THÍCH THANH
TỪ
XUÂN
TRONG CỬA THIỀN
TẬP 4
THƯỜNG
CHIẾU
Ấn Tống :
PL.2542 -1998
LỜI
ĐẦU SÁCH
Nói
đến Xuân là nói đến hoa nở, chim hót, ḷng
người nô nức đón Xuân. Nhưng Xuân đến
rồi đi, hoa nở rồi tàn, Xuân thế tục
lệ thuộc thời gian là như vậy... Chỉ có Xuân
trong đạo mới vượt khỏi thời gian, mùa
Xuân bất tận lúc nào cũng sẵn trong ḷng
người tỉnh giác.
Thế nên hằng năm mỗi
độ Xuân về, Thầy chúng tôi, Ḥa thượng
Viện trưởng Thiền viện Chân Không,
Thường Chiếu và Trúc Lâm, vào đêm Trừ tịch và
ngày Tết Nguyên Đán, thường nhắc nhở
Tăng Ni và Phật tử kiểm điểm lại
việc làm trong năm qua và
sách tấn tất cả nỗ lực tiến tu trong
năm mới, để hằng sống mùa Xuân đạo
vị:
Thương xuân bao nỗi,
thương xuân ư,
Khi chợt dừng thêu, chẳng thốt
lời.
(Khả liên vô hạn thương xuân ư,
Tận tại đ́nh châm
bất ngữ th́.)
(Thiền sư
Huyền Quang)
V́ lợi ích chung, chúng tôi xin phép Ḥa
thượng ghi lại những buổi nói chuyện
của Người tại Thiền viện Thường
Chiếu trong những năm 1990-1991-1992 để tiếp
theo quyển "Xuân Trong Cửa Thiền" tập I,
tập II và tập III. Lời dạy của Thầy chúng
tôi lúc nào cũng b́nh dị, nhưng tha thiết tâm lăo bà,
cốt sao cho hàng đệ tử nắm vững
đường lối tu hành và có một nếp sống
hài ḥa an lạc cho đến ngày viên măn đạo quả.
Tuy trong các bài pháp có những thơ
kệ trùng lặp với những năm trước, song
mỗi lần lập lại là mỗi lần mới, mỗi
lần đọc lại là mỗi lần thấm thêm ư
nghĩa Xuân trong cửa Thiền.
Chúng tôi cố gắng
ghi lại trung thực ư của Ḥa thượng Viện
trưởng để cống hiến quí bạn đọc chút quà mọn
nhân buổi đầu Xuân. Chắc khó tránh khỏi
những điều sơ sót, mong quí đôïc giả thông
cảm bỏ qua cho.
Kính ghi,
Thiền sinh khu Thường
Chiếu
Thuần Tịnh- Thuần
Chơn
Mùa an cư 1995
?
TRỌNG
TRÁCH NGƯỜI TU PHẬT
TẤT NIÊN
KỶ TỴ 1990
Theo
thông lệ hằng năm, vào đêm Trừ tịch,
Thiền viện có tổ chức buổi lễ Tất
niên. Chư Tăng Ni và Phật tử về đây chung vui và góp ư kiến xây dựng
nhắc nhở nhau tinh tiến tu hành. Đây là dịp chúng
ta ôn lại những việâc làm trong năm qua, t́m những
điểm khuyết để tu sửa và những
điểm ưu để tăng tiến. Tuy chúng ta tùy
thế tục nên có buổi liên hoan, nhưng vẫn đi
đúng chánh pháp là sách tấn nhau tiến bước trên
đường tu giải thoát.
Giờ
đây chúng tôi nêu lên một câu hỏi rất thiết
thực: Trọng trách người tu Phật là thế nào?
Câu trả lời đầy đủ nhất là trọng
trách người tu Phật gồm ba phần: một là
Giải thoát, hai là Giác ngộ, ba là Từ bi. Đó là ba
điều kiện người tu nào cũng phải có
đủ.
Vậy
tất cả Tăng Ni và Phật tử khi phát nguyện tu
theo lời Phật dạy, phải thề quyết
đập tan xiềng xích sanh tử đă áp đặt
trên con người chúng ta từ vô lượng kiếp
đến giờ. Đó là giải thoát. Giải thoát sanh
tử là một việc làm quá to lớn, người
thế gian không bao giờ dám nghĩ đến, v́ họ
cho sanh tử là một qui luật không ai thoát khỏi.
Nhưng người tu chúng ta khi đă nguyện đă
quyết th́ thế nào chúng ta cũng làm được.
Chính đức Phật khi xưa đă t́m ra con
đường giải thoát khỏi sanh tử, ngày nay chúng
ta ư thức được việc đó là chánh đáng, là
cao thượng, th́ noi gương Ngài chúng ta cũng
quyết đập tan xiềng xích sanh tử cho kỳ
được.
Kế
đến chúng ta phải quyết thắp sáng ngọn
đuốc trí tuệ trong nhà đen tối vô minh từ vô
lượng kiếp, đó là giác ngộ. Thật vậy
người tu muốn
giải thoát sanh tử th́ trước phải giác ngộ.
Đức Phật ngồi thiền dưới cội
bồ-đề và Ngài giác ngộ chứng được
tam minh: Túc mạng minh, Thiên nhăn minh và Lậu tận minh. Túc
mạng minh là trí tuệ biết rơ vô số kiếp về
trước của ḿnh. Thiên nhăn minh, c̣n gọi là sanh
tử trí, là trí thấy rơ ràng nguồn gốc sanh tử
của chúng sanh. Lậu tận minh là trí tuệ dứt
hết các lậu hoặc để giải thoát sanh
tử. Như thế chúng ta tu là phải mở sáng mắt
trí tuệ để dẹp tan đen tối vô minh .
Giải
thoát và giác ngộ được phần nào, chúng ta không
đành ḷng chỉ nhận riêng cho ḿnh mà phải
thương, phải nghĩ đến tất cả chúng
sanh đang trong nhà vô minh đen tối. Chúng ta phải
đem ánh sáng trí tuệ chính ḿnh đă được
Phật chỉ dạy để soi rọi khiến cho
tất cả cùng thoát ra khỏi cái đen tối muôn
đời và cùng tiến đến nơi an lạc.
Đây là điều chủ yếu mà tất cả
người tu Phật đều phải thực hiện.
Như
vậy trọng trách của người tu Phật nặng
hay nhẹ? Phải giải quyết sanh tử, phải
thắp sáng ngọn đuốc trí tuệ và phải có ḷng
từ bi truyền trao cho người những ǵ ḿnh đă
biết để cùng nhau thoát khỏi các khổ đau,
trọng trách này quả thật không phải nhẹ.
Nếu chúng ta không tu không tiến, th́ dù chúng ta có thương
người muốn giúp người cách mấy cũng
chỉ là nói suông thôi. Nói rơ hơn nếu chúng ta không giác ngộ
và giải thoát được phần nào mà chúng ta muốn
giúp mọi người được giác ngộ và
giải thoát, th́ cái muốn đó là hăo huyền không
thực tế. Vậy muốn thể hiện ḷng từ
bi, chúng ta phải có phần nào giác ngộ và giải thoát.
Chủ yếu chúng tôi nêu lên là để cho tất cả
quí vị thấy rơ trọng trách người tu Phật
không đơn giản mà quá to tát, chúng ta không thể xem
thường.
Muốn
giải thoát sanh tử, chúng ta cần phải biết
gốc của sanh tử là ǵ? Theo pháp Mười hai nhân
duyên, Phật dạy gốc của sanh tử là Vô minh. Vô
minh là không sáng, tức là tối tăm. Muốn phá tối
tăm chúng ta phải thắp sáng ngọn đuốc trí
tuệ. Ví dụ như có một căn nhà tối cả
ngàn năm, muốn nhà sáng ra chỉ có cách đốt đèn
th́ cái tối ngàn năm liền mất. Cũng thế
ấy vô minh chỉ mất khi có ánh sáng giác ngộ. Thế nên
trọng tâm tu Phật lấy giác ngộ làm bước
tiến đến giải thoát. Nếu không giác ngộ th́
mười hai nhân duyên cứ quay cuồng, chúng ta bị
đảo lộn trong sanh tử.
Hiện
nay, nương theo giác ngộ của đức Phật
chúng ta biết rơ manh mối của sanh tử là vô minh.
