Cho nên dù tu pháp môn nào Tịnh độ, Thiền tông hay Mật tông cũng tụng Bát-nhă. Buông dẹp hết các thứ hư giả rồi th́ tâm chân thật hiện ra, ông Phật sẵn nơi ḿnh, chớ không đâu xa hết. Vua Trần Nhân Tông lúc ở ngôi Thái Thượng Hoàng có làm bài phú Cư Trần Lạc Đạo bằng chữ Nôm thật có giá trị. Kết thúc bài phú Ngài viết bốn câu bằng chữ Hán, ư nghĩa rất đN |