|
LỜI ĐẦU SÁCH Chỗ cứu kính vốn không lời, huống là có thời gian không gian. Thời gian đă không th́ bốn mùa y cứ đâu mà lập. Bốn mùa đă không th́ làm ǵ có mùa Xuân, mùa Hạ. Thế mà nói ngày Xuân, tháng Xuân, mùa Xuân là nhằm trong cửa phương tiện tương đối luận bàn. Chẳng qua v́ lợi ích trên phương diện tiến tu, chúng tôi tùy tục nói chuyện đêm Trừ Tịch (giao thừa) và ngày Tết Nguyên Đán. Sưu tập lại những buổi nói chuyện ngày cuối năm và đầu Xuân, kể từ khi mở khóa II học Thiền tại Tu viện Chân Không vào năm 1974 về sau. Chúng tôi để tên tập sách là XUÂN TRONG CỬA THIỀN, gọi là chút quà mọn cống hiến độc giả trong những ngày Xuân. Tuy nhiên là những buổi nói chuyện cùng một đề tài Đêm Trừ Tịch và ngày Nguyên Đán th́ không sao tránh khỏi sự trùng lập câu chuyện ư kiến của chúng tôi. Câu chuyện có thể trùng; song ư kiến chắc mỗi năm cũng có thay đổi ít nhiều. V́ vậy chúng tôi gom hết trong tập sách này. Khi đọc nếu thấy trùng lập, mong quí vị thông cảm cho. THÍCH THANH TỪ ? XUÂN TRONG CỬA THIỀN Bốn mùa thay đổi muôn vật chuyển xoay, theo quan niệm người đời th́ mỗi lần Đông tàn Xuân đến trong ḷng rộn ră lo mừng Xuân đón Xuân. Rồi bao nhiêu tục lệ từ xưa truyền lại, nào là đưa ông táo, thiệp chúc Xuân, dựng nêu, rước ông bà, chúc Tết, ĺ x́ v.v... Bước vào cửa Thiền, xem thử các tăng sĩ có quan niệm ǵ về ngày Xuân? Đây chúng ta hăy nghe Sơ tổ phái Trúc Lâm Yên Tử, Điều Ngự Giác Hoàng, nói về Xuân: Niên thiếu hà tằng liễu sắc không Nhất Xuân tâm sự bách hoa trung Như kim khám phá Đông hoàng diện Thiền bản bồ đoàn khán trụy hồngDịch: Thuở bé chưa từng rơ sắc không Xuân về hoa nở rộn trong ḷng Chúa Xuân nay bị ta khám phá Chiếu trải giường Thiền ngắm cánh hồng. Lúc c̣n thiếu niên ở trong ngôi vị sang cả của một ông Hoàng, chưa thấm nhuần mùi đạo lư, mỗi lần Xuân về trăm hoa đua nở trong vườn ngự, làm sao Ngài không ḷa mắt trước những màu sắc lung linh, không bâng khuâng qua những làn hương ngào ngạt. Sắc hương hương sắc quyện cả tâm hồn của ông Hoàng trẻ tuổi. Thế rồi bao nhiêu tâm sự đều gởi gắm vào trăm hoa. Nhưng khi t́m thấy được đạo, cổi bỏ mọi danh vọng tài sắc ở thế gian, cạo tóc mặc áo nhuộm, Ngài bước chân vào cửa Thiền. Gia công tu tập Ngài đă khám phá được chân lư của vũ trụ, thấy được mặt thật xưa nay của chính ḿnh. Bây giờ Ngài không c̣n bị sắc hương lôi cuốn, tâm hồn lóng trong tự tại, ngồi lặng lẽ trên giường Thiền nh́n chúng nở tàn một cách an nhiên. Từ đây hoa nở hoa tàn không c̣n là một h́nh ảnh khiến tâm hồn người tăng sĩ phải vui buồn theo nó. Ḍng thời gian cuồn cuộn trôi, hiện tượng trong không gian luôn luôn chuyển ḿnh sanh diệt, song dưới con mắt một Thiền sư đạt đạo vẫn thấy có một cái ǵ hiện hữu thoát ngoài luật sanh diệt của thời gian không? Chúng ta hăy nghe lời nhắn nhủ của Thiền sư Giác Hải, một Thiền sư ở đời Lư, cũng nói về Xuân: Xuân lai hoa điệp thiện tri th́ Hoa điệp ưng tu cộng ứng kỳ Hoa điệp bản lai giai thị huyễn Mạc tu hoa điệp hướng tâm tŕ Dịch: Xuân về hoa bướm gặp nhau đây Hoa bướm phải cần hợp lúc này Hoa bướm xưa nay đều là huyễn Giữ tâm bền chặt bướm hoa thây Con người và muôn vật đều bị cuốn phăng theo ḍng thời gian bất tận. Sự chết sống sanh diệt của người và vật đều ứng hợp theo thời tiết. Hoa nở, bướm lượn t́m hương đều lệ thuộc hẳn vào mùa Xuân. Nếu chúng ta cứ bám víu vào bản thân vào ngoại cảnh th́ ôi thôi! Ḍng luân hồi sanh tử lôi cuốn chúng ta không biết đến đâu cho cùng. Chúng ta phải gan dạ nh́n thẳng vào lẽ thật của bản thân của ngoại cảnh, mới thấy chúng là tướng trạng tạm bợ vô thường, là giả h́nh bởi nhân duyên chung hợp. Quả thật là huyễn hóa không có một tí ǵ chắc thật. Chỉ chân tâm của chính ḿnh, mới là cái chân thật bất sanh bất diệt, mà lâu nay chúng ta đă lững quên. Giờ đây, chúng ta phải quả quyết sống thật với nó, không một phút giây nào lơi lỏng. Ấy là chúng ta đặt chân trên đường giải thoát, cổi bỏ sợi dây sanh tử luân hồi. Đây là lời nhắn nhủ của Thiền sư Giác Hải bảo chúng ta phải “hướng tâm tŕ”. Lại một h́nh ảnh xinh đẹp lạ thường của một mùa Xuân bất tận, do Thiền sư Chân Không đáp lời hỏi của một thiền khách: Xuân đến Xuân đi ngỡ Xuân hết Hoa nở hoa tàn chỉ là Xuân. Nh́n thời gian sanh diệt, con người măi lo âu và tiếc nuối. Thấy Xuân đến lại nghĩ đến Xuân đi, rồi e sợ sẽ bơ vơ không c̣n t́m thấy mùa Xuân đâu nữa. Tâm trạng khát khao lo sợ ấy dồn dập nung nấu con người. Khiến họ khô héo chết ṃn và hơ hải phập phồng cho một ngày mai. Ngày mai họ không c̣n biết nó ra sao mời mịt tối tăm. Nhưng với Thiền sư, hôm nay và ngày mai đều là vô nghĩa, chúng chỉ là những chiếc áo cũ mới thay đổi trên một thân người. Nhưng đứa bé khi mặc một chiếc áo cũ th́ xịu mặt xuống, được quàng chiếc áo mới th́ hí hửng lên. Đấy là chúng quên ḿnh mà chỉ nhớ chiếc áo. Nếu khi chúng chỉ một bề vui buồn theo chiếc áo. Với người lớn ắt không như thế, v́ tự biết đời ḿnh đă đổi thay biết bao nhiêu lần chiếc áo. Khi thấy được lẽ thật, người ta sẽ không c̣n bận rộn trong h́nh tướng giả dối ấy nữa. V́ thế Thiền sư Chân Không đă kết luận cho chúng ta thấy bằng câu: “Hoa nở hoa tàn chỉ là Xuân.” Ấy là cái đạo miên viễn vậy. Bước sang những Thiền sư Trung Hoa, xem quan niệm các Ngài có ǵ khác lạ. Đây chúng ta hăy nghe Thiền sư Cao Phong Diệu ngâm nga bốn câu thơ, trước đại chúng trong ngày Tết Nguyên Đán: Bách niên nan ngộ tuế triều Xuân Xá nữ sơ trang việt dạng tân Duy hữu Đông thôn vương đại tả Y tiền măn diện thị ai trần Dịch: Trăm năm khó gặp một ngày Xuân Trang điểm cô em vui vẻ mừng Chỉ một làng Đông riêng chị ả Như xưa trên mặt phủ bụi hồngMùa Xuân là mùa khí hậu ôn ḥa ấm áp. Mỗi lần Xuân về trên ngàn cây muôn cỏ đều khoác vào ḿnh một chiếc áo mới. Sự điểm trang của cảnh vật nhịp nhàng với sự điểm trang của con người. Những đứa bé gái nào là áo tím quần hồng, lược cài trâm giắt, lũ lượt kéo đi thăm viếng chúc tụng nhau. Thật là một cảnh nhộn nhịp xinh tươi của một ngày Xuân. Nhưng trong khi con người và vạn vật đang phô diễn sắc hương, đang tưng bừng chúc tụng, th́ bên làng Đông một chị nàng đứng tuổi, vẫn trang nghiêm như tượng nữ thần, vẫn im ĺm như h́nh thạch nữ để mặc cho sương pha bụi phủ, không hề vướng chút đổi thay. Gương mặt của cô ta vẫn b́nh thản an nhiên như tự thuở nào. Đây là một xảo thuật của Thiền sư khéo tŕnh bày cho chúng ta thấy, bên h́nh ảnh biến ảo đổi thay, lại có một cái thâm trầm bất sanh bất diệt. Đến Thiền sư Tiếu Ẩn Hân, chúng ta sẽ thấy một h́nh ảnh sáng rỡ ẩn trong hiện tượng mịt mù, diệu lư bất sanh bất diệt nằm gọn trong cảnh vật sôi động sanh diệt. Hăy nghe Ngài ngâm bài kệ này trong dịp Xuân về: Kim cang chánh thể lộ đường đường Vạn tượng sum la bát-nhă quang Dẫn khứ lai cơ siêu đương niệm Vô âm dương điạ lư toàn chương Mộc kê báo hiểu đề thâm hạng Thạch nữ nghinh Xuân xuất động pḥng Cộng hỷ long hồ đa đoan khí Thiền phong thời tống ngự lê hương Dịch: Kim cang chánh thể hiện rỡ ràng Cảnh vật muôn vàn bát-nhă quang Bặt lối lại qua đương niệm thoát Âm dương đất trống lư toàn bày Gáy sáng gà cây trong nẻo vắng Mừng Xuân gái đá ra động pḥng Đáy hồ rồng vẫy vui vô hạn Đưa tiễn gió Xuân một ḷ trầm Trong muôn ngàn cảnh vật đă chứa sẵn thể Kim Cang Bát-nhă rực rỡ, chỉ cần dứt sạch mối manh lại qua sanh diệt th́ chánh niệm hiện tiền vượt ngoài mọi đối đăi. Chính chỗ âm dương chưa phân kia, là chân lư hiện bày. Đẹp đẽ thay trên cảnh tượng ồn náo biến động đă ngầm chứa một cái bất động, như gà gỗ gáy sáng, gái đá mừng Xuân. Rồng nhả hơi trên mặt hồ trong lặng để cùng tiếp đón một mùa Xuân. Ḷ trầm phun khói quyện theo mây gió làm cuộc tiễn đưa người khách Xuân vừa đến cửa. Thật là ảo ảnh lồng trong chân thường, chân thường hiện bày trong ảo ảnh. Khiến chúng ta không c̣n lầm lẫn t́m kiếm chân lư ngoài sự vật vô thường, không lầm bỏ vọng tưởng mà lấy chân như. Đó là quan niệm chân chánh của Thiền sư nh́n vào cuộc đời vậy. ]ĐÊM TRỪ TỊCHNĂM GIÁP DẦN 1974 Tổng kết lại, chúng ta sống ở thời chiến tranh, mà hôm nay đến ngày Tất niên lại được sum họp ngồi tại Thiền đường ấm cúng này, nói chuyện đạo. Thật là hi hữu. Có lẽ đây cũng là một sự gia hộ của Tam Bảo, khiến chúng ta được sống trong cảnh an lành không lo sợ. Hoàn cảnh xă hội không làm chúng ta phải buồn rầu đau khổ. Nhất là Tăng Ni đă có thiện duyên chung ở tại Thiền viện để tu học th́ thực là quí báu. C̣n quí Phật tử nam nữ cũng vậy, tôi thấy rằng lư đáng ngày ba mươi quí vị phải ở tại nhà để rước ông bà, đoàn tụ với gia đ́nh. Quí vị mến đạo cho đến nỗi phải hy sinh cái vui riêng của gia đ́nh mà đến đoàn tụ ở trong đại gia đ́nh Phật pháp như thế này, thật là hi hữu. Tinh thần đó càng đáng được khích lệ. Cho nên chúng tôi thấy rằng con đường hướng dẫn chỉ dạy đó là do Tam Bảo gia hộ khiến cho Phật pháp được miên viễn. Nếu chúng tôi làm được việc ǵ gọi là hợp thời và giúp cho quí vị đường lối tu hành th́ những cái đó đều là sự gia hộ của Tam Bảo hết. Tôi thường nói với Tăng Ni câu này: Chúng ta chỉ không lo cố gắng, chớ chúng ta thật t́nh cố gắng tu hành, nhất là đem hết tâm tư phục vụ Phật pháp th́ Tam Bảo không bao giờ bỏ quên chúng ta. Điều đó tôi tin tưởng và quả quyết như vậy. Mà chính v́ điều đó nên tôi nói rằng, hiện giờ chúng ta đang ngồi nói chuyện đây Tam Bảo cũng có mặt với chúng ta, Long thiên hộ pháp không bao giờ bỏ chúng ta. Điều đó có lẽ quí vị cũng phải tin phần nào qua kinh nghiệm của tôi. Trong Thanh qui chúng tôi có để câu: “Tăng Ni trong Thiền viện nếu hết gạo th́ phải thay phiên nhau xuống núi để xin về, đi trong ṿng ba ngày, nếu hết nữa th́ đến người khác.” V́ sao tôi để câu đó? - V́ tôi chủ trương rằng từ ngày tôi lập Thiền viện là tôi dứt khoát không cho Tăng Ni đi đưa đám ma và không đi dự những buổi cúng kính của Phật tử tổ chức ở nhà. Có một số Tăng Ni nói với chúng tôi rằng: “Trong thời này mà không đi cúng th́ Tăng Ni sẽ nhịn đói.” Đă nghe nói như vậy mà tôi th́ quả quyết sẽ cách mạng điều đó. V́ đă giải quyết như vậy, cho nên tôi mới ghi câu đó trong Thanh qui Thiền viện. Không cho đi cúng lẽ dĩ nhiên th́ người ta không cúng, nguời ta không cúng th́ nhịn đói chớ ǵ? Nếu đến giờ phút chót mà hết gạo th́ phải thay phiên nhau đi xin. Nhưng suốt thời gian qua, chúng tôi chưa thấy lúc nào ở trong kho hết gạo. Nếu không phải Tam Bảo gia hộ th́ làm sao được như vậy. Chẳng phải do Tam Bảo gia hộ, do nhiệt t́nh của Phật tử th́ làm sao mà có. V́ lẽ đó, tôi tin rằng sức gia hộ của Tam Bảo rất mạnh, và ḷng thành tín của Phật tử rất tốt. Cho nên chỉ lo cho Tăng Ni chúng ta thiếu đức, thiếu hạnh không cố gắng tu hành chớ đừng lo Phật tử bỏ sót chúng ta. Đó là điều tôi thường nói, thường nhắc trong giới Tăng Ni. Bây giờ để thấy rơ rằng hôm nay là ngày cuối năm, chúng ta ai nấy nên tŕnh bày điều thấy được, những biến động tâm tư của chính ḿnh. Những biến động đó so lại thời quá khứ th́ có thể có tiến triển, nhưng đem b́ với các bậc thiện trí thức của quá khứ, thí dụ như Sư tổ hay các vị Thiền sư thuở trước th́ ḿnh vẫn phải hổ thẹn v́ ḿnh chưa được bao nhiêu. Căn cứ trên thời gian chúng ta phân biệt mùa Đông, mùa Xuân, nên bây giờ chúng ta mới có lễ Tất niên, uống trà trừ tịch. Theo thời gian phân định là thế tục đế, chớ không phải là chân đế. Hôm nay tôi đem việc thế tục đế để nói thế tục đế, nhưng cũng là đạo lư để rồi cùng khuyên nhắc cho tất cả quí vị thấy được ư nghĩa ngày cuối năm của chúng ta nó quan trọng như thế nào. Tôi xin nhắc lại câu chuyện hôm rồi tôi có thuật lại ở Linh Quang cho quí vị nghe. Một buổi sáng sau giờ ngồi thiền, tôi xả thiền xoa bóp xong, ngồi lại một tí cho thật hết hơi nóng. Khi ấy chú thị giả lên dọn dẹp, tôi vén mùng ra hỏi chú: - Ngày hôm qua đâu rồi? Chú nh́n tôi không trả lời. Tôi nói tiếp: - Tôi không muốn sống ngày nay, tôi muốn sống trở lại ngày hôm qua. Chú đem ngày hôm qua cho tôi. Chú thị giả cũng làm thinh không trả lời được câu hỏi đó. Một lát sau, tôi muốn dễ dàng cho chú một chút, tôi nói rằng: - Hôm nay chú dọn chén này đũa này, coi như chú dọn chén mới đũa mới. Nếu bây giờ tôi đ̣i chú đưa chén đũa cũ ngày hôm qua, th́ chú phải làm sao? Chú nói: - Th́ con sẽ đi đổi lại cái ngày hôm qua cho Thầy. Tôi nói tiếp: - Như vậy tại sao tôi không muốn sống ngày nay, tôi đ̣i ngày hôm qua mà chú không đổi lại cho tôi? Chú thị giả nói: - Ngày hôm qua là giả là mộng không thật. Tôi tiếp: Nếu ngày hôm qua là mộng, ngày nay tôi bắt đầu sống đây, đây cũng là mộng nữa hay sao? Ngày hôm qua là mộng, ngày nay là mộng, ngày mai cũng là mộng nữa sao? Như vậy suốt đời chỉ là mộng phải vậy không? Chúng ta cứ lần bằng xâu chuỗi mộng. Một ngày qua kẽ tay rồi mất, một ngày khác qua rồi mất, mất, mất... cho tới cùng hết một xâu chuỗi. Như vậy cả cuộc đời của con người toàn là xâu chuỗi mộng không có ǵ khác hơn. Hôm nay là ngày cuối năm, ngày mai là ngày đầu năm mới. Nếu chúng ta cứ cho là ngày đầu năm đó sẽ diễn tả bằng một năm mà chúng ta không bằng ḷng, không vui, không ưng sống với năm đó, sống trở lùi với năm cũ th́ có được không? Chắc rằng không ai trở lùi lại được. Cái quá khứ đă qua, qua mất rồi, th́ cái hiện tại sắp đến đây, đến rồi cũng mất. Như vậy ba thời đều mất. Đă mất th́ nó không thật. Nếu ta kiểm điểm lại kỹ từ thủy chí chung, th́ đó là một ḍng thời gian hư ảo không thật. Bởi không thật nên chúng ta thấy nó là mộng huyễn, qua rồi không t́m lại được. Thế mà chúng ta cứ lăn xả người vào cái hư giả đó tưởng nó là thật. Cả một cuộc đời tạo cái này cái kia không dừng. Rồi tới phút chót, ngày mà hơi thở dứt đi chúng ta sẽ ra sao? Kiểm điểm lại ḿnh, nhớ cuộc đời năm mươi tuổi, sáu mươi tuổi, bảy mươi tuổi đă qua. Đó là cái ǵ? Thực là một chuỗi mộng. Thực vậy, ḍng thời gian là một xâu chuỗi mộng, không có cái ǵ hết. Mà kiếp sống chúng ta lại là một kiếp sống qui định bởi thời gian theo số năm sáu mươi, bảy mươi v.v... Như vậy rơ ràng thời gian không thật, nó là hư giả. Thời gian không thật th́ con người chúng ta có thật hay không? Cũng không thật luôn. Nhớ năm ngoái tóc tôi