LỜI  ĐẦU  SÁCH

            Chỗ cứu kính vốn không lời, huống là có thời gian không gian. Thời gian đă không th́ bốn mùa y cứ đâu mà lập. Bốn mùa đă không th́ làm ǵ có mùa Xuân, mùa Hạ. Thế mà nói ngày Xuân, tháng Xuân, mùa Xuân là nhằm trong cửa phương tiện tương đối luận bàn. Chẳng qua v́ lợi ích trên phương diện tiến tu, chúng tôi tùy tục nói chuyện đêm Trừ Tịch (giao thừa) và ngày Tết Nguyên Đán. Sưu tập lại những buổi nói chuyện ngày cuối năm và đầu Xuân, kể từ khi mở khóa II học Thiền tại Tu viện Chân Không vào năm 1974 về sau. Chúng tôi để tên tập sách là XUÂN TRONG CỬA THIỀN, gọi là chút quà mọn cống hiến độc giả trong những ngày Xuân.

            Tuy nhiên là những buổi nói chuyện cùng một đề tài Đêm Trừ Tịch và ngày Nguyên Đán th́ không sao tránh khỏi sự trùng lập câu chuyện ư kiến của chúng tôi. Câu chuyện có thể trùng; song ư kiến chắc mỗi năm cũng có thay đổi ít nhiều. V́ vậy chúng tôi gom hết trong tập sách này. Khi đọc nếu thấy trùng lập, mong quí vị thông cảm cho.                            

THÍCH THANH TỪ

?


 

XUÂN TRONG CỬA THIỀN

            Bốn mùa thay đổi muôn vật chuyển xoay, theo quan niệm người đời th́ mỗi lần Đông tàn Xuân đến trong ḷng rộn ră lo mừng Xuân đón Xuân. Rồi bao nhiêu tục lệ từ xưa truyền lại, nào là đưa ông táo, thiệp chúc Xuân, dựng nêu, rước ông bà, chúc Tết, ĺ x́ v.v... Bước vào cửa Thiền, xem thử các tăng sĩ có quan niệm ǵ về ngày Xuân? Đây chúng ta hăy nghe Sơ tổ phái Trúc Lâm Yên Tử, Điều Ngự Giác Hoàng, nói về Xuân:

                        Niên thiếu hà tằng liễu sắc không

                        Nhất Xuân tâm sự bách hoa trung

                        Như kim khám phá Đông hoàng diện

                        Thiền bản bồ đoàn khán trụy hồng

            Dịch:

                        Thuở bé chưa từng rơ sắc không

                        Xuân về hoa nở rộn trong ḷng

                        Chúa Xuân nay bị ta khám phá

                        Chiếu trải giường Thiền ngắm cánh hồng.

            Lúc c̣n thiếu niên ở trong ngôi vị sang cả của một ông Hoàng, chưa thấm nhuần mùi đạo lư, mỗi lần Xuân về trăm hoa đua nở trong vườn ngự, làm sao Ngài không ḷa mắt trước những màu sắc lung linh, không bâng khuâng qua những làn hương ngào ngạt. Sắc hương hương sắc quyện cả tâm hồn của ông Hoàng trẻ tuổi. Thế rồi bao nhiêu tâm sự đều gởi gắm vào trăm hoa.

            Nhưng khi t́m thấy được đạo, cổi bỏ mọi danh vọng tài sắc ở thế gian, cạo tóc mặc áo nhuộm, Ngài bước chân vào cửa Thiền. Gia công tu tập Ngài đă khám phá được chân lư của vũ trụ, thấy được mặt thật xưa nay của chính ḿnh. Bây giờ Ngài không c̣n bị sắc hương lôi cuốn, tâm hồn lóng trong tự tại, ngồi lặng lẽ trên giường Thiền nh́n chúng nở tàn một cách an nhiên. Từ đây hoa nở hoa tàn không c̣n là một h́nh ảnh khiến tâm hồn người tăng sĩ phải vui buồn theo nó. Ḍng thời gian cuồn cuộn trôi, hiện tượng trong không gian luôn luôn chuyển ḿnh sanh diệt, song dưới con mắt một Thiền sư đạt đạo vẫn thấy có một cái ǵ hiện hữu thoát ngoài luật sanh diệt của thời gian không?

            Chúng ta hăy nghe lời nhắn nhủ của Thiền sư Giác Hải, một Thiền sư ở đời Lư, cũng nói về Xuân:

                        Xuân lai hoa điệp thiện tri th́

                        Hoa điệp ưng tu cộng ứng kỳ

                        Hoa điệp bản lai giai thị huyễn

                        Mạc tu hoa điệp hướng tâm tŕ

            Dịch:

                        Xuân về hoa bướm gặp nhau đây

                        Hoa bướm phải cần hợp lúc này

                        Hoa bướm xưa nay đều là huyễn

                        Giữ tâm bền chặt bướm hoa thây

            Con người và muôn vật đều bị cuốn phăng theo ḍng thời gian bất tận. Sự chết sống sanh diệt của người và vật đều ứng hợp theo thời tiết. Hoa nở, bướm lượn t́m hương đều lệ thuộc hẳn vào mùa Xuân. Nếu chúng ta cứ bám víu vào bản thân vào ngoại cảnh th́ ôi thôi! Ḍng luân hồi sanh tử lôi cuốn chúng ta không biết đến đâu cho cùng.

            Chúng ta phải gan dạ nh́n thẳng vào lẽ thật của bản thân của ngoại cảnh, mới thấy chúng là tướng trạng tạm bợ vô thường, là giả h́nh bởi nhân duyên chung hợp. Quả thật là huyễn hóa không có một tí ǵ chắc thật. Chỉ chân tâm của chính ḿnh, mới là cái chân thật bất sanh bất diệt, mà lâu nay chúng ta đă lững quên. Giờ đây, chúng ta phải quả quyết sống thật với nó, không một phút giây nào lơi lỏng. Ấy là chúng ta đặt chân trên đường giải thoát, cổi bỏ sợi dây sanh tử luân hồi. Đây là lời nhắn nhủ của Thiền sư Giác Hải bảo chúng ta phải “hướng tâm tŕ”.

            Lại một h́nh ảnh xinh đẹp lạ thường của một mùa Xuân bất tận, do Thiền sư Chân Không đáp lời hỏi của một thiền khách:

                        Xuân đến Xuân đi ngỡ Xuân hết

                        Hoa nở hoa tàn chỉ là Xuân.

            Nh́n thời gian sanh diệt, con người măi lo âu và tiếc nuối. Thấy Xuân đến lại nghĩ đến Xuân đi, rồi e sợ sẽ bơ vơ không c̣n t́m thấy mùa Xuân đâu nữa. Tâm trạng khát khao lo sợ ấy dồn dập nung nấu con người. Khiến họ khô héo chết ṃn và hơ hải phập phồng cho một ngày mai. Ngày mai họ không c̣n biết nó ra sao mời mịt tối tăm. Nhưng với Thiền sư, hôm nay và ngày mai đều là vô nghĩa, chúng chỉ là những chiếc áo cũ mới thay đổi trên một thân người. Nhưng đứa bé khi mặc một chiếc áo cũ th́ xịu mặt xuống, được quàng chiếc áo mới th́ hí hửng lên. Đấy là chúng quên ḿnh mà chỉ nhớ chiếc áo. Nếu khi chúng chỉ một bề vui buồn theo chiếc áo. Với người lớn ắt không như thế, v́ tự biết đời ḿnh đă đổi thay biết bao nhiêu lần chiếc áo. Khi thấy được lẽ thật, người ta sẽ không c̣n bận rộn trong h́nh tướng giả dối ấy nữa. V́ thế Thiền sư Chân Không đă kết luận cho chúng ta thấy bằng câu: “Hoa nở hoa tàn chỉ là Xuân.” Ấy là cái đạo miên viễn vậy.

            Bước sang những Thiền sư Trung Hoa, xem quan niệm các Ngài có ǵ khác lạ. Đây chúng ta hăy nghe Thiền sư Cao Phong Diệu ngâm nga bốn câu thơ, trước đại chúng trong ngày Tết Nguyên Đán:

                        Bách niên nan ngộ tuế triều Xuân

                        Xá nữ sơ trang việt dạng tân

                        Duy hữu Đông thôn vương đại tả

                        Y tiền măn diện thị ai trần

            Dịch:

                        Trăm năm khó gặp một ngày Xuân

                        Trang điểm cô em vui vẻ mừng

                        Chỉ một làng Đông riêng chị ả

                        Như xưa trên mặt phủ bụi hồng

            Mùa Xuân là mùa khí hậu ôn ḥa ấm áp. Mỗi lần Xuân về trên ngàn cây muôn cỏ đều khoác vào ḿnh một chiếc áo mới. Sự điểm trang của cảnh vật nhịp nhàng với sự điểm trang của con người. Những đứa bé gái nào là áo tím quần hồng, lược cài trâm giắt, lũ lượt kéo đi thăm viếng chúc tụng nhau. Thật là một cảnh nhộn nhịp xinh tươi của một ngày Xuân.