Vậy vô minh là ǵ? Trong kinh Tạp A-hàm có hai đoạn
đức Phật giải
thích như sau:
Đoạn
một:
Đức
Phật dạy: "Không biết rơ sắc tập khởi,
sắc đoạn diệt, không biết rơ thọ
tưởng hành thức tập khởi, đoạn
diệt, đó gọi là vô minh." Nói gọn hơn: Không
biết sự tập khởi của năm uẩn và
sự đoạn diệt của năm uẩn, đó là vô
minh. Vậy năm uẩn là ǵ? Tức là thân này. Ngay nơi
thân này sắc uẩn thuộc về vật chất,
thọ, tưởng, hành, thức thuộc về tinh
thần. Không biết rơ tinh thần và vật chất
của thân này gọi là vô minh, không biết rơ sự nhóm
họp và sự tan hoại của nó là vô minh. Thế th́
tất cả quí vị ở đây có ai biết rơ thân chúng
ta chưa? V́ không biết rơ nó cho nên chúng ta đang vô minh, v́
vô minh nên không dừng được ḍng sanh tử.
Đoạn
hai:
Có
một vị Tỳ-kheo hỏi ngài Xá-lợi-phất:
"Thế nào là vô minh?" Ngài đáp: "Không biết
khổ, không biết khổ tập, không biết khổ
diệt, không biết con đường đưa
đến khổ diệt, gọi là vô minh."
Theo
nghĩa ngài Xá-lợi-phất nói, người nào không
biết đúng như thật pháp Tứ đế: Khổ
tập diệt đạo, đó là người vô minh.
Như
vậy đoạn trên đức Phật giải nghĩa
sự tập khởi và sự đoạn diệt của
năm uẩn, tức là chỉ thẳng con người.
Đoạn này, ngài Xá-lợi-phất nói về Tứ
đế. Khổ đế tức là khổ sanh, già,
bệnh, chết của thân... Tập đế là nguyên nhân
của khổ là tham sân si v.v... Diệt đế và
Đạo đế là cách giải trừ khổ
để được an vui giải thoát. Đây cũng
là chỉ thân tâm này vậy. Tóm lại Phật nói vô minh là
không biết như thật bản thân chúng ta từ tinh
thần đến vật chất, không biết rơ sự
nhóm họp và sự tan
hoại của nó.
Sau
đây tôi dẫn đến
kinh Viên Giác, chương Văn-thù, đức Phật
giải thích: "Thế nào là vô minh? Tất cả chúng sanh
từ vô thủy đến nay các thứ điên
đảo, ví như người nh́n bốn hướng
thay đổi; vọng nhận tứ đại làm thân
tướng của ḿnh, bóng dáng sáu trần làm tâm
tướng của ḿnh, ví như bệnh mắt thấy
hoa đốm trong không và mặt trăng thứ hai."
Như vậy đức Phật giải nghĩa Vô minh
rất rơ. Tất cả chúng sanh từ vô thủy
đến nay do các thứ điên đảo, ví như
hướng đông lầm cho là hướng tây,
hướng nam lầm cho là hướng bắc, lầm
bốn hướng như vậy gọi là điên
đảo, tức là không thấy đúng như thật.
Đức Phật chỉ thẳng điên đảo là do
vọng nhận tứ đại làm thân tướng
của ḿnh, ư thức duyên theo bóng dáng sáu trần làm tâm
tướng của ḿnh. Hiện giờ ai cũng cho thân
tứ đại này là thân ḿnh, cho suy nghĩ, tức là ư
thức duyên theo bóng dáng sáu trần là tâm ḿnh. Vọng
nhận như thế gọi là vô minh, đó là manh mối
dẫn chúng ta đi trong luân hồi sanh tử. Thế nên
chúng ta tu là phải phá tan manh mối vô minh đó.
Kế
đến đức Phật ví dụ người
vọng nhận như
vậy chẳng khác nào người bị bệnh mắt
thấy hoa đốm trong hư không. Như con mắt nhặm thấy trong
hư không có đốm sáng rơi loạn tưởng là
thật, nhưng đó chỉ do bệnh mắt mà thấy,
vậy là thấy không đúng như thật, là tối
tăm, là vô minh.
Đức
Phật lại ví dụ thêm, người vọng
nhận như vậy là
thấy mặt trăng thứ hai, mặt trăng có cái
thứ hai không? Như người nhặm mắt hoặc
ấn tay vào mắt th́ thấy mặt trăng có cái thứ
hai lóe lên một bên. Mặt trăng thứ hai là giả
tướng mà ḿnh lầm cho nó là thật. V́ vậy chúng ta
cho thân tứ đại là thân của ḿnh, tâm duyên theo bóng
dáng sáu trần là tâm của ḿnh, chấp chặt như
thế gọi là vô minh.
Qua
sự giải thích của đức Phật từ kinh
A-hàm đến kinh Viên Giác, chúng ta tự kiểm lại xem
ḿnh c̣n vô minh sâu hay cạn, dầy hay mỏng? Như thân
của chúng ta vừa bị động đến là
nổi sân si ngay, hoặc có khi chỉ bị thiếu
phần bồi dưỡng cho thân cũng nổi sân
rồi. Như vậy vô minh đến mức độ
nào? V́ chấp lầm thân tứ đại là ḿnh nên
những ǵ thuộc nhu cầu của thân th́ ḿnh xem là quan
trọng. V́ quan trọng thân nên vừa kém thua người
là ḿnh bực bội buồn khổ. C̣n tâm là ư thức duyên
theo bóng dáng sáu trần, đă là bóng th́ đâu có thật, mà
ḿnh chấp làm ǵ? Thí dụ như mắt nh́n một cái hoa
rồi ư thức đánh giá nó là đẹp, và ḿnh khen hoa
đẹp quá. Bỗng người khác nh́n hoa rồi chê hoa
xấu quá có ǵ là đẹp. Chỉ bao nhiêu đó thôi
cũng đủ làm ḿnh nổi sân lên và căi lại, phải
không? Như thế ư thức của chúng ta duyên theo bóng dáng
của hoa rồi chấp chặt vào đó, nếu ai nói
khác đi là nổi giận liền. Như vậy chứng
tỏ mê lầm của chúng ta quá lớn, mê lầm đó
Phật gọi là vô minh.
Do
mê lầm nên chúng ta sống trong đau khổ. Phật nói
thân này có sanh già bệnh và chết, nếu cho nó là ḿnh
thật, đến khi nó tan hoại tức là mất ḿnh
th́ c̣n cái khổ nào bằng! Sở dĩ các bậc Thánh nhân
và các Thiền sư ngày trước coi cái chết như
tṛ chơi v́ các ngài thấy thân là giả dối không quan
trọng, nên các ngài cười trước cái chết, dù
chết bằng cách nào cũng vậy. Chúng ta th́ khác, v́
thấy thân ḿnh là thật nên nghe nói chết là đă hốt
hoảng rồi. Giả sử khi đau nhiều ḿnh
cũng tỏ ra can đảm chịu đựng, tỏ
ra hiểu đạo không sợ chết, nhưng trong ḷng
cũng thấy nao nao. Như vậy để thấy ḿnh
chưa thật thấy thân tứ đại là giả, mà
thấy nó quả là thật nên khổ đau v́ nó, và
mấy ai thoát khỏi mê lầm này? Thế nên người
tu chúng ta phải nhận định thật đúng
để không c̣n mê lầm nữa. Hết mê lầm
tức là giác ngộ, phá tan vô minh lầm chấp về thân
và tâm. Phá hai chấp này rồi chúng ta mới giải thoát
khỏi sanh tử. Đó là mục tiêu cuối cùng của
người tu.
Tất
cả chúng ta đang sống khoẻ mạnh tưởng
chừng như ḿnh hiểu đạo và hành đạo
được, nhưng khi ngă đau hoặc có những
điều bất trắc xảy đến, th́ ḿnh
cuống quít lên không c̣n b́nh tĩnh nữa. Hiểu
đạo mà không dùng được, không c̣n tự chủ
nên đau khổ. Đau khổ của chúng ta không phải
ai mang đến mà chính v́ vô minh làm ḿnh đau khổ. Ví
như đang đi trong rừng gai góc mà không khéo lau lách nên
bị gai quào xể mặt rướm máu rồi than thở
cuộc đời sao quá khổ! Nếu đi trong rừng
gai mà khéo lau lách ra khỏi rừng không bị trầy da chút
nào mới là giỏi, là an vui.
Vậy
trên đường tu chúng ta phải thấy
được những điều Phật đă dạy.
