LỜI ĐẦU SÁCH

Tập sách nhỏ này được ghi lại lời giảng của Ḥa Thượng Viện Chủ Thiền Viện Thường Chiếu giảng cho Phật tử tại bổn viện, hoặc vài nơi mà Ḥa Thượng có dịp ghé qua. Chúng tôi nhận thấy những bài giảng này hướng dẫn tu học rất rơ ràng và thực tế, dễ hiểu, dễ thực hành. Xét lại, có một số Phật tử ở xa, có ḷng ngưỡng mộ Phật pháp, không được trực tiếp nghe Ḥa Thượng giảng dạy, cũng không đủ điều kiện nghe băng Cassette, nên chúng tôi ghi lại thành sách, để quí Phật tử có phương tiện nghiên cứu tu hành cùng được lợi ích.

Sau khi ghi xong, chúng tôi tŕnh lên Ḥa Thượng xem, được Ḥa Thượng chấp thuận cho in để nhiều người được đọc. V́ ghi từ lời giảng, nên tập sách không tránh khỏi những khuyết điểm, nhất là phần h́nh thức. Mong quí độc giả thông cảm bỏ qua cho những lỗi mà chúng tôi vấp phải.

Thiền Viện Thường Chiếu 8 - 2 - 1993

Kính ghi

THUẦN GIÁC

?


 

TU LÀ HIỀN

Buổi nói chuyện hôm nay tôi nhắm vào quí Phật tử Phước Thái nhiều hơn là quí Phật tử ở các nơi. Vậy quí vị hăy lắng nghe cho kỹ. Ở đây tôi không giảng những đề tài cao siêu, mà đặt những câu hỏi rất thực tế, rất thấp, quí vị hăy trả lời đúng như chỗ ḿnh biết, để rồi tôi hướng dẫn cho quí vị tu hành.

- Quí vị đi chùa học đạo, có phải tu theo đạo Phật không ? 

- Thưa phải.

- Vậy, người tu là hiền hay dữ ?  

- Dạ hiền.

- Người đi chùa, lạy Phật, ăn chay, tụng kinh, nếu có người xúc chạm đến th́ nóng nảy la lối. Như vậy có hiền không ?

- Dạ chưa hiền.

- À, chưa hiền tức là chưa tu. Vậy đi chùa tụng kinh mà chưa hiền th́ chưa gọi là người tu. Người tự nhận ḿnh tu theo đạo Phật mà chưa hiền th́ sao ? Phải tu thế nào mới gọi là tu theo đạo Phật  và  làm  thế  nào  để  được  hiền,  quí  vị biết không ?   

- Dạ chưa biết.

- Đây, tôi hướng dẫn cho quí vị tu để thành người hiền rất thực tế và dễ dàng. Theo tinh thần đạo Phật tu là tu ở ba nghiệp : thân nghiệp, khẩu nghiệp và ư nghiệp. Khi chưa biết tu, thân có khi làm lành có lúc làm dữ, miệng có khi nói lời thiện có lúc nói lời ác, ư có khi nghĩ tốt có lúc nghĩ xấu. Khi biết tu th́ việc lành nên làm, việc dữ nên tránh. Lời thiện th́ nói, lời ác th́ chừa. Điều tốt th́ nghĩ, điều xấu th́ dừng. Người biết tu th́ thân không làm ác, miệng không nói ác, ư không nghĩ ác, dó là người hiền. tu chủ yếu không phải ăn chay nhiều, vậy mà Phật tử cứ đua nhau ăn chay, cho ăn chay nhiều là tu, chớ không biết tu là chừa ba nghiệp ác. Nhân gian có câu ca dao để nhạo báng người ăn chay mà không hiền :    

             Sân si nghiệp chướng không chừa,

            Bo bo mà giữ tương dưa làm ǵ ?

Tham sân si là nghiệp chướng của thân miệng và ư th́ không chịu chừa bỏ, mà cứ đua nhau ăn chay, rồi cho đó là tu, tu như vậy không đúng với chủ trương của đạo Phật. Tu là thân không làm ác, miệng không nói ác, ư không nghĩ ác. Trong gia đ́nh, nếu mọi người không biết tu th́ cứ căi vả chửi bới gây phiền năo cho nhau. Thậm chí gây căi không nguôi cơn giận th́ đánh đập, đánh đập không thỏa măn cơn giận th́ t́nh nghĩa không c̣n, mà t́nh nghĩa đă hết th́ ly dị chia tay, gia đ́nh đổ nát. Nếu mọi người biết tu th́ ư vừa khởi nghĩ ác, liền biết xấu chế ngự không dám nói lời nặng, không nói nặng th́ đâu có căi, không căi th́ làm ǵ có chuyện đánh đập, không đánh đập th́ đâu có ly dị, gia đ́nh  thường được an vui hạnh phúc. Như vậy, nếu người biết tu th́ ư không bao giờ nghĩ xấu cho ai, th́ tâm không bực bội phiền năo, lúc nào cũng vui vẻ an ổn. Nếu ư không nghĩ xấu th́ miệng thân đâu có nói, làm hung ác khiến cho người đau khổ. Không làm khổ người th́ được người thương mến, người thương mến th́ không hại, nếu có chuyện bất trắc th́ được người giúp đỡ. Khi đă biết tu th́ tân miệng ư lúc nào cũng thiện, ba nghiệp mà thiện th́ tự thân được an vui, trong gia đ́nh  trên thuận dưới ḥa, ngoài xă hội không gây xáo trộn sẽ được trật tự an b́nh. Như vậy người biết tu,chẳng những  chính bản thân ḿnh được lợi ích, mà gia đ́nh và xă hội cũng được lợi ích. Đó là người tu đúng theo lời Phật dạy.

Nếu chỉ biết ăn chay, tay lần tràng hạt, nhưng mỗi khi có ai xúc chạm đến th́ la lối chửi rủa không thua ai; người như thế không hiền, chưa phải là người tu. Do vậy, nên bị chế nhạo : “Ngoài miệng th́ niệm Nam mô trong bụng th́ chứa một bồ dao găm”. Ngoài mệng th́ niệm Phật lâm râm, nhưng trong tâm th́ quá hung dữ. Thế nên, ăn chay nhiều niệm Phật  nhiều, mà không chịu tu thân, mệng, ư cho hiền th́ chỉ làm tṛ cười cho thiên hạ. V́ ậy, khi nói tới tu, người Phật tử phải nhớ thân mệng ư phải thện. Phật dạy tu ột giờ, là được an vui hạnh phúc một giờ, tu một ngày là được an vui hạnh phúc một ngày, tu một năm là được an vui hạnh phúc một năm.

Gần đây có một số Phật tử nghĩ rằng ăn chay, đi chùa, làm công quả có phước, nên ham, đua nhau làm. Ví dụ trong gia đ́nh ăn chay một tháng bốn ngày, v́ nghe nói ăn chay có phước nhiều được khen, nên người vợ tăng thêm sáu ngày, rồi mười ngày... chồng con ăn theo không nổi nên có chuyện xào xáo trong gia đ́nh. Người vợ mới than trách rằng tôi muốn tu muốn tiến, mà bị quỉ nó phá nó ngăn không cho tu tiến. Người nghĩ nói như vậy có tu không ? Tu mà ư khởi nghĩ ác, miệng chửi chồng con là quỉ. Như vậy, chưa phải là người Phật tử chân chính. Người Phật tử chân chánh không đặt nặng việc đi chùa thường, tụng kinh giỏi, ăn chay nhiều, mà phải biết tu ba nghiệp thân khẩu ư cho thiện. Tu là chuyển ba nghiệp  ác thành ba nghiệp thiện. Đi chùa niệm Phật ăn chay là nhớ từng hành động, từng lời nói, từng ư nghĩ luôn luôn phải hiền. Như vậy, có lúc nào là không tu. Chẳng hạn thân cuốc cỏ, xưa thấy rắn th́ lấy cuốc đập chết, nay thấy rắn tránh không đập. Đó là chuyển nghiệp thân ác tành thiện. Xưa khi tiếp xúc với bạn bè, họ nói lời hung dữ làm ḿnh tức giận bèn nói nặng lời cho bỏ ghét, nay nhớ ḿnh là người  tu không được lớn tiếng gây căi, nên im lặng mà nhẫn nhịn. Đó là chuyển nghiệp khẩu ác thành thiện. Lúc ngồi một ḿnh vừa khởi nghĩ xấu về người, liền hổ thẹn dừng không nghĩ nữa. Đó là chuyển nghiệp ư ác thành thiện. Tu như vậy, đâu đợi vô chùa tụng kinh lạy Phật mới tu, mà giờ nào ở đâu cũng tu được, thế mới đúng ư nghĩa tu của đạo Phật. Nếu hiểu và tu như vậy, th́ lo ǵ mai kia không được về cơi Phật. Trong kinh có câu : “Tam nghiệp hằng thanh tịnh, đồng Phật văng Tây phương”. Ba nghiệp mà hằng trong sạch th́ đồng với Phật về cơi Phật. Nếu không  bỏ ba nghiệp ác, mà cố niệm Phật nhiều cầu Phật A Di Đà rước về Cực lạc, cũng không được  rước về, v́ ba nghiệp c̣n ác th́ về đó cứ gây căi đánh đập hoài, biến cơi Cực lạc thành cơi Ta bà khổ hay sao ?

Vậy, tu cốt là chuyển ba nghiệp ác thành ba nghiệp thiện là bước đầu, tụng kinh niệm Phật là bước kế tiếp. Bước đầu là nền tảng mà không thực hiện trước, lại đi bước thứ hai, giống như cất nhà lầu mà không xây nền móng, quyết định cái nhà sẽ  đổ không thành. Lại cũng có nhiều Phật tử đi chùa lâu năm, ăn chay, niệm Phật, nếu con cháu có làm ǵ trái ư th́ mắng chửi không tiếc lời, khiến cho con cháu buồn không thương mến. Rồi viện cớ là chỉ hiền với người ngoài thôi, đối với con cháu trong nhà là phải khó phải dữ nó mới sợ. Người Phật tử nói như vậy là không đúng. Tu là phải hiền, hiền với tất cả mọi người, từ trong nhà cho đến ngoài xă hội. Giả sử con cháu có nói bậy, làm sai, th́ nên ôn tồn nhỏ nhẹ khuyên dạy con cháu. Đừng nên chửi bới la rầy, v́ lúc nóng giận không kiểm soát được ư nghĩ lời nói, sẽ nói bậy, mà nói bậy th́ mất uy tín với con cháu.