            Nhưng trong khi con người và vạn vật đang phô diễn sắc hương, đang tưng bừng chúc tụng, th́ bên làng Đông một chị nàng đứng tuổi, vẫn trang nghiêm như tượng nữ thần, vẫn im ĺm như h́nh thạch nữ để mặc cho sương pha bụi phủ, không hề vướng chút đổi thay. Gương mặt của cô ta vẫn b́nh thản an nhiên như tự thuở nào.

            Đây là một xảo thuật của Thiền sư khéo tŕnh bày cho chúng ta thấy, bên h́nh ảnh biến ảo đổi thay, lại có một cái thâm trầm bất sanh bất diệt.

            Đến Thiền sư Tiếu Ẩn Hân, chúng ta sẽ thấy một h́nh ảnh sáng rỡ ẩn trong hiện tượng mịt mù, diệu lư bất sanh bất diệt nằm gọn trong cảnh vật sôi động sanh diệt. Hăy nghe Ngài ngâm bài kệ này trong dịp Xuân về:

                        Kim cang chánh thể lộ đường đường

                        Vạn tượng sum la bát-nhă quang

                        Dẫn khứ lai cơ siêu đương niệm

                        Vô âm dương điạ lư toàn chương

                        Mộc kê báo hiểu đề thâm hạng

                        Thạch nữ nghinh Xuân xuất động pḥng

                        Cộng hỷ long hồ đa đoan khí

                        Thiền phong thời tống ngự lê hương

            Dịch:

                        Kim cang chánh thể hiện rỡ ràng

                        Cảnh vật muôn vàn bát-nhă quang

                        Bặt lối lại qua đương niệm thoát

                        Âm dương đất trống lư toàn bày

                        Gáy sáng gà cây trong nẻo vắng

                        Mừng Xuân gái đá ra động pḥng

                        Đáy hồ rồng vẫy vui vô hạn

                        Đưa tiễn gió Xuân một ḷ trầm

            Trong muôn ngàn cảnh vật đă chứa sẵn thể Kim Cang Bát-nhă rực rỡ, chỉ cần dứt sạch mối manh lại qua sanh diệt th́ chánh niệm hiện tiền vượt ngoài mọi đối đăi. Chính chỗ âm dương chưa phân kia, là chân lư hiện bày.

            Đẹp đẽ thay trên cảnh tượng ồn náo biến động đă ngầm chứa một cái bất động, như gà gỗ gáy sáng, gái đá mừng Xuân. Rồng nhả hơi trên mặt hồ trong lặng để cùng tiếp đón một mùa Xuân. Ḷ trầm phun khói quyện theo mây gió làm cuộc tiễn đưa người khách Xuân vừa đến cửa.

            Thật là ảo ảnh lồng trong chân thường, chân thường hiện bày trong ảo ảnh. Khiến chúng ta không c̣n lầm lẫn t́m kiếm chân lư ngoài sự vật vô thường, không lầm bỏ vọng tưởng mà lấy chân như. Đó là quan niệm chân chánh của Thiền sư nh́n vào cuộc đời vậy.

]


 

ĐÊM TRỪ TỊCH

NĂM GIÁP DẦN 1974

            Tổng kết lại, chúng ta sống ở thời chiến tranh, mà hôm nay đến ngày Tất niên lại được sum họp ngồi tại Thiền đường ấm cúng này, nói chuyện đạo. Thật là hi hữu.

            Có lẽ đây cũng là một sự gia hộ của Tam Bảo, khiến chúng ta được sống trong cảnh an lành không lo sợ. Hoàn cảnh xă hội không làm chúng ta phải buồn rầu đau khổ. Nhất là Tăng Ni đă có thiện duyên chung ở tại Thiền viện để tu học th́ thực là quí báu. C̣n quí Phật tử nam nữ cũng vậy, tôi thấy rằng lư đáng ngày ba mươi quí vị phải ở tại nhà để rước ông bà, đoàn tụ với gia đ́nh. Quí vị mến đạo cho đến nỗi phải hy sinh cái vui riêng của gia đ́nh mà đến đoàn tụ ở trong đại gia đ́nh Phật pháp như thế này, thật là hi hữu. Tinh thần đó càng đáng được khích lệ. Cho nên chúng tôi thấy rằng con đường hướng dẫn chỉ dạy đó là do Tam Bảo gia hộ khiến cho Phật pháp được miên viễn. Nếu chúng tôi làm được việc ǵ gọi là hợp thời và giúp cho quí vị đường lối tu hành th́ những cái đó đều là sự gia hộ của Tam Bảo hết.

            Tôi thường nói với Tăng Ni câu này: Chúng ta chỉ không lo cố gắng, chớ chúng ta thật t́nh cố gắng tu hành, nhất là đem hết tâm tư phục vụ Phật pháp th́ Tam Bảo không bao giờ bỏ quên chúng ta. Điều đó tôi tin tưởng và quả quyết như vậy. Mà chính v́ điều đó nên tôi nói rằng, hiện giờ chúng ta đang ngồi nói chuyện đây Tam Bảo cũng có mặt với chúng ta, Long thiên hộ pháp không bao giờ bỏ chúng ta. Điều đó có lẽ quí vị cũng phải tin phần nào qua kinh nghiệm của tôi. Trong Thanh qui chúng tôi có để câu: “Tăng Ni trong Thiền viện nếu hết gạo th́ phải thay phiên nhau xuống núi để xin về, đi trong ṿng ba ngày, nếu hết nữa th́ đến người khác.” V́ sao tôi để câu đó? - V́ tôi chủ trương rằng từ ngày tôi lập Thiền viện là tôi dứt khoát không cho Tăng Ni đi đưa đám ma và không đi dự những buổi cúng kính của Phật tử tổ chức ở nhà.

            Có một số Tăng Ni nói với chúng tôi rằng: “Trong thời này mà không đi cúng th́ Tăng Ni sẽ nhịn đói.” Đă nghe nói như vậy mà tôi th́ quả quyết sẽ cách mạng điều đó. V́ đă giải quyết như vậy, cho nên tôi mới ghi câu đó trong Thanh qui Thiền viện. Không cho đi cúng lẽ dĩ nhiên th́ người ta không cúng, nguời ta không cúng th́ nhịn đói chớ ǵ? Nếu đến giờ phút chót mà hết gạo th́ phải thay phiên nhau đi xin. Nhưng suốt thời gian qua, chúng tôi chưa thấy lúc nào ở trong kho hết gạo. Nếu không phải Tam Bảo gia hộ th́ làm sao được như vậy. Chẳng phải do Tam Bảo gia hộ, do nhiệt t́nh của Phật tử th́ làm sao mà có.

            V́ lẽ đó, tôi tin rằng sức gia hộ của Tam Bảo rất mạnh, và ḷng thành tín của Phật tử rất tốt. Cho nên chỉ lo cho Tăng Ni chúng ta thiếu đức, thiếu hạnh không cố gắng tu hành chớ đừng lo Phật tử bỏ sót chúng ta. Đó là điều tôi thường nói, thường nhắc trong giới Tăng Ni.

            Bây giờ để thấy rơ rằng hôm nay là ngày cuối năm, chúng ta ai nấy nên tŕnh bày điều thấy được, những biến động tâm tư của chính ḿnh. Những biến động đó so lại thời quá khứ th́ có thể có tiến triển, nhưng đem b́ với các bậc thiện trí thức của quá khứ, thí dụ như Sư tổ hay các vị Thiền sư thuở trước th́ ḿnh vẫn phải hổ thẹn v́ ḿnh chưa được bao nhiêu.

            Căn cứ trên thời gian chúng ta phân biệt mùa Đông, mùa Xuân, nên bây giờ chúng ta mới có lễ Tất niên, uống trà trừ tịch. Theo thời gian phân định là thế tục đế, chớ không phải là chân đế. Hôm nay tôi đem việc thế tục đế để nói thế tục đế, nhưng cũng là đạo lư để rồi cùng khuyên nhắc cho tất cả quí vị thấy được ư nghĩa ngày cuối năm của chúng ta nó quan trọng như thế nào. Tôi xin nhắc lại câu chuyện hôm rồi tôi có thuật lại ở Linh Quang cho quí vị nghe. Một buổi sáng sau giờ ngồi thiền, tôi xả thiền xoa bóp xong, ngồi lại một tí cho thật hết hơi nóng. Khi ấy chú thị giả lên dọn dẹp, tôi vén mùng ra hỏi chú:

            - Ngày hôm qua đâu rồi?