Có những điều thật hay, mà chúng ta lại xem
thường. Nh́n lại thân tứ đại thấy nó
quá rơ. Học kinh điển rồi ai cũng nói thân này là
giả, tại sao? V́ ḿnh thuộc lời Phật dạy:
thân tứ đại là giả. Nếu hỏi giả
như thế nào? V́ thân này ngày nay c̣n, nhưng thời gian
sau nó hoại. Thật là đúng v́ thân này vô thường nay
c̣n, mai mất! Lại có người nói: Thân này do duyên
hợp nên giả, mà không biết hợp cách nào và giả
cách nào. Nghiền ngẫm cho kỹ chúng tôi thấy
được lẽ này: Nói giả không phải
đợi khi thân hoại mới nói là giả, mà ngay trong
lúc ḿnh đang ngồi, đang nói chuyện, biết nó là
giả. Làm sao biết được? V́ Phật dạy
thân này do tứ đại đất nước gió
lửa họp thành. Chất cứng là đất,
ướt là nước, động là gió, ấm là
lửa. Bốn chất đó họp lại cũng chưa
đủ sức tồn tại mà phải nhờ tứ
đại bên ngoài bồi bổ luôn. Có bồi bổ, nó
mới tồn tại, nếu thiếu sự bồi
bổ th́ nó tan hoại. V́ vậy chúng tôi đặt câu
hỏi: Hiện giờ quí vị đang ngồi đây,
mũi quí vị đang làm ǵ? Đang thở phải không?
Mũi đang thở, nghĩa là chúng ta đang mượn
không khí bên ngoài, hít vào là mượn, thở ra là trả,
mũi cứ làm việc hít vào trả ra, đều
đặn như vậy. Giả sử chúng ta trả
rồi không mượn lại th́ sao? Th́ ngay đó là
tắt thở! Như vậy đời sống của
ḿnh thật ở chỗ nào? Điều này hết sức
cụ thể, mà phải có lắm công phu mới nhận thấy
được.
Đến
mượn nước, miệng mượn một tách
nước uống vào vài tiếng đồng hồ sau
cũng phải trả. Rồi một lát sau mượn ít
chén cơm... Mượn nước để bồi
bổ nước, mượn cơm để bồi
bổ đất, trong cơm có chất nóng như gừng
tiêu ớt để bồi bổ lửa. Như vậy
chúng ta nói sống mà thật ra sống với cái ǵ? Cả
ngày chỉ lo bồi bổ cho tứ đại này thôi,
chỉ có bao nhiêu việc mượn và trả mà than
cực, nghĩa là làm cho có cơm ăn để
mượn rồi trả, kiếm có nước uống
để mượn rồi cũng trả. Như thế
cuộc sống của chúng ta chỉ là cuộc sống
mượn trả. Nếu mượn trả
được êm xuôi th́ vui cười, mượn trả
mà trục trặc th́ sao? Th́ chở đi cứu cấp!
Như vậy cuộc đời của ḿnh, hạnh phúc
của ḿnh ra sao? Nó quá tầm thường và quá mỏng
manh. Những người t́m thức ăn ngon, nước
uống bổ, tất cả những thứ đó
chẳng qua là mượn trả mà thôi. Khi thiếu
nước, uống một ly nước lă hay một ly
nước chanh cũng là mượn, không nên coi đó là
quan trọng hay v́ đó mà phiền năo, nước chanh hay
nước lă uống vào cũng là mượn rồi
trả có ai giữ được đâu! Biết
được lẽ thật như vậy th́ lúc nào
cũng an vui trong cuộc sống tu hành. Mượn ít chén
cơm để bồi phần đất của ḿnh. Dù
được dọn cơm nóng hay cơm nguội, mượn
rồi cũng phải trả có ai giữ được
đâu mà quí mà tiện, mà giận hờn nhau. Biết
được lư mượn trả cụ thể,
biết được lẽ thật đó rồi chúng ta
không c̣n phiền năo trong cách đối xử qua lại
nữa, dù cách đối xử hữu ư hay vô t́nh, niềm
nở hay lạnh nhạt.
V́
chấp sai lầm không thấy đúng lẽ thật nên
chúng ta phiền năo măi rồi than, sao ở giữa
đời này thật khó tu quá. Không khí đang ở ngoài
trong lành, mượn hít vào rồi trả ra nói cái đó là
của tôi. Nước đang ở ngoài mượn
uống vào một lát lại trả ra, nói cái đó là
của ḿnh. Quả thật là mê muội, có cái ǵ là của
ḿnh đâu!
Tất
cả cuộc sống của chúng ta chỉ là chuyện mượn trả,
cuối cùng một bộ phận nào hư mượn không
được, th́ ngang đó là vĩnh biệt. Thấy rơ
như vậy chúng ta đă
giải quyết bao nhiêu thứ phiền năo, trái lại
chỉ nghĩ đến ăn ngon mặc đẹp th́
bao nhiêu thứ phiền năo sanh khởi.
Thấy được lẽ
thật rồi , chúng tôi liền làm bài tụng rất
đơn giản gọi là "Mạng Sống":
Mạng sống trong hơi
thở,
Trong nhịp đập
quả tim.
Thế nào là mạng
sống?
Sự vay mượn liên
tục.
Câu
kết phải công phu lắm mới thấy
được lẽ đó, chớ không phải là
thường. Chúng ta cứ nghĩ ḿnh sống, chớ không
ngờ sống chỉ là sự vay mượn liên tục.
C̣n tiếp tục vay mượn là c̣n sống, vay
mượn ngừng lại là chết ngay. Như vậy
sống bằng vay mượn, làm sao gọi là sống
thật? Mà không thật th́ đâu có ǵ quan trọng. V́ cho
cuộc sống là quan trọng, nên chúng ta tranh giành nhau, trách
cứ và hờn giận lẫn nhau rồi bị
chướng ngại trên đường tu hành. Bài kệ
này không phải ngẫu nhiên có mà do suy gẫm đúng theo
lời Phật dạy, trầm ngâm rất nhiều
thời giờ, khi nói lên được điều này
mới thấy cuộc đời bớt khổ. Phải
hằng sống và nhớ được như vậy,
chúng ta cũng bớt khổ.
Đức
Phật đă từng nói: "Mạng sống trong hơi
thở." Thật vậy, thở ra mà không mượn
không khí trở lại th́ chết ngay. Trong kinh, Phật
hỏi các thầy Tỳ-kheo: Mạng sống con
người là bao lâu? Có vị nói: năm ba tháng, có vị
nói năm bảy ngày, có vị nói ít tiếng đồng
hồ, có vị thưa trong một bữa ăn. Nhưng
Phật đều bảo: Các ông không thấy đạo.
Cuối cùng có một vị Tỳ-kheo thưa: Mạng
sống trong hơi thở. Phật nói: Ông đă thấy
đạo. Như vậy đạo là ǵ? Là chân lư, là
lẽ thật, thấy được lẽ thật
gọi là thấy đạo, thấy đạo là giác
ngộ. Thấy rơ thân chúng ta là vay mượn, là tạm
bợ, ngắn ngủi đó là chúng ta đă tỉnh đă
giác, c̣n thấy thân là thật, là lâu dài quí trọng, đó là
chúng ta đang mê, đang vô minh.
Mạng
sống trong hơi thở, trong nhịp đập quả
tim. Như người bị bệnh tim, bất chợt
tim ngưng đập th́ sao? Tức là chết rồi,
như vậy làm sao nói mạng sống là lâu dài bền
bỉ được. Không mượn không khí để
thở là chết, quả tim ngừng đập là
chết, vậy đâu có ǵ là lâu dài! C̣n liên tục vay
mượn không khí hít vào thở ra, quả tim c̣n
đập không dừng, đó là sống. Cho nên nói sống
là động, rất là hợp lư, động là
mượn trả, dừng cái động là chết.
Mạng sống của ḿnh chỉ là như vậy, thế
mà chúng ta cứ tưởng nó lâu dài bền bỉ, sống
đến bảy mươi, tám mươi tuổi, không
ngờ cái chết lúc nào cũng chực sẵn bên cạnh
ḿnh. Đó là điều hết sức quan trọng,
nhận thấy được như vậy không phải
là chuyện dễ. Chúng ta thấy theo Kinh hoặc hiểu
theo lời Phật mà không chiêm nghiệm th́ cái thấy
đó không đến được lẽ thật. V́
thế Phật dạy văn tư tu, nghĩa là Phật nói
ḿnh phải nghe, rồi suy gẫm cho thấm th́ việc tu
mới dễ. Nếu nghe Phật dạy thân này là giả
rồi ḿnh học thuộc ḷng mà rốt cuộc không
biết nó giả như thế nào, chỉ nói giả ở
miệng thôi chớ trong tâm trí ḿnh không có ǵ dính dáng. Nếu
tâm trí suy gẫm thấy được tường
tận lẽ thật đó là đă giác, là đă mồi
được đuốc trí tuệ của đức
Phật.
Kế
đến là thấy tâm ḿnh cũng hư dối, không
thật. V́ sao? Như trong kinh Lăng Nghiêm Phật hỏi:
Cái ǵ là tâm? Ngài A-nan thưa: Cái hay suy nghĩ là tâm (Năng
suy vi tâm). Ngài liền bị Phật quở: đó là sai, nên
Ngài mờ mịt không biết cách nào giải tỏa. Ngày
nay chúng ta cũng giống như ngài A-nan cho cái suy nghĩ là
tâm ḿnh. Vậy làm sao theo kinh nghiệm bản thân chúng ta
biết được cái hay suy nghĩ là giả không
phải là tâm? Khi ngồi tu chúng tôi chiêm nghiệm mới thấy
được điều đó, chúng tôi chia cái giả làm
bốn thứ:
1-
Nếu cái suy nghĩ là tâm th́ nó liên tục không dứt,
nhưng có khi nó dừng nghĩ chừng một vài phút, lúc
đó là có ḿnh hay không? Như lúc ngồi thiền có khi
năm, mười phút không niệm khởi, không suy nghĩ,
th́ lúc ấy không có ḿnh sao? Nhưng ḿnh lúc nào cũng
hiện hữu mà! Nếu chấp cái suy nghĩ là ḿnh th́ khi
không suy nghĩ tức là không có ḿnh chớ ǵ, đó là cái sai
lầm thứ nhất.
2-
Nếu cái suy nghĩ là ḿnh, th́ ḿnh là một hay nhiều? Ai
cũng biết ḿnh chỉ có một thôi, mà cái suy nghĩ th́
quá nhiều, nghĩ tốt nghĩ xấu, nghĩ hiền
nghĩ dữ v.v... trong tất cả trăm ngàn thứ
nghĩ đó cái nào là ḿnh? Thế nên cho cái suy nghĩ là ḿnh
th́ không hợp lư, đó là cái sai lầm thứ hai.
3-
Nếu gọi cái suy nghĩ là tâm ḿnh, th́ sai lầm này
chỉ người có tu mới biết, nếu chưa tu
không bao giờ biết được. Như khi vừa
dấy nghĩ ḿnh liền t́m cái nghĩ này từ đâu ra,
nh́n lại th́ nó mất tăm mất dạng. Vậy cái
suy nghĩ này chỉ là bóng thôi, đâu có thật, v́ là bóng
nên vừa nh́n lại t́m nó liền mất. Chúng tôi
thường thí dụ: Như có một vị Tăng
ở tại Thiền viện Thường Chiếu, có
duyên cớ ra ngoài cổng gần đường. Có
người hỏi: Thầy đó ở đâu? Đáp:
Thầy ở trong Thiền viện. Nếu vị Tăng
đó có việc trở vào Thiền viện, người
khác hỏi: Thầy khi năy đâu rồi? Đáp: Thầy
đó trở vào Thiền viện. Như vậy thầy
phải có nơi ở, rồi phải có chỗ trở
về. C̣n nếu hỏi Thầy đó ở đâu, t́m
lại th́ Thầy mất tiêu, người ta sẽ bảo
đó là hồn ma bóng quế chớ đâu phải
thật. Nếu là thật th́ phải có mặt ở
đây, rồi khi vắng mặt ở đây th́ phải có
chỗ trở về.
C̣n cái suy nghĩ nếu là
thật, khi t́m lại, nó phải trú ở một chỗ
nào, nhưng khi t́m lại nó mất tiêu không bóng không h́nh th́
làm sao thật được. Đó là cái sai lầm thứ
ba.
4-
Có khi chúng ta suy nghĩ một vấn đề ǵ, có khi
chúng ta ngồi chơi một cách yên ổn tự tại
không suy nghĩ ǵ hết. Như vậy khi suy nghĩ ḿnh
biết có suy nghĩ, khi không suy nghĩ ḿnh biết lúc
đó không suy nghĩ. Thế nên cái suy nghĩ và cái không suy
nghĩ là cái bị ḿnh biết, bị ḿnh thấy. Tỉ
dụ như tôi là chủ ngồi trong thất, có năm,
bảy người khách đến, tôi biết khách
đến. Một lát khách ra về, trong thất chỉ c̣n
có ḿnh tôi, tôi biết lúc này không khách, phải không? Tôi
biết có khách tôi biết không khách, vậy tôi là chủ.
Cũng
như vậy, có suy nghĩ ḿnh biết, không suy nghĩ ḿnh
biết, th́ suy nghĩ là khách, cái biết là chủ chớ
ǵ? Thế mà lâu nay ḿnh nhận khách làm chủ, cho suy nghĩ
là ḿnh, cho nên Phật nói chúng ta nhận giặc làm con. V́ mê
lầm nhận giặc làm con cho nên bao nhiêu sự nghiệp
của chúng ta đều tan hoang hết. Đó là cái sai
lầm thứ tư.
Kinh
nghiệm trong sự tu hành cho chúng ta thấy rơ tâm suy
nghĩ của ḿnh chẳng qua là bóng dáng tạm bợ không
thật mà lâu nay ḿnh lại chấp lầm nó là thật.
Biết được cái suy nghĩ là bóng dáng không thật
th́ cái nghĩ phải của người này hay cái nghĩ
phải của người kia cũng đều là bóng,
đâu có ǵ quan trọng mà giận hờn mà tranh phải
quấy với nhau, không có ǵ quan trọng th́ làm ǵ có
phiền năo.
Tất
cả chúng ta sở dĩ khổ đau không ngoài hai cái
chấp thân và tâm. V́ mê lầm chấp sai nên chúng ta tạo
không biết bao nhiêu nghiệp khổ. Phật nói đó là vô
minh. Từ mê lầm là hoặc, rồi tạo thành
nghiệp và thọ khổ.
Hoặc, nghiệp, khổ, cứ như vậy mà trầm
luân muôn kiếp. Hiện nay biết rơ thân và tâm này là giả
dối chúng ta phải làm ǵ, chớ không thể bi quan tiêu
cực rồi thả trôi cả cuộc đời. Chúng
tôi cho một thí dụ: Chúng ta giống như những
kẻ đi ngoài sông lớn trên một chiếc thuyền,
bất thần bị sóng to gió lớn đập vỡ
thuyền, chúng ta bị ch́m. Bất chợt chúng ta gặp
được một gốc cây mục, nổi lờ
đờ trên mặt nước. Chúng ta ôm gốc cây
mục th́ ngay đó chúng ta phải có thái độ nào?
Biết ḿnh đang ôm gốc cây mục và đang ở
giữa ḍng, nếu buông gốc cây th́ chết ch́m, vậy
gốc cây mục đối với ḿnh rất là quí.
Nhưng nó mục, đâu có bền, th́ ngay bây giờ
phải mượn nó bơi gấp vào bờ. Đến
bờ rồi th́ gốc cây mục là vô nghĩa không c̣n dùng nữa.
Người khôn ngoan là phải như vậy, biết ḿnh
đang ôm gốc cây mục cho khỏi chết ch́m th́
phải cố gắng bơi cho tới bờ. Thí dụ
này nói lên thân người ví như gốc cây mục,
tạm bợ không bền chắc, nhưng chúng ta
mượn nó để làm những điều lợi ích
và cao thượng, chớ không phải bám vào nó, và bảo
vệ nó măi, đến chừng nó ră ra ḿnh lại chết
ch́m lần nữa!
Biết
thân là giả tạm chúng ta không hài ḷng với cái giả
tạm đó, mà phải cố gắng làm sao
được giác ngộ và giải thoát để rồi
chỉ cho mọi người cùng giác ngộ và giải
thoát như ḿnh. Đó là chỗ nh́n đúng của
người tu. C̣n nếu nói thân giả rồi cứ
ngồi hút thuốc ca hát vui chơi, nó đă giả rồi
làm ǵ cho phí công vô ích! Đó là quan niệm dại khờ,
phải không? H́nh ảnh người ôm gốc cây mục
ở giữa sông to nhắc nhở chúng ta phải nỗ
lực tu và làm lợi ích chúng sanh, chớ không phải
biết thân là giả, là vô thường rồi thở than
buồn khổ hoặc ăn chơi để chờ
chết. Đó là ngu dại không đúng tinh thần của
người hiểu đạo. Chính bản thân tôi trong lúc
tu và nghiền ngẫm đạo lư, chúng tôi thấy
được lẽ thật này nên tŕnh bày để quí
vị được rơ.