bạc ít, năm nay tóc tôi đă bạc nhiều, răng tôi năm ngoái lung lay ít, năm nay lung lay thêm. Cứ như vậy, khi thời gian trôi th́ bản thân chúng ta cũng bị tiêu ṃn theo đó. Nếu căn cứ vào hiện tại, từ con người cho đến sự vật chung quanh ḿnh đều theo ḍng thời gian mà biến đổi, sanh diệt từ phút, từ giây, từ sát-na, không dừng lại ở đâu hết. Chúng ta thấy rơ ràng là ḍng thời gian hư ảo. Nó đă chi phối hết cả cuộc sống hiện tại của chúng ta, từ thân ḿnh cho đến ngoại cảnh. Không có cái ǵ không bị chi phối. Khi ḍng thời gian đă hư ảo th́ kiếp sống của con người cũng hư ảo, sự vật chung quanh cũng là hư ảo. Như vậy có thể kết thúc là: Chúng ta lần bằng những xâu chuỗi mộng, những hạt chuỗi mộng. Từng tháng từng năm, chúng ta mặc chiếc áo mộng đan dệt bằng những sợi tơ mộng. Chung quanh chúng ta toàn là mộng, mà không hay. Chúng ta lỡ sống như vậy rồi mà lại đua nhau giành giật danh lợi tài sắc. Rồi trong cái mộng đó, tạo không biết bao nhiêu đau khổ huyết lệ của chúng sanh. Đó là v́ chúng ta không biết cuộc đời là ảo mộng. Nếu hôm nay chúng ta thấy rằng chúng ta sống trong một chuỗi mộng, mặc với những chiếc áo mộng th́ c̣n ǵ mà đắm mê tham luyến cảnh mộng ấy nữa. Thân ḿnh và ngoại cảnh là không gian, ba thời quá khứ hiện tại vị lai là thời gian. Tất cả là một ḍng mộng có ǵ đâu thật là ḿnh. Lâu rồi chúng ta cứ mê lầm tưởng là thật, rồi tính thời gian để định số tuổi, hănh diện sống dài ngắn v.v... Lượm lặt những sự vật vô thường ở chung quanh, cho đó là sự việc của ḿnh. Kiểm điểm lại chỉ là lần chuỗi mộng mặc áo mộng mà thôi. Đó là chỗ thấy của chúng tôi. Nhưng mà nếu tất cả thời gian là mộng, không gian là mộng, th́ rồi chúng ta ch́m luôn trong mộng đó hay sao? Hay c̣n một cái ǵ nữa? Nếu chúng ta cứ thấy thời gian trôi qua là mộng, cuộc sống ḿnh sự vật chung quanh ḿnh cũng là mộng, th́ lúc đó chúng ta sẽ đi măi trong cái sanh diệt hư ảo mộng huyễn rồi tuyệt vọng sao? Nhưng nhờ phúc duyên lành, chúng ta được đức Phật chỉ cho trong cái mộng ấy có cái không phải là mộng. Mà cái đó là cái hiện giờ chúng ta đang trở về đang theo dơi nó và t́m thấy nó, để sống với nó. Như vậy trong cái mộng chúng ta c̣n thấy cái không phải mộng. Thời gian không gian đều là mộng. Cái không phải là mộng đó đối với toàn thể mộng này nó có giá trị biết là bao! V́ vậy khi chúng ta thấy đang bị cái hư ảo huyễn mộng chi phối th́ đồng thời cũng nhận thấy chúng ta c̣n có cái không phải hư ảo, không phải huyễn mộng luôn có mặt với chúng ta. Điều đó rất đáng mừng! Mừng cho ḿnh, nhưng khi mừng cho ḿnh chừng nào lại thương cho những người đang lao ḿnh trong mộng ấy rồi tạo nghiệp ác, gây khổ đau. Thật đó là những người đáng cho chúng ta thương xót. V́ vậy cho nên khi chúng ta nhớ đến ḿnh biết kiếp người là ảo mộng, t́m thấy một cái ǵ nó thoát ra ngoài ṿng ảo mộng đó, chúng ta nương tựa nó, trở về nó để được an lành. Chúng ta càng thương xót thấm thía đối với những người đang lao ḿnh trong mộng mà tự họ không thức tỉnh. Chính cái nh́n đó mà một Thiền sư Việt Nam đă diễn đạt tâm tư bằng những câu thơ, để cho bao nhiêu nhà văn nhà thơ Việt Nam nhắc lại măi không quên. Thiền sư Măn Giác đă nói: Xuân khứ bách hoa lạc Xuân đáo bách hoa khai Sự trục nhăn tiền quá Lăo tùng đầu thượng lai Mạc vị Xuân tàn hoa lạc tận Đ́nh tiền tạc dạ nhất chi mai Dịch: Xuân đi trăm hoa rụng Xuân đến trăm hoa cười Trước mặt việc đi măi Trên đầu già đến rồi Chớ bảo Xuân tàn hoa rụng hết Đêm qua, sân trước một cành mai Hai câu đầu thạât t́nh diễn tả Xuân đến Xuân đi, là ḍng thời gian. Hai câu kế nói bách hoa lạc, bách hoa khai là những sự vật hiện có trong không gian này. Như vậy thời gian và không gian là một ḍng sinh diệt ảo mộng. Khi thời gian không gian trôi theo ḍng ảo mộng đó th́ con người ḿnh như thế nào? Tức là liền thấy chính ḿnh nh́n thời gian trôi và tưởng như ḿnh không mắc kẹt ở trong ấy. Đâu ngờ ngó lên đầu mái tóc đă bạc phơ. Như vậy thời gian trôi đi, không gian biến đổi th́, chính ḿnh theo đó mà đổi thật là bi đát, nếu cuộc đời chỉ có ngang chừng ấy thôi. Nhưng mà không bi đát lắm với đôi mắt của Thiền sư v́ “Mạc vị Xuân tàn hoa lạc tận. Đ́nh tiền tạc dạ nhất chi mai.” Đừng bảo rằng mùa Xuân hết th́ hoa rụng hết. Đêm qua là đêm mùa Đông vẫn c̣n có một cành mai nở trắng ở trước sân chùa ḿnh. Rơ ràng trong cái tàn hoại ảo mộng c̣n có một cái ǵ thầm kín đẹp đẽ trường tồn măi. Đó là một cành mai. Một cành mai của Thiền sư Măn Giác tức là cái ǵ Phật đă nói trong kinh Lăng Nghiêm, đó là “Chân Tâm” hay là Như Lai Tạng tánh của chúng ta. Hoặc ở chỗ khác trong kinh Pháp Hoa, đức Phật dụ là “Ḥn ngọc quí” đang buộc trong chéo áo. Như vậy đối với người tu, nhất là khi chúng ta hiểu được chút ít về Thiền. Nếu chúng ta sống với tâm niệm Thiền th́ mới thấy rằng trong cái sanh diệt ảo mộng, c̣n có cái không sanh diệt lẫn trong ấy. Thế nên ḷng ḿnh được an ổn, tự tại và vui vẻ. Chỉ thấy được một tí, một khía cạnh nhỏ xíu nào của cái đó, chúng ta cũng cảm thấy có hứng khởi, một niềm vui vẻ để xóa được nỗi đau buồn, những cái tối tăm thời quá khứ. Thấy được một tí thôi mà chúng ta cũng có một niềm an lạc rồi, huống nữa là toàn thể bản tâm ấy. Nếu chúng ta thực hiện nó toàn vẹn th́ đẹp biết chừng nào. V́ vậy chúng tôi tin rằng với sự cố gắng mănh liệt của tất cả chúng ta ai nấy rồi đều có một ngày sẽ vỗ tay cười, cười quên thôi như Ḥa thượng Thủy Lạo. Sau khi bị một đạp của Mă Tổ vào hông, Ngài cười cho đến măn đời không thôi. Do đó cái vui trong đạo, trong cuộc đời đen tối ảo mộng đó mà ḿnh t́m được cái ǵ nó thoát ra ngoài, chẳng khác nào ở trong đêm tối mà ḿnh thấy hay nắm một ngọn đèn sáng, thật c̣n ǵ vui sướng cho bằng. Cho nên đó là nguồn vui vô tận đối với người hiểu đạo, học đạo. Cái vui đó không phải để rồi hưởng riêng mà phải ban rải cho mọi người cùng vui với chúng ta. Đó là tâm niệm triền miên của người tu hành. Nhưng muốn hưởng được mùi thơm hoa mai, cành mai của ngài Măn Giác nói, có dễ dàng cho chúng ta hay không, hay phải chịu cay đắng nhọc nhằn lắm mới hưởng được. Tôi xin nhắc lại bài kệ của Tổ Hoàng Bá, Ngài đă bảo: Chúng ta muốn ngửi mùi hoa mai đó phải làm sao? Ngài nói: Trần lao quưnh thoát sự phi thường Hệ bả thằng đầu tổ nhất trường Nhược bất nhất phiên hàn triệt cốt Tranh đắc mai hoa phốc tỷ hương Dịch: Thoát trần việc ấy rất phi thường Nắm chặt đầu dây giữ lập trườngNếu chẳng một phen xương thấm lạnh Hoa mai đâu dễ ngửi mùi hương Thật t́nh, khi chúng ta muốn ra khỏi ṿng ảo mộng ấy, dĩ nhiên chúng ta là kẻ phi thường. Tại sao? V́ mọi người đang lao ḿnh trong mộng mà không biết là mộng, rồi ch́m đắm, rồi say sưa, rồi tạo nghiệp khổ cho nhau. Đó là người sống trong vô minh trong mờ tối. Bây giờ chúng ta đă thấy được đó là ṿng vô minh, đen tối muốn thoát ra khỏi nó, th́ đối với những người kia chúng ta chẳng “phi thường” là ǵ? Bởi muốn làm kẻ phi thường, chúng ta phải làm sao? Phải nắm vững đầu mối dây, đừng bao giờ cho nó lay chuyển lập trường của ḿnh từ thủy chí chung. Nói từ thủy chí chung th́ xa quá, tôi muốn nói lập trường của Tăng Ni hay Phật tử, kể từ khi chúng ta có được cái duyên biết đạo vị của Phật, kể từ đó cho đến bao giờ chúng ta đạt đạo mới thôi. Lập trường đó không bao giờ lay, nghĩa là nắm vững. Tôi tin rằng với lập trường đó ai nấy cũng đều ngửi được mùi thơm của hoa mai. Thế nên Ngài nói nắm vững lập trường để sau này dù gặp những cái khó khăn, khổ năo, nhọc nhằn những chướng ǵ chúng ta cũng đều qua hết. Có qua như vậy ta mới đi đến chỗ đẹp đẽ an lành đúng theo sở nguyện. Tức là ngửi được mùi thơm của hoa mai. Để diễn tả cái đen tối, cái khổ đau, cái chịu đựng cay đắng đó, Ngài mới nói rằng: Nếu không phải bị sương tuyết lạnh thấu xương th́ làm sao có ngày ngửi được mùi thơm của hoa mai. H́nh ảnh hoa mai và tuyết sương mượn ở bên ngoài, nói lên sự cay đắng khó khăn của người tu. Do sự cay đắng khó khăn đó mà chúng ta đi đến chỗ tột cùng, nếu giữ lập trường không lay chuyển. Sau khi qua cái cay đắng tột cùng rồi, chúng ta sẽ được cái an lành vô thượng, đó là ngửi mùi thơm của hoa mai. Thành ra hoa mai của Tổ Hoàng Bá nói cũng là hoa mai của Thiền sư Măn Giác. Hai vị đó đều mượn h́nh ảnh mùa đông đen tối để chỉ cho chúng ta rằng c̣n có một cành hoa mai thơm ngát mũi cuối mùa Đông. Với một cố gắng phi thường th́ chắc chắn rồi ai cũng hưởng được hương vị nó. Phải gan dạ chịu qua một mùa Đông lạnh buốt mới có thể ngửi được mùi thơm của hoa mai. V́ vậy tôi có thể kết thúc câu chuyện rằng, nếu tất cả mọi người chúng ta ai nấy đều có thiện chí quyết tiến lên không mắc kẹt trong cuộc đời ảo mộng nữa, th́ chúng ta phải gan dạ chịu đựng, bởi v́ chúng ta đi ngược ḍng sanh tử. Ḍng sanh tử giống như một ḍng nước lũ quá mạnh. Người nào không gan dạ không vững bền th́ sẽ bị nó cuốn phăng đi. V́ vậy mỗi người phải gan dạ, vững vàng để vượt lên, đừng để cuốn đi. Như thế chúng ta mới có thể ra khỏi ḍng nước lũ đó. Đó là chỗ thiết yếu mà mọi người chúng ta, xuất gia cũng như tại gia, muốn đi ngược ḍng đời ảo mộng của thời gian, không gian đều phải cố gắng. Tóm lại, tôi đă kết thúc bằng một đáp số rơ ràng cho quí vị thấy cuộc đời tu hành của chúng ta là phải như vậy. ]ĐỨC DI-LẶC QUA H̀NH ẢNH VÀ Ư NGHĨA NGÀY VÍA CỦA NGÀITrong chùa tất cả những h́nh thức thờ phụng cũng như mọi nghi lễ đều có ư nghĩa rơ ràng, nhưng v́ lâu rồi chúng ta nặng về phần tín ngưỡng, nên không xét kỹ ư nghĩa. V́ vậy đi chùa rất lâu thờ Phật quá nhiều; mà tự ḿnh không biết ông Phật đó là thế nào? Tại sao ngày đó ḿnh phải lễ Ngài? Hôm nay nhân ngày đầu năm, đúng là ngày vía của đức Phật Di-lặc, và lúc này chúng ta lễ Phật gọi là lễ vía đức Di-lặc. Chúng ta phải biết ư nghĩa ngày vía của Ngài th́ việc lễ của chúng ta mới có giá trị thật. V́ sợ quí Phật tử không hiểu lẽ đó, cũng như chư tăng trong chùa, nhiều khi không có thời giờ nghiên cứu rơ ràng, cho nên hôm nay sẵn đây tôi nói ư nghĩa về đức Phật Di-lặc để quí vị t́m hiểu, coi như lời chúc Tết đầu năm của tôi. Nói về đức Phật Di-lặc chắc rằng đại đa số quí vị đều nhớ đến h́nh tượng của một ông Phật ngồi phạch ngực, mập, bụng to và miệng cười toe toét. Có khi quí vị thấy bên cạnh Ngài có 6 đứa con nít, đứa th́ móc lỗ tai, đứa th́ móc miệng, đứa th́ thọc lét v.v... Những h́nh tượng đó như là một tṛ đùa. Ḿnh không biết tại sao lại có chuyện đùa ở trong chùa như vậy. Đó là ư nghĩa chúng ta cần phải biết. Nói đến đức Di-lặc chúng tôi phải khảo lịch sử từ Ấn Độ sang Trung Hoa để quí vị khỏi lầm lẫn. Nhiều tà thuyết bây giờ dựng đức Phật Di-lặc làm chỗ tiêu chuẩn để họ lôi cuốn Phật tử. Đức Phật Di-lặc là tên dịch của thuở xưa. Sau này có dịch ra nhiều tên khác nhưng v́ chúng ta đă quen kêu là đức Phật Di-lặc. Chữ Di-lặc là phiên âm tiếng Phạn, Tàu dịch là Từ Thị (Thị là họ, Từ là từ bi). Có thuyết nói rằng khi bà mẹ của Ngài mang thai Ngài, khởi ḷng thương không nỡ giết hại chúng sanh và không ăn thịt cá được cho nên nói là “Từ”. V́ Ngài sanh nơi bà mẹ đó cho nên gọi là Từ Thị. Nhưng có thuyết lại nói khác hơn. V́ thuở xưa Ngài tu về từ bi tam-muội cho nên sau này có tên là Từ Thị. Nhưng tên Ngài là A-dật-đa cũng là tiếng Phạn dịch âm. Dịch theo chữ Tàu là Vô Nan Thắng (Vô là không, Nan là khó) tức là không có thể nào hơn được. Đối với Ngài về trí tuệ và hạnh tu ít người hơn được, nên có tên Vô Nan Thắng. Đó là nói về đức Phật theo thói quen của chúng ta. Nếu nói theo kinh th́ gọi là Bồ-tát Di-lặc. Hồi đức Phật c̣n tại thế, Bồ-tát Di-lặc là một người có lịch sử sanh ở miền Nam Thiên Trúc, ở trong ḍng Bà-la-môn. Sau gặp Phật, Ngài xuất gia, tu theo hạnh Bồ-tát. Đó là h́nh ảnh thật có lịch sử rơ ràng ở Nam Thiên Trúc. Khảo nhiều kinh, trước hết tôi dẫn kinh A-hàm. Trường A-hàm có nói thế này: Đức Phật dạy rằng sau này ở cơi Ta-bà, tâm con người càng ngày càng ác, mười nghiệp thiện họ bỏ qua mà luôn tạo nhiều nghiệp ác. Cho đến bao giờ họ quí mười nghiệp ác cũng như thuở xưa quí trọng mười nghiệp thiện và tuổi thọ chúng sanh giảm xuống đến cuối cùng c̣n mười tuổi th́ đức Phật Di-lặc ra đời. Khi nghiệp ác nhiều th́ tuổi thọ theo đó mà giảm. Bao giờ tuổi thọ con người chỉ c̣n mười tuổi, cũng như bây giờ tuổi thọ chúng ta coi là một trăm tuổi vậy, th́ lúc đó thế giới sẽ có những tai nạn đao binh. Đao binh ở đây không phải là người ta giết chết nhau, mà chính những lá cây cỏ cũng có thể biến thành gươm bén. Chúng ta bị chặt bị cắt mà chết. Qua tai nạn đao binh đó tới tai nạn tật dịch tức là đau ốm bệnh dịch. V́ vậy đại đa số dân chúng trên thế giới này chết ṃn chỉ c̣n sót lại một ít người tu hành ẩn trên núi trên non. Họ c̣n sống thừa lại. Khi họ sống qua cái thời gian chết đó rồi, họ t́m thấy bà con ḍng họ của họ chết hết, chỉ c̣n sót lại lưa thưa vài người, lúc đó, họ mới biết rằng từ hồi đó tới giờ ḍng họ ḿnh làm điều ác, bây giờ mới bị quả báo chết như vậy. Cho nên họ nỗ lực tu mười điều thiện lại. Khi bắt đầu tu mười điều lành th́ tuổi thọ họ tăng, cứ một trăm năm th́ tăng lên một tuổi. Đến bao giờ tuổi thọ lên đến sáu mươi bốn ngàn tuổi, lúc đó dân chúng đông đảo thuần hậu, làm lành th́ Phật ra đời ở dưới cội cây Long Hoa gọi là hội Long Hoa. Như vậy quí vị tưởng tượng bây giờ chúng ta đang ở cái mức tám mươi tuổi thọ mà cứ một trăm năm giảm xuống một tuổi, giảm tới c̣n mười tuổi, rồi tăng lên cho đến sáu mươi bốn ngàn tuổi, th́ thời gian từ đây cho tới đó c̣n bao xa? Theo sách Phật th́ khi Phật Thích-ca nhập diệt th́ đức Di-lặc cũng nhập Niết-bàn. Ngài sanh lên cung trời Đâu-suất ở trong nội điện sống bốn ngàn tuổi. Sau đó Ngài mới sanh trong thế giới Ta-bà, thành đạo dưới cội cây Long Hoa giáo hóa chúng sanh kế tiếp đức Phật Thích-ca. Vậy tưởng chừng bao lâu Phật Di-lặc ra đời? Vậy mà có một số người nghe trong kinh nói đức Phật Di-lặc ra đời nghe nói hội Long Hoa, rồi họ bịa ra ít bữa đức Phật Di-lặc ra đời, vài bữa hội Long Hoa đến v.v... Đó là những tà thuyết để lừa bịp những Phật tử học mà không hiểu Phật pháp, lại có người tự xưng là Phật Di-lặc hoặc