            Chú nh́n tôi không trả lời. Tôi nói tiếp:

            - Tôi không muốn sống ngày nay, tôi muốn sống trở lại ngày hôm qua. Chú đem ngày hôm qua cho tôi.

            Chú thị giả cũng làm thinh không trả lời được câu hỏi đó.

            Một lát sau, tôi muốn dễ dàng cho chú một chút, tôi nói rằng:

            - Hôm nay chú dọn chén này đũa này, coi như chú dọn chén mới đũa mới. Nếu bây giờ tôi đ̣i chú đưa chén đũa cũ ngày hôm qua, th́ chú phải làm sao?

            Chú nói:

            - Th́ con sẽ đi đổi lại cái ngày hôm qua cho Thầy.

            Tôi nói tiếp:

            - Như vậy tại sao tôi không muốn sống ngày nay, tôi đ̣i ngày hôm qua mà chú không đổi lại cho tôi?

            Chú thị giả nói:

            - Ngày hôm qua là giả là mộng không thật.

            Tôi tiếp: Nếu ngày hôm qua là mộng, ngày nay tôi bắt đầu sống đây, đây cũng là mộng nữa hay sao? Ngày hôm qua là mộng, ngày nay là mộng, ngày mai cũng là mộng nữa sao? Như vậy suốt đời chỉ là mộng phải vậy không?

            Chúng ta cứ lần bằng xâu chuỗi mộng. Một ngày qua kẽ tay rồi mất, một ngày khác qua rồi mất, mất, mất... cho tới cùng hết một xâu chuỗi. Như vậy cả cuộc đời của con người toàn là xâu chuỗi mộng không có ǵ khác hơn.

            Hôm nay là ngày cuối năm, ngày mai là ngày đầu năm mới. Nếu chúng ta cứ cho là ngày đầu năm đó sẽ diễn tả bằng một năm mà chúng ta không bằng ḷng, không vui, không ưng sống với năm đó, sống trở lùi với năm cũ th́ có được không?

             Chắc rằng không ai trở lùi lại được. Cái quá khứ đă qua, qua mất rồi, th́ cái hiện tại sắp đến đây, đến rồi cũng mất. Như vậy ba thời đều mất. Đă mất th́ nó không thật. Nếu ta kiểm điểm lại kỹ từ thủy chí  chung, th́ đó là một ḍng thời gian hư ảo không thật. Bởi không thật nên chúng ta thấy nó là mộng huyễn, qua rồi không t́m lại được. Thế mà chúng ta cứ lăn xả người vào cái hư giả đó tưởng nó là thật. Cả một cuộc đời tạo cái này cái kia không dừng. Rồi tới phút chót, ngày mà hơi thở dứt đi chúng ta sẽ ra sao? Kiểm điểm lại ḿnh, nhớ cuộc đời năm mươi tuổi, sáu mươi tuổi, bảy mươi tuổi đă qua. Đó là cái ǵ? Thực là một chuỗi mộng. Thực vậy, ḍng thời gian là một xâu chuỗi mộng, không có cái ǵ hết. Mà kiếp sống chúng ta lại là một kiếp sống qui định bởi thời gian theo số năm sáu mươi, bảy mươi v.v... Như vậy rơ ràng thời gian không thật, nó là hư giả. Thời gian không thật th́ con người chúng ta có thật hay không? Cũng không thật luôn. Nhớ năm ngoái tóc tôi bạc ít, năm nay tóc tôi đă bạc nhiều, răng tôi năm ngoái lung lay ít, năm nay lung lay thêm. Cứ như vậy, khi thời gian trôi th́ bản thân chúng ta cũng bị tiêu ṃn theo đó. Nếu căn cứ vào hiện tại, từ con người cho đến sự vật chung quanh ḿnh  đều theo ḍng thời gian mà biến đổi, sanh diệt từ phút, từ giây, từ sát-na, không dừng lại ở đâu hết. Chúng ta thấy rơ ràng là ḍng thời gian hư ảo. Nó đă chi phối hết cả cuộc sống hiện tại của chúng ta, từ thân ḿnh cho đến ngoại cảnh. Không có cái ǵ không bị chi phối. Khi ḍng thời gian đă hư ảo th́ kiếp sống của con người cũng hư ảo, sự vật chung quanh cũng là hư ảo. Như vậy có thể kết thúc là: Chúng ta lần bằng những xâu chuỗi mộng, những hạt chuỗi mộng. Từng tháng từng năm, chúng ta mặc chiếc áo mộng đan dệt bằng những sợi tơ mộng. Chung quanh chúng ta toàn là mộng, mà không hay. Chúng ta lỡ sống như vậy rồi mà lại đua nhau giành giật danh lợi tài sắc. Rồi trong cái mộng đó, tạo không biết bao nhiêu đau khổ huyết lệ của chúng sanh. Đó là v́ chúng ta không biết cuộc đời là ảo mộng. Nếu hôm nay chúng ta thấy rằng chúng ta sống trong một chuỗi mộng, mặc với những chiếc áo mộng th́ c̣n ǵ mà đắm mê tham luyến cảnh mộng ấy nữa. Thân ḿnh và ngoại cảnh là không gian, ba thời quá khứ hiện tại vị lai là thời gian. Tất cả là một ḍng mộng có ǵ đâu thật là ḿnh. Lâu rồi chúng ta cứ mê lầm tưởng là thật, rồi tính thời gian để định số tuổi, hănh diện sống dài ngắn v.v... Lượm lặt những sự vật vô thường ở chung quanh, cho đó là sự việc của ḿnh. Kiểm điểm lại chỉ là lần chuỗi mộng mặc áo mộng mà thôi. Đó là chỗ thấy của chúng tôi.

            Nhưng mà nếu tất cả thời gian là mộng, không gian là mộng, th́ rồi chúng ta ch́m luôn trong mộng đó hay sao? Hay c̣n một cái ǵ nữa? Nếu chúng ta cứ thấy thời gian trôi qua là mộng, cuộc sống ḿnh sự vật chung quanh ḿnh cũng là mộng, th́ lúc đó chúng ta sẽ đi măi trong cái sanh diệt hư ảo mộng huyễn rồi tuyệt vọng sao? Nhưng nhờ phúc duyên lành, chúng ta được đức Phật chỉ cho trong cái mộng ấy có cái không phải là mộng. Mà cái đó là cái hiện giờ chúng ta đang trở về đang theo dơi nó và t́m thấy nó, để sống với nó. Như vậy trong cái mộng chúng ta c̣n thấy cái không phải mộng. Thời gian không gian đều là mộng. Cái không phải là mộng đó đối với toàn thể mộng này nó có giá trị biết là bao! V́ vậy khi chúng ta thấy đang bị cái hư ảo huyễn mộng chi phối th́ đồng thời cũng nhận thấy chúng ta c̣n có cái không phải hư ảo, không phải huyễn mộng luôn có mặt với chúng ta. Điều đó rất đáng mừng! Mừng cho ḿnh, nhưng khi mừng cho ḿnh chừng nào lại thương cho những người đang lao ḿnh trong mộng ấy rồi tạo nghiệp ác, gây khổ đau. Thật đó  là những người đáng cho chúng ta thương xót.

            V́ vậy cho nên khi chúng ta nhớ đến ḿnh biết kiếp người là ảo mộng, t́m thấy một cái ǵ nó thoát ra ngoài ṿng ảo mộng đó, chúng ta nương tựa nó, trở về nó để được an lành. Chúng ta càng thương xót thấm thía đối với những người đang lao ḿnh trong mộng mà tự họ không thức tỉnh. Chính cái nh́n đó mà một Thiền sư Việt Nam đă diễn đạt tâm tư bằng những câu thơ, để cho bao nhiêu nhà văn nhà thơ Việt Nam nhắc lại măi không quên. Thiền sư Măn Giác đă nói:

                        Xuân khứ bách hoa lạc

                        Xuân đáo bách hoa khai

                        Sự trục nhăn tiền quá

                        Lăo tùng đầu thượng lai

                        Mạc vị Xuân tàn hoa lạc tận

                        Đ́nh tiền tạc dạ nhất chi mai

            Dịch:

                        Xuân đi trăm hoa rụng

                        Xuân đến trăm hoa cười

                        Trước mặt việc đi măi

                        Trên đầu già đến rồi

                        Chớ bảo Xuân tàn hoa rụng hết

                        Đêm qua, sân trước một cành mai

            Hai câu đầu thạât t́nh diễn tả Xuân đến Xuân đi, là ḍng thời gian. Hai câu kế nói bách hoa lạc, bách hoa khai là những sự vật hiện có trong không gian này. Như vậy thời gian và không gian là một ḍng sinh diệt ảo mộng. Khi thời gian không gian trôi theo ḍng ảo mộng đó th́ con người ḿnh như thế nào? Tức là liền thấy chính ḿnh nh́n thời gian trôi và tưởng như ḿnh không mắc kẹt ở trong ấy. Đâu ngờ ngó lên đầu mái tóc đă bạc phơ. Như vậy thời gian trôi đi, không gian biến đổi th́, chính ḿnh theo đó mà đổi thật là bi đát, nếu cuộc đời chỉ có ngang chừng ấy thôi. Nhưng mà không bi đát lắm với đôi mắt của Thiền sư v́ “Mạc vị Xuân tàn hoa lạc tận. Đ́nh tiền tạc dạ nhất chi mai.” Đừng bảo rằng mùa Xuân hết th́ hoa rụng hết. Đêm qua là đêm mùa Đông vẫn c̣n có một cành mai nở trắng ở trước sân chùa ḿnh. Rơ ràng trong cái tàn hoại ảo mộng c̣n có một cái ǵ thầm kín đẹp đẽ trường tồn măi. Đó là một cành mai. Một cành mai của Thiền sư Măn Giác tức là cái ǵ Phật đă nói trong kinh Lăng Nghiêm, đó là “Chân Tâm” hay là Như Lai Tạng tánh của chúng ta. Hoặc ở chỗ khác trong kinh Pháp Hoa, đức Phật dụ là “Ḥn ngọc quí” đang buộc trong chéo áo.

            Như vậy đối với người tu, nhất là khi chúng ta hiểu được chút ít về Thiền. Nếu chúng ta sống với tâm niệm Thiền th́ mới thấy rằng trong cái sanh diệt ảo mộng, c̣n có cái không sanh diệt lẫn trong ấy. Thế nên ḷng ḿnh được an ổn, tự tại và vui vẻ. Chỉ thấy được một tí, một khía cạnh nhỏ xíu nào của cái đó, chúng ta cũng cảm thấy có hứng khởi, một niềm vui vẻ để xóa được nỗi đau buồn, những cái tối tăm thời quá khứ. Thấy được một tí thôi mà chúng ta cũng có một niềm an lạc rồi, huống nữa là toàn thể bản tâm ấy. Nếu chúng ta thực hiện nó toàn vẹn th́ đẹp biết chừng nào. V́ vậy chúng tôi tin rằng với sự cố gắng mănh liệt của tất cả chúng ta ai nấy rồi đều có một ngày sẽ vỗ tay cười, cười quên thôi như Ḥa thượng Thủy Lạo. Sau khi bị một đạp của Mă Tổ vào hông, Ngài cười cho đến măn đời không thôi. Do đó cái vui trong đạo, trong cuộc đời đen tối ảo mộng đó mà ḿnh t́m được cái ǵ nó thoát ra ngoài, chẳng khác nào ở trong đêm tối mà ḿnh thấy hay nắm một ngọn đèn sáng, thật c̣n ǵ vui sướng cho bằng. Cho nên đó là nguồn vui vô tận đối với người hiểu đạo, học đạo. Cái vui đó không phải để rồi hưởng riêng mà phải ban rải cho mọi người cùng vui với chúng ta. Đó là tâm niệm triền miên của người tu hành. Nhưng muốn hưởng được mùi thơm hoa mai, cành mai của ngài Măn Giác nói, có dễ dàng cho chúng ta hay không, hay phải chịu cay đắng nhọc nhằn lắm mới hưởng được. Tôi xin nhắc lại bài kệ của Tổ Hoàng Bá, Ngài đă bảo: Chúng ta muốn ngửi mùi hoa mai đó phải làm sao? Ngài nói:

                        Trần lao quưnh thoát sự phi thường

                        Hệ bả thằng đầu tổ nhất trường

                        Nhược bất nhất phiên hàn triệt cốt

                        Tranh đắc mai hoa phốc tỷ hương

            Dịch:

                        Thoát trần việc ấy rất phi thường

                        Nắm chặt đầu dây giữ lập trường

                        Nếu chẳng một phen xương thấm lạnh

                        Hoa mai đâu dễ ngửi mùi hương

            Thật t́nh, khi chúng ta muốn ra khỏi ṿng ảo mộng ấy, dĩ nhiên chúng ta là kẻ phi thường. Tại sao? V́ mọi người đang lao ḿnh trong mộng mà không biết là mộng, rồi ch́m đắm, rồi say sưa, rồi tạo nghiệp khổ cho nhau. Đó là người sống trong vô minh trong mờ tối. Bây giờ chúng ta đă thấy được đó là ṿng vô minh, đen tối muốn thoát ra khỏi nó, th́ đối với những người kia chúng ta chẳng “phi thường” là ǵ? Bởi muốn làm kẻ phi thường, chúng ta phải làm sao? Phải nắm vững đầu mối dây, đừng bao giờ cho nó lay chuyển lập trường của ḿnh từ thủy chí chung. Nói từ thủy chí chung th́ xa quá, tôi muốn nói lập trường của Tăng Ni hay Phật tử, kể từ khi chúng ta có được cái duyên biết đạo vị của Phật, kể từ đó cho đến bao giờ chúng ta đạt đạo mới thôi. Lập trường đó không bao giờ lay, nghĩa là nắm vững. Tôi tin rằng với lập trường đó ai nấy cũng đều ngửi được mùi thơm của hoa mai. Thế nên Ngài nói nắm vững lập trường để sau này dù gặp những cái khó khăn, khổ năo, nhọc nhằn những chướng ǵ chúng ta cũng đều qua hết. Có qua như vậy ta mới đi đến chỗ đẹp đẽ an lành đúng theo sở nguyện. Tức là ngửi được mùi thơm của hoa mai. Để diễn tả cái đen tối, cái khổ đau, cái chịu đựng cay đắng đó, Ngài mới nói rằng: Nếu không phải bị sương tuyết lạnh thấu xương th́ làm sao có ngày ngửi được mùi thơm của hoa mai. H́nh ảnh hoa mai và tuyết sương mượn ở bên ngoài, nói lên sự cay đắng khó khăn của người tu. Do sự cay đắng khó khăn đó mà chúng ta đi đến chỗ tột cùng, nếu giữ lập trường không lay chuyển. Sau khi qua cái cay đắng tột cùng rồi, chúng ta sẽ được cái an lành vô thượng, đó là ngửi mùi thơm của hoa mai. Thành ra hoa mai của Tổ Hoàng Bá nói cũng là hoa mai của Thiền sư Măn Giác. Hai vị đó đều mượn h́nh ảnh mùa đông đen tối để chỉ cho chúng ta rằng c̣n có một cành hoa mai thơm ngát mũi cuối mùa Đông. Với một cố gắng phi thường th́ chắc chắn rồi ai cũng hưởng được hương vị nó. Phải gan dạ chịu qua một mùa Đông lạnh buốt mới có thể ngửi được mùi thơm của hoa mai. V́ vậy tôi có thể kết thúc câu chuyện rằng, nếu tất cả mọi người chúng ta ai nấy đều có thiện chí quyết tiến lên không mắc kẹt trong cuộc đời ảo mộng nữa, th́ chúng ta phải gan dạ chịu đựng, bởi v́ chúng ta đi ngược ḍng sanh tử. Ḍng sanh tử giống như một ḍng nước lũ quá mạnh. Người nào không gan dạ không vững bền th́ sẽ bị nó cuốn phăng đi. V́ vậy mỗi người phải gan dạ, vững vàng để vượt lên, đừng để cuốn đi. Như thế chúng ta mới có thể ra khỏi ḍng nước lũ đó. Đó là chỗ thiết yếu mà mọi người chúng ta, xuất gia cũng như tại gia, muốn đi ngược ḍng đời ảo mộng của thời gian, không gian đều phải cố gắng.

            Tóm lại, tôi đă kết thúc bằng một đáp số rơ ràng cho quí vị thấy cuộc đời tu hành của chúng ta là phải như vậy.

]


 

ĐỨC DI-LẶC QUA H̀NH ẢNH VÀ Ư NGHĨA

NGÀY VÍA CỦA NGÀI

            Trong chùa tất cả những h́nh thức thờ phụng cũng như mọi nghi lễ đều có ư nghĩa rơ ràng, nhưng v́ lâu rồi chúng ta nặng về phần tín ngưỡng, nên không xét kỹ ư nghĩa. V́ vậy đi chùa rất lâu thờ Phật quá nhiều; mà tự ḿnh không biết ông Phật đó là thế nào? Tại sao ngày đó ḿnh phải lễ Ngài?