Chúng
ta tu là phải hằng tỉnh hằng giác biết rơ thân và
cái gọi là tâm đều giả, nên trong đời
sống tu hành nếu có ai lỡ lời nói nặng, chúng ta
biết thân và ngôn ngữ là giả th́ mọi phiền năo
theo đó sẽ hết; trái lại nếu thấy chúng là
thật th́ phiền năo nổi lên, chúng ta sẽ xâu kết
lại và gồng gánh cho đến suốt đời.
Nếu không thấy đúng như thật th́ không sao gỡ
được phiền năo, dù có kêu cầu cứu cũng
không ai gỡ được cho ḿnh, chính trí tuệ của
ḿnh thấy đúng như thật mới gỡ
được các phiền năo.
Trong
kinh Viên Giác chương Phổ Hiền đức Phật
nói: "Tri huyễn tức ly, bất tác phương
tiện. Ly huyễn tức giác, diệc vô tiệm
thứ." Nghĩa là: Biết huyễn tức là ĺa.
Biết thân này là giả, tâm này là giả th́ mọi ràng
buộc về nó chúng ta đều ĺa bỏ
được một cách dễ dàng, không cần tạo
phương tiện ǵ. Thật vậy, chúng ta tu mà cứ
nghĩ mà phải tạo phương tiện này hay
phương tiện kia, nhưng sự thật Phật
dạy: Chỉ thấy rơ thân, tâm là giả, liền ĺa
hết các thứ phiền năo, các thứ trói buộc.
Ly
huyễn tức giác: Biết đó là huyễn, ḿnh không c̣n
bám chặt vào nữa, đó là giác rồi. Diệc vô
tiệm thứ, tức là giác không có thứ lớp, đó
là giác liền, không có nói nay một phần, mai một
phần chi hết.
Như
vậy trên đường tu, chúng ta phải thấy thân và
tâm này là hư dối, huyễn hóa, thấy rơ như vậy
tức là giác, giác rồi là cái vô minh muôn đời cũng
tan hết, giống như cái nhà tối bao nhiêu năm, chúng
ta thắp lên ngọn đèn liền sáng. Nếu hết vô
minh tức dứt ḍng sanh tử. Thế nên trong kinh
Phật nói: Vô minh diệt th́ hành diệt... Con
đường tu của chúng ta đă quá rơ ràng không có nghi
ngờ ǵ nữa.
Người
thật tu có thần thông biết quá khứ vị lai hay
không? Có biết căn cốt đời trước
của Phật tử chăng? Có biết đoán coi
Phật tử bao giờ hết khổ? Chúng tôi thường
được hỏi những câu như vậy. Ít ai
nghĩ tu là phải hằng tỉnh hằng giác, thấy rơ
thân tâm chúng ta là giả dối không thật, nên những
việc đến với ḿnh, ḿnh gỡ ra dễ dàng không
bị dao động, trong nhà Thiền gọi là bát phong xuy
bất động nghĩa là tám gió thổi không
động. Tám gió là ǵ? Tức là lợi suy, hủy dự,
xưng cơ, khổ lạc. Lợi là được tài
lợi, suy là bị suy hao, hủy là bị hủy nhục,
dự là được đề cao, xưng là
được khen ngợi, cơ là bị chê hiềm,
khổ là buồn khổ, lạc là an vui. Chúng tôi sẽ cho
thí dụ hết sức dễ để quí vị thấy
chúng ta bị động v́ lợi và suy. Người ta
thường nghĩ lợi là cái thuận hợp cho ḿnh,
được lợi th́ có ǵ đâu mà phải
động. Nhưng thật ra lợi là một cái
động lớn. Giả sử như ở đây có ai
mua một vé số gởi cúng cho một thầy, và vị
thầy cũng hoan hỉ nhận. Rồi đến ngày
xổ số có người báo tin là vé số của
thầy trúng mười triệu, th́ đêm đó thầy
có ngủ được không? Trúng được
mười triệu, chắc thầy khỏi ngủ. Gió
lợi nó thổi ḿnh bay không ngủ được. Không
phải chỉ một đêm không ngủ thôi, mà khi đi lănh
tiền được mười triệu rồi, có yên
ḷng về chùa ngồi thiền như những ngày
trước hay không? Hay là được tiền rồi,
phải suy tính nên làm cái ǵ? Rồi bao nhiêu thứ nghĩ
tính sanh ra, tính trúng cũng có, tính trật cũng có, cho
đến bao giờ dùng hết số tiền đó
mới hết nghĩ tính, khi ấy mới hết
động! Quí vị thấy chỉ cái lợi thôi mà
đă bị động chừng ấy, huống nữa là
bị suy hao tài vật. Ví dụ ḿnh có nhà cao cửa
rộng hoặc chùa lớn Phật to, bất thần có
việc ǵ xảy đến khiến cho nhà cửa ḿnh tan
nát hoặc chùa chiền ḿnh bị hư sập, lúc ấy
ḿnh mất ngủ bao nhiêu ngày đêm? Trong suốt thời
gian đôi ba năm mà chưa gầy dựng lại
được, lúc nào cũng chặc lưỡi thở
dài. Như vậy quí vị thấy cái động không
phải nhất thời mà kéo dài cho đến bao giờ
b́nh lại mới thôi. Chỉ có hai gió lợi, suy mà đă
khó giữ cho không động, huống nữa là tám gió...
Hai
gió sau cùng là khổ và vui. Thí dụ như ở Thiền
viện đây cái ǵ là khổ nhất cho các huynh đệ?
Không biết các nơi khác th́ sao, chớ ở Thường
Chiếu này ai mà trị nhật phải xuống bếp
nấu ăn là khổ nhất. Tới phiên trị nhật
hoặc làm tri khố là khổ nhất, mặt mày
người nào cũng cứ nhăn nhó hoài. Gắng làm sao
tới phiên tri khố hay trị nhật mà vẫn
tươi cười, đứng trước bếp
lửa hừng hực, mồ hôi ướt đẫm mà
không có ǵ bực bội, đó là đă tiến lắm rồi,
cái khổ nhỏ mà ḿnh thắng được cũng là
hay lắm. Phần nhiều chúng ta hay nói gần lửa th́
dễ sân, nên ai vô bếp cũng dễ sân v́ nóng quá, lại
mệt nữa nên động tới là nổi sân liền.
Quí vị thấy một chút khổ đó đă
động rồi huống nữa là cái khổ đói rét
hay những khổ đau rên siết th́ c̣n động
biết là dường nào! Røồi đến cái vui cũng
vậy, nếu vui quá th́ tâm ḿnh cũng lăng xăng dao
động...
Thế
nên người tu giá trị không phải là có thần thông,
biết quá khứ vị lai, mà giá trị ở chỗ
gặp lợi ḿnh vẫn b́nh thản, gặp suy ḿnh
vẫn an ổn, cho đến gặp khổ hay vui ḿnh
cũng an nhiên, người đó mới là đạo nhân
chân chánh. C̣n nếu nói quá khứ vị lai mà bị chê
liền đỏ mặt tía tai th́ nói quá khứ vị lai
chỉ là tṛ chơi thôi. C̣n nói ngồi thiền tám tiếng
hay mười hai tiếng đồng hồ, hoặc
một ngày một đêm, mà khi động tới th́
nổi sân đó cũng chưa phải là thứ thật.
Người tu thật là ở trong tám gió vẫn thản
nhiên, thổi mấy cũng không động, thế
mới gọi là chân tu. Hôm nào quí vị thử xem c̣n
động không, nếu không động là không c̣n chấp
thân và tâm, không c̣n chấp chúng
ta mới dứt hết các khổ.
Người
tu là phải có thực lực, nghĩa là trước
những cảnh khổ đau chúng ta vẫn xem
thường. Chúng tôi thường kể câu chuyện
của Tổ Sư Tử. Khi vua nước Kế-tân
hỏi: Ngài xem thấy ngũ uẩn đều không,
phải không? Ngài đáp: Phải. Vua nói: Ngài cho tôi cái
đầu được không? Ngài trả lời: Ngũ
uẩn c̣n không, sá ǵ cái đầu. Và Ngài cho vua cắt
đầu. Đó mới gọi là thấy không thật
một cách triệt để. C̣n chúng ta nói thân là giả,
mà khi động tới th́ chịu không nổi. Như vậy
chúng ta chỉ thấy trên lời nói, chớ không sống
được với lẽ thật. Nếu thật tu th́
kết quả là tám gió thổi không động.