Kinh Phật ví dụ một Trưởng giả có tất cả bốn bà vợ. Người vợ thứ nhấùt rất trung thành với ông, thế mà suốt ngày ông không hề nghĩ tới. Người vợ thứ hai được ông lưu ư chút ít. Người vợ thứ ba được ông nhắc nhở liền miệng. Người vợ thứ tư th́ ông ở đâu bà có mặt ở đó, không rời một gang tấc. Một hôm ông đau nặng sắp chết, hỏi cả bốn người vợ :

- Tôi  sắp  chết,  trong  bốn  bà có ai  nguyện chết theo tôi không ?

Vợ thứ tư lên tiếng :

- B́nh thường ông ở đâu th́ tôi có mặt ở đó, bây giờ ông chết tôi xin đưa ông tới cửa.

Vợ thứ ba lên tiếng tiếp :

- B́nh thường tôi được ông lưu ư nhắc nhở liền miệng, bây giờ ông chết tôi xin đưa ông tới cổng.

Vợ thứ hai nói :

- B́nh thường tôi cũng được ông nhắc nhở, bây giờ ông chết tôi xin đưa ông tới mộ.

Vợ thứ nhấùt nói :

- B́nh thường tuy ông không nghĩ tới tôi,nhưng bây giờ ông chết, tôi nguyện chết theo ông.

Quí vị thấy ông Trưởng giả quá bất công và bội bạc, người thương ḿnh, trung thành với ḿnh th́ lơ là không nghĩ đến, người thương ít th́ luôn luôn theo dơi không rời. Ông Trưởng giả bất công bội bạc này Phật dụ cho mỗi chúng ta. Người vợ thứ tư Phật dụ cho tiền bạc. Chúng ta ở nhà, hay đi đâu đều có tiền trong túi không thể thiếu nó. Nhưng khi chúng ta chết th́ nó nằm trong tủ, hoặc ở nơi rương thuộc  phạm  vi  trong   nhà, v́   vậy  mà  nói  đưa tới cửa. Người vợ thứ ba dụ cho của cải sự nghiệp nhà cửa; nó ở trong phạm vi ṿng rào nhà, nên nói đưa tới cổng. Người vợ thứ hai dụ cho công danh chức tước; khi đưa quan tài người chết tới huyệt th́ đọc điếu văn kể công trạng chức tước rồi mới hạ huyệt chôn cất, nên nói đưa tới mộ. Người vợ thứ nhất dụ cho nghiệp lành hay nghiệp dữ theo ḿnh như h́nh với bóng, có ḿnh ở đâu th́ có nó ở đó không rời nhau, nên nói t́nh nguyện chết theo.

Tác động của thân khẩu ư lặp tới lặp lui nhiều lần gọi là nghiệp. Người dạy học hằng ngày th́ gọi  là nghề giáo  hay nghiệp giáo. Người cùng làm một việc th́ gọi là bạn đồng nghiệp. Có người là có nghiệp; người, nghiệp không rời nhau. Giả sử như ông thầy giáo đi đường có mang theo một số tiền, bất thần ông bị tai nạn, bao nhiêu tiền của ông mang theo đều mất hết. Nhưng nghiệp dạy học vẫn c̣n không mất, về nhà ông vẫn đến trường tiếp tục dạy học tṛ. Như vậy, tiền của sự sản là cái ngoài ḿnh, nên bị mất dễ dàng không thể giữ được măi măi. C̣n nghiệp là cái không ngoài ḿnh, nên chẳng bao giờ mất. Thế mà trong cuộc sống hằng ngày, mọi người đều nghĩ làm sao cho có tiền, làm sao cho có của, nếu có tiền có của rồi th́ muốn có địa vị danh vọng. Trong ba thứ đó nghĩ tới tiền nhiều nhứt, rồi tới của cải, danh vọng. Khi chết, th́ tiền của từ giă ḿnh trước nhất, tức là khi chết nó ở lại chớ không theo ḿnh. Trong đời này không ai là không chết , hoặc chết sớm hoặc chết muộn, khi chết th́ không ai đem được tiền của theo, chỉ có nghiệp lành hay nghiệp dữ theo mà thôi. Thế nên, nếu là người Phật tử khôn ngoan sáng suốt, dù cho làm ra nhiều tiền của mà làm ác th́ nhấùt định không làm, v́ khi chết tiền của không cứu được tội khổ và phải để lại tất cả, chỉ có một ḿnh ḿnh chịu quả báo khổ đau. Nghĩ và nói ác mà đem lại lợi lộc cho ḿnh cũng không nói. Như thế, mới không bị tiền tài sai sử tạo nghiệp ác. Ngày nay không gây tạo tội lỗi, không bị người chê trách, mai kia chết đi cũng nhẹ nhàng thảnh thơi, đó là khéo giữ khéo tu ba nghiệp. Ca dao có câu :

            Bởi chưng kiếp trước khéo tu,

            Ngày nay con cháu vơng dù nghênh ngang.

Do kiếp trước khéo tu nên ngày nay con cháu mới sang trọng , nếu hiện tại không chịu tu th́ con cháu về sau khó khổ. Chúng ta tu là tạo cho cuộc sống hiện tại tốt đẹp an vui, ngày mai lại càng an vui tốt đẹp hơn. Người biết tu th́ thường nhớ tới nghiệp , để tránh nghiệp ác làm nghiệp lành, hơn là nhớ tới tiền của vật chất. Tuy trong cuộc sống, chúng ta phải làm ra tiền mới sống được, nhưng phải làm sao cho công bằng lương thiện, ḿnh an vui, người  không  khổ, hiện  tại  ḿnh  hạnh  phúc mai sau cũng an lành. Vậy, tu không phải mong cầu cái ǵ cao siêu huyền bí, mà ngay trong thực tế, thường làm lợi ḿnh lợi người một cách cụ thể không mơ hồ viễn vông.

Đạo Phật chủ trương tu là để giải thoát, song nói giải thoát có vẻ xa vời quá ! Nhưng, nếu thực tế thân chúng ta không làm ác là giải thoát được cái khổ nghiệp ác của thân. V́ nếu cướp của giết người th́ bị cái khổ đánh đập tù tội, bây giờ không tạo nghiệp ác th́ thân được lành mạnh tự do, đó là giải thoát nghiệp ác của thân. Nếu miệng không nói lời hung dữ ác độc th́ giải thoát được nghiệp ác của miệng. Ư không nghĩ ác th́ giải thoát được tâm niệm xấu xa buồn ghét người khác. Tuy không hoàn toàn giải thoát nhưng có giải thoát từng phần; tu ít th́ giải thoát ít, tu nhiều th́ giải thoát nhiều, có tu là có bớt khổ. Chẳng những bớt khổ trong đời này mà đời sau c̣n được an vui nữa. Nên người biết tu không sợ chết, v́ ai cũng phải chết, và biết rằng ḿnh không tạo nghiệp ác thường tạo nghiệp lành, sau khi chết sẽ an vui không khổ. Tuy nhiên, đừng v́ muốn giải thoát mà liều chết sớm để được khỏe mạnh sướng, th́ không đúng với tinh thần giải thoát của đạo Phật. Thông thường th́ người đời tham sống sợ chết, nên nghe nói chết rất sợ. Nhưng người biết tu th́ ngay cuộc sống hiện tại lúc nào cũng an vui, khi chết đến th́ b́nh thản  không loạn động, nên không muốn chết sớm mà cũng không sợ chết. V́ vậy mà Phật Tổ mới dạy chúng ta tu, tu là nguồn cội hạnh phúc, hết phiền năo hết khổ đau. 

Kể từ ngày nay quí Phật tử ở gần Thiền viện, mỗi tháng hai lần vào ngày rằm và ba mươi, nên đi chùa sám hối và nghe quí thầy giảng để biết phương hướng mà tu tập. Nghe một lần tuy biết đó, nhưng v́ cái bệnh của chúng sanh là hay quên, nên mỗi tháng phải đi hai lần, nhờ các thầy nhắc nhở, luôn ghi nhớ mới tinh tấn mà tu hành.

]


 

NGHIỆP DẪN LUÂN HỒI TRONG LỤC ĐẠO

Giáo lư của đức Phật cốt yếu dạy cho con người tu để giải thoát luân hồi sanh tử. Tuy nhiên, tùy theo sức huân tu cao thấp mà giải thoát cũng có nhiều tầng bậc. Đại lược chúng ta có thể chia làm hai bậ là : từng phần giải thoát và toàn phần giải thoát.

Từng phần giải thoát là bậc thứ nhứt, tu mà c̣n luân hồi sanh tử, nhưng biết chọn lựa nghiệp lành để đi trong đường tốt hưởng phước báu. Những loài chúng sanh đi trong các đường : Địa ngục, Ngạ quỉ, Súc sanh, A-tu-la đều không biết chọn nghiệp lành, nên đi vào đường ác chịu quả báo khổ đau. Và ngay như loài người có người biết chọn nghiệp thiện, lại cũng có người không biết chọn nên tạo lắm nghiệp ác, v́ vậy mà chịu không biết bao nhiêu thứ đau khổ. Thế nên, tuy c̣n ở trong ṿng lục đạo luân hồi, sau khi bỏ thân này, muốn cho đời sống của thân sau được an vui hạnh phúc, th́ ngay hiện tại phải biết lựa chọn nghiệp lành để làm và tránh xa nghiệp ác, đó là gốc của sự tu hành.

Nghiệp là động lực dẫn chúng ta đi trong luân hồi sanh tử, nên rất hệ trọng đối với sự tu hành. Vậy nghiệp là ǵ ? Nghiệp được dịch từ chữ Phạn Karma; nghĩa là động tác dấy khởi từ ư, miệng và thân. Động tác ấy được lặp đi lặp lại nhiều lần thành thói quen, và khi đă thành thói quen th́ nó có sức mạnh chi phối dắt dẫn con người theo nó.

Nghiệp là việc làm của chính ḿnh, ḿnh làm chủ và tạo tác thành thói quen, rồi cũng chính ḿnh thừa nhận hậu quả do nó đưa tới. Kinh Phật dạy : “Chúng sanh làm chủ tạo nghiệp và thừa kế cái nghiệp mà ḿnh đă tạo” không do ai khác ngoài ḿnh.