            Hôm nay nhân ngày đầu năm, đúng là ngày vía của đức Phật Di-lặc, và lúc này chúng ta lễ Phật gọi là lễ vía đức Di-lặc. Chúng ta phải biết ư nghĩa ngày vía của Ngài th́ việc lễ của chúng ta mới có giá trị thật. V́ sợ quí Phật tử không hiểu lẽ đó, cũng như chư tăng trong chùa, nhiều khi không có thời giờ nghiên cứu rơ ràng, cho nên hôm nay sẵn đây tôi nói ư nghĩa về đức Phật Di-lặc để quí vị t́m hiểu, coi như lời chúc Tết đầu năm của tôi.

            Nói về đức Phật Di-lặc chắc rằng đại đa số quí vị đều nhớ đến h́nh tượng của một ông Phật ngồi phạch ngực, mập, bụng to và miệng cười toe toét. Có khi quí vị thấy bên cạnh Ngài có 6 đứa con nít, đứa th́ móc lỗ tai, đứa th́ móc miệng, đứa th́ thọc lét v.v... Những h́nh tượng đó như là một tṛ đùa. Ḿnh không biết tại sao lại có chuyện đùa ở trong chùa như vậy. Đó là ư nghĩa chúng ta cần phải biết. Nói đến đức Di-lặc chúng tôi phải khảo lịch sử từ Ấn Độ sang Trung Hoa để quí vị khỏi lầm lẫn. Nhiều tà thuyết bây giờ dựng đức Phật Di-lặc làm chỗ tiêu chuẩn để họ lôi cuốn Phật tử. Đức Phật Di-lặc là tên dịch của thuở xưa. Sau này có dịch ra nhiều tên khác nhưng v́ chúng ta đă quen kêu là đức Phật Di-lặc.

            Chữ Di-lặc là phiên âm tiếng Phạn, Tàu dịch là Từ Thị (Thị là họ, Từ là từ bi). Có thuyết nói rằng khi bà mẹ của Ngài mang thai Ngài, khởi ḷng thương không nỡ giết hại chúng sanh và không ăn thịt cá được cho nên nói là “Từ”. V́ Ngài sanh nơi bà mẹ đó cho nên gọi là Từ Thị. Nhưng có thuyết lại nói khác hơn. V́ thuở xưa Ngài tu về từ bi tam-muội cho nên sau này có tên là Từ Thị. Nhưng tên Ngài là A-dật-đa cũng là tiếng Phạn dịch âm. Dịch theo chữ Tàu là Vô Nan Thắng (Vô là không, Nan là khó) tức là không có thể nào hơn được. Đối với Ngài về trí tuệ và hạnh tu ít người hơn được, nên có tên Vô Nan Thắng. Đó là nói về đức Phật theo thói quen của chúng ta. Nếu nói theo kinh th́ gọi là Bồ-tát Di-lặc. Hồi đức Phật c̣n tại thế, Bồ-tát Di-lặc là một người có lịch sử sanh ở miền Nam Thiên Trúc, ở trong ḍng Bà-la-môn. Sau gặp Phật, Ngài xuất gia, tu theo hạnh Bồ-tát. Đó là h́nh ảnh thật có lịch sử rơ ràng ở Nam Thiên Trúc.

            Khảo nhiều kinh, trước hết tôi dẫn kinh A-hàm. Trường A-hàm có nói thế này: Đức Phật dạy rằng sau này ở cơi Ta-bà, tâm con người càng ngày càng ác, mười nghiệp thiện họ bỏ qua mà luôn tạo nhiều nghiệp ác. Cho đến bao giờ họ quí mười nghiệp ác cũng như thuở xưa quí trọng mười nghiệp thiện và tuổi thọ chúng sanh giảm xuống đến cuối cùng c̣n mười tuổi th́ đức Phật Di-lặc ra đời. Khi nghiệp ác nhiều th́ tuổi thọ theo đó mà giảm. Bao giờ tuổi thọ con người chỉ c̣n mười tuổi, cũng như bây giờ tuổi thọ chúng ta coi là một trăm tuổi vậy, th́ lúc đó thế giới sẽ có những tai nạn đao binh. Đao binh ở đây không phải là người ta giết chết nhau, mà chính những lá cây cỏ cũng có thể biến thành gươm bén. Chúng ta bị chặt bị cắt mà chết. Qua tai nạn đao binh đó tới tai nạn tật dịch tức là đau ốm bệnh dịch. V́ vậy đại đa số dân chúng trên thế giới này chết ṃn chỉ c̣n sót lại một ít người tu hành ẩn trên núi trên non. Họ c̣n sống thừa lại. Khi họ sống qua cái thời gian chết đó rồi, họ t́m thấy bà con ḍng họ của họ chết hết, chỉ c̣n sót lại lưa thưa vài người, lúc đó, họ mới biết rằng từ hồi đó tới giờ ḍng họ ḿnh làm điều ác, bây giờ mới bị quả báo chết như vậy. Cho nên họ nỗ lực tu mười điều thiện lại. Khi bắt đầu tu mười điều lành th́ tuổi thọ họ tăng, cứ một trăm năm th́ tăng lên một tuổi. Đến bao giờ tuổi thọ lên đến sáu mươi bốn ngàn tuổi, lúc đó dân chúng đông đảo thuần hậu, làm lành th́ Phật ra đời ở dưới cội cây Long Hoa gọi là hội Long Hoa. Như vậy quí vị tưởng tượng bây giờ chúng ta đang ở cái mức tám mươi tuổi thọ mà cứ một trăm năm giảm xuống một tuổi, giảm tới c̣n mười tuổi, rồi tăng lên cho đến sáu mươi bốn ngàn tuổi, th́ thời gian từ đây cho tới đó c̣n bao xa? Theo sách Phật th́ khi Phật Thích-ca nhập diệt th́ đức Di-lặc cũng nhập Niết-bàn. Ngài sanh lên cung trời Đâu-suất ở trong nội điện sống bốn ngàn tuổi. Sau đó Ngài mới sanh trong thế giới Ta-bà, thành đạo dưới cội cây Long Hoa giáo hóa chúng sanh kế tiếp đức Phật Thích-ca. Vậy tưởng chừng bao lâu Phật Di-lặc ra đời? Vậy mà có một số người nghe trong kinh nói đức Phật Di-lặc ra đời nghe nói hội Long Hoa, rồi họ bịa ra ít bữa đức Phật Di-lặc ra đời, vài bữa hội Long Hoa đến v.v... Đó là những tà thuyết để lừa bịp những Phật tử học mà không hiểu Phật pháp, lại có người tự xưng là Phật Di-lặc hoặc tự cổ động rằng ḿnh sẽ chờ đón đức Phật Di-lặc. Quí vị xét, nếu chúng ta tin đức Phật Di-lặc chỉ c̣n một phen bổ xứ lên cung trời Đâu-suất, sau này hạ sanh ở thế giới Ta-bà thành Phật, nếu tin lời Phật Thích-ca nói trong kinh th́ chúng ta phải tin luôn thời gian đă định ngày Phật ra đời. Chúng ta tin đức Phật Di-lặc, có hội Long Hoa mà quên thời gian đó. Rồi cứ hờ hững, cứ nghe ai nói đức Phật Di-lặc ra đời th́ vội vàng chạy tới đảnh lễ mong cầu v.v... Đó là cái sai lầm quá lớn để những tà thuyết lợi dụng danh từ Phật giáo tuyên truyền mê tín dị đoan. Người Phật tử chân chánh phải hiểu rơ điều đó. Đó là tôi khảo về lịch sử từ những bộ kinh gọi là Di-lặc thượng sanh, Di-lặc hạ sanh và Di-lặc bản nguyện. Những kinh đó đều do đức Phật Thích-ca nói ra. Coi kỹ những bộ kinh đó rồi, chúng ta biết rơ lịch sử đức Di-lặc, vậy đừng nghe lời của một số người bàn tán, dựng lên những điều sai lầm. Đó là chúng tôi nói về đức Phật Di-lặc ở Ấn Độ.