Đoạn
trên chúng tôi đă nói về giải thoát và giác ngộ,
giải thoát tức đập tan xiềng xích sanh tử,
giác ngộ tức dùng kiếm trí tuệ chặt đứt
sợi dây vô minh đă cột chúng ta vào ṿng trầm luân. Giác
ngộ và giải thoát rồi chúng ta c̣n phải làm ǵ? Chúng
ta phải thể hiện ḷng từ bi, tức là nguyện đem
ngọn đuốc trí tuệ soi rọi cho mọi
người thoát khỏi chỗ u tối vô minh. Phật
dạy chúng ta từ bi là khi chúng ta đă có giác ngộ và
giải thoát phần nào dù nhiều hay ít. Có nhiều
người nói: Ḿnh chưa giác ngộ như Phật làm sao
có từ bi? Chúng tôi thí dụ: Như chúng ta đang cùng
ở trong một căn nhà tối mù mịt, nếu
người nào có được cây đèn cầy và
thắp lên, tuy ánh sáng nhỏ thôi nhưng đem lại
giữa nhà th́ mọi người cùng được sáng.
Cũng như ban đêm chúng ta đang đi trên con
đường tối, nếu có ai thắp
được một cái đèn dầu nhỏ th́ gọi
những người bạn đồng hành cùng
nương theo ánh sáng đó để đi cho khỏi
rơi hầm rớt hố. Ánh sáng của ngọn đèn
tuy nhỏ nhưng rất cần cho những người
đang đi trong đêm tối. Đó là trường
hợp chúng ta tu được một chút trí tuệ và
một chút giải thoát. Nếu tu khá hay giỏi hơn chúng
ta sẽ được những ngọn đèn lớn sáng
hơn, như đèn bấm hay đèn "măng sông"
hay nếu giỏi hơn nữa như ánh sáng mặt
trăng mặt trời soi khắp cả thế giới.
Như vậy ánh sáng nào dù của đèn dầu hay của mặt
trăng mặt trời cũng có giá trị riêng của nó.
Hiện nay nếu được một chút ánh sáng nào chúng
ta cũng đều chia sớt cho mọi người cùng
hưởng để tránh những tai nạn có thể
xảy đến. Sự chia sớt đó gọi là từ
bi.
Thế
nên người Phật tử tại gia hay xuất gia không
có quyền thọ hưởng riêng một điều ǵ.
Quí vị nhớ khi tụng kinh xong th́ chúng ta cầu
nguyện công đức tu hành hướng về không
phải cho riêng ḿnh mà cho ḿnh và mọi người
đều thành Phật đạo, đó là tâm từ bi.
Phật không cho phép chúng ta làm điều ǵ chỉ nghĩ riêng ḿnh mà phải nghĩ
ḿnh và mọi người cùng chung hưởng.
Điều
cần yếu chúng ta phải nhớ có đèn rồi chúng
ta mới soi đường cho người cùng đi,
nếu chưa có đèn mà hướng dẫn người
khác th́ khi ḿnh sụp hố, những người theo ḿnh
cũng đều rớt xuống hố. Nếu từ bi,
thương xót người mà không chịu tu để
thắp sáng đuốc trí tuệ, chỉ lo cho thiên hạ,
rốt cuộc rồi ḿnh và
người đều rơi cả, đó là tai họa
lớn. Hiểu đạo Phật là chúng ta phải
hiểu cho thấu đáo lẽ này, ḷng từ bi phát ra sau
khi chúng ta có trí tuệ, được giác ngộ, hay có
phần nào tự chủ khi tám gió thổi. Được
như vậy chúng ta mới có thể phát tâm từ làm
lợi ích cho mọi người, bằng ngược
lại chúng ta phải dè dặt cẩn thận chẳng
những không làm lợi cho người lại làm hại là
khác.
Sau
khi biết rơ trọng trách của người tu Phật,
quư vị thấy trọng trách ấy có nặng không? Đó
là chuyện phi thường, chớ không phải tầm
thường. Nhiều khi chúng ta nghĩ ḿnh là một
vị Tăng hay một cô Ni không quan trọng ǵ rồi
cứ lôi thôi để qua ngày hết tháng hay dể
ngươi vui đùa năm này qua năm khác, thật uổng
phí một đời tu. Người xưa mỗi khi
chiều xuống kiểm điểm lại sự tu hành
thấy chưa tiến bộ được bao nhiêu,
đau khổ rơi nước mắt. C̣n chúng ta ngày nay
năm đă hết, chúng ta thử kiểm điểm
lại xem đă tiến được bước nào
chưa? Nếu tu chưa tiến, chúng ta có rơi lệ
đau buồn không? Hay chúng ta cứ cười chúm chím hay
cười hỉ hạ?
Ư
thức được trách nhiệm hết sức quan
trọng của ḿnh, chúng ta quyết tâm giải thoát sanh
tử, quyết tâm thắp sáng ngọn đuốc trí
tuệ và d́u dắt người ra khỏi chỗ mê
lầm tăm tối. Chúng ta không thể lơ là với
việc tu hành, không thể dể duôi để ngày tháng qua
suông mà phải luôn luôn nỗ lực tiến tu.
]
(Tăng Ni)
Hôm
nay là ngày đầu Xuân năm Canh Ngọ (1990), tất
cả Tăng Ni và Phật tử về đây chúc mừng
năm mới và yêu cầu chúng tôi nhắc nhở sự tu
hành để được tinh tấn hơn trên
đường đạo. Nhân ngày đầu năm chúng
tôi sẽ nói về: “Ngày Xuân qua các Thiền sư Việt
Nam.” Với đề tài này quí vị sẽ thấy rơ tinh
thần người xưa dạy bảo chúng ta như
thế nào để chúng ta cố gắng tu cho xứng
đáng là những Thiền sinh Việt Nam. Các Ngài luôn mong
muốn chúng ta mồi ngọn đuốc sáng của các
Ngài để soi đường hướng dẫn
người sau.
Nói đến ngày Xuân, chúng
ta có cảm tưởng như chỉ có Xuân ở thế
gian, nhưng thật ra trong nhà Phật cũng dùng chữ
Xuân để nói lên những ư nghĩa thâm trầm của
Đạo.
Trước tiên chúng tôi
nhắc quí vị, tất cả chúng ta có đủ
phước duyên nên ngày nay chọn được con
đường của ḿnh đang đi, một con đường
thênh thang, tươi mát và an lạc. Nói như vậy có
vẻ như chúng tôi chủ quan, nhưng sự thật
nếu tất cả chúng ta đều một ḷng
hướng thẳng về sự tu hành, đi theo con
đường đức Phật đă dạy, th́
mỗi bước đi là một bước an lành,
mỗi một bước đi là rơi rụng bao nhiêu
đau khổ. Thế nên con đường tươi
đẹp và mát mẻ chúng ta đang đi là tượng
trưng cho mùa Xuân, nhất là những ngày đầu Xuân.
Nói đến Xuân chúng ta
nghĩ đến sự ấm áp tươi vui, nghĩ
đến sự ấm no hạnh phúc. Dù cho nghèo mấy
đi nữa, ngày đầu Xuân ít ra chúng ta cũng sắm
được chút ít bánh mứt, cũng được
nghỉ đôi ba ngày Tết đầu năm. V́ vậy nói
đến ngày Xuân là nói đến sự ấm no, nói đến
sự nhẹ nhàng thanh thản.
Trong đạo, các
Thiền sư cũng dùng chữ Xuân để nhắc
nhở chúng ta. Nhờ lời khuyên dạy của các Ngài, chúng
ta càng tu càng phấn khởi hơn, càng vui thích hơn,
nếu không th́ tu lâu sẽ cảm thấy ngán và buồn.
Tại sao ngán buồn? V́ ăn chay ăn lạt suốt
đời, lại thêm thức khuya dậy sớm, bị
rầy bị quở. Cho nên ở chùa lâu ngày cảm
thấy ngán buồn nếu không t́m được nguồn
vui, nguồn vui đó các Thiền sư dùng chữ Xuân
để diễn tả. Vậy chúng ta phải cố
gắng đi măi trên con đường tươi
đẹp đă chọn dù phải vấp té trầy chân
hay gặp những ḥn sỏi phiến đá trở
ngăn. Nhưng dù những chướng ngại có khó
khăn bao nhiêu cũng không thể ngăn cản
được bước chân của những tâm hồn
khoáng đạt, của những con người nguyện
quyết tiến đến chỗ an lạc miên viễn
mới thôi. Người tu là người thấy
tương lai ḿnh xán lạn tươi vui, chớ không
phải càng tu rồi càng tối tăm đau khổ. Chính
mỗi bước tu là mỗi bước chúng ta huớng
về mục tiêu cao quí nhất, an lạc nhất của
đời ḿnh. V́ vậy khi nói đến ngày Xuân chúng ta
cảm nhận một niềm vui tràn đầy ở ngày
mai.