Chúng ta từ thuở sơ sanh lớn dần cho tới 9, 10 tuổi, đâu có ai mắc bịnh ghiền rượu, ghiền trầu hay ghiền thuốc... Thế mà từ 15, 16 tuổi cho tới già do sự tập tành thành thói quen, người th́ ghiền rượu, người th́ ghiền thuốc, kẻ th́ ghiền á phiện... Đứa trẻ 15, 16 tuổi  thấy người lớn cầm thuốc hút nhả khói ph́ phà, tưởng đó là oai là sang, nên bắt chước hút, thành thói quen rồi ghiền thuốc. Lúc mới tập hút th́ ḿnh là chủ thích hút th́ hút, không thích th́ thôi, nhưng hút nhiều lần dần dần thành thói quen, thiếu thuốc th́ khó chịu, ngáp, buồn, phải đi mua về hút. Khi đă ghiền rồi th́ không c̣n làm chủ được nữa mà nó làm chủ ngược lại ḿnh, sai sử ḿnh làm theo thói quen ưa thích đó. Vậy, nghiệp là cái chúng ta tự tạo, chúng ta làm chủ tạo thành thói quen, khi thói quen thuần thục th́ nó làm chủ dẫn dắt sai sử chúng ta. Nếu chúng ta tập thói quen làm thiện th́ được dẫn dắt tiếp tục làm việc thiện, nếu chúng ta tập thói quen làm việc bất thiện th́ bị dẫn dắt tiếp tục làm việc bất thiện. Chẳng hạn, người mỗi chiều đi chùa, tụng kinh lâu dần  thành thói quen, một hôm tới giờ tụng kinh không đi, cảm thấy thiếu, thấy buồn, có một động lực thôi thúc bắt phải đi chùa tụng kinh. C̣n người khác, mỗi chiều đi quán uống rượu, lâu ngày thành thói quen nên ghiền, tới cữ đi uống rượu, không đi th́ cảm thấy bức rứt, khó chịu, ngáp dài, có một ma lực cứ thôi thúc sai khiến tới quán để uống rượu. Người đi chùa tụng kinh tập thành thói quen đó là nghiệp thiện, đưa tới sự an vui lợi ích cho bản thân ḿnh. Người đi quán uống rượu tập thành thói quen là nghiệp ác, đưa tới nghèo thiếu, bịnh hoạn kém trí tuệ. Vậy, nghiệp phát xuất từ đâ ? Nếu thân tạo tác thiện đó là nghiệp thiện của thân, thân tạo tác ác đó là nghiệp ác của thân. Miệng nói lời lành là nghiệp thiện của miệng, miệng nói lời hung dữ là nghiệp ác của miệng. Ư nghĩ tốt là nghiệp thiện của ư, ư nghĩ xấu là nghiệp ác của ư. Đó là nghiệp phát xuất từ thân khẩu ư. Tạo nghiệp chủ động là ḿnh, nếu muốn luân hồi chỗ tốt  thọ thân lành mạnh tốt đẹp sống được an vui hạnh phúc, th́  hiện  tại phải biết tạo nghiệp thiện. Ngược lại tạo nghiệp ác th́ luân hồi đến cơi xấu, thọ thân xấu, sống đời đầy  đau khổ u tối. Hạnh phúc hay đau khổ do ḿnh chủ động trọn vẹn, chớ không do ai khác, ngay Phật Trời cũng không dự phần trong đó. Như vậy, chúng ta là chủ tự chọn lấy hướng đi cho chúng at mai sau, nếu khôn ngoan đă chọn cho ḿnh một hướng đi tốt đẹp th́ cứ theo hướng đó mà đi, chớ có thay đổi. Cũng như các học sinh sau khi đă chọn nghề và thi tốt nghiệp ra trường, phải theo cái nghề ḿnh đă chọn mà sống, sướng hay khổ là tùy theo cái nghề của ḿnh chọn.

Vậy, chúng ta tu là phải làm sao ? Có nhiều Phật tử than v́ bịnh tật v́ nghèo khó không thể tu. Người than như vậy là chưa biết tu, v́ họ tưởng phải đi chùa nhiều, tụng kinh giỏi mới là tu. Đó là một sự hiểu lầm rất lớn. Như đă nói, tu là chuyển nghiệp ác thành nghiệp thiện, mà nghiệp th́ phát xuất từ thân, khẩu, ư. Giả sử như người buôn bán tráo hàng thật ra hàng giả, hoặc cân đo thiếu, hoặc khi bán gặp người trả giá không đúng, nổi giận la chửi, đó là thân miệng tạo nghiệp ác, không biết tu. Người buôn bán với định mức lời vừa phải, hàng thật nói là hàng thật, hàng giả nói là hàng giả, cân đo đúng, khách trả đúng giá th́ vui vẻ bán, khách trả không đúng giá, tuy không bán vẫn vui cười  không  tức  giận  mắng chửi; hoặc đi đường gặp người già yếu nhường lối đi, nhường chỗ ngồi, đưa qua đường, đưa qua cầu, bưng xách nặng giùm người... đó là thân khẩu thiện, biết tu, tu trong công việc làm ăn, tu ngoài đường, tu ngoài chợ. Ở trong nhà, đối với người thân cũng phải giữ thân miệng luôn lành, làm cha mẹ giữ đúng tư cách của cha mẹ, con cái có lỗi lầm phải từ tốn răn dạy, hướng dẫn phù hợp với đạo lư cho con nên người, đó là tu. Nếu ỷ quyền cha mẹ, khi con làm không vừa ư, tay đánh đập, miệng la hét, chửi rủa đó là không biết tu. Phận làm con đối với cha mẹ phải biết thương kính, chăm lo việc ăn mặ thuốc thang cho cha mẹ, đừng để cho cha mẹ buồn tuổi lúc tuổi già. Nếu cha mẹ có sanh tật, khó khăn th́ nên an ủi khuyên lơn hơn là hờn trách chế giễu. Đó là chuyển nghiệp thân, nghiệp khẩu thiện. Về ư nghiệp có phần vi tế hơn, với người biết tu cũng chuyển được nghiệp ác thành nghiệp thiện. Giả sử đang ngồi chơi, hay đi, hoặc làm việc, khởi nghĩ buồn giận người, biết đó là ư ác liền dừng không nghĩ, mà khởi nghĩ thương người nghèo khó, quí kính bậc hiền  đức, t́m  cách  giúp  đỡ  người  khốn khổ... đó là chuyển nghiệp ư ác thành nghiệp  ư thiện. Nếu cho rằng đi chùa hay tụng kinh mới là tu, th́ tu quá ít. Bịnh nào tật nấy vẫ c̣n nguyên, tham sân ích kỷ vẫn không chừa. Tu như thế hiện tại tự ḿnh không lợi ích và cũng không đem được an ḥa cho mọi người chung quanh, mai sau sẽ bị nghiệp lôi vào đường ác là địa ngục, ngạ quỉ, súc sanh. Thế nên Phật dạy trong tất cả ngày giờ của mọi sinh hoạt, đều phải tu mới chuyển được ba nghiệp trọn hiền. Ba nghiệp hiền rồi, ngay đời hiện tại tự ḿnh không phiền năo, lúc nào cũng nhẹ nhàng an vui. Trong gia đ́nh mọi người không thắc mắc rầy rà, trên thuận dưới ḥa, đầm ấm hạnh phúc. Ngoài xă hội được an b́nh không loạn ly. Tu như thế mớt thật là tu. Đừng v́ muốn được đi chùa thường xuyên, muốn được tụng kinh nhiều mà phế bỏ cả việc nhà, thân miệng y không chuyển cho hiền. Ở trong nhà th́ thắc mắc, gây căi hết người này tới người nọ làm cho gia đ́nh xào xáo. Đối với người ngoài xă hội th́ không nhịn một lời không nhường một bước. Đi chùa tụng kinh như thế là chưa thật tu.

Có một bà cụ Nhật Bản lần chuỗi niệm Phật rất giỏi; khi lần chuỗi niệm Phật th́ rất chăm chỉ, nhưng khi dừng niệm Phật th́ rầy rà con cháu inh ỏi. Con trai ba thấy bà tu mà như thế nên buồn và nói :

- Má à, má tu má cứ lo niệm Phật đi, sao má cứ rầy rà hoài khiến tâm xao lăng làm sao Phật chứng cho má ?

Bà nói : 

- Khi nào tao niệm Phật th́ Phật thông cảm cho tao, c̣n khi nào tao rầy tụi bây th́ tụi bây biết cho tao. 

Bà chia làm hai phần, phần niệm Phật th́ tu với Phật, phần rầy la th́ dành cho con cháu ! Người thật tu là vừa tu với Phật vừa tu với người thế gian, tu như thế mới trọn vẹn. 

Có người ngoại đạo đến hỏi Phật : 

- Thưa ngài Cù-đàm, cái ǵ định đặt cho con người, sinh ra kẻ th́ nghèo nàn khổ sở, người th́ giàu sang sung sướng, kẻ th́ sống lâu, người th́ chết yểu, kẻ th́ yếu đau, người th́ khỏe mạnh, kẻ th́ ngu tối, người th́ thông minh ?  

Phật trả lời : 

- Tất cả sự sai biệt giữa con người và con người là do nghiệp mà họ đă tạo định đặt ra, nên có người ưu kẻ liệt. 

- Do tạo nghiệp ǵ khiến cho người sống lâu và do tạo nghiệp ǵ khiến cho người chết yểu ? 

- Người không tạo nghiệp sát hại chúng sanh th́ được thọ mạng lâu dài. Người tạo nghiệp sát, đoản mạng sống của chúng sanh nên thọ mạng yểu. 

- Do tạo nghiệp ǵ mà thân người được khỏe mạnh và do tạo nghiệp ǵ mà thân hay yếu đau bệnh tật ? 

Do nghiệp ác làm cho người đau khổ nên thọ thân hay bệnh tật đau yếu. Và do tạo nghiệp lành an ủi giúp đỡ người qua những tai nạn khốn khổ, nên được thọ thân khỏe mạnh vui tươi. 

- Do tạo nghiệp ǵ mà sanh thân trong gia đ́nh giàu sang sung sướng và do tạo nghiệp ǵ mà sanh thân trong gia đ́nh nghèo đói khốn khổ ? 

- Do đời trước biết làm lành, biết bố thí cúng dường, biết giúp đỡ người nghèo đói bệnh tật, nên đời này được sanh ra trong cảnh giàu sang sung sướng. Người ở đời trước không biết bố thí cúng dường, không biết giúp đỡ người nghèo khó, lại c̣n tham lam rút rỉa của người, nên đời này sanh thân trong cảnh nghèo đói thiếu thốn. 

- Do tạo nghiệp ǵ người sanh ra được thông minh sáng suốt và do tạo nghiệp ǵ người sanh ra lại ngu dốt tối tăm ? 

- Người đời trước do siêng năng học hỏi t́m hiểu chân lư, ưa thích giúp người được học học hỏi hiểu biết nên  đời  này  được  thông  minh. Người ở đời trước do lười biếng học không chịu t́m hiểu chân lư, cả ngăn sự học hỏi của người; nên đời này bị tối tăm mê mờ. 