tự cổ động rằng ḿnh sẽ chờ đón đức Phật Di-lặc. Quí vị xét, nếu chúng ta tin đức Phật Di-lặc chỉ c̣n một phen bổ xứ lên cung trời Đâu-suất, sau này hạ sanh ở thế giới Ta-bà thành Phật, nếu tin lời Phật Thích-ca nói trong kinh th́ chúng ta phải tin luôn thời gian đă định ngày Phật ra đời. Chúng ta tin đức Phật Di-lặc, có hội Long Hoa mà quên thời gian đó. Rồi cứ hờ hững, cứ nghe ai nói đức Phật Di-lặc ra đời th́ vội vàng chạy tới đảnh lễ mong cầu v.v... Đó là cái sai lầm quá lớn để những tà thuyết lợi dụng danh từ Phật giáo tuyên truyền mê tín dị đoan. Người Phật tử chân chánh phải hiểu rơ điều đó. Đó là tôi khảo về lịch sử từ những bộ kinh gọi là Di-lặc thượng sanh, Di-lặc hạ sanh và Di-lặc bản nguyện. Những kinh đó đều do đức Phật Thích-ca nói ra. Coi kỹ những bộ kinh đó rồi, chúng ta biết rơ lịch sử đức Di-lặc, vậy đừng nghe lời của một số người bàn tán, dựng lên những điều sai lầm. Đó là chúng tôi nói về đức Phật Di-lặc ở Ấn Độ. Bây giờ nói tới đức Phật Di-lặc ở Trung Hoa. Đức Di-lặc sang Trung Hoa hồi lúc nào? Thật ra nếu căn cứ theo h́nh tượng chúng ta thờ th́ không có h́nh tượng của đức Bồ-tát ở Ấn Độ, mà là h́nh tượng đức Di-lặc ở Trung Hoa. Đó là một ông già bụng phệ lùn mập, như vậy là đức Di-lặc ở Trung Hoa chớ không phải ở Ấn Độ. Di-lặc ở Trung Hoa ra đời lúc nào? Điều đó chúng ta phải khảo lại. Có nhiều thuyết nói đức Di-lặc hiện giờ đang ở trên cung trời Đâu-suất. Ngài chưa tới thời kỳ giáo hóa chúng sanh ở thế giới này. Nhưng với tinh thần người hiểu Phật giáo Đại thừa th́ Bồ-tát có báo thân, ứng thân và nhất là hóa thân. Tùy căn cơ chúng sanh mà các ngài ứng hóa vô lượng thân không thể lường được. Cho nên sử Trung Hoa có kể mà tôi nhớ đại khái có hai hóa thân của Bồ-tát Di-lặc. Một hóa thân gọi là Ngài Tăng Can ở gần chùa Quốc Thanh đời nhà Tùy, tức là ở khoảng thế kỷ thứ sáu. Nói rằng Ngài có một cái am gần chùa Quốc Thanh và đi thuyết giáo nơi này nơi nọ. Có lắm lúc Ngài cỡi cọp về, chúng trong chùa thấy hoảng kinh. Khi đến khi đi không ai lường được. Có lần Ngài ôm về một đứa bé gởi trong chùa đặt tên là Thập Đắc. Thỉnh thoảng có một ông ăn mặc rách rưới ở trong núi lạnh đi ra, tuyết phủ đầy ḿnh gọi là Hàn Sơn. Hàn Sơn và Thập Đắc được coi như là hai người ăn mày trong chùa. Các ngài là hai vị hóa ra ăn mặc rách rưới ngủ ngoài hành lang. Tới bữa ăn th́ đợi chúng ăn xong hết, c̣n những thừa cặn ǵ đó ngài trút lại dùng. Có khi các ngài c̣n lượm cơm dưới sàn nước, rửa lại mà ăn. Chúng trong chùa coi các ngài như hai kẻ ăn mày không kém, nhưng mà có cái lạ là nhiều khi hai ngài hứng làm thơ. Những bài thơ của các ngài không ai hiểu ǵ hết. Một hôm bất chợt, sau một bữa trưa chúng tăng nghỉ hết, hai ngài trèo lên cổ của ngài Văn-thù và ngài Phổ Hiền ngồi. Một ông tăng ở dưới tăng xá th́nh ĺnh đi lên, thấy như vậy ngạc nhiên quá mới chạy đi báo cho ông trụ tŕ hay. Ông trụ tŕ lôi hai ông xuống rầy quở đủ thứ hết. Hai vị đó là bạn thân của ngài Tăng Can. Ngài Tăng Can tịch rồi. Một hôm ông chủ huyện có bệnh nan y, ông nằm chiêm bao thấy ngài Tăng Can tự xưng là đức Di-Lặc bảo ông đến đảnh lễ Bồ-tát Văn-thù, Phổ Hiền và chỉ cho ông một phương thuốc uống hết bệnh. Muốn đảnh lễ hai vị đó th́ vào chùa Quốc Thanh hỏi tên Hàn Sơn, Thập Đắc v́ đó là Bồ-tát Văn-thù và Phổ Hiền. Ông huyện đó theo lời chỉ t́m thuốc uống lành bệnh, mới t́m đến chùa Quốc Thanh để gặp hai vị Hàn Sơn, Thập Đắc. Khi đó ông trụ tŕ thấy ông huyện tới hỏi hai chú ăn mày trong chùa th́ ông ngại quá không muốn kêu. Nhưng ông huyện cho biết ông mong mỏi gặp hai vị đó. Buộc ḷng ông trụ tŕ mời hai vị ra. Hai vị nắm tay đi ra. Vừa thấy hai vị ông huyện qú mọp xuống lạy. Hai vị mới cười và nói: “Cái lăo Tăng Can bày đặt làm cho ta phải bại lộ rồi.” Hai Ngài, cơng nhau chạy tuốt vô rừng mất. Do đó mới biết hai vị là hiện thân của Văn-thù, Phổ Hiền, c̣n ngài Tăng Can là hiện thân của đức Di-lặc. Nhưng biết th́ chuyện đă rồi, không ai ngờ để đảnh lễ các ngài được hết. Một vị khác vào thế kỷ thứ mười đời Ngũ đại ở Trung Hoa gọi là Bố Đại Ḥa thượng. Vị đó gần gũi chúng ta nhất, tức là ông già quảy cái đăy to tướng, mặt tṛn, miệng cười, bụng phệ, áo phạch ngực. Ngài Bố Đại Ḥa thượng lúc nào cũng quảy một túi lớn, đi trong nhân gian gặp chỗ nào có cái ǵ, Ngài xin bỏ vô đăy. Đến chỗ có con nít đông, Ngài ngồi xuống phân chia cho chúng nó, vui chơi với chúng nó. Cho nên người ta thấy miệng Ngài lúc nào cũng cười vui vẻ thích thú. Đó là h́nh ảnh đức Di-lặc, một vị Ḥa thượng bụng lớn, mập, miệng cười toe toét. Tại sao gọi ngài Bố Đại Ḥa thượng là Di-lặc? Nói rằng Ngài đi xin như vậy có nhiều chuyện xảy ra cho Ngài lạ lắm. Trong sử có nói đủ, ở đây tôi chỉ lược vài điểm thiết yếu cho quí vị biết mà thôi. Ngài đi xin và sống một thời gian như vậy ở tỉnh Minh Châu. Tại đó Ngài lang thang nơi này nơi nọ. Thời đó là thời Thiền Tông c̣n thạnh hành ở Trung Hoa. Một hôm Ḥa thượng Thảo Đường gặp Ngài hỏi: “Đại ư Phật pháp thế nào?” Đang quảy bị trên vai Ngài liền để xuống. Vị Ḥa thượng hỏi thêm: “Chỉ có thế thôi hay có con đường tiến lên?” Ngài mang cái bị để lên vai và đi. Đó là câu trả lời của Ngài. Trong lịch sử Thiền tông, cũng câu hỏi đó, Tổ Lâm Tế Nghĩa Huyền đem ra hỏi Tổ Hoàng Bá liền bị ăn gậy. Ở đây ngài Bố Đại Ḥa thượng đối với câu hỏi đó, Ngài chỉ buông cái bị xuống đất. Hỏi có con đường tiến lên nữa không, Ngài mang bị lên vai đi tuốt. Những h́nh ảnh đó là thế nào? Như vậy mà người ta vẫn chưa biết thế nào, tung tích ra sao? Nhưng một hôm Ngài sắp thị tịch, mới trở về chùa. Ngồi bên bàn thạch Ngài làm một bài kệ rồi tịch. Bài kệ đó như thế này: Di-lặc chân Di-lặc Phân thân thiên bách ức Thời thời thị thời nhân Thời nhân tự bất thức Ngài nói rằng: Di-lặc thật Di-lặc. Phân thân trong muôn ức. Thường thường chỉ dạy người đời. Người đời tự không biết. Nhờ bài kệ đó mà người ta mới biết Bố Đại Ḥa thượng là hóa thân của đức Di-lặc. V́ vậy muốn vẽ h́nh đức Di-lặc người ta liền vẽ h́nh Bố Đại Ḥa thượng. Đó là đức Di-lặc ở Trung Hoa. Bây giờ chúng ta thờ phượng là thờ h́nh ảnh đức Phật đó. Chớ đức Bồ-tát Di-lặc ở Ấn Độ th́ ḿnh không biết. C̣n đức Di-lặc ở cung trời Đâu-suất lại càng không biết hơn nữa. Chúng ta chỉ biết Di-lặc hóa thân ở Trung Hoa với một h́nh tượng là Bố Đại Ḥa thượng. Đó là phần khảo về lịch sử. Đây mới nói về ư nghĩa đức Phật Di-lặc, ngày vía mùng một Tết. Ngày vía này là ngày vía ǵ của đức Di-lặc. Ở Ấn Độ th́ không biết ngày nào, ở Trung Hoa hóa thân hai, ba đời, cũng không biết ngày nào. Nói ở cung trời Đâu-suất lại càng không biết hơn nữa. Như vậy ngày vía này là ngày vía ǵ? Chúng ta đừng nghĩ rằng phải đợi có ngày sanh ngày tịch mới gọi là ngày vía. Đây là ư nghĩa thâm sâu trong nhà Thiền. Các Tổ đă khéo léo chọn ngày mùng một Tết làm ngày vía đức Phật Di-lặc. Chúng ta lạy Ngài với câu: Long Hoa Giáo Chủ đương lai hạ sanh Di-lặc Tôn Phật. Chư Tổ thấy thế gian xem ngày mùng một Tết là ngày định đoạt của suốt một năm. Ngày này mọi người dè dặt từng lời nói, dè dặt từng hành động, dè dặt từng tên người đến thăm ḿnh, dè dặt đủ thứ chuyện. Như vậy ngày mùng một Tết là ngày đầy đủ ư nghĩa của tương lai ḿnh. Trong nhà chùa ngày mùng một Tết có ư nghĩa ǵ? Các Tổ lấy ngày mùng một Tết làm ngày vía đức Phật Di-lặc cũng là ngày tương lai rực rỡ, ngày tương lai sẽ thành Phật. Sáng mồng một chúng ta lạy Phật, lạy vía đức Di-lặc, là đặt hết cả niềm hy vọng vào tương lai, hy vọng chúng ta sẽ thành Phật. Không hy vọng giàu có sang trọng ǵ mà chỉ hy vọng sẽ thành Phật. Đó là ư nghĩa sâu đậm nhất của ngày mùng một Tết để chúng ta lễ đức Phật Di-lặc. Ư nghĩa thứ hai là h́nh ảnh vui cười của đức Di-lặc. Đó là h́nh ảnh hạnh phúc. V́ vậy có chỗ thay v́ để danh từ Di-lặc lại để một con người hạnh phúc. Tại sao là con người hạnh phúc? Tới đây tôi bước sang giai đoạn sâu của Thiền tông. Hỏi: Thế nào là đại ư Phật pháp? - Ngài quăng cái bị xuống mà không trả lời ǵ hết. Hỏi: Có con đường tiến lên không? - Ngài quảy bị lên vai mà đi. Đại ư Phật pháp không có ǵ lạ. Nói thẳng e quí vị phiền, mà không nói e cho rằng giấu giếm. Đại ư Phật pháp chỉ có một chữ xả là được. Chấp tức là chấp ḿnh chấp người nhân, ngă, Phật pháp, quyền thế, danh vọng v.v... Như vậy cái mà buông tất cả đó là đại ư Phật pháp. Nói như vậy đó e quí vị khó hiểu. Tôi nói câu chuyện hơi b́nh dân một chút mà không kém quan trọng. Tổ Hoàng Bá thấy Tổ Lâm Tế Nghĩa Huyền, một vị Thiền sư cao nhất trong nhà Thiền, giữa quăng đời Đường. Ngài dạy rằng, chỉ cần có một hạnh bố thí là đầy đủ tất cả. Bố thí là cho món này món kia, tức xả hay buông bỏ. Chỉ có một hạnh xả là đầy đủ tất cả. Nói về hạnh tu Sư thúc, Sư bá ḿnh, Ngài phê b́nh rằng: Trong hàng đệ tử của Mă Tổ, trên tám mươi vị Thiện tri thức, nhưng mà khi nói đến người tiêu chảy, hay nói quê mùa hơn một chút là nếu nói đến con người ỉa chảy, th́ chỉ có Ḥa thượng Qui Tông là con người ỉa chảy đầy đất. Nói đến ỉa chảy quí vị đừng nghĩ theo lối quê mùa của ḿnh, đó là xả tất cả. Chỉ có Ḥa thượng Qui Tông là con người xả được tất cả. Con người xả là con người đáng quí hơn hết. Như vậy quí vị thấy rơ ràng xả là một pháp khiến cho người đạt đến viên măn trong đạo, nếu nói theo Thiền tông. V́ vậy sau khi Ngài buông cái túi xuống rồi, hỏi c̣n có ǵ nữa không th́, Ngài quảy túi lên vai. Tới đó đừng tưởng rằng hết rồi, ḿnh tưởng không c̣n ǵ nữa. Chính buông hết rồi, ḿnh mới được một quảy lên vai tự tại. Cho nên nhà chùa có câu “Bỏ tất cả là được tất cả”. Nhưng nói bỏ tất cả để được tất cả th́ ḿnh c̣n tham quá. Bây giờ chỉ cần bỏ tất cả vậy là đủ rồi. Chính cái hạnh xả đó là chỗ rất sâu và đưa chúng ta tới chỗ cao siêu của người giải thoát. V́ vậy trong nhà Thiền tông nói ta không có một pháp dạy người mà chỉ tùy phương tiện nhổ đinh tháo chốt thôi. Nhổ đinh tháo chốt là xả, là phá chấp. Xả được là xong việc. Đến đây tôi đi sang giáo lư để quí vị dễ thấy dễ tu hơn. Nói đến xả là nói đến hạnh phúc cho nên quí vị nghe danh từ thường dùng nhất là Hỷ Xả. Hai cái đó cái nào là nhân cái nào là quả. Có thể nói hỷ là nhân, xả là quả, cũng có thể nói ngược lại xả là nhân hỷ là quả. Tại sao vậy? Như hằng ngày có vị nào làm phật ḷng ḿnh một chút khiến ḿnh bực bội. Khi bực bội th́ không vui. Giờ đây người đó xin lỗi ḿnh, ḿnh liền vui vẻ mới tha được. C̣n giận th́ không tha được. Trường hợp hỷ là nhân, xả là quả. Vui vẻ mà tha thứ cho họ, như vậy mới là ổn. Giận không thể tha thứ được. Trường hợp đó hỷ là nhân. Bởi v́ ḿnh vui nên ḿnh mới xả, mới được cái quả xả. Nhưng ở đây nói con người hạnh phúc đó phần lớn xả là nhân hỷ là quả. Bởi v́ chúng ta có xả được chúng ta mới vui. Nếu chúng ta không xả được th́ chúng ta không bao giờ vui được. Tôi nói một việc hết sức là tầm thường, như trong gia đ́nh quí đạo hữu, người chồng làm phật ư người vợ, trong lúc phật ư thấy nhau có vui không? Không nói chuyện nhau, không nh́n mặt nhau. Bao giờ xả được th́ lúc đó mới vui vẻ nói chuyện được. Như vậy trường hợp đó do xả mà được vui. Nếu không xả th́ không vui. Đó là thí dụ nhỏ, tôi thí dụ rộng hơn. Trường hợp chúng ta đối với người ngoài đời hay bè bạn, nếu họ có hành động hiếp ḿnh hoặc có lời nói cao hơn ḿnh. Lúc đó ḿnh làm sao? Ḿnh về ḿnh có an ổn được không? Không vui đó là tại sao? Tại nhớ ông đó nói gác ḿnh, hoặc ăn hiếp ḿnh, ông ỷ mạnh hiếp yếu. Khi nghĩ như vậy th́ về nhà ngủ không được, lăn lộn hoài nằm không yên. Muốn được ngủ yên phải làm sao? Nếu ḿnh c̣n nghĩ rằng người ta ăn hiếp ḿnh, người ta gác ḿnh. Lúc đó ḿnh có cảm thấy vui vẻ hạnh phúc hay không? Chắc không bao giờ có hạnh phúc được hết. Lúc đó ḿnh sống ở trong phiền năo ở trong tam độc chứ không có hạnh phúc. Bây giờ người nào mà bỏ được cái đó thật là hạnh phúc. V́ vậy hồi đức Phật c̣n tại thế, một hôm Ngài đi khất thực ở vùng Bà-la-môn, vị lănh tụ Bà-la-môn nổi tức đi theo Ngài. Ngài đi trước ông đi theo sau mắng. Ông mắng bao nhiêu mắng Ngài cứ chậm răi đi. Đi tới ngă tư đường Ngài trải tọa cụ ngồi. Ông chạy tới trước mặt hỏi: “Ngài thua tôi chưa?” Ngài liền đáp bằng một bài kệ: Người hơn th́ thêm oán Kẻ thua ngủ không yên Hơn thua hai đều xả Ấy được an ổn ngủ Hơn người th́ người tức nên oán. Mà người ta oán ḿnh có vui hay không? Thua người về ngủ không được nằm lăn qua trở lại hoài. Như vậy cả hai đều là cội gốc của đau khổ, của phiền năo. Thành ra cái hơn cái thua hai cái bỏ phăng đi th́ người đó được an ổn ngủ. Tối đến th́ nằm xuôi cẳng ngủ kḥ, không lo không tính, không phiền muộn ǵ hết. Đó là người hạnh phúc. Hạnh phúc từ đâu mà có? Từ cái xả mà có, chứ chúng ta cứ ôm ấp phiền năo trong ḷng hoài th́ làm sao mà hạnh phúc được. Quí vị nhớ, nếu trong gia đ́nh chúng ta không xả được cứ giận vợ giận con hoài th́ cũng không vui. Ra ngoài xă hội cứ nhớ người này ăn hiếp ḿnh, người kia nói gác ḿnh, người nọ khinh ḿnh, ǵ ǵ đó, người ôm trong ḷng cả bụng như vậy th́ người đó lúc nào cũng đau khổ, lúc nào cũng là phiền năo hết. Chỉ người nào nghĩ nói gác ḿnh như gió thổi ngoài tai, rồi ngủ kḥ không thèm nhớ, th́ đó là hạnh phúc chớ ǵ. Người nào mà trong nhà cũng như ở ngoài gặp cái ǵ phật ư, xem đó như là lỡ lầm của người không ǵ quan trọng hết, không có ǵ phải phiền muộn, người được như vậy mới là con người hạnh phúc. Đầu năm, chúng ta quen chúc cho nhau, một năm đầy hạnh phúc. Chúc hạnh phúc mà cứ phiền giận hoài th́ làm sao mà hạnh phúc được. Như vậy chỉ là một cái chúc suông. Ở đây tôi không chúc ǵ cho quí vị hết mà chỉ khuyên: “Năm nay tập tiêu chảy kha khá một chút” chừng nào quí vị tiêu chảy được như ngài Qui Tông lúc đó quí vị sẽ tràn trề hạnh phúc. Đó là tôi chỉ nói hạnh phúc nho nhỏ của thế gian. C̣n nếu nói đến hạnh phúc cao siêu hơn nữa, tức là đạt đến cứu kính giải thoát th́ trong kinh cũng dạy chúng ta đừng chấp cảnh, chấp người, đừng chấp tâm, đừng chấp pháp. Nếu chúng ta buông hết những cái chấp đó th́ Niết-bàn hiện tại, vĩnh viễn hạnh phúc. Không chấp tức là xả. Xả được mới thật là vĩnh viễn hạnh phúc. V́ vậy nói