Các Thiền sư Việt
Nam nh́n ngày Xuân như thế nào?
Đầu tiên là Thiền
sư Chân Không ở giữa đời Lư. Có một
Thiền khách đến hỏi Ngài: “Bạch Ḥa
thượng, khi sắc thân bại hoại th́ thế nào?”
Ngài liền đáp bằng
hai câu thơ:
Xuân
đến, Xuân đi ngỡ Xuân hết,
Hoa nơ,û hoa tàn chỉ là
Xuân.
Ngài quan niệm tu là một
mùa Xuân, không phải chỉ mùa Xuân trong ba tháng mà mùa Xuân muôn
đời muôn kiếp.
“Xuân
đến, Xuân đi ngỡ Xuân hết”
Thấy có Xuân đến
Xuân đi v́ chúng ta nh́n Xuân qua bốn mùa của thời gian.
Nhưng ở đây Thiền sư không nói Xuân của
thời gian mà nói Xuân của tất cả người thoát
khỏi cái sanh diệt của thời gian. Thường
người đời thấy Xuân qua ngỡ là Xuân
hết, song đối với người tu xuất
thế th́ Xuân lúc nào cũng sẵn ở ḷng ḿnh, ngày nào tháng
nào năm nào cũng là Xuân, nh́n đâu cũng tươi
đẹp, nh́n đâu cũng an vui. Nhưng trên thực
tế th́ thế nào? Cũng có những ngày mây sầu
ảm đạm, nhiều người lau nước
mắt!
Tuy vẫn là Xuân nhưng v́
mây mưa bao phủ nên Xuân bị khuất đi. Nếu tâm
hồn chúng ta an lành tự tại th́ ngày nào chẳng
phải là Xuân?
“Hoa
nở, hoa tàn chỉ là Xuân”
Mùa Xuân thấy hoa mai
nở, đa số người cho đó là Xuân, rồi
độ mười ngày sau hoa tàn th́ cảm thấy Xuân
tàn. Nhưng ở đây Thiền sư Chân Không mượn
hoa để trả lời câu hỏi của Thiền
khách: “Khi sắc thân bại hoại th́ thế nào?” Hoa
nở rồi tàn, sắc thân chúng ta cũng như hoa, sanh ra
rồi già chết, không có lâu bền. Nhưng trong cái tan
hoạïi đó, vẫn có cái măi măi an lành tỉnh giác.
Thế nên Thiền sư mượn Xuân để
tượng trưng cho cái ấy. Nếu biết khéo
trở về cái chân thật của ḿnh, th́ thân này c̣n hay
mất chỉ là tạm bợ, c̣n cái chân thật lúc nào
cũng thanh tịnh, sáng suốt, trong kinh gọi đó là
Pháp thân, Pháp thân thanh tịnh, miên viễn, không tan hoại.
Tất cả sự
vật đều bị thời gian chi phối, có đó
rồi hoại đó. Thân chúng ta cũng vậy, theo
thời gian mà bại hoại. Nếu chúng ta không biết trở
về với thể chân thật của chính ḿnh th́ khi
sắc thân bại hoại chúng ta đau khổ vô ngần.
Thế nên sống được với thể chân
thật không sanh không diệt th́ ngày nào cũng là Xuân, lúc nào
cũng là Xuân và miên viễn là Xuân.
Vậy cái nh́n của
Thiền sư Chân Không là thấy tất cả đều
là Xuân, cho nên Ngài sống an lạc trong mùa Xuân miên viễn
đó. Nếu có ai đến hỏi đạo Ngài
đều diễn tả cái đẹp, cái an lành của
chính ḷng ḿnh cho mọi người thấy và cảm thông.
Kế đến là
Thiền sư đời Trần, ngài Trúc Lâm
Đầu-đà, hiệu là Điều Ngự Giác Hoàng
(tức là vua Trần Nhân Tông khi c̣n tại vị). Sau khi
đi tu, đến năm sáu mươi mốt tuổi,
Ngài được tin người chị đang đau
nặng, Bà muốn gặp Ngài để từ giă lần
cuối. Từ núi Yên Tử Ngài liền trở về
triều. Thăm chị xong, trên đường về núi,
khi đến chùa Làng Hương Cổ Châu, Ngài cảm
thấy sức khỏe đă quá yếu, và biết không c̣n
sống bao lâu nữa, Ngài cảm hứng viết một
bài kệ trên vách chùa:
Thế
số nhất tức mặc
Thời t́nh lưỡng
hải ngân,
Ma cung hồn quản
thậm
Phật quốc bất
thắng Xuân.
Dịch
:
Số
đời một hơi thở
Biển bạc ḷng
người tham,
Cung ma cai quản ngặt
Cơi Phật Xuân nào hơn.
Qua bài kệ này ngài Trúc Lâm
Đầu-đà muốn nói lên điều ǵ?
“Số đời một
hơi thở, biển bạc ḷng người tham”, khi
bản thân sắp tàn Ngài thấy cuộc đời
ngắn ngủi như trong hơi thở, thở ra không hít
vào là đă qua đời khác. Thế mà ḷng người th́
mênh mông, mênh mông trong tham vọng. Được cái này
muốn cái kia, được điều kia muốn điều
khác. Như vừa cất cái nhà xong kế muốn có
chiếc xe, vừa có chiếc xe lại muốn có chiếc
tàu... muốn măi không thôi cho đến ngày tắt thở
cũng chưa dừng. Thế rồi người ta
đuổi theo nhau mà tạo nghiệp, giành nhau về danh
về lợi rồi tự ḿnh chuốc khổ.
Hai câu đầu của bài
kệ đánh thức mạnh mẽ để chúng ta
biết rằng cuộc đời quá ngắn ngủi,
không có ǵ là quan trọng, là đáng kể. Nhưng ḷng tham
chúng ta quá lớn, nên không theo kịp tuổi thọ của
ḿnh. Chúng ta muốn mười điều, mà tuổi
thọ cho phép chúng ta làm mới có một hai th́ cái chết
đă đến rồi! Bất cứ người nào
trước khi nhắm mắt đều tỏ ra chưa
hài ḷng, việc làm đời ḿnh chưa xong. Rất ít
người nói ḿnh đă làm xong việc. Nếu là cha th́ lo
cho con lớn khôn ăn học, rồi có đôi bạn. Lo
cho con xong, lại thấy trách nhiệm phải lo cho cháu.
Đến khi cháu lớn khôn th́ ḿnh đă tám mươi,
chín mươi tuổi rồi! Đến cháu cố nó
bơ vơ nghèo thiếu ḿnh lại tiếp tục lo
nữa, lo măi cho đến ngày tắt thở cũng
chưa xong! Người ở thế gian đều ôm ḷng
tham lớn lao đó nên luôn luôn sợ chết, chết mà
chưa rồi những việc ḿnh muốn làm. Sợ
chết mà có tránh khỏi được đâu! Thế nên
chúng ta phải ư thức rơ tuổi thọ chúng ta ngắn
ngủi, làm việc ǵ cũng phải vừa với
tuổi thọ của ḿnh để cho tṛn việc.
Đến hai câu cuối
bài kệ:
Cung
ma cai quản ngặt
Cơi Phật Xuân nào hơn.
Ngài Trúc Lâm so sánh cho chúng ta
thấy hai con đường. Nếu chúng ta đuổi
theo danh lợi tài sắc, rồi tạo bao nhiêu nghiệp
xấu ác th́ chúng ta sẽ đi tới cung ma. Cung ma cai
quản ngặt, không được bước ra khỏi
cổng, c̣n bị hành hạ tra khảo, đó là cảnh
khổ đau đen tối. C̣n nếu trong cuộc
sống ngắn ngủi này, chúng ta biết tu, biết
hướng về đạo, đem hết tâm ḿnh
tiến đến chỗ giác ngộ thanh tịnh, đó là
chúng ta trở về cơi Phật, tức là trở về mùa
Xuân đẹp đẽ không ǵ b́ kịp.
Trong cuộc sống tu hành
không có ǵ kích động mạnh chúng ta bằng cơn vô
thường xảy đến. Chúng ta đang sống b́nh
an vui tươi, bất chợt có người huynh
đệ nào tắt thở, lúc ấy chúng ta tỉnh ngay,
muốn tu gấp, tu bằng hai ba lần những ngày
thường. Nhưng tỉnh được bao lâu?