Vậy, tất cả quả tốt hay xấu mà chúng ta đang thọ nhận hiện nay, gốc là từ cái nhân chúng ta gây thuở trước, chớ không phải bỗng dưng mà có. Khi đă biết như thế, chúng ta muốn ngày mai được tốt đẹp an vui hay bị đau khổ, th́ ngay bây giờ chúng ta phải chuẩn bị. Nếu chuẩn bị bằng nghiệp thiện th́ sẽ được đến cơi lành và được an vui hạnh phúc, nếu chuẩn bị bằng nghiệp ác th́ sẽ đi vào đường dữ và bị khổ đau.

Có người nghi vấn : Hiện tại thân này hành động tạo nghiệp thiện hay ác, mai kia thân hoại rồi hành cũng mất, vậy nghiệp c̣n hay mất ? Đa số người không tin lư nhân quả, họ nghĩ rằng sau khi thân hoại hành động không c̣n th́ nghiệp cũng mất. trong kinh Phật thường nói nghiệp theo ḿnh như bóng với h́ng vậy; đời quá khứ, đời hiện tại, đời vị lai có sự liên hệ tùy theo nghiệp của mỗi người. Ví dụ có hai người khách qua sông, một người chuyên nghề giáo, một người chuyên nghề thương mại, khi đi đường người thương mai mang theo nhiều vàng bạc của cải, nhà giáo chỉ mang theo một cặp sách vở và chút ít tiền lộ phí, thuyền qua giữa sông bất thần gặp sóng làm ch́m. Khi thuyền ch́m, mạnh ai nấy lo  lội  vào  bờ  để  thoát chết, lên đến bờ th́ tất cả của cải tiền bạc của nhà thương mại không c̣n, cặp giấy tờ, tiền lộ phí của nhà giáo cũng mất. Cả hai đều trắng tay, nhưng kiến thức giáo dục của nhà giáo không mất, kiến thức mua bán của nhà thương mại cũng không mất. Kiến thức là cái chuyên môn, sở trường của con người không mất tức là nghề nghiệp không mất. Như vậy, để thấy, qua những cuộc biến đổi tất cả những cái có h́nh tướng ngoài ḿnh th́ mất, nên khi thân này có hoại đi, nghiệp thức không ngoài ḿnh nên không mất. Của cải tài sản thế gian, chúng ta tạo sắm nhiều thế mấy, khi chết rồi tất cả đều phải để lại không mang theo được một món nào, chỉ có mang theo nghiệp mà thôi. Đó là một lẽ thật. Thế mà, có nhiều người không hiểu không tin, rồi mê tín dán nhà lầu xe hơi, mua giấy tiền vàng bạc đốt, để đem theo cho cha mẹ hay chồng con chết xài !

Có người hỏi tôi :

- Con cháu v́ thương cha mẹ, sau khi cha mẹ chết họ dán nhà, xe , mua giấy tiền vàng bạc thật nhiều đem đốt và cấu nguyện cho cha mẹ được hưởng. Như vậy cha mẹ có được hưởng không?

- Nếu con cháu đốt giấy tiền vàng bạc rồi cầu nguyện cho cha mẹ nhận, tôi e rằng ở tù chớ chẳng được hưởng. Tại sao ? V́ mang bạc giả  xuống Diêm 

Vương xài là bất hợp pháp. Nếu đốt nhà lầu xe hơi, cầu cho thân nhân nhận để ở và đi. Theo tôi nếu ai làm như vậy là hại thân nhân của ḿnh. V́ nếu họ nhận được là họ có nhà lầu để ở, có xe hơi để đi, có tiền bạc để xài, đủ tiện nghi quá th́ họ sẽ ở măi trong cơi âm, không đi đầu thai. Đó là trường hợp thân nhân của ḿnh trong sanh tiền có chút ít phước lành. C̣n nếu là kẻ có tội th́ chết đọa địa ngục bị giam nhốt hành hạ, làm sao mà nhận lănh tiền bạc, nhà, xe để xài ? Đó là chưa nói đến nhà xe, tiền bạc bị đốt thành tro th́ làm sao dùng được? Thật là vô lư!

Như vậy, để thấy chính nghiệp hay nghiệp dữ mà ḿnh đă tạo, nó dẫn ḿnh đi thọ thân trong cảnh giới sướng hay khổ. Tất cả việc làm bên ngoài của người thân, v́ thương muốn giúp ḿnh, khó mà giúp được, ḿnh làm ḿnh phải chịu, người khác không thể thế được.

Lại có người nêu câu hỏi : 

- Tại sao có người làm ác mà họ sống phây phây ? Có nhiều người rất hiền lành, làm phước, làm nghĩa mà lại gặp nhiều hoạn nạn ? Như vậy luật nhân quả bất công sao ? Lại có nhiều người không làm ác, vừa làm ác là thọ quả báo ác liền, hoặc vừa làm thiện th́ thọ quả báo lành liền. Như vậy là sao ?

Trong kinh Phật có dạy : Nếu nói : Tạo nghiệp thiện sẽ được phước báo lành, tạo nghiệp ác bị quả báo khổ th́ Phật chấp nhận. Nếu nói rằngtạo nghiệp thiện sau khi chết sẽ sanh về cơi Trời, tạo nghiệp ác sau khi chết sẽ đọa địa ngục liền, điều đó Phật không chấp nhận. Tại sao nói làm ác chịu quả báo ác làm thiện được quả báo thiện th́ Phật chấp nhận, mà nói tạo nghiệp ác sau khi chết đọa địa ngục, tạo nghiệp thiện sau khi chết sanh về cơi Trời th́ Phật không chấp nhận ? Về thuyết nghiệp, Phật có nói cận tử nghiệp và tích lũy nghiệp. Tích lũy nghiệp là nghiệp chứa nhóm nhiều kiếp đến giờ. Cận tử nghiệp là nghiệp mới tạo tác lúc sắp chết. Cận tử nghiệp và tích lũy nghiệp có ảnh hưởng chi phối nhau mà quyết định đưa người chết đến cơi lành hay cơi dữ. Ví dụ người có tích lũy nghiệp lành từ xưa đến nay, bất thần họ mê muội có người xúi giục họ làm điều ác, làm điều ác này đáng lư phải đọa địa ngục, nhưng v́ tích lũy nghiệp lành họ c̣n nhiều nên chưa đọa địa ngục liền. Lại cũng có người làm nhiều điều ác, đáng lư phải đọa địa ngục, nhưng gần chết họ làm lành. Tâm họ luôn nghĩ tưởng đến điều lành, nên không đọa địa ngục. Thế nên nói làm ác khi chết nhứt định đọa địa ngục, làm thiện lên thiên đàng, th́ không đúng hẳn. V́ tuy họ có làm ác, nhưng lúc gần chết cận tử nghiệp thiện họ quá  mạnh  có  thể đưa họ đến cơi thiện. C̣n người tuy làm nhiều điều thiện nhưng khi gần chết họ nổi sân quá hung dữ, lúc đó cận tử nghiệp ác có thể đưa họ đến các đường xấu. Thế nên, không phải chỉ tu khi sắp chết, hoặc chỉ tu ở giai đoạn thân c̣n khỏe mạnh, mà phải luôn giữ thân, khẩu, ư lành từ lúc c̣n trẻ trung mạnh khỏe cho đến chung cuộc của kiếp người.

Xưa có Ma-ha-nam con của Cam-lộ-phạn Vương em nhà chú của đức Phật, Ma-ha-nam tu cư sĩ giữ năm giới, tu thập thiện, thọ bát quan trai... Một hôm hỏi Phật rằng :

- Bạch Thế Tôn, b́nh thường con giữ năm giới, thọ bát quan trai, tu thập thiện, giả sử con chết bất đắc kỳ tử bởi một một tai nạn xảy ra, sau khi chết con sẽ đi về đâu?

Phật trả lời bằng một ví dụ :

- Có một cây mọc từ đất lên, thân và cành cây nghiêng về một bên. Vậy khi cưa, thân cây ngă bên nào ?

Ma-Ha-Nam đáp :

- Cây sẽ ngă về bên mà nó đang nghiêng.

Phật dạy tiếp :

- Cũng vậy, b́nh  thường  ông  hay  làm  điều lành, khi chết tuy bị khủng hoảng, nhưng nghiệp thiện tích lũy nhiều sẽ hướng ông đến chỗ lành, không sao, đừng sợ.

Vậy, chủ yếu của việc tu hành, chẳng những tạo nghiệp lành trong lúc c̣n mạnh khỏe, mà lúc gần chết tâm niệm cũng phải lành th́ mới bảo đảm đi đến nơi lành. C̣n nếu b́nh thường tạo nghiệp lành, mà lúc gần chết tạo nghiệp dữ th́ chưa bảo đảm đi đến cơi lành. Và b́nh thường nếu lỡ làm ác, lúc gần chết tâm niệm lành th́ cũng chuyển được phần nào nghiệp dữ, v́ nghiệp không cố định.

Để kết thúc buổi nói chuyện hôm nay, tôi nhắc lại câu chuyện Lư Bạch đời Đường ở Trung Hoa. Ông là một nhà thơ nổi tiếng nghe danh Thiền sư Ô Sào là một cao tăng đắc đạo, mới t́m tới tham vấn. Tới nơi thấy Thiền sư Ô Sào ngồi trên cháng ba của cây cổ thụ; chỗ Ngài ở giống như ổ quạ, nên người đời gọi Ngài là Thiền sư Ô Sào.

Ông đứng dưới đất nh́n lên hỏi :

- Bạch Ḥa thượng, xin Ḥa thượng dạy cho tôi một phương pháp tu ngắn và gọn, để tôi có thể tu được.

Thiền sư Ô Sào ở trên nói xuống :

            Chư ác mạc tác,

            Chúng thiện phụng hành, 

            Tự tịnh kỳ ư,

            Thị chư Phật giáo.

Ông hăy về tu đi !

Lư Bạch nghe qua, cười và nói :

- Ḥa thượng nói bài kệ đó con nít tám tuổi cũng thuộc. Vậy Ḥa thượng đem dạy tôi để làm ǵ?

Thiền sư Ô Sào nói :

Phải, con nít tám tuổi cũng thuộc, nhưng ông già tám mươi tuổi cũng chưa xong.