            Bây giờ nói tới đức Phật Di-lặc ở Trung Hoa. Đức Di-lặc sang Trung Hoa hồi lúc nào? Thật ra nếu căn cứ theo h́nh tượng chúng ta thờ th́ không có h́nh tượng của đức Bồ-tát ở Ấn Độ, mà là h́nh tượng đức Di-lặc ở Trung Hoa. Đó là một ông già bụng phệ lùn mập, như vậy là đức Di-lặc ở Trung Hoa chớ không phải ở Ấn Độ. Di-lặc ở Trung Hoa ra đời lúc nào? Điều đó chúng ta phải khảo lại. Có nhiều thuyết nói đức Di-lặc hiện giờ đang ở trên cung trời Đâu-suất. Ngài chưa tới thời kỳ giáo hóa chúng sanh ở thế giới này. Nhưng với tinh thần người hiểu Phật giáo Đại thừa th́ Bồ-tát có báo thân, ứng thân và nhất là hóa thân. Tùy căn cơ chúng sanh mà các ngài ứng hóa vô lượng thân không thể lường được. Cho nên sử Trung Hoa có kể mà tôi nhớ đại khái có hai hóa thân của Bồ-tát Di-lặc. Một hóa thân gọi là Ngài Tăng Can ở gần chùa Quốc Thanh đời nhà Tùy, tức là ở khoảng thế kỷ thứ sáu. Nói rằng Ngài có một cái am gần chùa Quốc Thanh và đi thuyết giáo nơi này nơi nọ. Có lắm lúc Ngài cỡi cọp về, chúng trong chùa thấy hoảng kinh. Khi đến khi đi không ai lường được. Có lần Ngài ôm về một đứa bé gởi trong chùa đặt tên là Thập Đắc. Thỉnh thoảng có một ông ăn mặc rách rưới ở trong núi lạnh đi ra, tuyết phủ đầy ḿnh gọi là Hàn Sơn. Hàn Sơn và Thập Đắc được coi như là hai người ăn mày trong chùa. Các ngài là hai vị hóa ra ăn mặc rách rưới ngủ ngoài hành lang. Tới bữa ăn th́ đợi chúng ăn xong hết, c̣n những thừa cặn ǵ đó ngài trút lại dùng. Có khi các ngài c̣n lượm cơm dưới sàn nước, rửa lại mà ăn. Chúng trong chùa coi các ngài như hai kẻ ăn mày không kém, nhưng mà có cái lạ là nhiều khi hai ngài hứng làm thơ. Những bài thơ của các ngài không ai hiểu ǵ hết. Một hôm bất chợt, sau một bữa trưa chúng tăng nghỉ hết, hai ngài trèo lên cổ của ngài Văn-thù và ngài Phổ Hiền ngồi. Một ông tăng ở dưới tăng xá th́nh ĺnh đi lên, thấy như vậy ngạc nhiên quá mới chạy đi báo cho ông trụ tŕ hay. Ông trụ tŕ lôi hai ông xuống rầy quở đủ thứ hết. Hai vị đó là bạn thân của ngài Tăng Can. Ngài Tăng Can tịch rồi. Một hôm ông chủ huyện có bệnh nan y, ông nằm chiêm bao thấy ngài Tăng Can tự xưng là đức Di-Lặc bảo ông đến đảnh lễ Bồ-tát Văn-thù, Phổ Hiền và chỉ cho ông một phương thuốc uống hết bệnh. Muốn đảnh lễ hai vị đó th́ vào chùa Quốc Thanh hỏi tên Hàn Sơn,  Thập Đắc v́ đó là Bồ-tát Văn-thù và Phổ Hiền. Ông huyện đó theo lời chỉ t́m thuốc uống lành bệnh, mới t́m đến chùa Quốc Thanh để gặp hai vị Hàn Sơn, Thập Đắc. Khi đó ông trụ tŕ thấy ông huyện tới hỏi hai chú ăn mày trong chùa th́ ông ngại quá không muốn kêu. Nhưng ông huyện cho biết ông mong mỏi gặp hai vị đó. Buộc ḷng ông trụ tŕ mời hai vị ra. Hai vị nắm tay đi ra. Vừa thấy hai vị ông huyện qú mọp xuống lạy. Hai vị mới cười và nói: “Cái lăo Tăng Can bày đặt làm cho ta phải bại lộ rồi.” Hai Ngài, cơng nhau chạy tuốt vô rừng mất. Do đó mới biết hai vị là hiện thân của Văn-thù, Phổ Hiền, c̣n ngài Tăng Can là hiện thân của đức Di-lặc. Nhưng biết th́ chuyện đă rồi, không ai ngờ để đảnh lễ các ngài được hết.

            Một vị khác vào thế kỷ thứ mười đời Ngũ đại ở Trung Hoa gọi là Bố Đại Ḥa thượng. Vị đó gần gũi chúng ta nhất, tức là ông già quảy cái đăy to tướng, mặt tṛn, miệng cười, bụng phệ, áo phạch ngực. Ngài Bố Đại Ḥa thượng lúc nào cũng quảy một túi lớn, đi trong nhân gian gặp chỗ nào có cái ǵ, Ngài xin bỏ vô đăy. Đến chỗ có con nít đông, Ngài ngồi xuống phân chia cho chúng nó, vui chơi với chúng nó. Cho nên người ta thấy miệng Ngài lúc nào cũng cười vui vẻ thích thú. Đó là h́nh ảnh đức Di-lặc, một vị Ḥa thượng bụng lớn, mập, miệng cười toe toét.

            Tại sao gọi ngài Bố Đại Ḥa thượng là Di-lặc?

            Nói rằng Ngài đi xin như vậy có nhiều chuyện xảy ra cho Ngài lạ lắm. Trong sử có nói đủ, ở đây tôi chỉ lược vài điểm thiết yếu cho quí vị biết mà thôi. Ngài đi xin và sống một thời gian như vậy ở tỉnh Minh Châu. Tại đó Ngài lang thang nơi này nơi nọ. Thời đó là thời Thiền Tông c̣n thạnh hành ở Trung Hoa. Một hôm Ḥa thượng Thảo Đường gặp Ngài hỏi: “Đại ư Phật pháp thế nào?” Đang quảy bị trên vai Ngài liền để xuống. Vị Ḥa thượng hỏi thêm: “Chỉ có thế thôi hay có con đường tiến lên?” Ngài mang cái bị để lên vai và đi. Đó là câu trả lời của Ngài.

            Trong lịch sử Thiền tông, cũng câu hỏi đó, Tổ Lâm Tế Nghĩa Huyền đem ra hỏi Tổ Hoàng Bá liền bị ăn gậy. Ở đây ngài Bố Đại Ḥa thượng đối với câu hỏi đó, Ngài chỉ buông cái bị xuống đất. Hỏi có con đường tiến lên nữa không, Ngài mang bị lên vai đi tuốt. Những h́nh ảnh đó là thế nào? Như vậy mà người ta vẫn chưa biết thế nào, tung tích ra sao? Nhưng một hôm Ngài sắp thị tịch, mới trở về chùa. Ngồi bên bàn thạch Ngài làm một bài kệ rồi tịch. Bài kệ đó như thế này:

                        Di-lặc chân Di-lặc

                        Phân thân thiên bách ức

                        Thời thời thị thời nhân

                        Thời nhân tự bất thức

            Ngài nói rằng: Di-lặc thật Di-lặc. Phân thân trong muôn ức. Thường thường chỉ dạy người đời. Người đời tự không biết. Nhờ bài kệ đó mà người ta mới biết Bố Đại Ḥa thượng là hóa thân của đức Di-lặc. V́ vậy muốn vẽ h́nh đức Di-lặc người ta liền vẽ h́nh Bố Đại Ḥa thượng. Đó là đức Di-lặc ở Trung Hoa. Bây giờ chúng ta thờ phượng là thờ h́nh ảnh đức Phật đó. Chớ đức Bồ-tát Di-lặc ở Ấn Độ th́ ḿnh không biết. C̣n đức Di-lặc ở cung trời Đâu-suất lại càng không biết hơn nữa. Chúng ta chỉ biết Di-lặc hóa thân ở Trung Hoa với một h́nh tượng là Bố Đại Ḥa thượng. Đó là phần khảo về lịch sử.

            Đây mới nói về ư nghĩa đức Phật Di-lặc, ngày vía mùng một Tết. Ngày vía này là ngày vía ǵ của đức Di-lặc. Ở Ấn Độ th́ không biết ngày nào, ở Trung Hoa hóa thân hai, ba đời, cũng không biết ngày nào. Nói ở cung trời Đâu-suất lại càng không biết hơn nữa.

                        Như vậy ngày vía này là ngày vía ǵ?