Nhiều lắm đến bốn mươi chín ngày,
tụng kinh xong chúng ta mê trở lại như cũ. V́
vậy chúng ta cứ lảng vảng trên đường
mê, không tỉnh giác, nên chúng ta không làm được
những điều lành điều tốt để
tạo sự an lạc cho đời này và đời sau.
V́ thế ngài Trúc Lâm
Đầu-đà khuyên chúng ta phải nhớ hai con
đường, một bên là cung ma đen tối khổ
đau bị cai quản ngặt, một bên là cơi Phật an
vui tự tại lúc nào cũng là Xuân. Giữa hai con
đường đó chúng ta phải chọn
đường nào để đi? Chắc rằng
tất cả quí vị hiện có mặt ở đây
đă chọn đường rồi. Chúng ta đều
đang đi trên con đường thênh thang đẹp
đẽ, tươi mát và an lạc, con đường Xuân,
tức con đường về cơi Phật. Thử
hỏi có ai muốn trở chân đi con đường
khác hay không? Chúng ta không c̣n ngu dại ǵ mà trở chân xây
mặt đi qua con đường khác tối tăm,
mờ mịt, khổ đau. Chúng ta đă có duyên lành từ
đời trước, cho nên bây giờ mới chọn con
đường đẹp đẽ này. Mong rằng
tất cả đừng có niệm thối Bồ-đề tâm, muốn
đứng lại hay xây mặt trở qua con
đường khác. Đó là lời nhắc nhở
qua bài kệ của ngài Trúc Lâm Đầu-đà. Sau ngài Trúc
Lâm là ngài Pháp Loa, sau ngài Pháp Loa là ngài Huyền Quang. Ngài
Huyền Quang có bài thơ nói về Xuân gọi là “Xuân
Nhật Tức Sự”.
Nhị
bát giai nhân thích tú tŕ,
Tử kinh hoa hạ
chuyển hoàng ly.
Khả liên vô hạn
thương xuân ư,
Tận tại đ́nh châm
bất ngữ th́.
Dịch :
Lỏng
tay thêu gấm, gái yêu kiều,
Hoa rợp, hoàng oanh lảnh
lót kêu.
Bao nỗi thương Xuân,
thương biết mấy,
Là khi không nói, chợt
dừng thêu.
(Huệ Chi)
Bài thơ này rất
đẹp về Xuân, nhưng lại gây cho một số
học giả phê b́nh: Ngài Huyền Quang là một Thiền
sư, mà tâm Ngài c̣n dồi dào t́nh cảm! V́ sao? V́ Ngài
diễn tả một cô gái mười sáu tuổi đang
thêu gấm. Ở ngoài kia lại có hoa nở, chim hoàng oanh
hót. Thật là thương khi thấy cô gái dừng tay thêu
và im lặng không nói một lời! Như vậy có
phải là Ngài thương cô gái hay không? Đây là một
vấn đề chúng tôi nêu ra để quí vị thấy
cái hay của người xưa mà chúng ta không hiểu
được. Khi các Thiền sư nói, chúng ta đừng
kẹt ở ngữ ngôn hiện tại mà phải thấy
cái ǵ ở ngoài ngữ ngôn đó, thường gọi là “Ư
tại ngôn ngoại” tức là thấy cái ǵ ngoài kia chớ
đừng thấy ở đây.
Chúng tôi xin kể lại
một câu chuyện quí vị đă từng nghe nhiều
lần, nhưng mỗi lần kể mỗi lần có ư
vị riêng của nó. Đó là câu chuyện “Bà già đốt
am”, bà già này biết đạo. Có một Thiền khách
đến, xin bà giúp đỡ cất cho một cái am và
ủng hộ tu hành cho mau đạt kết quả. Bà
rất sẵn sàng cất cho thầy một cái am và mỗi
ngày cơm cháo đầy đủ, tứ sự cúng
dường không thiếu món chi. Thầy tu như vậy
được ba năm. Bà già tin rằng sự tu hành
của thầy được kết quả rất
tốt. Để chiêm nghiệm điều đó, bà bèn sai
một đứa cháu gái khoảng mười tám tuổi
đem cháo cho thầy dùng, xong rồi bất chợt ôm ngang
hông thầy, liền hỏi: “Ngay bây giờ th́ thế nào?”
Thầy đáp:
Khô
mộc ỷ hàn nham,
Tam Xuân vô noăn khí.
Tức là:
Cây
khô tựa núi lạnh,
Ba mùa Xuân không chút hơi
ấm.
Câu trả lời như
vậy thật quá hay, xứng đáng cho chúng ta kính lạy
phải không? Ba mùa Xuân rồi không một tí hơi ấm,
để nói rằng thầy đă khô lạnh không c̣n có
niệm ǵ với trần tục nữa. Nghe cô cháu gái về thuật lại câu
chuyện, Bà nói: “ba năm nay nuôi một ông thầy phàm phu”,
liền đuổi thầy đi và đốt am. Nếu
câu chuyện ngang đây kết thúc sẽ làm chúng ta bàng
hoàng, nhưng c̣n một đoạn kết ở sau.
Sau khi bị đuổi,
ông thầy ra đi, nhưng vài năm sau, thầy trở
lại t́m bà già. Và cũng như lần trước,
thầy nhờ bà giúp cho việc tu hành. Bà cũng hoan hỉ
cất lại am và cúng dường cơm cháo đầy
đủ cho thầy. Sau một thời gian, bà bảo cô
cháu gái thử thầy như lần trước. Đem
cháo lên xong, cô liền ôm ngang hông thầy và hỏi: “Ngay bây
giờ th́ thế nào?” Thầy trả lời: “Tôi biết,
cô biết, đừng cho bà già ấy biết!” Như
vậy là sao? Ngay đây ông thầy c̣n cao thượng
như khi xưa không? Mới nghe qua tưởng rằng
thầy có t́nh ư ǵ nên mới bảo: Tôi và cô biết thôi,
đừng cho bà già biết bà ngăn trở. Nhưng không
ngờ khi cô gái về thuật lại cho bà nghe, bà nói: “À
như vậy mới xứng đáng là người mà ta
cúng dường.”
Nghe qua câu chuyện chúng ta
thấy bà già hiểu đạo đến mức nào!
Điều mà thế gian tưởng là có t́nh ư xấu xa,
trong đạo lại là cao siêu.V́ sao? Nếu nh́n với
mắt trần tục th́ sẽ phê b́nh thầy: “Ông thầy
chắc hết muốn tu rồi nên mới thốt ra câu
nói rất phàm tục. C̣n ngày xưa ông tu rất hay, ông khô
lạnh hết rồi. Bây giờ ông giấu bà già không cho
biết, chỉ để hai người biết thôi.”
Kỳ thật câu chuyện
này đưa ra cho chúng ta một kinh nghiệm. Bà già đó trong
nhà Thiền gọi là bậc thượng thủ, chớ
không phải thường. V́ thế khi nghe thầy nói: tâm
ông khô lạnh, không c̣n một chút hơi ấm, tức là
diễn tả tâm ông đă ch́m lặng không c̣n một tí t́nh ǵ đối với mọi
người, bà già biết ông đang ch́m trong biển
độc, nên đuổi đi và đốt am để
cảnh giác ông. Tuy ông tu rất hay nhưng ông ch́m trong
chỗ khô lạnh, nhà Thiền gọi là ch́m trong biển vô
sanh. Khi bị đuổi đi ông sực thức tỉnh
biết chỗ lỗi của ḿnh, biết chỗ kẹt
của ḿnh. Ngay đó ông vươn lên và nhảy khỏi.
Rồi ông trở về để thử thách lại bà
già. Ông yêu cầu được ở và được
nuôi như trước. Đến khi người con gái ôm
ngang lưng ông lần nữa, ông nói: “Tôi biết, cô
biết, đừng cho bà ấy biết.” Tức là
hiện giác hằng giác mà không có niệm quá khứ vị
lai. Đó mới là con người chân thật, con
người thật sự tiến đến giác ngộ.
Thế nên bà già mới khen đó là người xứng
đáng để bà cúng dường. “Không cho bà biết” v́ bà
là người ngoại cuộc không có hiện hữu
hiện thời. Nếu đợi mách cho bà biết là ở một thời gian khác,
thành vị lai mất rồi. C̣n có niệm quá khứ
vị lai là làm mất cái thường giác của ḿnh.
Hằng giác hiện giác đó là chỗ mà ông hằng
sống. Nếu không biết chỗ sống ấy, với
ư phàm tục chúng ta sẽ phê b́nh ông thầy.
Sau đây là câu chuyện của ngài Viên Ngộ ngộ đạo nơi thầy là Ngũ t