“Chư ác mạc tác” là tất cả nghiệp  ác  chớ  có  làm. “Chúng thiện phụng hành” là vâng làm tất  cả nghiệp lành. “Tự tịnh kỳ ư” là khéo lóng lặng tâm ư cho thanh tịnh. “Thị chư Phật giáo” đó là lời dạy của chư Phật. Tu cốt là bỏ nghiệp ác của thân khẩu ư và chuyển thành nghiệp lành. Bài kệ trên vừa nghe qua là đă nhớ và dường như thấy dễ làm. Song đi vào kinh nghiệm tu hành th́ không đơn giản và dễ dàng, v́ t́nh thức mênh mang, chủng tử tập khí sâu dày, vừa bỏ được thói xấu này để phát huy điều tốt nọ, th́ lại có dư tập dở khác đang ngủ ngầm hội đủ duyên nó trồi dậy lại phải điều phục nữa. Và, cứ thế làm măi cho đến chung cuộc của kiếp người có khi chưa xong, tâm vẫn c̣n lao xao lộn xộn, thế nên người biết hướng thiện luôn luôn phải xoay lại ḿnh để lo tu tập. Ở trong mọi hoàn cảnh, trong mọi trường hợp người rỗi rảnh hay bận rộn, giàu sang hay nghèo hèn, ai cũng tu được. Điều tiên quyết là phải dừng nghiệp ác, rồi tùy theo hoàn cảnh làm lành : người nghèo th́ ra công sức giúp đỡ, kẻ giàu th́ ra tiền của bố thí. Ai ai cũng biết tu th́ tự ḿnh được an vui, gia đ́nh được hạnh phúc, xă hội được an b́nh. Tu chính là nền tảng vững chắc để xây dựng cuộc đời hiện tại được tươi đẹp, và tạo cơ hội cho đời sau càng được an vui sáng suốt hơn.

Vậy, từ đây về sau trọn đời quí Phật tử cố gắng tránh tất cả các điều ác, làm tất cả các nghiệp lành. Làm đó là là làm cho chính ḿnh chớ không phải làm cho ai khác. Đạo Phật được coi là đạo cứu khổ ban vui, mà cứu khổ ban vui là chỉ cho mọi người con đường nào đưa đến khổ đau và con đường nào đưa đến an lạc. Khi biết con đường đưa tới an lạc th́ cố gắng đi, đó là đạo Phật cứu khổ ban vui cho quí vị. C̣n nếu quí vị biết con đường thiện đưa tới an lạc, con đường ác đưa tới khổ đau mà cứ đi con đường đau khổ, đó là tại quí vị không biết chọn đường đi, khổ là do ḿnh chớ không do ai khác. V́ Phật đă vạch lối chỉ đường rất rơ ràng, nếu chọn và thực hành đúng lời Phật dạy th́ được an vui, lợi ích, ngược lại th́ khổ đau. Đó là then chốt mà quí vị phải biết rơ và nắm vững để tu hành.

]


 

BIỆT NGHIỆP VÀ ĐỒNG NGHIỆP

Nghiệp là thói quen huân tập tạo thành sức mạnh, chi phối tất cả mọi sinh hoạt trong cuộc sống con người, từ khi mở mắt chào đời cho đến khi nhắm mắt và những đời kế tiếp. Nếu người Phật tử tu mà không hiểu rơ về nghiệp th́ khó mà ứng dụng tu hành để tới chỗ an lạc. Chữ nghiệp trong nhà Phật không có nghĩa một chiều, hễ nói nghiệp th́ phải là điều xấu điều ác. Kỳ thật, nghiệp cũng có xấu và cũng có tốt, nghiệp cũng có nghiệp chung và nghiệp riêng. Nghiệp riêng th́ gọi là biệt nghiệp và nghiệp chung th́ gọi là đồng nghiệp.

Trong kinh Thủ Lăng Nghiêm, Phật có lấy một ví dụ để nói về biệt nghiệp vọng kiến. Khi đó đức Phật nói : Trước một cây đèn đang cháy, người nhặm mắt thấy chung quanh ngọn đèn có một cái ṿng đỏ hoặc xanh. C̣n những người mắt lành mạnh th́ chỉ thấy ngọn đèn đang cháy mà không thấy ṿng đỏ hay xanh. Cái ṿng quanh ngọn đèn chỉ có đối với người bị nhặm mắt, đó là do nghiệp riêng của người bịnh mắt mà có thấy, c̣n người không bị nhặm mắt th́ không thấy. Cũng vậy, trong cuộc sống giữa đời này tuy sống có mối liên hệ  với  nhau,  nhưng  mỗi  người  đều  có  mỗi  cái nghiệp riêng của họ. Ví dụ người có nghiệp chủng đồng bóng như thầy bùa thầy pháp, th́ họ thường thấy ma quỉ. C̣n người có tinh thần khoa học thực tế th́ không thấy không tin ma quỉ, họ chỉ tin những việc họ thấy và chứng minh cụ thể. Vậy những sự việc mà một hay vài người thấy, đó là nghiệp riêng của họ, v́ họ chuyên làm củng nghề cùng nghiệp th́ họ tương ưng với nó. Cũng sự kiện đó mà người khác không thấy là v́ họ không có nghiệp đó.

Trong kinh Phật có ghi câu chuyện “Người mù rời voi” : Lúc bấy giờ có một nhóm du sĩ ngoại đạo, có những thuyết và kiến chấp khác nhau, tụ hợp ở một khu vườn, bàn căi với nhau ồn náo không ai chịu thua ai. Các thầy Tỳ-kheo thấy vậy mới về thưa lên đức Phật cầu xin Phật chỉ dạy. Nhân đó, Phật mới kể câu chuyện : Xưa, có một ông vua ngồi buồn, cho bắt tất cả người mù trong thành đem về hợp lại một chỗ. Vua cho dẫn ra một con voi và bảo các người mù rờ vào thân nó. Sau khi những người mù rờ voi xong, vua bảo mỗi người tả h́nh dáng cuả con voi. Những người rờ trúng đầu voi, th́ nói con voi giống cái nồi lớn. Những người rờ trúng tai voi, th́ nói con voi giống như cái quạt lớn. Những người rờ trúng chân voi, th́ nói con voi giống   như  cây  cột  tṛn. Những  người  rờ  trúng đuôi voi, th́ nói con voi giống như cây chuổi... Mỗi người mù đều nghĩ rằng ḿnh đă diễn tả đúng h́nh dáng của con voi qua bộ phận mà họ đă rờ. Nhà vua nghe qua tức cười và hết buồn. Phật kết luận : Nhóm du sĩ tranh căi giống như những người mù rờ voi trên đây. Họ là những người mù không thấy đúng lẽ thật, lại chủ quan cố chấp, cho cái thấy biết phiến diện của ḿnh là chân lư, không thừa nhận cái thấy biết của kẻ khác, nên mới tranh căi với nhau ồn ào.

Cũng vậy, chúng ta sanh ra đời, mỗi người mang theo nghiệp riêng của ḿnh, mà cùng sống chung với nhiều người khác, mỗi người chấp giữ và làm theo nghiệp riêng của ḿnh, mà không thừa nhận nghiệp riêng của người khác, nên mới có sự căi vă tranh chấp. Trong một gia đ́nh, ông chồng th́ huân tập cái nghiệp của người nam, bà vợ th́ huân tập cái nghiệp của người nữ. Hai cái nghiệp nam nữ tuy có vài điểm tương đồng, nhưng cũng có nhiều điểm khác biệt. Nên có nhiều gia đ́nh vợ chồng gây căi, đánh đập nhau hoài, là v́ chồng chấp lư của ḿnh là đúng, vợ cũng chấp lư của ḿnh là đúng, không biết dung ḥa nhau để sống. Cái đúng của người chồng là thói quen huân tập cái nghiệp của người nam. Cái đúng của người vợ là theo thói quen huân tập cái nghiệp của người nữ, thế nên phải thông cảm nhau để đối xử cho tốt đẹp, đem lại sự an vui ḥa thuận trong gia đ́nh. Khi chúng ta biết mỗi người mỗi có nghiệp riêng th́ không chủ quan không cố chấp, mà thông cảm ḥa nhịp được cuộc sống với mọi người. 

Xưa có một gia đ́nh, người vợ th́ tương đối tốt, biết bổn phận, biết lo làm ăn, người chồng th́ bê tha rượu chè cờ bạc. Mỗi lần ông cờ bạc thua, về nhà là khảo tiền, nếu bà không có để ứng th́ ông chửi mắng thậm tệ. Người thân thuộc, láng giềng ai thấy cũng đau ḷng thắc mắc tại sao bà không ly dị cho rồi, cứ để ông hành hạ khổ sở như thế ? Nhưng khi hỏi bà, th́ bà nói không thể ly dị v́ bà c̣n thương ông. Có nhiều gia đ́nh, có những đứa con ngỗ nghịch bất hiếu, phá gia sản gần khánh tận. Vậy mà gia đ́nh vẫn thương không thể từ bỏ, v́ cha mẹ có nghiệp riêng với con. Để thấy, cái nghiệp riêng của người, ḿnh là kẻ ngoại cuộc không có nghiệp đó th́ không chấp nhận, không chịu nổi. C̣n những người đă có nghiệp, có nợ nần với nhau, dù bị đánh đập, phá phách, đối xử tồi tệ mà người ta vẫn chấp nhận chung sống, không thể rời nhau được. Như vậy, nếu biết được mỗi người có cái nghiệp riêng, th́ chúng ta có thái độ sống hết sức dung ḥa không thắc mắc, không trách cứ những hoàn cảnh khó khăn rắc rối, mà người trong cuộc không giải quyết dứt khoát được, v́ nghiệp riêng của họ.

Nghiệp chung tức là đồng nghiệp  vọng  kiến.