            Chúng ta đừng nghĩ rằng phải đợi có ngày sanh ngày tịch mới gọi là ngày vía. Đây là ư nghĩa thâm sâu trong nhà Thiền. Các Tổ đă khéo léo chọn ngày mùng một Tết làm ngày vía đức Phật Di-lặc. Chúng ta lạy Ngài với câu: Long Hoa Giáo Chủ đương lai hạ sanh Di-lặc Tôn Phật. Chư Tổ thấy thế gian xem ngày mùng một Tết là ngày định đoạt của suốt một năm. Ngày này mọi người dè dặt từng lời nói, dè dặt từng hành động, dè dặt từng tên người đến thăm ḿnh, dè dặt đủ thứ chuyện. Như vậy ngày mùng một Tết là ngày đầy đủ ư nghĩa của tương lai ḿnh. Trong nhà chùa ngày mùng một Tết có ư nghĩa ǵ? Các Tổ lấy ngày mùng một Tết làm ngày vía đức Phật Di-lặc cũng là ngày tương lai rực rỡ, ngày tương lai sẽ thành Phật. Sáng mồng một chúng ta lạy Phật, lạy vía đức Di-lặc, là đặt hết cả niềm hy vọng vào tương lai, hy vọng chúng ta sẽ thành Phật. Không hy vọng giàu có sang trọng ǵ mà chỉ hy vọng sẽ thành Phật. Đó là ư nghĩa sâu đậm nhất của ngày mùng một Tết để chúng ta lễ đức Phật Di-lặc.

            Ư nghĩa thứ hai là h́nh ảnh vui cười của đức Di-lặc. Đó là h́nh ảnh hạnh phúc. V́ vậy có chỗ thay v́ để danh từ Di-lặc lại để một con người hạnh phúc.

            Tại sao là con người hạnh phúc? Tới đây tôi bước sang giai đoạn sâu của Thiền tông.

            Hỏi: Thế nào là đại ư Phật pháp?

            - Ngài quăng cái bị xuống mà không trả lời ǵ hết.

            Hỏi: Có con đường tiến lên không?

            - Ngài quảy bị lên vai mà đi.

            Đại ư Phật pháp không có ǵ lạ. Nói thẳng e quí vị phiền, mà không nói e cho rằng giấu giếm.

            Đại ư Phật pháp chỉ có một chữ xả là được. Chấp tức là chấp ḿnh chấp người nhân, ngă, Phật pháp, quyền thế, danh vọng v.v... Như vậy cái mà buông tất cả đó là đại ư Phật pháp. Nói như vậy đó e quí vị khó hiểu.

            Tôi nói câu chuyện hơi b́nh dân một chút mà không kém quan trọng. Tổ Hoàng Bá thấy Tổ Lâm Tế Nghĩa Huyền, một vị Thiền sư cao nhất trong nhà Thiền, giữa quăng đời Đường. Ngài dạy rằng, chỉ cần có một hạnh bố thí là đầy đủ tất cả. Bố thí là cho món này món kia, tức xả hay buông bỏ. Chỉ có một hạnh xả là đầy đủ tất cả. Nói về hạnh tu Sư thúc, Sư bá ḿnh, Ngài phê b́nh rằng: Trong hàng đệ tử của Mă Tổ, trên tám mươi vị Thiện tri thức, nhưng mà khi nói đến người tiêu chảy, hay nói quê mùa hơn một chút là nếu nói đến con người ỉa chảy, th́ chỉ có Ḥa thượng Qui Tông là con người ỉa chảy đầy đất. Nói đến ỉa chảy quí vị đừng nghĩ theo lối quê mùa của ḿnh, đó là xả tất cả. Chỉ có Ḥa thượng Qui Tông là con người xả được tất cả. Con người xả là con người đáng quí hơn hết.

            Như vậy quí vị thấy rơ ràng xả là một pháp khiến cho người đạt đến viên măn trong đạo, nếu nói theo Thiền tông. V́ vậy sau khi Ngài buông cái túi xuống rồi, hỏi c̣n có ǵ nữa không th́, Ngài quảy túi lên vai. Tới đó đừng tưởng rằng hết rồi, ḿnh tưởng không c̣n ǵ nữa. Chính buông hết rồi, ḿnh mới được một quảy lên vai tự tại. Cho nên nhà chùa có câu “Bỏ tất cả là được tất cả”. Nhưng nói bỏ tất cả để được tất cả th́ ḿnh c̣n tham quá. Bây giờ chỉ cần bỏ tất cả vậy là đủ rồi. Chính cái hạnh xả đó là chỗ rất sâu và đưa chúng ta tới chỗ cao siêu của người giải thoát. V́ vậy trong nhà Thiền tông nói ta không có một pháp dạy người mà chỉ tùy phương tiện nhổ đinh tháo chốt thôi. Nhổ đinh tháo chốt là xả, là phá chấp. Xả được là xong việc.

            Đến đây tôi đi sang giáo lư để quí vị dễ thấy dễ tu hơn. Nói đến xả là nói đến hạnh phúc cho nên quí vị nghe danh từ thường dùng nhất là Hỷ Xả. Hai cái đó cái nào là nhân cái nào là quả. Có thể nói hỷ là nhân, xả là quả, cũng có thể nói ngược lại xả là nhân hỷ là quả. Tại sao vậy? Như hằng ngày có vị nào làm phật ḷng ḿnh một chút khiến ḿnh bực bội. Khi bực bội th́ không vui. Giờ đây người đó xin lỗi ḿnh, ḿnh liền vui vẻ mới tha được. C̣n giận th́ không tha được. Trường hợp hỷ là nhân, xả là quả. Vui vẻ mà tha thứ cho họ, như vậy mới là ổn. Giận không thể tha thứ được. Trường hợp đó hỷ là nhân. Bởi v́ ḿnh vui nên ḿnh mới xả, mới được cái quả xả. Nhưng ở đây nói con người hạnh phúc đó phần lớn xả là nhân hỷ là quả. Bởi v́ chúng ta có xả được chúng ta mới vui. Nếu chúng ta không xả được th́ chúng ta không bao giờ vui được. Tôi nói một việc hết sức là tầm thường, như trong gia đ́nh quí đạo hữu, người chồng làm phật ư người vợ, trong lúc phật ư thấy nhau có vui không? Không nói chuyện nhau, không nh́n mặt nhau. Bao giờ xả được th́ lúc đó mới vui vẻ nói chuyện được. Như vậy trường hợp đó do xả mà được vui. Nếu không xả th́ không vui. Đó là thí dụ nhỏ, tôi thí dụ rộng hơn. Trường hợp chúng ta đối với người ngoài đời hay bè bạn, nếu họ có hành động hiếp ḿnh hoặc có lời nói cao hơn ḿnh. Lúc đó ḿnh làm sao? Ḿnh về ḿnh có an ổn được không? Không vui đó là tại sao? Tại nhớ ông đó nói gác ḿnh, hoặc ăn hiếp ḿnh, ông ỷ mạnh hiếp yếu. Khi nghĩ như vậy th́ về nhà ngủ không được, lăn lộn hoài nằm không yên. Muốn được ngủ yên phải làm sao? Nếu ḿnh c̣n nghĩ rằng người ta ăn hiếp ḿnh, người ta gác ḿnh. Lúc đó ḿnh có cảm thấy vui vẻ hạnh phúc hay không? Chắc không bao giờ có hạnh phúc được hết. Lúc đó ḿnh sống ở trong phiền năo ở trong tam độc chứ không có hạnh phúc. Bây giờ người nào mà bỏ được cái đó thật là hạnh phúc. V́ vậy hồi đức Phật c̣n tại thế, một hôm Ngài đi khất thực ở vùng Bà-la-môn, vị lănh tụ Bà-la-môn nổi tức đi theo Ngài. Ngài đi trước ông đi theo sau mắng. Ông mắng bao nhiêu mắng Ngài cứ chậm răi đi. Đi tới ngă tư đường Ngài trải tọa cụ ngồi. Ông chạy tới trước mặt hỏi: “Ngài thua tôi chưa?” Ngài liền đáp bằng một bài kệ:

                        Người hơn th́ thêm oán

                        Kẻ thua ngủ không yên

                        Hơn thua hai đều xả

                        Ấy được an ổn ngủ

            Hơn người th́ người tức nên oán. Mà người ta oán ḿnh có vui hay không? Thua người về ngủ không được nằm lăn qua trở lại hoài. Như vậy cả hai đều là cội gốc của đau khổ, của phiền năo. Thành ra cái hơn cái thua hai cái bỏ phăng đi th́ người đó được an ổn ngủ. Tối đến th́ nằm xuôi cẳng ngủ kḥ, không lo không tính, không phiền muộn ǵ hết.

            Đó là người hạnh phúc. Hạnh phúc từ đâu mà có? Từ cái xả mà có, chứ chúng ta cứ ôm ấp phiền năo trong ḷng hoài th́ làm sao mà hạnh phúc được. Quí vị nhớ, nếu trong gia đ́nh chúng ta không xả được cứ giận vợ giận con hoài th́ cũng không vui. Ra ngoài xă hội cứ nhớ người này ăn hiếp ḿnh, người kia nói gác ḿnh, người nọ khinh ḿnh, ǵ ǵ đó, người ôm trong ḷng cả bụng như vậy th́ người đó lúc nào cũng đau khổ, lúc nào cũng là phiền năo hết. Chỉ người nào nghĩ nói gác ḿnh như gió thổi ngoài tai, rồi ngủ kḥ không thèm nhớ, th́ đó là hạnh phúc chớ ǵ. Người nào mà trong nhà cũng như ở ngoài gặp cái ǵ phật ư, xem đó như là lỡ lầm của người không ǵ quan trọng hết, không có ǵ phải phiền muộn, người được như vậy mới là con người hạnh phúc.