tới đức Di-lặc là nói tới hạnh hỷ xả nên người Trung Hoa tượng trưng Ngài bằng h́nh ảnh ngài Bố Đại Ḥa thượng, một h́nh ảnh vui vẻ tươi cười lúc nào cũng sẵn sàng hỷ xả. Vậy năm nay quí vị lễ đức Phật Di-lặc là nhớ đến hạnh hỷ xả của Ngài, nhớ đến cái miệng vui cười hạnh phúc của Ngài. Nếu quí vị sống được cái hạnh phúc đó th́ quí vị chẳng những hạnh phúc ở hiện tại mà hạnh phúc vĩnh viễn của người vào Niết-bàn. Đó là ư nghĩa đức Di-lặc mà hôm nay chúng tôi nói. NAM-MÔ BỔN SƯ THÍCH-CA MÂU-NI PHẬT ]HẠT CHUỖI MỘNG, NGÀY QUA MẤT NGHIỆP THIỆN ÁC C̉NTẤT NIÊN ẤT MĂO 1975 Chúng tôi thường nói với quí vị mỗi một ngày qua là lần đi một hạt chuỗi, rồi ngày khác tới là lần đi một hạt chuỗi. Như vậy hôm nay là cuối năm Ất Măo. Chúng ta đă lần được bao nhiêu hạt chuỗi rồi? Tức là lần hết ba trăm năm mươi mấy hạt. V́ tháng thiếu nên không đủ ba trăm sáu mươi mà chỉ có ba trăm năm mươi mấy hạt chuỗi. Quí vị thấy mấy hạt chuỗi lần qua rồi, nó c̣n hay không? Tất cả quí vị nhớ ôn lại xem, từ đầu năm chúng ta đón Giao thừa, lễ Phật ngày mồng một Tết. Giờ đây đón giao thừa nữa, như ba trăm năm mươi mấy ngày qua kiểm điểm lại đối với chúng ta nó c̣n hay không? Tất cả những ai muốn ôn lại th́ chỉ c̣n nhớ mang máng ở trong kư ức của ḿnh, chứ thực tế th́ không c̣n, chỉ thấy hiện giờ. Mà bao nhiêu ngày qua rồi mất như vậy, tất cả qua rồi mất hay c̣n cái ǵ? Tuy nhiên ngày qua chúng ta t́m lại không được, chẳng khác những hạt chuỗi mộng chúng ta lần qua rồi mất không c̣n t́m lại được hạt nào. Nhưng mà trong ba trăm năm mươi mấy ngày qua chúng ta đă gây những hận thù; đă vay nợ tiền bạc của những kẻ khác. Đến ngày chót của một năm và ngày mai sang năm mới, những oán thù đó, tiền bạc của cải ta vay mượn đó có phải trả hay không? Tuy mấy trăm ngày qua chúng ta t́m lại không được, nhưng những cái ǵ chúng ta đă tạo, hoặc là vay mượn tiền bạc của cải hoặc là gây oán thù với kẻ này người nọ, sang năm những cái đó có mất chưa? Hay là người ta sẽ đem hận khác trả lại cho ḿnh. Như vậy chúng ta thấy nếu một năm qua, ngày tháng trôi qua nó không dừng lại, nhưng những cái vay mượn, cái hận thù, chúng ta đă gây th́ năm mới khó mà mất. Hoặc ngược lại, nếu một năm qua chúng ta đă cho người vay mượn hoặc chúng ta gieo công đức với những người chung quanh, sang năm tới, những người đó có trả hay là quên ân đức chúng ta đă gieo? Chắc chắn không quên. Như vậy quí vị thấy mỗi ngày qua rồi mất, nhưng nghiệp chúng ta đă tạo hoặc thiện hoặc ác chưa mất hẳn. Đó là nh́n ngay hiện tại thực tế cuộc sống sanh diệt của chúng ta. Thời gian trôi qua không dừng, nhưng việc thiện ác gây ra rồi cũng khó mà mất. Người Phật tử tu hành trên phương diện sơ cơ, chúng ta phải nghĩ đến ngày qua không t́m lại được những việc lành việc dữ ngày đó không mất. Dù có trải qua mười năm, hai mươi, ba mươi năm rồi năm bảy mươi năm đến ngày chúng ta ra đi, tức là cái phút chót bỏ thân tiền ấm sang thân trung ấm tới thân hậu ấm, nghiệp thiện ác hăy c̣n. Nếu kiểm điểm lại năm sáu mươi năm đă sống, thời gian năm sáu mươi năm đă trôi qua không t́m lại được. Cũng như hôm nay đến giao thừa, nh́n lại ba trăm năm mươi mấy ngày trôi qua chúng ta không vớt lại được ngày nào hết. Khi chúng ta sắp hấp hối bỏ thân này để sang thân khác, giờ phút ấy cũng như đêm giao thừa này, tất cả cái ǵ trong một đời chúng ta đă sống năm bảy mươi năm đă mất, nhưng việc thiện ác chúng ta không phải là tiêu hẳn. Vào giờ phút ra đi chúng ta không t́m được thời gian đă sống qua, những việc đă tạo nếu là việc dữ sẽ hướng dẫn chúng ta sang cuộc đời khác chịu đau khổ. V́ chúng sanh đương gây tạo nên Phật luôn nhắc nhở và khuyên chúng ta thức tỉnh tạo những việc lành. Dù đời này có khổ mà biết gây nghiệp lành th́ đời sau được an vui. Đó là phương hướng của người c̣n đi trong luân hồi. Chúng ta c̣n đi trong luân hồi th́ nên chọn con đường luân hồi thiện tức là đi lên chớ đừng chọn luân hồi ác để rồi phải đi xuống. Cũng như hiện tại chúng ta phải dời chỗ ở, nên dời chỗ có tiện nghi, có đầy đủ phương tiện sanh sống dễ dàng, chớ không nên t́m chỗ khổ đau phải đói rét v.v... Đó là chúng ta khôn ngoan biết lựa, sắp đặt cho một cuộc sống hiện tại và cuộc sống của tương lai. Bằng không, chúng ta cứ mù mù mịt mịt không biết thiện không biết ác. Rồi cứ như vậy qua ngày, tạo không biết bao nhiêu tội lỗi, đến ngày cuối cùng phải mang nghiệp đen tối, chịu đọa trong cơi hắc ám. Đó là những người thật đáng thương, chịu đau khổ không biết đến đời nào ra khỏi. Chúng tôi đă nói theo chiều sanh diệt cho quí vị thấy. Chúng ta c̣n ở trong luân hồi th́ chúng ta nên chọn con đường đi sáng sủa an lành hơn, thời gian qua là không trở lại. Tuy vậy nghiệp đă tạo th́ không bao giờ mất. Cho nên trong kinh Nhân Quả Phật nói: Giả sử bá thiên kiếp Sở tác nghiệp bất vong Nhân duyên hội ngộ thời Quả báo hoàn tự thọ Nghĩa là: Giả sử ḿnh tạo nghiệp trải qua trăm ngàn kiếp đi nữa, nghiệp báo cũng không mất. Nghiệp đó tức là nghiệp lành, nghiệp dữ đă gây. Khi duyên hội ngộ tức là gặp nhân duyên đến rồi th́ phải gánh chịu quả báo chớ không chạy trốn đâu được. Nếu chúng ta biết rơ nghiệp báo rồi, chúng ta tạo được nghiệp lành th́ an hưởng vui, những cái tự tại. Bằng chúng ta tạo nghiệp dữ, đó là gốc đau khổ, bị lôi cuốn trong ṿng khổ đau măi măi. Đó là giai đoạn đầu của việc tu hành. Đến đây chúng ta tiến lên một bước nữa. Chúng ta đă tự biết mỗi ngày qua là một hạt chuỗi mộng lần qua kẽ tay rồi không c̣n nữa. Cứ mỗi ngày qua rồi, th́ mất. Như vậy kết thúc của cuộc đời chẳng qua là một giấc mộng dài. Không có ǵ hết. Nếu tính những ngày mộng nhỏ, rồi nhiều ngày mộng ngắn kết lại thành một mộng dài, gọi là tháng, rồi mười hai tháng, thành mộng dài hơn là một năm. Ba mươi hoặc năm bảy mươi năm kết thúc lại thành một trường đại mộng. Tức là mộng dài của một cuộc đời. Trong một kiếp mộng như vậy, nếu chúng ta không thức tỉnh biết nó là mộng, cứ tưởng là thật, chạy theo nghiệp tạo khổ đời đời không hết. Đó là cái mê lầm của chúng ta. V́ vậy cho nên đức Phật lúc nào cũng nhắc bảo chúng ta phải biết rơ cuộc sống không thật, thời gian không thật. Mỗi một ngày qua rồi mất, không ai kéo lại được, giữ lại được. Nói một cách gần hơn hết là một tích tắc đồng hồ đi qua rồi không trở lại. Thời gian trôi vùn vụt không dừng. Cuộc sống của chúng ta th́ cứ tiến tới, tiến thẳng tới chỗ cuối cùng là chết. Không ai dừng được, không người nào có thể duy tŕ kiếp sống khi duyên đă măn. Mỗi một cuộc sống là thôi thúc ḿnh đến cái chết. Quí vị mỗi sáng thức dậy, thử t́m lại cái ngày hôm qua của ḿnh xem nó ở đâu? Những cái ǵ qua rồi không thể t́m được, rơ ràng thời gian qua không t́m lại được nữa. Chúng ta c̣n mắc kẹt trong thời gian th́ chúng ta phải quí tiếc thời gian. Chúng ta cần nỗ lực làm cái ǵ lợi ích cho ḿnh cho chúng sanh để khỏi mất th́ giờ vô ích. Đó là khi chúng ta c̣n cuộc trong thời gian. Nếu chúng ta có cái nh́n thấu đáo rơ ràng biết thời gian huyễn hóa, như tôi nói là những hạt chuỗi mộng hay là những hạt chuỗi nước th́ chúng ta cũng ngay nơi thời gian huyễn hóa đó t́m cho được cái lẽ chân thật, cái không c̣n sanh diệt, không c̣n mắc kẹt, không c̣n bị lôi cuốn trong ḍng sanh diệt của thời gian... Như vậy chúng ta mới là người thoát ra khỏi ṿng sanh tử. Bằng không như vậy th́ chúng ta bị cuốn trôi măi trong ḍng thời gian. V́ vậy nên trong nhà Phật, có khi đức Phật chú trọng thời gian vô cùng. Ngài nhắc chúng ta lúc nào cũng phải quí tiếc thời gian. Có khi Ngài nói thời gian là cái vô nghĩa, thời gian không có thật. Tùy chỗ mà Ngài đánh giá thời gian. Nếu tính theo chiều sanh diệt th́ thời gian rất là quí báu, lợi dụng thời gian để chúng ta tạo tất cả phước lành. C̣n đứng về chiều vô sanh, th́ thời gian biến thành vô nghĩa. Nó không có giá trị ǵ. V́ chính thời gian là những hạt chuỗi mộng như tôi thường kể cho quí vị nghe về bà công chúa đ̣i xâu chuỗi nước. Chúng ta đừng dại khờ như bà công chúa đó nữa là cứ đ̣i cho được xâu chuỗi nước để đeo vô cổ. Nhưng tới bao giờ mới xâu được xâu chuỗi nước. Nếu bà đứng trước những hạt nước lóng lánh, bà đưa tay ra nắm, th́ nắm được chừng mấy hạt? Vừa nắm nó nó đă ḷn dưới kẽ tay rồi rơi mất. Như vậy những hạt nước kia, nó lóng lánh đẹp thật. Nhưng ở xa mà nh́n th́ nó đẹp, bằng khi nắm nó ở tay rồi, th́ nó ḷn qua kẽ tay và biến mất. Càng nắm bắt, chỉ mỏi mệt, nhọc nhằn thôi chứ không nắm được cái ǵ. Nếu chúng ta cứ dại khờ chạy theo thời gian mong mỏi nắm bắt những cái ǵ mà ta cho là hạnh phúc bằng những pháp sanh diệt ở thế gian, th́ những hạnh phúc đó luồn qua kẽ tay cũng như là giấc mộng hay là những hạt sương, những cái bóng vậy thôi. Không có ǵ thật. Bà công chúa sau khi nắm bắt những hạt nước lóng lánh đó mà không được hạt nào hết mới chán chê rồi xin với vua cha một xâu chuỗi thật. Bà được vua cha cho một xâu chuỗi kim cương. Và từ đó về sau bà công chúa không c̣n mơ xâu chuỗi nước nữa, v́ bà quàng xâu chuỗi kim cương đời đời. Chúng ta cũng như vậy. Trước khi chúng ta biết hạnh phúc của nhân gian là cái sanh diệt là cái ảo ảnh, chúng ta cố nắm bắt nó th́ nó luồn qua kẽ tay không bao giờ c̣n ở với chúng ta phút giây nào. Biết được như vậy, thấy rơ như vậy, chúng ta mới trở lại t́m cái chân thật mà đức Phật đă chỉ dạy. T́m được cái mặt chân thật đó rồi, tức là chúng ta được xâu chuỗi kim cương, chúng ta mang măi măi bên ḿnh mà không bao giờ tan nát. Từ cái giả chúng ta chuyển sang cái thật, từ cái sanh diệt bước vào cơi vô sanh. Như vậy đó mới là người biết tỉnh giác. Tỉnh giác được cái giả không c̣n mê lầm nữa. Người biết được cái thật sống trở về với nó, đó là người tu theo đạo giác ngộ. Chúng ta giác ngộ cái ǵ? - Giác ngộ cái giả lâu nay tưởng là thật. Nhận ra cái thật mà lâu nay bị bỏ quên. Cái thật lâu nay ḿnh bị bỏ quên, rồi đi t́m kiếm. Trong khi ḿnh bỏ quên cái thật chấp cái giả cho nó là thật là mê. Biết được cái giả gọi đó là giác. Người hiểu đạo Phật rồi rất là đơn giản, không có cái ǵ cầu kỳ huyền bí xa lạ hết, mà chỉ thấy rơ ngay nơi ḿnh cái nào giả cái nào thật. Cái giả mà lâu nay ḿnh lầm, ḿnh chấp nhận nó là ḿnh, là ta đó, giờ đây ḿnh thấy nó là hư giả. Đó là chúng ta đă giác ngộ. Giác ngộ được phần thứ nhất. Qua cái giả đó chúng ta t́m được cái thật, nó đương ẩn náu trong cái giả. Đó là chúng ta đă giác ngộ qua giai đoạn thứ hai. Chúng ta tiến thẳng vào con đường giác ngộ viên măn không có sai lạc. Tất cả người thế gian đều đi t́m cái mê lầm. Mê lầm cho cái giả làm thật. Chính chúng ta cũng là nạn nhân đó. Tất cả quí vị kể cả tôi nữa, có thấy cái giả làm thật hay không? Tại sao thấy cái giả làm thật? Như thân tứ đại chúng ta đang mang đây là thật hay giả? Có ai động tới nó ḿnh có ưng hay không? B́nh thường lúc tỉnh táo th́ thấy tứ đại này là giả hợp, không có thật. V́ nếu thật th́ c̣n hoài như một khối kim cương, mới gọi là thật. Nay c̣n mai mất, trong phút giây là tan nát, cái đó cũng như là bọt nước chứ ǵ? V́ thế biết nó là giả. Lúc b́nh tĩnh nghe Phật dạy biết nó là giả, nhưng mà có ai thoi một thoi th́ thấy giả hay thậät? Lúc đó lại thấy thật. Tại sao nó là thật? Như vậy là sao? Tại sao ḿnh biết nó giả khi ḿnh b́nh tĩnh? Để thấy rơ rằng khi chúng ta b́nh tĩnh th́ trí tuệ sáng suốt thấy nó hư giả. Khi bị cái ǵ phản ứng mạnh làm cho nó đau đớn th́ lúc đó cái b́nh tĩnh mất đi, trí tuệ không c̣n nữa, bản ngă si mê phát hiện ra, rồi cái giả tướng ḿnh thấy nó là thật. Bởi thấy thật nên mới ăn thua tranh giành với người ta rồi tạo nghiệp. Cho nên ta theo đạo Phật là phải giữ b́nh tĩnh. Có b́nh tĩnh mới sáng suốt, mà có sáng suốt mới khỏi lầm. Khỏi lầm cái giả làm thật. Thiếu b́nh tĩnh th́ bị mê lầm. Đó là điều căn bản. Khi chúng ta nghe Phật dạy, nghe quí Thầy giảng th́ coi như tỉnh hết rồi, coi như ḿnh là thánh nhân rồi, nhưng đụng việc với thế gian th́ ḿnh là phàm phu hẳn. Đó là chúng ta chỉ b́nh tĩnh được khi vô sự, khi có sự là mê. Đó là điểm tôi nhấn mạnh nhất hôm nay. Chúng ta phải làm sao khi hữu sự coi như vô sự. Đó là cái thiết yếu. Đó mới là cái sức mạnh của người tu hành. Khi vắng vẻ lặng lẽ th́ chúng ta tỉnh táo, thấy cái nào giả cái nào thật rành rẽ, nhưng khi đụng việc, trí tuệ đó mất đi, chúng ta lại nổi sân lên rồi chấp cái giả thành thật. Ngài Vĩnh Gia nói: “Giả sử ṿng lửa quay trên đỉnh, định tuệ vẫn tṛn sáng không mất.” Như vậy mới thật là tỉnh ngộ. C̣n ḿnh tỉnh khi lặng lẽ vắng vẻ, khi ồn náo th́ ḿnh mê. Cái đó chưa phải là thật tỉnh. Tất cả chúng ta ai cũng có thể biết được hết. Một là thiếu sự hướng dẫn của thầy của bạn. Hai là thiếu ư chí cương quyết mănh liệt để nỗ lực tu hành. Do đó không giác nổi rồi ở măi trong mê. Rất tiếc rằng có nhiều người cả đời chưa bao giờ biết được cái thân này là hư giả, họ chỉ biết nó là thật, cho nên khi nói nó là giả họ không tin. Đó là v́ họ thiếu sự hướng dẫn của thầy bạn, cho nên họ mê. Có người được thầy bạn hướng dẫn, v́ thiếu ư chí mănh liệt nên khi nghe th́ tỉnh, khi hết nghe th́ mê. Vậy chúng ta nhất là hiện nay, phải quả quyết và can đảm ngay trong khi chúng ta biết cái đó là giả, cái kia là thật. Quả quyết rằng cái này là giả không bao giờ mê nó. Cái kia là thật đừng bao giờ bỏ nó. Đừng mê cái giả và đừng bỏ cái thật để hằng sống và cố gắng sống mỗi ngày mỗi huân, mỗi ngày tập, lâu ngày mới thuần thục, tự nhiên chúng ta cũng như ngài Vĩnh Gia khi Ngài nói: Dù có ṿng lửa xoay trên đầu, định tuệ Ngài cũng không mất. Cho nên chỗ quan trọng mà chúng ta phải thấy là tâm chúng ta dễ xao xuyến lúc ồn náo. Bây giờ ḿnh phải nỗ lực thêm, làm sao khi xao xuyến mà chúng ta vẫn cười. Ví dụ cụ thể là khi xưa mới tập ngồi thiền nhất là khoảng tám chín giờ tối. Có những cái loa ở dưới vọng lên núi các bài hát, các bài ca lảnh lót, lúc đó thiền tâm bị phân tán. Chúng ta nỗ lực hướng dẫn nó, nỗ lực kềm hăm nó, lần lần sẽ làm chủ nó. Đến lúc nào đó, tiếng ca hát không c̣n đủ hấp dẫn như xưa nữa. Thấy không? Kết quả rơ ràng như thế, chứng minh rằng nếu cái ǵ chúng ta nỗ lực cố gắng th́ sẽ vượt qua, không c̣n bị lệ thuộc nữa. Ḿnh tưởng rằng ḿnh ngồi thiền trong chỗ yên th́ được yên, khi có động chạy theo tiếng động, rồi ḿnh cảm thấy tiếng động sẽ lôi ḿnh đi, không bao giờ ḿnh thắng nó. Đừng tưởng như vậy. Ḿnh phải tin tưởng quả quyết rằng khi động chúng ta vẫn làm chủ được. Ngày nay làm chủ một phần, ngày mai làm chủ một phần, nhiều ngày như vậy, rồi ngày nào đó tất cả tiếng động đều vô nghĩa đối với chúng ta. Đó là lẽ chân thật chớ không phải tôi bịa đặt. Tất cả chúng ta nếu cố gắng như vậy th́ tất cả tiếng động sẽ vô nghĩa khi chúng ta làm chủ hoàn toàn. Tôi nói ví dụ nhỏ, ngoài ra những việc lớn cũng như vậy. Giả sử chúng ta ở trong cảnh ngộ nào khắt khe mấy hay là ồn náo mấy đi nữa, miễn tâm hồn chúng ta làm chủ được, tôi tin rằng ai cũng tu được hết. Hồi chúng ta rảnh rang th́ chúng ta ngồi thiền, lúc chúng ta bận rộn hoặc cuốc cỏ hoặc trồng rau chúng ta cũng tu được như vậy chúng ta thấy lúc nào ḿnh cũng tu được, lúc đó thấy ḿnh vui vẻ không thiệt tḥi ǵ hết. Bằng cho rằng ngồi thiền mới tu được; cuốc rẫy không tu được th́ sẽ thấy thiệt tḥi. Bởi v́ có ngày không ngồi thiền được giờ nào, như vậy ngày đó không tu sao? Cuốc rẫy mà tu được th́ không thiệt tḥi tí nào hết. Thay v́ ngày xưa ngồi một ngày ba tiếng đồng hồ, bây giờ cuốc rẫy sáu tiếng tu luôn, th́ ḿnh lời được thêm ba tiếng nữa. Phải vậy không? Như vậy ḿnh có thiệt tḥi chút ǵ đâu. Đó là cái mà chúng ta hiện nay phải tập nỗ lực như vậy. Làm sao trong cái tu của chúng ta không v́ hoàn cảnh mà nó chướng ngại. Đó là cái thiết yếu. Tuy nhiên lúc đầu phải chấp nhận rằng, ḿnh đang ngồi trong yên mà có tiếng động th́ thế nào cũng bị xao xuyến. Trong khi xao xuyến đó chúng ta nỗ lực mỗi ngày, nỗ lực càng ngày càng lâu, tiếng động sẽ vô nghĩa với chúng ta. Đến chừng đó chúng ta mới tự tại trước tất cả tiếng động. Như vậy chúng ta đừng có thối chuyển v́ có tiếng động mà tu không được. Chúng ta phải nghĩ ai trong chúng ta cũng sẽ được thử thách của những tiếng động. Nhờ tiếng động mà sau đó không bị chướng. Đó là điều cần phải nỗ lực. Nếu nỗ lực được như vậy rồi th́ sau quí vị sẽ cười, nhớ hồi xưa tiếng động là cái chướng của ḿnh, bây giờ có tiếng động ḿnh ngồi cũng hay. Như vậy ḿnh không thấy buồn thấy sợ thấy nản ǵ hết. Đó là tôi nhắc rơ chỗ thiết yếu của người tu. Tất cả chúng ta rơ đâu là mê. Mê cái ǵ? Như khi năy tôi đă nói một lần: Mê là lầm nhận cái giả làm thật. Mê là v́ chúng ta chạy theo cái giả mà quên cái thật. Ngay nơi bản thân chúng ta, chúng ta cứ chấp vọng tưởng làm tâm ḿnh, chấp tứ đại làm thân ḿnh rồi cứ tưởng cả ngày cả tháng cả năm. Suốt đời cứ chạy theo vọng tưởng, theo thân tứ đại, lo bảo bọc bồi dưỡng cho nó đủ thứ hết để rồi nó hoại. Giả sử quí vị có trồng hai cái cây, cây chuối chẳng hạn. Khi quí vị trồng nó trổ bông có trái, cho kết quả như ư của quí vị th́ quí vị mới săn sóc. Nếu khi trồng mà nó èo uột, hư găy, biết rằng không thể nào cứu được, th́ quí vị làm sao? Thôi th́ bỏ liều cho nó găy nó mục. Không thể giữ được th́ phải bỏ liều. Nhưng cái thân quí vị có bỏ được không? Ai cũng biết không giữ được mà không dám buông nó. Phải vậy không? Biết cái không bao giờ giữ được mà bao giờ cũng cố giữ. Thở thoi thóp sắp tắt thở mà cũng nói c̣n nước th́ c̣n tát. Không bao giờ bỏ được. Như vậy để thấy rơ rằng chúng ta bám vào nó, cho đến phút cuối cùng cũng c̣n bám. Bám vào mà không có tí nào bảo đảm hết mà vẫn bám. Không phải tôi bảo quí vị cố t́nh bỏ nó, nhưng mà chúng ta mang nó như là mang bè qua sông. Nhớ chúng ta nuôi thân này là kẻ đeo bè qua sông. Giữa sông nó có hư có đứt dây, th́ chúng ta ràng nó lại, khi tới bờ th́ bỏ lên bờ. Khi tới bờ chúng ta không thấy nó quan trọng nữa. Chúng ta thấy nó là giả, nhưng cần nó đưa đến chỗ giác ngộ viên măn nên chúng ta phải nương nó. Khi chúng ta nương nó th́ phải biết rơ nó là cái không giữ được, biết rơ ràng như vậy, đừng bao giờ quên. Không th́ cứ nhớ nó là thật không thể mất. Thân nhân của chúng ta cũng thế. Quí vị nào độ năm mươi tuổi trở lên kiểm điểm lại coi c̣n được mấy vị. Ông cố c̣n không? Ông nội bà nội c̣n không? Ba má chưa chắc là c̣n. Phải vậy không? Như vậy biết lớp người trước đă tan hoại, ḿnh cũng đang tan hoại. Tại sao khi đó cứ cho thân này là thật, cái không giữ được, biết rồi nó sẽ tan hoại, mà ḿnh cứ cho là thật, cố bảo vệ, ǵn giữ, tạo bao nhiêu cũng v́ nó. Đó là cái lầm lớn lao của chúng ta. Cho nên người tỉnh giác biết rơ thân này là hư giả nhân duyên ḥa hợp không thật, kể cả cái vọng tưởng điên cuồng của ḿnh. Quí vị suy nghĩ điều này, suy nghĩ việc nọ. Cái suy nghĩ đó là ai suy nghĩ? Ḿnh suy nghĩ phải vậy không? Tôi đặt câu hỏi: Thí dụ quí vị đang suy nghĩ điều thiện, nghĩ giúp người này người kia, cho rằng cái suy nghĩ thiện này là ḿnh. Một lát có ai chọc tức, ḿnh muốn hại người đó, th́ cái suy nghĩ ác là ai? Nếu cái suy nghĩ thiện là ḿnh, vậy cái suy nghĩ ác là ai? Rồi một lát suy nghĩ thấy người kia gương mặt dễ ghét quá. Gặp người khác thấy gương mặt dễ thương. Vậy thấy dễ thương dễ ghét là ai thấy. Nếu nghĩ thương là ḿnh, nghĩ ghét là ai? Vậy ḿnh có bốn năm thứ ḿnh sao? Cái nào cũng ḿnh th́ cái nào là ḿnh thật? Quí vị nh́n rơ ràng mỗi một niệm sanh diệt, sanh diệt vô thường, từng đợt từng đợt như ḍng nước chảy. Nó không có thật. Mới niệm thương đây rồi đến niệm ghét, niệm buồn niệm giận xen lẫn nhau. Cái ḍng sanh diệt chập chồng với nhau không thật. Ḿnh chấp đó là tâm ḿnh thật. Chấp cái thân tứ đại hư giả là thật, chấp cái tâm sanh diệt từng đợt, từng đợt là thật. Như vậy chấp cái sanh diệt hư giả là ḿnh th́ sẽ đi trong con đường nào? Bám vào cái sanh diệt th́ phải đi trong sanh diệt. Sanh diệt tức là mê. Mê th́ dĩ nhiên ḿnh phải đi trong luân hồi không chối căi ǵ được hết. Nếu chúng ta cứ lầm chấp vọng tưởng, cho đó là ḿnh, chấp thân tứ đại này là ḿnh th́ suốt đời suốt kiếp không biết bao nhiêu a-tăng-kỳ kiếp ḿnh mới thoát khỏi luân hồi. Chỉ bao giờ ḿnh biết quả quyết rằng cái vọng tưởng đó là hư giả không thật th́ chừng đó ḿnh mới t́m cái chân thật. Như khi năy tôi kể chuyện bà công chúa nắm bắt những hạt nước. Nắm bắt nó luồn qua kẽ tay không được hạt nào hết, chừng đó bà mới biết những hạt nước không thể nắm được. Bà không c̣n ham mê những hạt nước nữa, mới đ̣i nhà vua cho xâu chuỗi kim cương. Chừng quàng xâu chuỗi kim cương vào cổ mới chắc là xâu chuỗi thật. C̣n bao nhiêu hạt nước lấp lánh mà ḿnh bám vào đó đều là hư giả. Cũng như vậy, khi nào chúng ta thấy rơ thân hư giả này là không thật, vọng tưởng hư giả không thật, biết rơ nó không thật rồi th́ bước qua giai đoạn thứ hai. Tức là t́m cái chân thật trong cái hư giả đó. Được cái thật trong cái hư giả đó rồi chúng ta mới thấy ḿnh từ trước đến giờ là kẻ ngu si. Ḿnh lầm cái giả là cái thật, rồi bỏ quên cái thật. Cho nên trong kinh Phật nói: “Chúng ta có ḥn ngọc báu cột trong chéo áo mà quên.” Quên ḥn ngọc trong chéo áo rồi đi ăn xin, đi đầu làng xó chợ, sống vất vưởng qua ngày lấy đó làm đủ làm dư. Không biết ḿnh có ḥn ngọc quí để lấy ra xài. Kẻ có của báu bỏ quên chịu nghèo khổ là kẻ tỉnh hay mê? Đó là kẻ mê. Chúng ta cũng vậy. Biết được cái thân hư giả này rồi, chúng ta mới t́m được cái chân thật của chúng ta. Đó là tỉnh. C̣n bằng chúng ta bỏ quên cái chân thật đó, chấp nhận cái thân hư giả này là ḿnh, đó là kẻ mê. V́ vậy đức Phật nói rằng: Chúng ta là kẻ si mê. Nếu trong đời chúng ta tự biết rơ cái giả không mê lầm nữa, và t́m ra cái thật, như vậy mới thật là con người cầu đạo giải thoát. Cũng như lời của ngài Vĩnh Gia Huyền Giác nói: “Cùng Thích tử, khẩu xưng bần, Thật thị thân bần đạo bất bần.” Người ḍng họ Thích là kẻ bần cùng luôn luôn tự nhận ḿnh là bần đạo. Như vậy mà có thật là bần hay không? Thật sự thân tuy bần nhi đạo bất bần. Thân bần thật nhưng đạo không bần. Tại sao thân này bần? - Là v́ mặc áo vá. C̣n tại sao không bần? - V́ ḿnh có chứa hạt châu vô giá. - Vô giá trân. Như vậy tại sao chúng ta nghèo? - V́ chúng ta là kẻ ăn mày mặc áo vá. Cho nên luôn luôn xưng là bần đạo. Tuy bên ngoài chúng ta nghèo, mà bên trong t́m được hạt châu vô giá. Hạt châu vô giá dùng hoài không hết. Đó mới đúng là người cầu đạo. Biết rơ ḿnh có một của quí vô giá cho nên không chạy theo hư giả, để t́m cái của báu chân thật. T́m được của báu chân thật, mới là người giác ngộ, người cầu đạo chân chánh. Chúng ta cứ chạy theo cái bên ngoài hoài th́ không bao giờ t́m thấy được cái kho báu nơi ḿnh. Đó là chỗ thiết yếu của chúng ta trong khi tu hành. Vậy ai đă phát tâm tu hành theo đạo Phật nên nhớ rơ ràng Phật là giác. Tu theo Phật là đi trên con đường giác ngộ của Phật. Tu theo đạo Phật mà không giác được ǵ hết th́ không phải tu theo đạo Phật. Cũng như tôi nói đi về Sài G̣n, tức nhiên ḿnh đi trên con đường về Sài G̣n. Đă đi trên con đường về Sài G̣n mà không tiến được cây số nào hết, th́ cái đó gọi là đi về Sài G̣n không? Tức gọi là ngồi, hoặc là ở một chỗ, hoặc là đi con đường khác. Chớ thật t́nh ḿnh đi trên con đường về Sài G̣n th́ mỗi một giờ, mỗi một ngày đă tiến đi rồi. Ngày nào ngày nào cũng có tiến trên con đường đó không dừng. Cũng vậy, chúng ta theo đạo giác ngộ th́ ngày nào năm nào chúng ta phải có giác mới được. Nếu chúng ta không giác th́ không phải tu theo đạo Phật. Như vậy quí vị cảm thấy ḿnh có giác hay không? Thật sự quí vị có giác chớ sao không giác. Tại v́ ḿnh quen tưởng giác ngộ như lúc đức Phật thành đạo, phải có được tam minh lục thông. Tưởng ḿnh không có tam minh lục thông ǵ hết th́ không gọi là giác, chớ sự thật không phải. Ngày xưa quí vị chưa tu, quí vị có bao giờ nghĩ thân này là giả đâu? Bao giờ cũng cho thân này là thật, rồi tranh hơn tranh thua, duyên đủ thứ hết. Hiện giờ quí vị có nghe Phật dạy, có nghe giảng kinh, nhận thân này là giả, tức là có giác ngộ rồi. Tuy nhiên mới là tỉnh thôi lúc mê th́ quên. Trong nhà Phật gọi cái giác ngộ đó là bệnh rét cách ngày. Ngày th́ mạnh sân sẩn, ngày th́ trùm chăn. Cái giác đó chưa là thuần giác. Nhưng dù sao cũng là giác. Bởi v́ sao? Bởi đức Phật dạy: Tu thành Phật phải được Vô thượng chánh đẳng chánh giác, nghĩa là cái giác của đức Phật, không ai hơn và hằng măi. Chánh đẳng là chân chánh viên măn không dừng không có một chỗ hở. Đạt được giác ngộ, đó là thành Phật. C̣n chúng ta giác ngộ cách ngày cách giờ, cái giác ngộ đó được gọi là Phật chưa? Cũng là có giác nhưng chưa phải là Phật con, cũng là Phật cháu, Phật chắt. Cũng có một chút trong đó chớ chẳng phải vô phần. Như vậy chúng ta không có mặc cảm rằng chúng ta chưa từng giác. Chúng ta biết được hoàn cảnh xă hội, hay là tất cả sự việc chung quanh là duyên hợp nên cũng là hư giả. Biết như vậy tuy chưa thường xuyên, nhưng có biết chút nào là có giác chút ấy. Như vậy chúng ta có giác chớ không phải không giác. Lại nữa, chúng ta lâu nay chấp nhận những vọng tưởng điên cuồng là ḿnh là tâm của ḿnh, giờ đây biết là vọng tưởng th́ chúng ta có giác rồi. Giờ phút nào chúng ta có biết như vậy là giờ phút chúng ta giác. Nếu kiểm điểm lại so với năm rồi, năm nay quí vị tiến nhiều chưa? Tiến khá lắm chứ, phải vậy không? Tu lâu mà không tiến là tại ḿnh quên, ḿnh thấy sao cái đó nó thường quá, chưa có hào quang, phải vậy không? Chưa biết bay cho nên ḿnh cho là không giác, chớ sự thật đă tiến rồi. Có khi cái giác đó cách khoảng thưa th́ một giờ, nhặt th́ nửa giờ, hoặc là mười phút chẳng hạn. Chỉ cách khoảng như vậy, khi xưa cả năm chưa từng giác lần nào, phải vậy không? Như vậy là ḿnh đă tiến bộ khá nhiều đừng bi quan. Tôi đă chỉ sự thật cho quí vị thấy việc tu hành không phải là không tiến nhưng v́ ḿnh không kiểm điểm nên thấy không tiến. Tại ḿnh tưởng là không tiến chớ không phải là ḿnh không tiến đâu. V́ vậy tất cả chúng ta nếu là kẻ tu hành cầu đạo giác ngộ th́ chúng ta phải thấy rơ rằng mỗi ngày, mỗi ngày chúng ta phải giác, không thể mê được. Nếu giác càng nhặt là tiến bộ của chúng ta, c̣n giác thưa là lui của chúng ta. Có nhiều vị than thở với chúng tôi, biết vọng mà vọng cứ sanh hoài làm sao? Vọng nó sanh th́ sanh, nó sanh th́ đừng chạy theo nó. Biết vọng đừng theo nó là giác rồi. Trăm lần vọng th́ có trăm lần giác, không có buồn không có sợ. Đó là tôi nói về tâm. Giờ đây đến thân cũng vậy. Nếu có bệnh hoặc chướng ngại ǵ đi nữa, ḿnh biết thân này là hư giả, th́ ngay nơi thân này tỉnh giác. Giác thân giác tâm là cái giác căn bản. Ḿnh biết rơ ràng thân tâm không lầm rồi, t́m ra cái thật nữa th́ quí báu vô cùng. Đó là quí vị đă nắm được ḥn ngọc vô giá trong tay. Nếu chưa t́m được ḥn ngọc đó, khi biết thân hư giả, đó là quí vị từ bỏ con đường giả để trở về con đường thật. Tuy chưa nắm được, nhưng đă tiến một bước rồi. Đó là sự thật, cho nên tất cả quí vị nào hiểu đạo rồi th́ tự nhiên nh́n thấy ḿnh tu có vẻ chín chắn hăng hái chứ không thối chuyển. Bởi v́ ḿnh biết có giác, mà có giác như đánh giặc với phiền năo. C̣n có đánh tức là ḿnh chưa thua. Người thua là người xếp giáp chạy dài mới thua. Ḿnh c̣n đánh, dù chưa có thắng hoàn toàn nhưng cũng c̣n đánh chớù chưa phải là kẻ thua trận. Giặc ḿnh c̣n đánh là thắng hay thua? Vừa dấy vọng, biết vọng là nó hết. Đó là ḿnh thắng được giặc rồi, phải như vậy không? Có giặc nào ḿnh giết nó mà nó c̣n kéo ḿnh, nó không mất. Có thứ giặc nó kéo ḿnh đi xa một chút mới mất. Quí vị kiểm lại là kẻ toàn thắng chớ không phải thua đâu. Tại v́ giặc nhiều quá nên thắng lâu. Nếu một hai chú th́ ḿnh thắng nhanh có lẽ thành Phật rồi, phải vậy không? Tại v́ có triệu triệu chú thành ra ḿnh cứ đánh hoài mà chưa hết. Tất cả quí vị cứ tin tất cả những chú giặc của ḿnh là những đứa giả. Ông chủ mới là người thật. Kẻ thật đánh với kẻ giả lo ǵ không thắng. Tin quả quyết như vậy th́ việc tu tiến của ḿnh sẽ thành công, chắc chắn thành công một trăm phần trăm. Đó là tôi nói quí vị thấy rơ việc tiến tu của ḿnh. Khi nhớ việc tiến tu của ḿnh, chúng ta không nên quên hiện giờ là ngày ba mươi Tết, tức là qua một năm nh́n lại, chúng ta có già trẻ ǵ không? Một năm qua, tất nhiên chúng ta nhận xét chậm lụt mấy