Cũng trong kinh Thủ Lăng Nghiêm, Phật có dạy : Người có nghiệp chung mới sanh ra ở chung một nước, nói cùng một ngôn ngữ, sống cùng một tập quán... Nếu có cùng nghiệp xấu th́ cùng thấy những điềm bất thường như sao chổi, sao phướn... Chỉ có dân nước đó trông thấy mà dân nước khác không thấy. Cũng giống như những người cùng nhặm mắt, cùng thấy chung quanh ngọn đèn đang cháy có một cái ṿng xanh hay đỏ, c̣n những người không nhặm mắt th́ không thấy. Vậy, người có cùng nghiệp th́ cùng cảm nhận hiện tượng giống như nhau. Có nhiều người thắc mắc tại sao anh chị em cùng cha mẹ sanh ra trong một gia đ́nh, kẻ vầy người khác, ư tứ không hợp nhau, rầy rà gây căi hoài ? Hoặc vợ chồng chấp nhận sống chung trong một gia đ́nh, mà kẻ ư này người ư kia, bất ḥa hờn giận nhau hoài là tại sao ? Nếu không có duyên nghiệp với nhau tại sao gặp nhau, sống chung với nhau để khổ ? Chúng ta đă biết khi gặp nhau là đă có nghiệp đồng phần rồi, tức là đă có cộng nghiệp nên cùng ở chung với nhau. Tuy ở chung nhau, mà mỗi người cũng có cái nghiệp riêng nên không ai giống ai. Nếu có giống chăng chỉ giống năm sáu mươi phần trăm là tối đa, không bao giờ có hai người giống nhau từ h́nh dáng đến tánh t́nh. Phần giống nhau th́ gọi là đồng nghiệp, v́  đồng  nghiệp nên mới cùng nhau sanh trong gia  đ́nh, trong một đất nước. và, v́ mỗi người có cái nghiệp riêng nên có người th́ giàu sang sung sướng, an vui hạnh phúc, lại có người bần cùng khốn khổ. Hoặc anh em cùng cha mẹ sanh ra, học chung một trường mà có người học giỏi có người học dở. Đó là trong cái đồng nghiệp vẫn có cái biệt nghiệp; mà dù là đồng nghiệp hay biệt nghiệp, đức Phật đều gọi là vọng kiến. Vọng kiến là cái thấy hư dối không thật.

Tại sao gọi nghiệp là vọng kiến ? Ví dụ có người nói lời xúc năo làm cho ḿnh nổi giận. Khi nổi giận th́ miệng nói lời hung ác mắng chửi, tay th́ đánh đập người ta. Khi đánh đập chửi mắng người th́ bị pháp luật trừng trị, cái khổ của tội phạm pháp này ít nhứt cũng một tháng tù. Và nếu ḿnh là người có sức mạnh có vơ nghệ, đánh người chết tại chỗ, th́ tù tội khổ sở ít nhứt cũng 10, 15 năm. Vậy, miệng nói bậy thân làm bậy đó là nghiệp ác, và nghiệp ác đó từ ư nổi sân mà ra. Ư sân chỉ nổi lên khoảng 5, 10 phút mà hậu quả không lường được. Nghiệp ác của miệng và thân có ra là do ư ác chủ động, ư ác tức là niệm sân, chúng ta nh́n xem tướng trạng của nó ra sao ? Khi nh́n nó th́ nó mất tiêu, không thấy h́nh dáng tướng mạo nó đâu cả, mà không ḱnh dáng không tướng mạo th́ không thật. Như vậy, chính cái chủ động tạo nghiệp (ư sân) là không thật. Cái không thật mà v́ chúng ta  mê, chạy  theo  nó  để  tạo  nghiệp thọ khổ th́ thành có thật. Nên ngài Khuê Phong nói : “Thể không mà thành sự”. Bản chất của cơn giận vốn là không, bất giác theo nó tạo nghiệp nên trở thành sự. Đó là nghiệp ác.

Nghiệp lành cũng vậy, giả sử chúng ta đi đường gặp người bịnh tật đang nằm rên rỉ bên đường, chúng ta khởi ḷng thương đem họ vô lề đường, kêu xe chở tớ bịnh viện để chữa trị. Vậy, ḷng thương h́nh dáng tướng mạo như thế nào ? Có thật không ? - Không. Nhưng khi theo nó th́ tạo nghiệp lành, thân miệng ư nói làm lợi ích cho người. Cái gốc tạo nghiệp ác hay nghiệp lành không có thật thể, nhưng khi mê theo nó tạo tác th́ sẽ thành nghiệp hoặc lành hay dữ. Phật dạy nghiệp là cái không thật, tuy không thật, nếu mê đă làm th́ sẽ thọ quả, chớ không tránh khỏi. Trốn tránh người thế gian th́ được, mà nghiệp th́ không thể trốn được. V́ khi tạo nghiệp th́ mắt thấy tai nghe thân cảm thọ, chủng tử nghiệp đă chứa vào tạng thức rồi, hội đủ duyên th́ kết quả tụ.

Về ư nghĩa đồng nghiệp, trong kinh có ghi : Một hôm Phật ở trong hương thất trên núi Linh Thứu, gần đó có nhiều đoàn Tỳ-kheo đi thiền hành. Đoàn thứ nhứt gồm một số Tỳ-kheo đi theo Tôn giả Xá-lợi-phất. Đoàn thứ hai người dẫn đầu là Tôn giả Mục-kiền-liên. Đoàn thứ ba các Tỳ-kheo đi sau Tôn giả Ma-ha-ca-diếp. Đoàn thứ tư gồm những Tỳ-kheo đi theo sau Tôn giả A-na-luật. Đoàn thứ năm là một số Tỳ-kheo đi theo Tôn giả Phú-lâu-na. Đoàn thứ sáu là những Tỳ-kheo đi theo sự hướng dẫn của Tôn giả Ưu-ba-ly. Đoàn thứ bảy là những Tỳ-kheo đi theo sau Đề-bà-đạt-đa. Khi đó Phật mới nói với các Tỳ-kheo đang ở bên cạnh : 

- Những Tỳ-kheo cùng đi theo Xá-lợi-phất là những Tỳ-kheo có trí tuệ lớn. Những Tỳ-kheo cùng đi với Mục-kiền-liên là những Tỳ-kheo có đại thần thông. Những Tỳ-kheo đi theo Ma-ha-ca-diếp là những Tỳ-kheo ưa tu hạnh đầu đà... C̣n những Tỳ-kheo mà đi theo Đề-bà-đạt-đa là những Tỳ-kheo có tâm ác dục.

Và Phật kết luận rằng : Ai cùng đi theo người nào là đă có cái nghiệp chung với người đó. Những Tỳ-kheo đi theo Tôn giả Xá-lợi-phất là có cái nghiệp chung với Ngài về trí tuệ. Những Tỳ-kheo đi theo Tôn giả Mục-kiền-liên là có nghiệp chung với Ngài về thần thông. Cho tới các Tỳ-kheo đi theo Đề-bà-đạt-đa cùng có nghiệp chung về ác dục. Cái nghiệp chung đó có từ quá khứ, hiện tại, vị lai cứ theo nhau không rời. Đó là cộng nghiệp của những Tỳ-kheo thời xưa, được Phật dạy trong kinh. C̣n cộng nghiệp trong thời hiện tại, chúng ta thấy rất thực tế và cụ thể. Người thích rượu chè say sưa th́ cùng ăn chơi thân cận với người uống rượu. Người ưa cờ bạc th́ giao du với người cờ bạc. Người chuyên cần học hành nghiên cứu th́ tới lui thân thiện với người nghiên cứu học hành. Người thích đi chùa tụng kinh niệm Phật th́ kết bạn với người đi chùa tụng kinh niệm Phật. Như vậy, người này thích người kia là họ có chung nghiệp (đồng nghiệp) nên mới hợp nhau. để thấy trong cuộc sống này, mọi người cùng có nghiệp chung, nên mới trở thành chồng vợ, cha con, anh em, bè bạn. Và v́ ai cũng có nghiệp riêng nên dáng mạo, tánh t́nh, năng khiếu, trí tuệ sai khác, không ai giống ai. Vậy, nghiệp chi phối cả đời sống chúng ta, nếu huân sâu nghiệp nào th́ nghiệp đó có sức mạnh, có hấp lực thu hút chúng ta đến môi trường của nghiệp đó. V́ vậy, người Phật tử biết tu hành th́ thân khẩu ư luôn luôn phải thiện, mới chiêu cảm được biệt nghiệp tốt và đồng nghiệp thiện.

Nếu c̣n tu trong ṿng tương đối, th́ phải biết tránh nghiệp ác, tạo nghiệp lành để thọ thân tốt, tức là được biệt nghiệp tốt và sanh trong cơi thiện, có đồng nghiệp thiện. Tiến thêm một bước nữa, nếu biết nghiệp là không thật, do ư sinh ra, mà ư cũng không thật có, nó là niệm phân biệt chợt hiện chợt mất, nên không theo là dừng được nghiệp ư. Nghe nói trái tai vừa nổi bực tức muốn đánh chửi người, liền nh́n lại xem coi cái bực tức h́nh tướng thế nào, phát xuất từ đâu ? T́m lại th́ không thấy h́nh tướng của bực tức, mà  nguồn gốc khởi bực tức cũng không có nữa. Thấy của người, ḷng tham vừa móng khởi muốn lên lấy, liền nh́n lại coi tướng trạng của tham lam như thế nào; phát xuất từ đâu? Khi nh́n kỹ lại th́ không thấy h́nh dáng của tham lam và nơi chốn phát xuất ra tham lam cũng không có nữa. Như vậy, nghiệp phát xuất từ ư, rồi ra miệng, ra thân, mà ư là gốc phát ra nghiệp đă không thật, th́ nghiệp miệng nghiệp thân làm ǵ có thật ? Sở dĩ thấy nghiệp thật là do mê. Những chỗ khác dạy khi đối duyên xúc cảnh, nếu có khởi tham lam sân giận, cứ lo niệm Phật nhớ Phật th́ tham lam sân giận sẽ lắng xuống. Đó cũng là cái thuật đối trị bịnh tham bịnh sân. Ở đây th́ chúng tôi chủ trương dùng trí nh́n lại những cái xấu như tham, sân, kiêu mạn... h́nh dáng tướng trạng ra sao, xuất phát từ đâu ? Khi nh́n lại nếu nó tan biến là nó không thật, và khi thấy rơ nó không thật th́ nó không có sức mạnh khiến ḿnh nói, làm theo nghiệp ác. Và cứ mỗi lần đối duyên xúc cảnh, nếu có tham sân... dấy khởi, liền nh́n lại xem tường tận thấu đáo, thấy nó không thật th́ nó không chi phối khiến ḿnh nói làm sai quấy. Khi tâm chúng ta thanh tịnh là đă cắt đứt được ḍng tạo nghiệp là vọng tưởng là ư nghiệp không c̣n luân hồi sanh tử, được giải thoát.

  ]


 

TU CÓ CHUYỂN ĐƯỢC NHÂN QUẢ KHÔNG ?