            Đầu năm, chúng ta quen chúc cho nhau, một năm đầy hạnh phúc. Chúc hạnh phúc mà cứ phiền giận hoài th́ làm sao mà hạnh phúc được. Như vậy chỉ là một cái chúc suông.

            Ở đây tôi không chúc ǵ cho quí vị hết mà chỉ khuyên: “Năm nay tập tiêu chảy kha khá một chút” chừng nào quí vị tiêu chảy được như ngài Qui Tông lúc đó quí vị sẽ tràn trề hạnh phúc.

            Đó là tôi chỉ nói hạnh phúc nho nhỏ của thế gian. C̣n nếu nói đến hạnh phúc cao siêu hơn nữa, tức là đạt đến cứu kính giải thoát th́ trong kinh cũng dạy chúng ta đừng chấp cảnh, chấp người, đừng chấp tâm, đừng chấp pháp. Nếu chúng ta buông hết những cái chấp đó th́ Niết-bàn hiện tại, vĩnh viễn hạnh phúc. Không chấp tức là xả. Xả được mới thật là vĩnh viễn hạnh phúc. V́ vậy nói tới đức Di-lặc là nói tới hạnh hỷ xả nên người Trung Hoa tượng trưng Ngài bằng h́nh ảnh ngài Bố Đại Ḥa thượng, một h́nh ảnh vui vẻ tươi cười lúc nào cũng sẵn sàng hỷ xả.

            Vậy năm nay quí vị lễ đức Phật Di-lặc là nhớ đến hạnh hỷ xả của Ngài, nhớ đến cái miệng vui cười hạnh phúc của Ngài. Nếu quí vị sống được cái hạnh phúc đó th́ quí vị chẳng những hạnh phúc ở hiện tại mà hạnh phúc vĩnh viễn của người vào Niết-bàn.

            Đó là ư nghĩa đức Di-lặc mà hôm nay chúng tôi nói.

NAM-MÔ BỔN SƯ THÍCH-CA MÂU-NI PHẬT

]


 

HẠT CHUỖI MỘNG, NGÀY QUA MẤT

NGHIỆP THIỆN ÁC C̉N

TẤT NIÊN ẤT MĂO 1975

            Chúng tôi thường nói với quí vị mỗi một ngày qua là lần đi một hạt chuỗi, rồi ngày khác tới là lần đi một hạt chuỗi. Như vậy hôm nay là cuối năm Ất Măo. Chúng ta đă lần được bao nhiêu hạt chuỗi rồi? Tức là lần hết ba trăm năm mươi mấy hạt. V́ tháng thiếu nên không đủ ba trăm sáu mươi mà chỉ có ba trăm năm mươi mấy hạt chuỗi. Quí vị thấy mấy hạt chuỗi lần qua rồi, nó c̣n hay không? Tất cả quí vị nhớ ôn lại xem, từ đầu năm chúng ta đón Giao thừa, lễ Phật ngày mồng một Tết. Giờ đây đón giao thừa nữa, như ba trăm năm mươi mấy ngày qua kiểm điểm lại đối với chúng ta nó c̣n hay không? Tất cả những ai muốn ôn lại th́ chỉ c̣n nhớ mang máng ở trong kư ức của ḿnh, chứ thực tế th́ không c̣n, chỉ thấy hiện giờ. Mà bao nhiêu ngày qua rồi mất như vậy, tất cả qua rồi mất hay c̣n cái ǵ?

            Tuy nhiên ngày qua chúng ta t́m lại không được, chẳng khác những hạt chuỗi mộng chúng ta lần qua rồi mất không c̣n t́m lại được hạt nào. Nhưng mà trong ba trăm năm mươi mấy ngày qua chúng ta đă gây những hận thù; đă vay nợ tiền bạc của những kẻ khác. Đến ngày chót của một năm và ngày mai sang năm mới, những oán thù đó, tiền bạc của cải ta vay mượn đó có phải trả hay không? Tuy mấy trăm ngày qua chúng ta t́m lại không được, nhưng những cái ǵ chúng ta đă tạo, hoặc là vay mượn tiền bạc của cải hoặc là gây oán thù với kẻ này người nọ, sang năm những cái đó có mất chưa? Hay là người ta sẽ đem hận khác trả lại cho ḿnh. Như vậy chúng ta thấy nếu một năm qua, ngày tháng trôi qua nó không dừng lại, nhưng những cái vay mượn, cái hận thù, chúng ta đă gây th́ năm mới khó mà mất. Hoặc ngược lại, nếu một năm qua chúng ta đă cho người vay mượn hoặc chúng ta gieo công đức với những người chung quanh, sang năm tới, những người đó có trả hay là quên ân đức chúng ta đă gieo? Chắc chắn không quên. Như vậy quí vị thấy mỗi ngày qua rồi mất, nhưng nghiệp chúng ta đă tạo hoặc thiện hoặc ác chưa mất hẳn. Đó là nh́n ngay hiện tại thực tế cuộc sống sanh diệt của chúng ta. Thời gian trôi qua không dừng, nhưng việc thiện ác gây ra rồi cũng khó mà mất.

            Người Phật tử tu hành trên phương diện sơ cơ, chúng ta phải nghĩ đến ngày qua không t́m lại được những việc lành việc dữ ngày đó không mất. Dù có trải qua mười năm, hai mươi, ba mươi năm rồi năm bảy mươi năm đến ngày chúng ta ra đi, tức là cái phút chót bỏ thân tiền ấm sang thân trung ấm tới thân hậu ấm, nghiệp thiện ác hăy c̣n. Nếu kiểm điểm lại năm sáu mươi năm đă sống, thời gian năm sáu mươi năm đă trôi qua không t́m lại được. Cũng như hôm nay đến giao thừa, nh́n lại ba trăm năm mươi mấy ngày trôi qua chúng ta không vớt lại được ngày nào hết. Khi chúng ta sắp hấp hối bỏ thân này để sang thân khác, giờ phút ấy cũng như đêm giao thừa này, tất cả cái ǵ trong một đời chúng ta đă sống năm bảy mươi năm đă mất, nhưng việc thiện ác chúng ta không phải là tiêu hẳn. Vào giờ phút ra đi chúng ta không t́m được thời gian đă sống qua, những việc đă tạo nếu là việc dữ sẽ hướng dẫn chúng ta sang cuộc đời khác chịu đau khổ.

            V́ chúng sanh đương gây tạo nên Phật luôn nhắc nhở và khuyên chúng ta thức tỉnh tạo những việc lành. Dù đời này có khổ mà biết gây nghiệp lành th́ đời sau được an vui. Đó là phương hướng của người c̣n đi trong luân hồi.

            Chúng ta c̣n đi trong luân hồi th́ nên chọn con đường luân hồi thiện tức là đi lên chớ đừng chọn luân hồi ác để rồi phải đi xuống. Cũng như hiện tại chúng ta phải dời chỗ ở, nên dời chỗ có tiện nghi, có đầy đủ phương tiện sanh sống dễ dàng, chớ không nên t́m chỗ khổ đau phải đói rét v.v... Đó là chúng ta khôn ngoan biết lựa, sắp đặt cho một cuộc sống hiện tại và cuộc sống của tương lai. Bằng không, chúng ta cứ mù mù mịt mịt không biết thiện không biết ác. Rồi cứ như vậy qua ngày, tạo không biết bao nhiêu tội lỗi, đến ngày cuối cùng phải mang nghiệp đen tối, chịu đọa trong cơi hắc ám. Đó là những người thật đáng thương, chịu đau khổ không biết đến đời nào ra khỏi.

            Chúng tôi đă nói theo chiều sanh diệt cho quí vị thấy. Chúng ta c̣n ở trong luân hồi th́ chúng ta nên chọn con đường đi sáng sủa an lành hơn, thời gian qua là không trở lại. Tuy vậy nghiệp đă tạo th́ không bao giờ mất. Cho nên trong kinh Nhân Quả Phật nói:

                        Giả sử bá thiên kiếp

                        Sở tác nghiệp bất vong

                        Nhân duyên hội ngộ thời

                        Quả báo hoàn tự thọ

            Nghĩa là: Giả sử ḿnh tạo nghiệp trải qua trăm ngàn kiếp đi nữa, nghiệp báo cũng không mất. Nghiệp đó tức là nghiệp lành, nghiệp dữ