đi nữa, cũng thấy ḿnh có già nhiều rồi. Nếu nhận xét tinh vi th́ ḿnh già đi từng giây phút huống nữa một năm. Đây là tôi nói nhận xét chậm lụt nhất th́ qua một năm, chúng ta cũng thấy già nhiều sinh lực có giảm đi, sự chiến đấu cũng có kém đi một chút. Năm nay yếu đi một chút, năm tới yếu đi một chút mà ḿnh không nỗ lực th́ thành công hơi khó. Nên nhớ qua một năm ḿnh suy yếu đi, trí tuệ cũng yếu, tinh thần cũng yếu, vậy chúng ta phải nỗ lực, nhất là những vị sáu mươi tuổi trở lên. Con đường của ḿnh sắp tới giai đoạn chót rồi. Muốn làm một cuộc đua đến giai đoạn chót phải chạy nước rút. Không thể chần chờ được. V́ vậy mà ai đă sáu mươi tuổi rồi th́ nhớ một năm qua là chúng ta phải nỗ lực bằng mấy lần năm trước. Như vậy năm rồi có nỗ lực hơi ít th́ dự bị cho năm tới đây phải nỗ lực bằng hai bằng ba mới được. Không thể chần chờ v́ bọn ma quân c̣n đông quá, nếu ḿnh chần chờ th́ nó thắng ḿnh chớ ḿnh không thể thắng được nó. V́ vậy quí vị phải nỗ lực hơn. Không cứ phải quí vị già sáu mươi tuổi trở lên mới nỗ lực, quí vị bốn năm chục tuổi th́ sao? Không biết ḿnh có sống tới sáu mươi tuổi hay không. Có thể đến sáu mươi nhưng chưa chắc, cần phải nhớ là mạng sống trong hơi thở. Phải nỗ lực như những người đă lớn tuổi. Đừng ỷ lại đời c̣n dài đi từ từ cũng được, cần nỗ lực chớ không lôi thôi được. Như vậy, chúng ta thấy phải nỗ lực, nỗ lực th́ mới có tiến và bảo đảm một ngày nào chiếc bè này ră, chúng ta bước lên bờ. Bằng không th́ không bảo đảm. Ai dám tin rằng ngày mai cũng c̣n an ổn khỏe mạnh như ngày nay. Khi đă thở ra mà không hít vào th́ đă hết cuộc đời. Cho nên tất cả chúng ta phải nỗ lực, rất là nỗ lực mới được, chớ không phải nỗ lực tầm thường. Do đó tôi nghĩ rằng, nhớ đến ngày ba mươi, đêm giao thừa th́ chúng ta nên nhớ đến cái phút thở hào hển, bà con chung quanh kẻ chấp tay niệm Phật, người th́ lau nước mắt chờ đưa chúng ta qua thế giới khác. Nói như vậy để quí vị đừng chần chờ nữa. Chớ thấy sum hợp đầy đủ, th́ vui tưng bừng lên, rồi không biết làm sao nữa. Nhớ tới đêm giao thừa th́ chúng ta phải nên nhớ đến ngày đến giờ mà mọi người thân chúng ta đang lau nước mắt khóc tiễn chúng ta đi từ thân này bước qua thân khác. Có nhớ như vậy th́ đêm giao thừa sẽ là đêm thôi thúc đậm đà trong ḷng chúng ta. C̣n không nhớ như vậy th́ ư nghĩa đêm giao thừa nó yếu ớt đi. Khi nhớ tới một năm qua là chúng ta già đi một phần, chúng ta phải nỗ lực phải làm sao tiến tới tiến măi, không lùi. Từ trước tôi nói sự thật của tôi thấy và với tâm niệm mà tôi đă đọc được qua quí vị để nhắc nhở quí vị cố gắng trong sự tiến tu. Giờ đây tôi nói qua các vị Thiền sư cho vui. Bởi cái thấy của các Thiền sư lúc nào cũng tương tự chớ không khác nhau mấy. Tôi dẫn một Thiền sư Trung Hoa, ngài Quang Giác đời Tống. Một hôm đến ngày Xuân có người hỏi Ngài có cảm tưởng ǵ về con người th́ Ngài làm một bài thơ như sau: Khứ niên phùng thanh Xuân Châu nhan ánh đào lư Kim niên phùng thanh Xuân Bạch phát yểm song nhỉ Nhân sanh thất thập niên Tật nhược đông lưu thủy Bất liễu bản lai tâm Sanh tử hà do ly Dịch: Năm trước gặp thanh xuân Má hồng khoe đào lư Năm nay gặp thanh xuân Tóc bạc đầy cả mái Người đời tuổi bảy mươi Nhanh như ḍng nước chảy Chẳng ngộ tâm xưa nay Sanh tử làm sao khỏiThiền sư mỗi năm qua thấy thân trẻ biến thành già. Kể cả bảy mươi năm trôi nhanh như ḍng nước chảy. Nếu không ngộ được bản tâm xưa nay, làm sao thoát khỏi ḍng luân hồi sanh tử. Chúng ta là con cháu trong nhà Thiền cần phải thấy như thế. Có được cái thấy này, chúng ta mới thức tỉnh tiến tu chóng thoát ly sanh tử. Vậy mong tất cả quí vị cùng chúng tôi, chúng ta dự buổi tiệc trà đạm bạc đêm giao thừa này, là một ấn tượng đánh thức chúng ta tỉnh giác cuộc đời là vô thường, phải nỗ lực tiến tu đừng để trôi qua vô nghĩa. Chúc quí vị sang năm mới thường tỉnh giác. ]MÙA XUÂN DI-LẶC XUÂN BÍNH TH̀N 1976 Năm nay chúng ta t́m hiểu ư nghĩa mùa Xuân Di-lặc để quí vị biết tại sao ngày mùng một Tết là ngày vía đức Di-lặc. Khi lạy Ngài chúng ta đă xướng lên câu: “Nam-mô Long Hoa giáo chủ đương lai hạ sanh Di-lặc Tôn Phật” tức là Bồ-tát Di-lặc sẽ thành Phật ở trong hội Long Hoa. Ngài là bậc giáo chủ ở hội đó và sau này mới thành Phật chớ không phải thành Phật ngay bây giờ. Đó là ư nghĩa thâm trầm nhất trong nhà đạo. Chúng ta ai ai cũng xem ngày mùng một Tết là ngày mở màn năm mới. Bao nhiêu chuyện vui buồn của năm tới gần như là nẩy mầm từ trong ngày mùng một Tết. Cho nên ai nấy đều rất dè dặt, rất kính cẩn trong ngày mùng một này. Mỗi hành động, mỗi ngôn ngữ, chúng ta đều e dè v́ sợ hành động hôm nay ảnh hưởng đến sự vui buồn của năm tới. Đó là quan niệm của nhân gian. Trong nhà đạo ngày mùng một Tết nói theo thời gian cũng là ngày mở màn cho năm tới. Năm tới đầy hứa hẹn với chúng ta là một năm giác ngộ. V́ vậy đức Phật Di-lặc là một vị Phật được hứa hẹn thành Phật ở mai sau. Ngài thành Phật đó là Ngài hoàn toàn giác ngộ. Hôm nay đầu năm lễ Ngài để chúng ta nhớ rằng năm nay là một năm hứa hẹn chúng ta sẽ được giác ngộ. Nếu chưa được th́ năm tới sẽ được chớù không thể nào tu suông được. V́ vậy ngày mùng một Tết đối với nhân gian là ngày Tết Nguyên Đán, đối với nhà đạo là ngày vía đức Bồ-tát Di-lặc, một vị Phật sẽ thành mai sau. Như vậy mỗi khi nhớ đến Phật sẽ thành, nhớ ngày mùng một Tết, chúng ta nghĩ cũng sẽ giác ngộ, chớ không thể lôi thôi được. Nhưng mà cái giác ngộ tôi nói đây không phải giác ngộ hoàn toàn như bậc Chánh đẳng chánh giác là Phật, mà là một thứ giác ngộ từng phút từng giây của chúng ta. Như vậy cũng không hổ thẹn ǵ đối với ngày vía này. Đó là tôi nói sơ thâm ư của ngày vía đức Phật Di-lặc. Bây giờ đi thẳng vào mùa Xuân Di-lặc, nói đến mùa Xuân Di-lặc; nói đến mùa Xuân th́ quí vị đều biết. Chúng ta chịu lạnh ở mùa Đông quá nhiều, đó cũng là lời nói vay mượn theo nước Trung Hoa v.v... Chúng ta chịu ảnh hưởng Trung Hoa ngoại quốc nhiều, cho nên ai cũng tưởng mùa Đông cây cối trơ trọi, sương tuyết đầy đường, lạnh buốt không chịu nổi. Nhưng thật sự ở miền Nam chưa có. Chúng ta hiểu theo những nước Trung Hoa, Nhật Bản, những nước Âu Châu tức cho mùa đông là một mùa lạnh lẽo, cây cối đều rụng lá trơ cành, không có cái ǵ sanh trưởng được. Nơi người th́ do sức lạnh phải teo da xám thịt. Cái lạnh làm người ta không c̣n sức sanh trưởng nẩy nở, phải chờ đến mùa Xuân cây cối mới đâm chồi nở hoa kết quả. Mùa Xuân tới th́ cơ thể con người, ḷng người mới được ấm áp vui sướng. Cho nên mùa Xuân là mùa ta hằng mơ ước. Mùa Xuân có cái ǵ ḥa ấm tươi vui khiến cho mọi người hăng hái trong cuộc sống, vạn vật đâm chồi nẩy lộc xanh tươi trong những ngày đó. V́ vậy, khi nói tới mùa Xuân là nói cả một cái ǵ đầm ấm trong con người. Hiện nay mùa Xuân Di-lặc là mùa Xuân ǵ? Và chúng ta cùng chúc nhau những ǵ? Ở trên cuộc đời này có bao nhiêu người cứ theo cái mê lầm ảo tưởng của ḿnh, chạy theo ngoại cảnh, bám vào ngoại cảnh cho là ḿnh. Cho nên phải khổ đau theo ḍng sanh diệt của ngoại cảnh. Như bao nhiêu người thấy cái ǵ cũng nói cái đó là của ḿnh, lệ thuộc ḿnh từ cái bản thân cho đến cái sự vật bên ngoài. Không có cái nào là không bám chặt vào ḿnh. Bởi cái chấp ngă nặng nề đó cho nên con người phải khổ đau, khổ đau dài dặc từ kiếp này đến kiếp khác. Đó là cái chấp ngă sở, tức là vật sở hữu của ḿnh. Tôi thấy cái hoa này là cái hoa của tôi. Nó tươi tôi vui, nó héo tôi buồn. Nếu cái này là hoa của thiên nhiên nó tươi nó héo là nó tươi nó héo không dính dáng ǵ đến tôi. Tại sao vậy? - Bởi v́ ḿnh đặt chủ quan ḿnh vào sự vật, bắt sự vật lệ thuộc vào ḿnh. Ḿnh muốn ḷng người đối với ḿnh và sự vật thuộc về ḿnh trường tồn vĩnh cửu. Cho nên khi có trạng thái biến đổi, xê dịch th́ ḿnh cảm thấy bất an, không vui rồi. Do đây mà người ta đau khổ v́ bắt sự vật lệ thuộc vào ḿnh. Khi nào chúng ta biết bản tánh sự vật là như vậy không đổi thay, không lệ thuộc vào ai cả, th́ lúc đó chúng ta mới nh́n sự vật với tính cách khách quan. Như thế chúng ta mới an vui tự tại. Cho nên cùng một cảnh ngộ, cùng một sự việc trên cơi đời này, có người th́ cả ngày buồn lo rầu rĩ, sợ sệt, c̣n có người th́ an ổn vui tươi. Đó là tại sao? - Chẳng qua đó là người biết sống, người không biết sống. Có người họ giành giựt nhau từng miếng ăn để sống. Như vậy họ có biết sống không? Họ ham sống lắm. Nhưng sự thật họ sống trong cái chết, tức là họ v́ miếng ăn, v́ tất cả những cái không đáng giá ǵ mà họ lại đua nhau giành giựt để rồi chết v́ miếng ăn. C̣n chúng ta nếu thức tỉnh được th́ khác hơn họ nhiều. Do đó mà quí vị thấy, nh́n lên h́nh tượng đức Di-lặc trong các chùa xưa thờ, có đức Di-lặc nào buồn hay không? Chúng ta thấy đức Bồ-tát Di-lặc nào cũng nở nụ cười. Không bao giờ thấy đức Di-lặc nào buồn hết. Nói đến đức Bồ-tát Di-lặc là nói đến vui tươi. Tại sao Ngài cười hoài, Ngài giàu chăng? Ngài không giàu, Ngài có giàu ǵ đâu? Ngài có ưu điểm ǵ mà Ngài vui tươi măi? Đó là cái điểm mà chúng ta phải chú ư. Như khi năy tôi nói, bắt ngoại cảnh lệ thuộc ḿnh th́ tự nhiên ḿnh là người đau khổ. Mà quí vị có bắt ngoại cảnh lệ thuộc ḿnh hay không? Tỷ dụ bây giờ đứng trước một trăm người, quí vị có muốn một trăm người đó đừng để ư ǵ đến quí vị hay không? Hay là muốn ai cũng chú tâm vào ḿnh, nh́n vào ḿnh để rồi khen ḿnh, để rồi mến ḿnh v.v... Nghĩa là muốn mọi người chú tâm vào ḿnh, muốn tất cả sự vật đều thuộc về ḿnh. Quí vị thấy cái hoa đẹp quí vị có muốn nắm cái hoa ấy trong tay hay không? Hay là thấy cái hoa đẹp nên để nó nằm yên trên cành trong rừng để nó giữ trọn vẹn hương sắc của nó. Cái ǵ chúng ta cho là đẹp ở bên ngoài đó, vừa trông thấy nó đẹp là bắt nó lệ thuộc vào ḿnh. Cho nên nói theo Tổ Bồ-đề-đạt-ma, chúng ta cắt hoa chưng như vầy cũng có tội. Bởi v́ sao? V́ chúng ta ăn cắp sanh mạng của nó làm đẹp cho chúng ta. Đó là lối nh́n đáo để của những vị tu hành, biết rơ ràng sự vật một cách khách quan. Ngược lại chúng ta thấy cái ǵ đẹp là muốn đem về pḥng chưng hoặc để đâu đó, nghĩa là phải lệ thuộc về ḿnh. C̣n cái đẹp bên ngoài th́ chúng ta không muốn. Đó là cái bệnh mà tất cả chúng sanh hiện giờ đang mắc phải. Nói cái bệnh đó tôi chưa cần phải giải thích mà xin dẫn lời một Thiền sư Trung Hoa. Thiền sư Bổn Tịnh đă nói lên cho chúng ta thấy bệnh đó qua bốn câu kệ: Nhất niên Xuân tận nhất niên Xuân Dă thảo sơn hoa kỷ độ tân Thiên hiểu bất nhân chung cổ động Nguyệt minh phi vị dạ hành nhân Tạm dịch: Một năm Xuân trọn một năm XuânCỏ dại non hoa mấy độ tươi Trời sáng chẳng do chuông trống động Trăng trong đâu bởi khách đi đêm Như vậy nghĩa là sao? Bởi v́ quí vị nhớ ở chùa xưa lâu nay tới bốn năm giờ thức dậy công phu đánh chuông đánh trống. Những nhà hàng xóm những đứa bé trong làng bị ba má nó kêu dậy. Thí dụ như: Ở chùa công phu đánh chuông trống, trời sáng rồi, a! Dậy đi thả ḅ ăn. Thế nên nó quen có quan niệm là chùa đánh trống là trời sáng. Nhưng nhân chùa đánh trống mà trời sáng, hay là chùa đánh trống là chùa đánh trống, c̣n trời sáng là trời sáng? Không phải chùa đánh trống mà trời sáng, nhưng người ta quen khi nghe chùa đánh trống dộng chuông công phu là nói trời sáng. Như vậy tại sao có thói quen đó? Bởi v́ ḿnh cứ tưởng tượng có cái ǵ thúc giục, duyên mới xuất hiện, thành ra trời sáng thuộc về đánh trống đánh chuông của nhà chùa. Rồi trăng sáng có những người khách đi ban đêm, nhân có trăng sáng người mới đi chơi đêm. Như vậy trăng sáng cho họ đi chơi đêm hay là khách đi chơi đêm v́ trăng sáng? Đó là chỗ mà chúng ta phải thấy rơ. Người đi đêm th́ họ tự đi, trăng sáng là trăng tự lên mà sáng không phải v́ khách đi đêm mà trăng sáng. Nhưng trăng sáng người khách mới lợi dụng trăng sáng mà đi chơi đêm. Như vậy rơ ràng là chúng ta nh́n sự vật bằng con mắt chủ quan cho tất cả đều v́ ḿnh. Thí dụ như quí vị thấy ở sông có cá ngoài biển có tôm, quí vị sẽ nói sao khi con cái hỏi: V́ sao có cá có tôm? Là cha mẹ quí vị cắt nghĩa với con ra làm sao? - Trời sanh ra để ḿnh ăn đó. Rồi thấy ngoài đồng, tại sao có lúa có đậu có bắp? Cũng bảo trời sanh để ḿnh ăn. Tất cả cái ǵ cũng để cho ḿnh hết. Rồi hỏi tại sao có mưa? - Có mưa để ḿnh làm ruộng. Tại sao có nắng? - Có nắng để ḿnh phơi lúa. Tất cả cái ǵ cũng để cho ḿnh. V́ vậy mà trong vũ trụ này ḿnh là trung tâm. Bởi v́ ḿnh là trung tâm vũ trụ cho nên ai không làm theo ư ḿnh th́ ḿnh nổi tức lên. Tỷ dụ như ḿnh phơi lúa mà mưa xuống th́ có nổi giận hay không? - Tại sao người ta đang phơi lúa mà trời lại mưa? Như vậy ḿnh bắt thiên nhiên lệ thuộc về ḿnh, mà lệ thuộc bằng cách ngu tối mê mờ của ḿnh, chớ không phải lệ thuộc bằng cách không ngoan. Bởi bắt lệ thuộc về ḿnh nên mới khổ đau v́ không được như ư. Quí vị thấy tất cả chung quanh chúng ta từ con người đến muôn vật, có cái nào chiều theo ư chúng ta hay không? Mà giả sử có ông Trời, ông cũng không chiều nổi nữa. Muốn cái này đ̣i cái kia, được cái kia đ̣i cái khác. Nếu muốn một người được thỏa măn hoàn toàn th́ cả vũ trụ nhân loại này đều phải là nô lệ cho người đó hết. Do đó con người lúc nào cũng đau khổ v́ thấy ngoại cảnh bất như ư. Tại sao bất như ư? V́ ḿnh bắt ngoại cảnh lệ thuộc về ḿnh. Nếu ḿnh có cái nh́n khách quan, th́ sẽ thấy ngoại cảnh là ngoại cảnh, không cái ǵ thuộc về ḿnh hết, không cái ǵ v́ ḿnh hết. Trăng trong là trăng trong, không phải v́ ḿnh đi đêm mà trăng trong. Trời sáng là trời sáng chớ không phải v́ chùa đánh chuông đánh trống là trời sáng. Như hoa cỏ nó tươi nó nở là tới thời tiết nó tươi nó nở, chớ không phải v́ cái ǵ mà nó tươi nó nở. Nói tóm lại qua bốn câu thơ đó, Thiền sư Bổn Tịnh đă cho ta thấy rằng chúng ta bệnh chủ quan quá nặng nên bắt ngoại cảnh lệ thuộc vào chúng ta. Nhưng ngoại cảnh có chịu lệ thuộc vào chúng ta hay không? Hẳn là không? Khi thời tiết nhân duyên tới th́ hoa trổ bông kết trái chớ không phải ḿnh muốn là được. Nhiều người không biết như vậy, trồng cây mới đặt xuống năm bảy hôm là muốn cho nó lớn mau, rồi muốn nó có bông có trái liền. Năm bảy ngày không thấy nó lớn, lại muốn nhong nhóng lên cho nó mau lớn. Đó là cái bệnh tham lam của