Từ lâu, chúng ta thường nghe nói gây nhân nào th́ chịu quả nấy, tức là ai tạo nhân ǵ th́ phải thọ quả báo đúng như vậy, không sai. Song, trong kinh Phật có dạy như vậy không ? Đây là điều mà chúng ta phải t́m hiểu cho tường tận, v́ đa số người mới tu đều nghĩ rằng : Xưa kia làm điều tội ác, ngày nay tu hành là mong giảm bớt khổ đau. Nhưng, nếu trước đă gây nhân nào sau phải chịu quả nấy th́ tu để làm ǵ ? Tu cốt cho hết khổ, mà nếu gây nhân nào phải thọ nhận quả nấy th́ tu đâu có hết khổ ? Nếu chúng ta hiểu theo nghĩa nông cạn đơn giản là tác nhân nào thọ quả nấy, th́ sẽ thối tâm không tu được. Lư nhân quả của đạo Phật không cố định là tác nhân nào thọ quả nấy, mà cũng không phải tác nhân mà không thọ quả, nó rất phức tạp.

Kinh A-hàm Phật có dạy : Người gây nhân bất thiện, trước hoặc sau họ biết tu thân, tu giới, tu tâm th́ quả sẽ đổi thay. Nếu người gây nhân bất thiện mà không biết tu thân, tu giới, tu tâm th́ gây nhân nào sẽ thọ quả nấy, đó là nhân nào  quả nấy. Và gây nhân mà biết chuyển nghiệp th́ quả cũng đổi thay. Phật ví dụ một nắm muối nếu ḥa tan trong tô nước lạnh th́ tô nước ấy mặn không uống được. Cũng nắm muối đó, nếu ḥa tan trong lu nước lớn dung lượng độ vài ba trăm lít nước trong lu sẽ uống được, nhưng vị nước hơi mẳn mẳn. Và nếu nắm muối đó ḥa tan trong một hồ nước dung tích bốn năm ngàn lít nước không c̣n mặn, dùng xài b́nh thường. Nhân bất thiện dụ cho vị mặn của nắm muối ḥa tan trong tô nước th́ quả cũng mặn, không giải khát được. Nhân mặn của nắm muối nếu ḥa tan trong lu nước th́ quả mặn loăng ra, nước có thể tạm giải khát được. Nếu nhân mặn của nắm muối ḥa tan trong hồ nước lớn, th́ quả mặn không thấm vào đâu, nước dùng xài b́nh thường. Cũng vậy, người mà không biết tu thân, tu giới, tu tâm, tạo nhân ác th́ trả quả ác nguyên vẹn, dụ như nắm muối tan trong tô nước, không giải khát được. Nếu người biết tu thân, tu giới dụ như nắm muối tan trong lu nước tuy vị nước mặn nhưng cũng tạm dùng được. C̣n người biết tu thân, tu giới, tu tâm dụ như nắm muối tan trong hồ nước to, vị nước không mặn, dùng xài b́nh thường. Nếu tu thân, tu giới, tu tâm th́ nghiệp quả sẽ chuyển không thọ đúng như khi gây nhân. Như vậy, nếu gây nhân ác mà không biết tu, không chuyển nghiệp th́ tác nhân nào thọ  quả  nấy  không  sai  chạy. Nếu  gây  nhân ác biết tu thân, tu giới là có chuyển nghiệp thọ quả báo nhẹ hơn. C̣n nếu gây nhân ác biết tu thân tu giới tu tâm gần như nghiệp chuyển hoàn toàn. Cho nên tu là chuyển đau khổ được an vui.

Kiểm lại, mỗi người chúng ta từ nhỏ cho đến già, không ai là người hoàn toàn thiện, cũng có khi người nầy làm người kia khóc than, cũng có lúc người kia làm người nọ oán hận. Như vậy, là đă tạo nhân xấu, nếu hiện tại tu mà vẫn trả quả xấu như cũ th́ tu được lợi ích ǵ ? Thế nên phải biết, tu là chuyển quả xấu, tùy theo sức huân tu nhiều hay ít mà quả tùy theo đó chuyển đổi.

Sau đây Phật dạy : Có một gia chủ chăn nuôi một bầy dê, một hôm có người thường dân đến trộm dê, bị gia chủ bắt được đánh, đưa ra pháp luật bỏ tù. Lần khác, kẻ trộm dê là người của quan lớn, gia chủ chỉ bực tức nói nặng đôi câu, chớ không đối xử thậm tệ như người thường dân trước. Kế tiếp, kẻ trộm dê là lính của vua, th́ gia chủ không dám nói nặng nhẹ và chỉ van xin, năn nỉ đừng bắt dê. Trong ba trường hợp trên dụ cho : Người không biết tu thân, tu giới, tu tâm gây nhân bao nhiêu th́ phải trả quả bấy nhiêu. V́ vậy mà nói nhân nào quả nấy, đó là dụ người thường dân trộm dê  không  thế lực. Trường  hợp  người  trộm dê là  lính  của  quan th́ chỉ bị trách móc nặng nhẹ. Đó là du cho người biết tu thân tu giới, tuy có thọ nhận quả ác nhưng quả báo nhẹ hơn. Trường hợp người trộm dê là lính của vua, th́ không bị đánh đập, không bị nói nặng nhẹ. Đó là dụ cho người tuy có tạo nhân ác, nhưng biết tu thân, tu giới, tu tâm th́ nghiệp quả được hóa giải.

Như vậy để thấy cùng tạo nhân ác, tùy theo khả năng tu tập cao thấp mà thọ quả có sai khác. Nếu biết tu th́ quả liền chuyển, không cố định như người không biết tu. Khi biết rơ người có tu thân, tu giới, tu tâm th́ sẽ giải thoát được những nghiệp quả đă gây trước kia; tuy nói thoát mà không phải hết hoàn toàn. Nghĩa là nắm muối vẫn ḥa tan trong hồ nước, song v́ nước trong hồ quá nhiều nên không thấy mặn. Cũng như chú lính của nhà vua trộm dê, tuy chủ dê không đánh đập không nói nặng nhẹ, nhưng trong ḷng chủ nhà không vui, không cảm t́nh. Đó là nhân quả sai biệt theo khả năng tu tập.

            Thế nào là tu thân, tu giới, tu tâm ?

Tu thân là nơi thân này không làm diều ác, tất cả mọi điều ác dù lớn hay nhỏ đều phải tránh, c̣n mọi điều thiện phải cố gắng làm, luôn luôn nhớ và làm, đó là biết tu thân.

Tu giới là người Phật tử tại gia, sau khi quy y rồi, Phật dạy phải giữ năm giới :

1.- Không sát sanh : Là không giết người, vật. V́ ai cũng muốn sống th́ mạng sống phải được tôn trọng không nên giết mạng sống của người. Nếu giết mạng sống của người th́ bị luật pháp trừng trị. V́ tôn trọng mạng sống của ḿnh, nên phải tôn trọng mạng sống của người. Đó là lẽ công bằng, trái với lẽ công bằng là tội lỗi. Ngoài ra, đối với những con vật lớn như trâu, ḅ, heo, chó... tránh được bao nhiêu là tốt bấy nhiêu. Chủ yếu là không giết người. Một là tự tay ḿnh giết, ví dụ ḿnh oán thù ai th́ tự ḿnh đến giết người đó chết. Hai là sai bảo người khác giết, ví dụ ḿnh oán thù người nào, ḿnh khôg trực tiếp giết được bèn xúi bảo hay mướn người khác giết. Ba là hoan hỷ khi nghe thấy giết, ví dụ ḿnh oán thù người đó, tự ḿnh không giết được, khi thấy hay nghe người đó bị giết, ḿnh vui mừng thícg thú. Như thế là phạm tộ sát sanh. V́ tự tay giết là thân tạo nghiệp ác, sai bảo người giết là miệng tạo nghiệp ác, nghe thấy người giết sanh tâm vui mừng là ư tạo nghiệp ác, nên Phật cấm không cho Phật tử làm.

2.- Không được trộm cướp : Phàm của cải của người khác, chẳng được không cho mà lấy từ một cây kim, một ngọn cỏ cũng vậy, tất cả các vật chẳng được không cho mà lấy. Hoặc trộm  lấy, hoặc  giựt,  hoặc  lừa gạt  mà lấy, cho  đến  trốn  xâu  lậu thuế cũng đều gọi là trộm cướp.

3.- Không tà dâm : Người Phật tử sau khi lập gia đ́nh có đôi bạn rồi, mà c̣n đi ngoại t́nh với người khác là phạm tội tà dâm. V́ đó là duyên cớ làm cho gia đ́nh mất hạnh phúc, làm cho gia đ́nh tan vỡ, là cái nhân gây đau khổ cho ḿnh cho người, v́ vậy mà Phật cấm.

4.- Không nói dối : Nói dối có bốn trường hợp phạm tội.

a.  Chuyện có nói không, chuyện không nói có, cốt lừa gạt để lấy tiền lấy của người.

b.  Nổi giận, nói lời hung dữ thô ác, mắng chửi người, vu oan người.

c.  Dùng lời hoa mỹ văn chương thêu dệt để lừa gạt người.

d.  Nói lời đâm thọc làm cho đôi bên bất ḥa thù oán nhau.

Đó là những trường hợp nói dối th́ phạm tội. Nếu nói dối để trấn an người bịnh người khổ, hoặc để cứu mạng người th́ không phạm.

5.- Không uống rượu : Nói đơn giản là rượu, ngoài ra các thứ như á phiện, x́ ke, ma túy đều không được dùng. V́ nó là  cái  nhân  sinh ra  bịnh hoạn, làm cho tiêu tán tài sản, mất hết trí tuệ. Nhưng, nếu v́ lư do đau bệnh, cần phải uống rượu để trị bệnh th́ được phép uống.

Phật dạy giữ năm giới là v́ ḷng từ bi, sợ chúng sanh             vi phạm th́ bị đau khổ. Nếu ǵn giữ không phạm th́ được an vui. Đó là tu giới.

Tu tâm, có nhiều người nói tôi lo tu tâm thôi, đi chùa cũng vậy, lạy Phật để làm ǵ ? Vậy, tu tâm là tu thế nào?

Tâm cần phải tu là tâm tham, tâm sân, tâm si... Tu tâm là bỏ được ḷng tham lam, tánh sân hận, đố kỵ, si mê... Tham th́ ai cũng có, và có nhiều loại như tham danh, tham lợi, tham tài, tham sắc, tham ăn, tham ngủ... Ở đây tôi đề cập tham ăn và tham ngủ, được mọi người coi là nhỏ mọn, song muốn bỏ không phải dễ. Ăn nếu dở quá th́ không vui; nếu không no th́ cũng không được; ăn th́ muốn cho ngon cho no đủ. Ngủ th́ phải ngủ cho đủ giấc, nếu bắt dậy sớm th́ không vui. V́ vậy, chúng ta lúc nào cũng bị kẹt trong tham muốn, mà đó là cái bịnh chung của mọi người, không ai là không có. Tu là dẹp bỏ ḷng tham, c̣n sân và si luôn luôn đi chung, hễ có sân là có si.

Thuở xưa có một gia đ́nh gồm ba người, con đi làm ngoài đồng, ông nội và cháu ở nhà. Ông đưa cho cháu hai cái tô và hai đồng, bảo :

- Cháu hăy đi mua một đồng tương và một đồng chao.

- Đứa cháu cầm tô và tiền đi một lúc trở về hỏi ;

- Thưa ông nội, đồng nào mua tương đồng nào mua chao ?

Ông rầy nó một hồi, rồi bảo :

-Đồng nào mua cũng được. 

Nó liền chạy đi, đi một lúc lâu trở về hỏi :

- Thưa ông nội, hai cái tô, cái nào đựng tương, cái nào đựng chao ?

Ông giận quá tát cho nó mấy tát tay, nó khóc lu bù. Ngay khi đó, người con đi cày về, tay cầm roi đánh trâu, thấy con ḿnh bị ông già đánh, nó la khóc, nên nổi giận nói :

- Ông đánh con tôi, tôi đánh con ông cho ông biết. 

Người con liền cầm roi tự quất lên ḿnh túi bụi, ông già nóng ruột quá nói :

- Mầy đánh con tao, tao treo cổ cha mầy cho mầy biết. 

Ông kiền làm ṿng, đút đầu vô treo cổ. 

Kết luận câu chuyện, quí vị thấy gia đ́nh đó si mê ở mức độ nào ? Nếu nói ngu th́ gia đ́nh đó ngu không ai bằng, đứa cháu nội đă ngu, người cha càng ngu hơn, đến ông nội lại quá ngu ! Ngu là do nổi giận mà ra vậy. Nên có sân là có si, làm mà không biết sai không biết hại. Xét lại xem, chúng ta có làm những chuyện na ná như vậy không ? Tưởng chừng như không, nhưng có khi làm mà không hay. Chẳng hạn lúc nào đó, con làm trái ư, cha mẹ nổi giận chửi “Mầy là đồ trâu, đồ chó...”. Nếu có người hỏi : “Nó là trâu, là cho, vậy cha mẹnó là ǵ ?”. Làm cha mẹ chửi con như vậy có khôn không ? Thế mà có lắm người chửi như vậy ! Nên biết hễ nổi sân là liền ngu, không biết phải quấy. Tưởng nói cho đỡ bực, nhưng không ngờ tự ngầm nhận ḿnh là trâu là cho. V́ con là trâu chó, cha mẹ đương nhiên phải là trâu chó mới sinh con trâu chó. Hoặc có người khi giận con th́ chửi ông cố nội, ông cố ngoại nó... ông cố nội ông cố ngoại nó là ai ? Là ông nội ông ngoại ḿnh. Ḿnh chửi con, không ngờ chửi ông bà ḿnh. Vậy mà khi th́ người ta cứ nói cứ làm. Chẳng khác ǵ người kia đánh con ông già để cho ổng tức, nhưng tự đánh ḿnh th́ ḿnh đau. Rồi ông già treo cổ cha nó, cho nó hoảng sợ, nhưng rồi chính ông chết !

V́ sân mà chúng ta không nhận biết điều phải lẽ trái, cứ làm bậy, nói bậy, khiến cho thiên hạ chê cười. Nên ca dao Việt Nam có câu :

            Sân si nghiệp chướng kông chừa,

            Bo bo mà giữ tương dưa làm ǵ ?

Tu mà không chịu bỏ tham, bỏ sân, bỏ si mà cứ khoe “Tôi ăn chay một tháng mười ngày, mười lăm ngày v.v...” Ăn chay, ăn tương dưa là để chừa tham sân si. Có chừa bỏ được tham sân si th́ tâm mới sáng suốt, tâm sáng suốt th́ không nói bậy làm bậy, không nói bậy làm bậy th́ nghiệp chướng tội lỗi theo đó mà giảm. Nếu không chừa bỏ tham sân si th́ nghiệp chướng tội lỗi khó mà hết được.

Tuy nói tu thân, tu giới, tu tâm, nhưng chủ yếu là tu tâm. nếu tu tâm mà được viên măn th́ mọi nghiệp chướng không c̣n, mọi họa khổ sẽ hết, không phải trả nặng nề như lúc gây tạo. Nói nhân nào quả nấy là chưa chính xác, chưa tột lư nhân quả, v́ chỉ đúng có một trường hợp là người không biết tu, c̣n đối với người biết tu th́ không đúng.

Nếu người tạo nghiệp ác nhiều, v́ yếu đuối không có gắng làm lành, chắc rằng nghiệp ác khó mà chuyển nổi. Ví dụ có nhiều người lỡ nghiện rượu đều được bác sĩ và các bạn tốt khuyên nên bỏ rượu, v́ uống rượu hại sức khỏe, tinh thần không minh mẫn, tốn kém tiền bạc, vợ con khốn khổ, gia đ́nh không hạnh phúc. Nghe lời khuyên, họ hiểu, thấy rơ uống rượu là tai hại. Nhưng có người không bỏ được, v́ tâm  hồn  họ  yếu  đuối  bạc  nhược. Lại có người ư chí mạnh mẽ biết uống rượu có hại dứt khoát bỏ ngay. Vậy, nghiệp cũng có thể chuyển được, tùy theo ư chí mạnh hay yếu của mỗi người.

Có nhiều Phật tử lấy làm thắc mắc hoặc nuối tiếc về những người tu xuất gia. V́ họ cho rằng các thầy, các cô có rất nhiều duyên phước mới được xuất gia tu hành. Tại sao có nhiều người tu mười mấy hai mươi năm, học hành tưng đối cũng thông, bỗng dưng cởi áo tu hoàn tục. Họ hỏi :

- Thầy tu ở trong đạo an ổn quá, tại sao hoàn tục cho phiền lụy ? 

Các thầy trả lời chung chung :

Tại nghiệp của tôi nó lôi.

Quí vị nghĩ sao ? Ai tu có nghiệp cũng bị nghiệp lôi hoàn tục hết, hay có người bị lôi có người chuyển đổi nghiệp ? Nếu ai tu cũng bị nghiệp lôi hoàn tục, th́ chắc chắn không có người tu tới nơi tới chốn. Chúng ta sinh ra trong đời này đều có liên hệ với quá khứ, kẻ có nghiệp này người có nghiệp khác. Song, tùy theo ư chí của mỗi người yếu hay mạnh mà chuyển được nghiệp hay không. Đừng đổ thừa nghiệp, để rồi tu gặp cảnh nghịch ḷng, trái ư liền bỏ đạo về đời, lại nói do nghiệp lôi. Người như thế là người không ư chí, không gan dạ, tinh thần cầu tiến quá thấp. Tuy nhiên, chúng ta đừng khinh những người tu hoàn tục. Khi Phật c̣n tại thế, Tỳ-kheo-ni Liên Hoa Sắc chứng quả A-la-hán, trên đường đi giáo hóa, bà gặp các cô gái trẻ, bà rủ :

Các con nên xuất gia đi tu.

Các cô thưa :

- Các con c̣n nhỏ dại, ham ăn ham ngủ tu không được. 

Bà nói :

Không sao, cứ đi tu đi. 

Các cô nói :

- Đi tu làm Tỳ-kheo-ni, lỡ tụi con phạm giới đọa địa ngục th́ sao ?

- Không sao, lỡ đọa địa ngục, hết quả báo trở lên tu tiếp.

 Theo Tỳ-kheo ni Liên Hoa Sắc th́ nếu tu phạm giới bị đọa, hết quả báo th́ trở lại tu nữa, v́ chủng tử tu hành vẫn c̣n, gặp duyên th́ nhớ lại. Nếu người chưa tu lỡ tạo nghiệp ác bị đọa, hết quả báo không có chủng tử cũ th́ biết bao giờ mới tu được. Bây giờ tuy người tu phạm giới bị đọa có thua kém những người tu khác, nhưng với người chưa tu vẫn có phần hơn, v́ họ c̣n chủng tử cũ, đủ duyên họ phát tâm tu trở lại.

Tới đây, tôi đi xa hơn một chút là tŕnh bày lư  nhân  quả  theo  tinh  thần  Thiền  tông.  Trong “Chứng đạo ca” của thiền sư Huyền Giác có hai câu:

            Liễu, tức nghiệp chướng bổn lai không,

            Vị liễu, ưng tu hoàn túc trái.

Nếu liễu ngộ th́ nghiệp chướng xưa nay là không, c̣n nếu chưa liễu ngộ th́ phải đền nợ trước. Những nhân ác những nghiệp bất thiện đă gây tạo từ trước, nếu tu hành không liễu ngộ th́ phải trả đủ. C̣n nếu tu mà liễu ngộ được th́ nghiệp chướng cũ theo đó mà hóa giải không c̣n.

Sau có một thiền khách tên Hạo Nguyệt đến thiền sư Trường Sa Cảnh Sầm hỏi rằng :

- Cổ Đức nói : “Liễu, tức nghiệp chướng bổn lai không; vị liễu, ưng tu hoàn túc trái”. Như Tổ Sư Tử và Tổ Huệ Khả v́ sao lại đền nợ trước?

Trường Sa bảo :

- Đại đức chẳng biết bổn lai không.

Hạo Nguyệt hỏi :

- Thế nào là bổn lai không ?

- Nghiệp chướng.

- Thế nào là nghiệp chướng ?

- Bổn lai không.

Tại sao nói nghiệp chướng bổn lai không ?

Theo Phật giáo th́ nghiệp là động lực chi phối đời sống của con người, từ đời trước cho tới đời này và măi về sau. Nếu con người c̣n tạo nghiệp th́ c̣n trôi lăn trong ṿng luân hồi sanh tử. Song, dùng trí quán sát cho kỹ th́ nghiệp không thật. Ví dụ ông A nói lời hung ác (khẩu nghiệp) làm cho ông B buồn giận, sau ông A hối hận ăn năn xin lỗi ông B, ông B vui vẻ tha thứ. Khẩu nghiệp của ông A trước làm ông B buồn giận, sau hối hận xin lỗi th́ ông B hết buồn giận. Nếu nghiệp ác là thật th́ không đổi được, v́ nó không thật nên chuyển được. Nghiệp c̣n là khi tâm chúng ta mê, nếu biết thức tỉnh chuyển nó th́ nó hết, nên nói nghiệp vốn không thật. Tuy không thật, nhưng nếu chúng ta mê th́ nó kéo đi măi trong ṿng luân hồi sinh tử không dừng.

Đă nói “Nghiệp chướng bổn lai không” tại sao Tổ Sư Tử bị hành h́nh, T&