con người. Bởi cái gốc tham lam mê muội đó mà người ta măi măi đau khổ. Ở đây Thiền sư muốn cho ta hết đau khổ, Ngài chỉ cho chúng ta thấy phải dứt đi hết bệnh tham lam. Mà bệnh tham lam là bệnh chấp ngă sở, tức bắt ngoại cảnh lệ thuộc vào ḿnh. Quí vị nghĩ con cá con tôm phải sanh ra cho chúng ta ăn hay không? Nó là nó, sự sanh sản của nó là nó, chớ không phải v́ chúng ta mà nó sanh. Tất cả cái khác cũng như vậy. Như vậy sự vật ở cơi đời này, không có cái ǵ v́ chúng ta hết, nhưng chúng ta tạo phương tiện t́m kiếm tàn sát để nuôi dưỡng chúng ta. Đó là sự lợi dụng của chúng ta, chớ không phải nó sanh ra để cho chúng ta ăn. Ngoài tôm cá tất cả cái khác cũng vậy. Cho nên trong nhà Phật dùng danh từ rất chuyên môn gọi là “Pháp nhỉ như thị” tức là các pháp nó như vậy. Các pháp không thuộc vào ai hết, nó không bị cái ǵ chi phối, không lệ thuộc vào cái ǵ, nó là nó, nếu bắt nó lệ thuộc là ḿnh ngu si. Tại sao vậy? Chúng ta cứ suy gẫm lần lần như tôi nói năy giờ. Chúng ta biết một năm có bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông, hoặc ấm áp hay lạnh lẽo, hoặc gió mưa hay khô cạn. Bốn mùa đó không phải v́ chúng ta mà có, nhưng do sự xoay vần của trái đất. Nhân biết có bốn mùa rồi chúng ta mới lợi dụng. Mùa mưa th́ chúng ta ven bờ làm ruộng, mùa nắng hạn th́ chúng ta phơi lúa, làm những việc khô khan. Mùa lạnh th́ chúng ta sắm những cái mền, những cái áo ngủ ấm để mà che lạnh. Mùa nào chúng ta làm hợp theo mùa nấy. Nói tóm lại chúng ta biết có bốn mùa, đó là thiên nhiên sẵn như vậy, chớ không phải v́ chúng ta. Nhân chúng ta biết đó mà lợi dụng làm việc sao cho phù hợp với bốn mùa. Đó là chúng ta khôn ngoan muốn sống. Nếu không chúng ta cứ bắt nó lệ thuộc vào chúng ta; vả như đang mùa nắng mà chúng ta muốn mưa th́ sao? Có mưa được không? Muốn mưa mà không mưa ngồi đó mà trách trời trách đất: Hôm nay tôi cần mưa mà không mưa cho tôi. Đó là cái đau khổ do si mê của ḿnh. Ngoài ra tất cả cái khác cũng vậy. Tỷ dụ như thế gian, người nuôi con chó th́ nghĩ rằng, nuôi nó để giữ nhà cho ḿnh. Khi nào có ăn trộm, nó ngủ quên nó không sủa th́ đánh đập nó. Nhưng nó có hứa nó giữ nhà cho ḿnh đâu, mà thói quen của nó thấy người lạ là sủa. Nó sủa vậy thôi chớ nó không nghĩ sủa như vậy là giữ nhà, giữ ăn trộm cho người chủ. Thế mà có ăn trộm nó ngủ quên sủa th́ ḿnh đập nó. Khi nuôi gà, người ta có ư nghĩa để nó gáy cho ḿnh thức đúng giờ, hoặc để ḿnh ăn thịt. Tại ḿnh quan niệm như vậy chớ nó đâu có nghĩ là tôi gáy cho ông bà nấu cơm đúng giờ đâu. Ngứa cổ nó cứ gáy vậy thôi. Bữa nào nó quên ḿnh bực bội trách tại sao không gáy làm cho người ta ngủ quên. Như vậy ḿnh có phải bắt buộc nó làm theo ư ḿnh không? Đó là tánh cách ngu si chủ quan. Ḿnh muốn bắt tất cả cái ǵ cũng làm lợi cho ḿnh hết. Sự vật bên ngoài nó có nghĩ làm lợi cho ai đâu. Nó là nó. Có cơ duyên ǵ đó mới làm như vậy chớ không phải nó làm cho ḿnh. Nó đâu có nghĩ nó làm cho ḿnh rồi khi thiếu sót một chút không làm đúng như các trường hợp cũ, th́ ḿnh tức giận lên và ḿnh có thể làm hại nó nữa. Như vậy chúng ta thấy tất cả sự vật nó là nó, nó không phải lệ thuộc vào chúng ta. Chúng ta v́ tham lam bắt nó lệ thuộc vào chúng ta, cho nên nếu có một cái không lệ thuộc về chúng ta là chúng ta đâm ra tức giận. Tỷ dụ đi vào vườn hoa của người, khi thấy một hoa đẹp muốn thuộc về ḿnh. Nếu xin mà ông chủ không cho liền nổi giận. V́ thấy nó đẹp, muốn nó về ḿnh, không được như ư là tức giận lên. Rồi tất cả cái khác đều cũng như vậy. Nếu thấy hoa đẹp để ngắm th́ có tức giận đâu. Thấy cái ǵ cũng muốn thuộc về ḿnh, khi có một cái không lệ thuộc về ḿnh mới đâm ra buồn khổ. Cái khổ đó từ đâu đem đến cho ḿnh? Quả tang là chúng ta tham lam bắt sự vật thuộc về ḿnh, nên chúng ta đau khổ. Nếu bây giờ chúng ta biết sự vật là sự vật không thuộc về ai hết, ta nh́n nó với tánh cách khách quan th́ có lúc nào buồn đâu. Thấy người ta có cái nhà tốt th́ vui được thấy cái nhà tốt, đừng muốn cái nhà tốt thành của ḿnh, tự nhiên ḿnh vui rồi. Sở dĩ ḿnh thấy người ta có nhà tốt mà ḿnh có nhà xấu ḿnh buồn, v́ ḿnh muốn được cái nhà tốt như người, nên mới có niềm bất an trong ḷng. Chớ ḿnh thấy người ta có cái nhà tốt, ḿnh mừng được thấy cái nhà đẹp quá. Thấy người có cái áo tốt, ḿnh mừng được thấy cái áo đẹp. Được như vậy cả ngày ḿnh vui hoài. Người có cái này đẹp, người có cái kia, rồi ngoài vũ trụ có bao nhiêu cái đẹp. Thấy được cái đẹp th́ vui, chớ ḿnh không bắt cái ǵ về ḿnh hết. Nếu ḿnh muốn cái ǵ tốt đẹp, muốn về ḿnh th́ cả ngày ḿnh cứ buồn hoài. Đi ra thấy người ta có chiếc xe hơi đẹp, thấy ḿnh không có ḿnh buồn. Thấy người ta có cái nhà đẹp ḿnh không có ḿnh cũng buồn. Như vậy buồn cả ngày. Đó là tự ḿnh v́ ḿnh muốn cái ǵ đẹp về ḿnh, cho nên càng muốn là càng khổ. Nếu chúng ta biết tất cả cái đẹp không lệ thuộc về chúng ta th́ chúng ta hết khổ. Hết khổ một cách an nhàn tự tại. Chúng ta cũng không đố kỵ, không ghét không khó khăn với ai hết. Ai có ǵ đẹp th́ ḿnh tán thán tùy hỉ liền. Khi thấy cái đẹp ḿnh có ư nghĩ: À ông ấy có cái đẹp thích quá, mà ḿnh không xin, không muốn lệ thuộc về ḿnh th́ tức nhiên ḿnh có đố kỵ với người đó đâu. Ở thế gian, quí vị thấy một người anh ruột mà giàu, người em nghèo th́ người em có thương người anh ruột hay không? - Cũng có hơi đố kỵ rồi. Người khác cũng vậy, tại v́ muốn tất cả gồm về ḿnh. Lúc nào họ cũng thấy ḿnh là trung tâm vũ trụ, bắt buộc tất cả phải về ḿnh hết. Ra ngoài đường người ta không nh́n ḿnh, ḿnh cũng hơi giận rồi. Cái ǵ cũng phải chú vào ḿnh hết. Người ta ít chú ư về ḿnh th́ ḿnh không bằng ḷng. Đó là quan niệm chủ quan quá đáng. Chủ quan đó gọi là chấp ngă nặng, bắt ngoại cảnh phải lệ thuộc về ḿnh, gọi là chấp ngă sở. V́ vậy chúng ta phải biết rơ ràng tất cả pháp ở giữa đời này, không có cái ǵ thuộc về cái ǵ hết. Nó là nó, nó không thuộc về ḿnh. Sở dĩ ḿnh khôn khéo ḿnh lợi dụng nó để ứng dụng, để chu cấp cho cuộc sống của ḿnh, chớ nó không lệ thuộc về ḿnh. Nó rơ ràng như vậy đó. Nếu biết tất cả pháp không lệ thuộc về ḿnh th́ pháp nào ở bản vị pháp nấy. Cái hoa này nó ở bản vị của nó, tất cả cái khác nó ở bản vị của nó, không lệ thuộc cái nào hết, nó là nó. Tuy nhiên nó sanh nó diệt. Nó sanh nó diệt theo thời tiết nhân duyên của nó chớ không lệ thuộc vào cái nào. Nhưng mà chúng ta có bằng ḷng với sự vật bên ngoài - nó là nó - không lệ thuộc về ḿnh hay không? - Không ai bằng ḷng hết. Chính cái đó là cái đau khổ, muôn ngàn đời đau khổ cũng v́ cái đó. Cho nên nói hoa nở cả vườn mà chỉ có vườn của ta th́ hoa không nở. Bởi v́ của ta nên nó héo hoài. C̣n nếu không thấy c̣n của ta th́ nó nở đầy vườn. Bây giờ quí vị đi ra ngoài thấy cái đẹp nào đều không bắt về ḿnh th́ thấy cả thế gian đều là đẹp. C̣n nếu bắt nó về ḿnh th́ cả thế gian đều là xấu hết. Ḿnh thấy người ta có cái nhà đẹp mà không thuộc về ḿnh, ḿnh không bằng ḷng, cho nên t́m cách này cách kia phê b́nh cho nó xấu bớt đi. Đó là cái bệnh của chúng sanh như vậy. Giờ đây chúng ta khách quan nh́n tất cả sự vật, các pháp thế gian này nó không thuộc về ai hết, nó là nó. Không phải v́ có ta mà nó thuộc về ta. Hiểu được như vậy, thấy được như vậy là tự chúng ta hết khổ rồi. Chúng ta sẽ cười hoài như ngài Di-lặc. Đi thấy ai cũng có cái hay cái đẹp, cười hoài không có buồn. C̣n nếu bắt nó thuộc về ḿnh th́ buồn hoài cả ngày, không bao giờ ḿnh vui được, đó là cái thuật sống. Sống an lành hạnh phúc như ngài Di-lặc. V́ vậy mà trong kinh Pháp Hoa có câu: Thị pháp trụ pháp dị Thế gian tướng thường trụ Tức là các pháp ấy nó ở bản vị của nó, như vậy là tướng thế gian thường c̣n măi măi. C̣n bắt nó lệ thuộc th́ nó sẽ tiêu tan. Tỷ dụ thân chúng ta bây giờ có thật là của chúng ta hay chưa? Bởi thấy của chúng ta nên khổ v́ nó. Năy giờ nói là tôi nói sự vật bên ngoài. Bây giờ nói thẳng cái tứ đại nặng ba mươi bốn mươi năm mươi kư hoặc sáu mươi kư đó là của chúng ta hay không? Thật t́nh là ai cũng nói của ḿnh hết. Quí vị nghĩ cho thật kỹ mà coi. Khi chúng ta có một ly nước, lúc c̣n ở ngoài này là nước của ai? Nước là nước không của ai hết. Nhưng khi vô khỏi cổ rồi th́ nói của ḿnh. Tới chừng hai ba tiếng đồng hồ sau, nó ra rồi th́ là nước của ai? Như vậy cái ǵ là cái của ḿnh. Như hơi thở, khi không khí ở ngoài này là không khí, hít vô lỗ mũi là hơi thở của ḿnh. Lát nữa thở ra rồi nó đi đâu? Là của ai? Như vậy cái “của” này chỉ là cái tạm. Như cái nhà người này vô người kia ra. Người bước vô nhà người đó có thuộc cái nhà này không? Tại sao chúng ta chấp tứ đại là nhà của ḿnh? Bây giờ, quí vị thấy tứ đại hằng ngày: thở là không khí, chất lỏng là nước, chất cứng là đất, thân có hơi ấm là lửa. Như vậy đất nước gió lửa ḥa hợp lại làm thân tứ đại này. Nếu tứ đại ở ngoài không phải là của ḿnh, vậy tứ đại ở trong này là của ḿnh hay sao? Biết tứ đại ở ngoài không phải là của ḿnh, th́ ở trong đây đâu phải là của ḿnh. Nếu thật là của ḿnh th́, ḿnh hoàn toàn làm chủ. Ḿnh muốn nó c̣n là nó c̣n, muốn bỏ nó là nó mất. Nhưng có người muốn giữ nó mà giữ không được th́ sao? Như vậy để chứng tỏ rằng nó không thuộc của ḿnh. Cho nên đủ duyên th́ nó c̣n, duyên thiếu th́ nó ră. Mà khi nó ră nó có thật mất hay không? Chúng ta mượn không khí làm hơi thở chúng ta. Đến khi hết duyên, chúng ta thở ra th́ nó thành không khí lại. Nó trở lại bản vị không khí của nó. Nước chúng ta c̣n dùng nó, đến khi hết dùng trả ra lại trở thành nước. Cái thân đất này tới chừng trả ra nó trở thành đất lại. Đâu trả về bản vị nấy không mất tí nào. Nhưng mà duyên hợp th́ đổi h́nh đổi tướng vậy thôi. Duyên hết rồi th́ đâu trả về đó, không có cái ǵ gọi là mất. Cho nên nói “Tướng thế gian thường trụ”. Trong khi hợp đó chúng ta lầm mê bám vào cái đó nói là của ḿnh. Tứ đại này cũng cho là ḿnh. Cho nên cả cuộc đời chúng ta đau khổ. Quí vị nghĩ có lúc nào chúng ta vui được không? Bởi v́ nhớ tới thân này, ai mà không bệnh, không tê thấp th́ đau gan, không đau gan th́ đau bao tử, hoặc phổi tim v.v... có đủ thứ đau nên sợ thân hoại. V́ nghĩ nó là ḿnh, nên lo sợ nó ră nó mất. Đối với thân th́ lo sợ, đối với ngoại cảnh th́ bắt nó thuộc về ḿnh, cho nên không được như ư. Người nào cho tứ đại là ḿnh, đó là người đau khổ suốt kiếp. Không có ngày nào an lành hết, v́ ngay trong tứ đại chúng ta thấy, nó không thuộc về ai hết. Tứ đại là tứ đại - giả hợp chúng ta mượn nó làm bè qua sông. Nó c̣n ngày nào th́ chúng ta đeo nó, nó ră th́ thôi. Như vậy đối với thân th́ không sợ c̣n mất, đối với cảnh không c̣n tham lam bắt nó về ḿnh. Người sống như vậy có an vui hay không? Như vậy không cười c̣n đợi cái ǵ? Không lo sợ ǵ hết. Không lo sợ cái này cái kia, ḿnh không lo sợ thân này bệnh hoạn hoại đi là ḿnh thấy an lành tự tại suốt ngày. Được như vậy là ta hưởng mùa Xuân Di-lặc sơ sơ rồi. Năm nào, ngày nào, tháng nào, chúng ta cũng thấy là ngày Xuân hết. Ngày nào cũng là ngày an lành đẹp đẽ. Nếu không như vậy th́ chúng ta sẽ đau khổ dài dài. Ngày nào cũng đen tối. Cái này bất như ư, cái kia bất như ư. Nhớ đến thân là thân nhiều bệnh. Nhớ đến cảnh là cảnh của người. Cho nên rồi đau khổ, đau khổ hoài không hết. Đó là tôi chỉ cho quí vị thấy chúng ta muốn hưởng mùa Xuân Di-lặc là phải hưởng như thế đó. Đó là Xuân Di-lặc về h́nh thức. C̣n Xuân tâm niệm? Làm sao tâm niệm chúng ta an lành suốt cả năm suốt cả tháng. Đó mới là cái Xuân cao quí nhất. Một Thiền sư Trung Hoa có làm bốn câu kệ nói lên mùa Xuân: Lưu thủy hạ sơn phi lưu ưPhiên vân qui động bản vô tâm Nhân sanh nhược đắc như vân thủy Thiết thọ khai hoa biến giới xuân Tạm dịch: Nước tuôn xuống núi nào có ư Mây bay về động vốn không tâm Người đời nếu được như mây nước Cây sắt trổ hoa khắp chốn xuân Sở dĩ chúng ta không được mùa xuân vĩnh cửu là v́ chúng ta chỉ thấy Xuân qua tâm niệm sanh diệt. Thấy cây cỏ tươi tốt trổ hoa đâm chồi, chúng ta vui mừng cho đó là Xuân. Như vậy chúng ta vui mừng theo cảnh theo thời gian. Cái mừng đó là cái vui của tâm sanh diệt. Mà đă vui mừng chạy theo cảnh, theo thời gian, nếu cảnh tàn, thời gian qua th́ cái vui c̣n hay hết? Cái xuân như thế là cái xuân hữu hạn. Cái Xuân của thời gian th́ biến đổi, cái Xuân của ngoại cảnh th́ suy vi. Bây giờ nếu chúng ta hoạt động như bao nhiêu người, nhưng hoạt động như mây bay như nước chảy. Trong khi hoạt động đó ta không bị vọng tưởng làm chủ mà hằng sống với tâm thanh tịnh của chúng ta. Tâm thanh tịnh đó nó lặng lẽ trong trẻo chẳng khác nào như cây sắt. Nhưng trong cái lặng lẽ trong trẻo đó không phải nó không có ǵ. Chính trong cái lặng lẽ, trong trẻo đó nó phát ra trí tuệ sáng suốt. Đây dụ như cây sắt trổ bông. Trong cái lặng lẽ trong trẻo đó chúng ta tưởng chừng như không có cái ǵ hết, nhưng không ngờ ngay trong đó lại phát ra cái trí tuệ diệu dụng bất tư ngh́. Cho nên đây ví dụ cho cây sắt trổ bông. Người ta tưởng không bao giờ cây sắt trổ bông, nhưng khi cây sắt trổ bông rồi sẽ thấy khắp bầu trời đều là Xuân không cùng tận. Bây giờ quí vị nhớ lại khi tâm không dấy niệm, lúc đó quí vị thấy có ḿnh hay không? Tất cả người thế gian ai cũng vậy, có nghĩ th́ nói tôi nghĩ thế này tôi nghĩ thế kia, không nghĩ th́ lúc đó làm sao? Không biết ǵ hết. Họ tưởng chừng như mất họ rồi không c̣n ǵ hết. Nhưng mà không ngờ sau khi dừng lại hết những cái nghĩ đó, chừng đó nó mới sáng, tức là mới phát cái trí tuệ sáng suốt; trong kinh Bát-nhă gọi là “Thanh Tịnh Trí”. Trí tuệ sáng suốt đó nh́n sự vật, nh́n vũ trụ bằng tâm thanh tịnh, nên vũ trụ theo đó mà thanh tịnh. Chừng đó khắp cả bầu trời đều là Xuân. Bởi v́ nó không c̣n cái tâm sanh diệt nữa. Tất cả đều là an lành đều là vĩnh cửu. Lúc đó mới gọi là “biến giới Xuân”. Xuân khắp bầu trời ở đâu cũng là Xuân hết. Như vậy trong muôn người muôn cảnh, chúng ta thấy đều là Xuân. Thời gian nào chúng ta cũng thấy đều là Xuân. Mà cái Xuân được chăng là sau khi tâm chúng ta giống như mây bay giống như nước chảy. Mây bay nước chảy mà không có tâm, th́ chúng ta hoạt động tất cả mà không có vọng tưởng. Lúc đó chúng ta thấy khắp bầu trời là một mùa Xuân. Nếu chúng ta mang vọng tưởng là Xuân có hạn có chừng. Như vậy chúng ta ai muốn hưởng mùa Xuân Di-lặc, mùa Xuân đó phải như vậy. Một mùa Xuân không c̣n lệ thuộc vọng tưởng sanh diệt th́ đó mới là mùa Xuân chân thật. Tôi đă đứng hai mặt để diễn đạt mùa Xuân Di-lặc: 1- Dứt mê lầm chấp ngă bắt ngoại cảnh và tứ đại này lệ thuộc vào ḿnh. Lúc đó chúng ta hưởng được mùa Xuân an lành tự tại. 2- Chúng ta bặt hết vọng tưởng điên cuồng, với tâm thanh tịnh sáng suốt nh́n bầu trời sáng suốt để hưởng mùa Xuân vĩnh cửu bất sanh bất diệt. Một Thiền sư Việt Nam đă nói đến mùa Xuân đó dù không đề cập đến chữ Xuân. Khi vua Nhân Tông hỏi Ngài ở núi làm ǵ, ở được bao lâu? Thiền sư Thiền Lăo trả lời: Đản tri kim nhật nguyệt Thùy thức cựu xuân thu Tạm dịch: Chỉ biết ngày tháng này Ai rành xuân năm trước Hỏi hằng ngày Ḥa thượng làm ǵ? Ngài nói: Thúy trúc hoàng hoa phi ngoại cảnh Bạch vân minh nguyệt hiện toàn chân Tạm dịch: Trúc biếc hoa vàng đâu cảnh khác Trăng trong mây bạc hiện toàn chânNhư vậy ngày nào chỗ nào chẳng phải là Xuân? Nếu tâm chúng ta không c̣n lệ thuộc vào thời gian quá khứ hiện tại vị lai, lúc đó chúng ta an nhiên tự tại thanh tịnh. Đó là cái tâm bất sanh bất diệt của chúng ta. Mà sống với cái tâm bất sanh bất diệt đó để nh́n sự vật, cái nào chẳng đẹp, cái nào chẳng thanh tịnh, v́ đâu cũng là chân tâm biến hiện, đâu đâu cũng là cảnh đẹp của mùa xuân, không riêng nơi nào lúc nào. Như vậy quí vị thấy rơ cuộc sống của chúng ta muốn được an lành đời đời kiếp kiếp, an vui tự tại hưởng một mùa Xuân Di-lặc th́ không ǵ hơn: 1- Trước hết chúng ta phá cái chấp u mê bản ngă, bắt ngoại cảnh phải lệ thuộc về ḿnh. 2- Kế đó chúng ta phải lặng hết vọng tưởng. Như vậy chúng ta thấy trên cơi đời này đều là một cơi đời an lành tự tại. Ngay trong thế gian này là một thế giới của chư Phật chớ không phải của phàm phu nữa. Đó là cái XUÂN DI-LẶC vĩnh cửu trường tồn nơi chúng ta. ]ĐỨC DI-LẶC VÀ Ư NGHĨA SÁU ĐỨA BÉ XUÂN ĐINH TỴ 1977 Trước hết tôi nói về danh hiệu của Ngài, kế đến sẽ nói đến ư nghĩa sáu đứa bé chọc phá Ngài. Mỗi mùa Xuân đến, mọi người đều in thiệp chúc Tết nhau. Trong nhà chùa nói chung, nhất là Phật giáo Bắc tông, hầu hết đều chúc nhau một mùa Xuân Di-lặc hay là một mùa Xuân hạnh phúc quanh năm. Như vậy đức Phật có liên hệ ǵ đến mùa Xuân, mà chúng ta cầu chúc một mùa Xuân Di-lặc. Có nhiều người đă nghiên cứu lịch sử, họ cho rằng ngày mùng một Tết là ngày đản sanh của đức Di-lặc. Tôi chưa biết đó là ngày đản sanh của một hóa thân nào hay là hóa thân của tiền kiếp bao xa. Chúng tôi chỉ biết rằng ngày mùng một tháng giêng là ngày vía đức PHẬT DI-LẶC. Tại sao chúng tôi chỉ cần biết bao nhiêu đó, mà không cần coi ngày đản sanh này phát xuất từ đâu? Bởi v́ lịch sử của Bồ-tát ứng thân vô lượng, làm sao chúng ta căn cứ một bề, lấy đó làm tiêu chuẩn. Cho nên chúng tôi thấy rằng dù có thiếu cũng không sao. Nó không đem lại kết quả như ư, v́ lẽ đó cho nên chúng tôi không thiết tha xem có phải là đản sanh ở Ấn Độ hay ở Trung Hoa. Chúng tôi chỉ biết một điều thật là quan trọng trên danh nghĩa Di-lặc mà chúng ta thường tụng thường nguyện. Khi năy chúng ta đă tụng lên rằng: Nam-mô Long Hoa giáo chủ đương lai hạ sanh Di-lặc Tôn Phật. Đó là chúng ta thể theo lời huyền kư của đức Bổn sư Thích-ca Mâu-ni. Ngài đă huyền kư rằng sau này Bồ-tát Di-lặc sanh lên cung trời Đâu-suất. Khi măn công hạnh trên đó sẽ đến thế giới Ta-bà này thuyết giảng. Bao giờ tuổi thọ con người chỉ c̣n mười tuổi là chót. Con người khi đó ăn hiền ở lành tức là trải qua một cuộc biến động về những tai nạn gươm đao v.v... chết chỉ c̣n một số trên non trên núi. Những người đó mới thấy rằng do ḿnh ăn ở hiền lành nên bây giờ mới sống sót. Họ mới phát tâm tu hành, ǵn giữ thập thiện. Tuổi thọ những người ấy tăng lên cho đến bốn mươi tám ngàn tuổi, chừng đó đức Phật Di-lặc ra đời. Quí vị thấy theo lời huyền kư đó th́ bao lâu nữa Ngài mới ra đời? Có lẽ chúng ta sanh đi tử lại chừng một trăm một ngàn lần, biết gặp được Ngài hay chưa? Vậy mà hiện tại có lắm người vỗ ngực xưng rằng ta là Di-lặc. Như vậy họ xưng đó là mạo danh, lợi dụng lời huyền kư ở trong kinh để làm cho người ta lầm tưởng. Sự thật người học Phật chân chánh nghe nói đức Phật Di-lặc ra đời th́ cứ nhớ hiện giờ là thời kỳ giảm của chúng ta, v́ chúng ta làm ác nhiều. Đối với thập ác đa số đều thực hiện, v́ đa số làm ác nên tuổi thọ càng ngày càng giảm. Cứ một trăm năm giảm một tuổi, giảm cho đến mười tuổi là bao nhiêu năm? Bây giờ chúng ta đang ở giai đoạn từ sáu mươi đến tám mươi tuổi thọ, tạm nói là sáu mươi tuổi đi. Trăm năm giảm một tuổi, th́ chừng nào đến mười tuổi. Rồi từ mười tuổi tăng lên bốn mươi tám ngàn tuổi, th́ c̣n bao lâu nữa. Như vậy thời gian Ngài ra đời c̣n xa lắm. Tôi đă từng nói mỗi đức Phật ra đời không làm việc trùng lập nhau. Cho đến bao giờ giáo lư của đức Phật Thích-ca Mâu-ni, danh từ Tam Bảo không c̣n biết tới nữa th́, mới có một đức Phật khác ra đời là đức Phật Di-lặc. Hiện nay người ta c̣n nhớ vanh vách danh từ Tam Bảo, c̣n thờ Phật đầy chùa, Tăng Ni c̣n đầy đường, làm sao nói giáo lư Phật hết được? Các ngài đâu có làm việc trùng lập với nhau. Đó là chúng tôi nói phóng ra về ư nghĩa ngày Xuân. Tại sao chúng ta gọi đức Di-lặc là Long Hoa giáo chủ? Bởi v́ đức Phật Thích-ca gọi là Ta-bà giáo chủ, vị giáo chủ trong cơi Ta-bà này. C̣n đức Phật Di-lặc sẽ thành đạo dưới cội cây Long Hoa trong thời đó, cho nên gọi là Long Hoa giáo chủ. Ngài là đức Phật sẽ thành trong tương lai, và tương lai đó bao xa khó mà tính hết thời gian được. Nhưng chúng ta tin rằng tương lai sẽ có đức Phật ra đời. Nếu đức Phật ra đời, đó là một diễm phúc cho chúng sanh, là một cây đuốc sáng cho nhân loại. V́ vậy cho nên khi nghĩ đến đức Phật ra đời là chúng ta cảm thấy cả một nguồn hạnh phúc an lành. Đối với tất cả chúng ta ngày mùng một Tết là ngày đầu của một năm, ngày mở màn cho năm tới. Mà năm tới với người Phật tử th́ tràn trề hứa hẹn. Hứa hẹn cái ǵ? - Hứa hẹn ḿnh sẽ thành Phật. Đó là hứa hẹn rất cao siêu rất quí báu. Tất cả chúng ta hứa hẹn rằng ngày mai sẽ thành Phật chắc chắn như vậy. Cho nên ngày mùng một Tết này là ngày vía đức Phật Di-lặc, cũng là ngày hứa hẹn hạnh phúc cho chúng sanh. Hạnh phúc bằng cách giải thoát nạn khổ đau, ra khỏi ṿng luân hồi, chớ không phải hạnh phúc trong ngũ dục tầm thường của nhân gian. Thế nên mỗi năm đến ngày mùng một Tết, toàn thể Tăng Ni cùng chư Phật tử đến chùa lễ Phật gọi là ngày đầu năm, nhưng thật t́nh là ngày vía đức Phật Di-lặc, ngày vía của vị Phật sẽ thành. Đức Phật Di-lặc là h́nh ảnh ở bên ngoài mà cũng là sự hứa hẹn ở nội tâm chúng ta. Chúng ta nhớ đến đức Phật sẽ thành ở ngày mai th́, chúng ta cũng nhớ luôn mai kia chúng ta sẽ thành Phật. V́ vậy cho nên ngày mùng một Tết không chỉ lạy đức Phật với ḷng thành kính mà thôi, chúng ta c̣n mong rằng ngày mai chúng ta cũng sẽ thành Phật như Ngài. Thế nên mọi người Phật tử chúng ta cầu chúc cho nhau một mùa Xuân Di-lặc tức là một mùa Xuân hứa hẹn sẽ thành Phật. Chính cho bản thân ḿnh, chớ không phải chỉ có mùa Xuân của đức Di-lặc ở bên ngoài. Đó là ư nghĩa thâm sâu của ngày vía đức Phật Di-lặc vào ngày mùng một Tết. Tất cả chúng ta nhớ đến ngày vía đức Phật Di-lặc tức là nhớ đến cái hy vọng tươi đẹp của ngày mai, chớ không phải chúng ta chỉ nhớ đức Phật Di-lặc mà quên hẳn nơi ḿnh. Đó là tôi nói ư nghĩa Long Hoa giáo chủ đương lai hạ sanh. Bây giờ chúng ta đi vào ư nghĩa h́nh tượng của Ngài. Chắc rằng chúng ta ai cũng từng thấy h́nh tượng đức Di-lặc ở các ngôi chùa. Có khi người ta thờ Ngài với vẻ mập mạp; cười toe toét. Có chỗ khác cũng thờ h́nh tượng như vậy mà có sáu đứa nhỏ. Đứa th́ chọc ngón tay vô rún, đứa th́ móc lỗ mũi, đứa th́ móc miệng, đứa th́ dùi lỗ tai v.v... mà Ngài cứ cười hề hề không phiền, hoặc bị chướng ngại ǵ hết. Tại sao như vậy? H́nh ảnh đó nói lên cái ǵ? Đó là điều thiết yếu, chúng ta nên chú tâm vào chỗ đó. Chắc rằng quí vị không quên khi học kinh Lăng Nghiêm lúc mười phương chư Phật dị khẩu đồng âm tuyên bố cho ngài A-nan và đại chúng nghe: “Khiến ông phải luân hồi sanh tử, chính là sáu căn của ông, chớ không phải vật ǵ khác... khiến ông chóng chớng Vô thượng Bồ-đề, cũng chính là sáu căn của ông, chớ không phải vật ǵ khác.” Như vậy cội gốc sanh tử cũng là sáu căn của chúng ta: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ư. Cội gốc Bồ-đề Niết-bàn cũng là sáu căn của chúng ta. Như vậy con đường để trở về giác ngộ hay là con đường sanh tử luân hồi có một hay là hai? Sanh tử luân hồi cũng đi con đường đó mà Bồ-đề Niết-bàn cũng đi con đường đó, nhưng mà có khác nhau. Một người th́ đi theo chiều thuận của nó gọi là thuận lưu, một người đi theo chiều nghịch, cũng trên con đường đó mà đi ngược trở về gọi là nghịch lưu. Đi theo chiều thuận đó là sanh tử luân hồi. Đi theo chiều nghịch đó là giải thoát sanh tử. Như vậy th́ không có hai đường. Ví dụ chúng ta về Sài G̣n, cũng đi trên đường Vũng Tàu - Sài G̣n. Sài G̣n - Vũng Tàu cũng đi đường đó thôi. Nhưng nói về Sài G̣n là đi trở về, nói đi Vũng Tàu là đi trở ngược ra. Chỉ khác một người đi trở ra, một người đi trở vô thôi. Khác nhau ở chỗ đó. Đường th́ một mà hai người đi nghịch hoặc thuận chiều, kết quả sẽ có hai ngả khác nhau, và hai địa điểm khác nhau. Cũng như vậy, nơi sáu căn của chúng ta nếu ta thuận chiều với nó, đó là chúng ta đi trong luân hồi sanh tử. Chúng ta đi ngược chiều với nó là chúng ta trở về Niết-bàn, Bồ-đề, giải thoát v.v... Như vậy để thấy rơ trên con đường tu, tuy nói nó rất nhiều, nhưng sự tu căn bản chỉ đừng cho sáu căn chạy theo sáu trần bên ngoài. Nếu sáu căn đi theo sáu trần gọi là thuận lưu, đi theo chiều luân hồi. Nếu sáu căn không chạy theo sáu trần, không nhiễm, không dính, không mắc, đó là người trở về Bồ-đề Niết-bàn không đâu xa lạ. Đức Phật Di-lặc là một vị Phật sẽ thành ở ngày mai do Ngài tu cái ǵ? Chính cái h́nh ảnh là câu trả lời cụ thể nhất. Mỗi đứa bé soi lỗ tai móc lỗ mũi của Ngài mà Ngài vẫn cười không tỏ vẻ bực dọc, không tỏ vẻ chướng ngại buồn bă. V́ vậy Ngài sẽ thành Phật chắc chắn. C̣n chúng ta th́ sao? Có ai móc lỗ tai th́ thế nào? Nếu ai móc lỗ tai ḿnh th́ không đánh cũng đá, không đập th́ la. Phải vậy không? Móc lỗ mũi ḿnh cũng thế. Như vậy đối sáu căn của chúng ta, có ai động tới th́ không chịu nổi. Chỗ không chịu nổi đó làm chướng ngại chúng ta. Sáu đứa bé đó theo danh từ chuyên môn gọi là lục tặc, tức là sáu đứa cướp. Nó phá phách. Nhưng thật t́nh nó có phá ḿnh hay không? Nếu bị móc lỗ tai mà ḿnh không cảm thấy khó chịu lại thấy đă ngứa thêm th́ không bị chướng ngại. Hiện tại chúng ta có thể nói gần như một trăm phần trăm đều bị chướng ngại bởi những lời nói bên ngoài. Những lời chửi mắng dèm pha, nguyền rủa, tất cả những cái đó tới lỗ tai ḿnh, mà ḿnh coi như gió thổi lá dương hay gió thổi cành liễu bên ngoài th́, nó có ǵ là xấu xa hay không. Nếu ḿnh thấy đó là lời nói thù hằn, mỉa mai sâu độc, hiểm ác v.v... th́ lúc đó ḿnh làm sao? Tùy tâm niệm ḿnh mà bực bội tức tối, v́ những lời nói như vậy. Ḿnh ghi nhận nó vào với những tâm niệm hận thù, đen tối th́, nó sẽ thành những thứ thuốc độc làm cho tan hoang của báu nhà ḿnh. C̣n nếu ḿnh nghe nó mà ḿnh chỉ dang ra một cách dễ dàng cho nó nương theo gió đi đâu th́ đi, đừng vướng mắc ở ḿnh, tự nhiên ḿnh an lành tự tại. V́ vậy cho nên, chúng ta tu là phải tu ngay tại sáu căn của ḿnh. Tai nghe những tiếng khen chê hoặc là chửi bới hoặc là đề cao v.v... ḿnh cũng xem thường, v́ tiếng nói không thật. Chính bản thân ḿnh c̣n không thật, huống là tiếng nói bên ngoài. Tâm không động đó là ḿnh đă thắng đứa bé móc lỗ tai ḿnh rồi. Con mắt ḿnh thấy có đẹp có xấu, thấy tất cả h́nh ảnh phía trước, dù h́nh ảnh nào ḿnh cũng dửng dưng không lay động không dính mắc. Như vậy bao nhiêu h́nh ảnh dàn trải tràn trề trước mắt ḿnh, ḿnh cũng vẫn an lành tự tại. Ngược lại ḿnh thấy một h́nh ảnh, ḿnh liền cho đó là đẹp đó là xấu. Rồi cái đẹp ḿnh sợ nó mất đi. Nếu nó xấu th́ sanh tâm bực tức. Như vậy một h́nh ảnh nào hiện tới với ḿnh đều là h́nh ảnh của phiền năo hết. Không có h́nh ảnh nào gọi là an vui là tự tại, mà đều là chớa đầy tính chất phiền năo. Sự thật những h́nh ảnh đó có phải là phiền năo hay không? Phiền năo là tự ai? Như vậy phiền năo gốc tự nơi ḿnh. Ḿnh thấy nó mà ḿnh không luyến nó, không bê tha theo nó, ḿnh không ghét bỏ nó, th́ nó vẫn là nó. Có lỗi lầm ǵ đâu? Lỗi lầm là chính ḷng luyến ái của ḿnh. Tại chính ḷng sân hận của ḿnh chớ không phải h́nh ảnh có lỗi lầm. Khi ḿnh chớa chấp sân hận, chớa chấp luyến ái, th́ đó là cái đă cướp mất của báu nhà ḿnh rồi. Con mắt đem những h́nh ảnh vào để cướp mất của báu nhà ḿnh? Đó là cái chướng của đứa bé móc mắt. C̣n nếu ngược lại ḿnh không mắc kẹt, h́nh ảnh là h́nh ảnh, ḿnh vẫn an nhiên th́, đứa bé ấy có làm ǵ th́ làm, ḿnh vẫn an ổn. Lỗ mũi cũng thế. Lỗ mũi ḿnh ngửi mùi hôi, mùi thơm, đừng mắc kẹt tất cả những mùi thế tục. Coi như luồng khói vừa qua mũi rồi mất, không có ǵ hết, không có ǵ là thật th́, có ǵ làm cho ḿnh nhiễm. Ngược lại, tại chúng ta si mê, cho nên mùi thơm đến th́ thích, mùi hôi đến th́ bực. Do đó tự ḿnh đem giặc vào cướp của báu nhà ḿnh, rồi tự làm thành chướng ngại. Nếu ḿnh ngửi mùi hôi thơm vẫn coi như khói như gió hay là như tất cả các mùi bên ngoài, không có ǵ thật hết. Tự nhiên trong ḷng ḿnh được tự tại. Tôi có thể đơn cử vài ba cơ quan như mắt tai mũi lưỡi. Đó là bốn cái hằng tiếp xúc với những hoàn cảnh thuận tiện làm cho ḿnh ưa, những hoàn cảnh trái ngược làm cho ḿnh giận. Tác dụng do bốn thứ này gây ra, phải diệt cho hết. Như lưỡi chúng ta nếm những vị cay, đắng, mặn, ngọt. Tất cả cái đó, cái nào nó hợp với lưỡi th́ chúng ta thích, cái nào không hợp với lưỡi th́ chúng ta không thích. V́ vậy mà chúng ta khổ từ năm này sang năm khác. Mỗi khi lên mâm cơm, thấy những món ǵ ḿnh cảm nghĩ là hợp với lưỡi của ḿnh th́ bữa đó ḿnh vui, những món ǵ ḿnh cảm nhận trái với lưỡi của ḿnh th́ ḿnh bực. Rồi vui và bực đó làm ḿnh phải chướng. Do đó mà phải chạy t́m kiếm, do đó mà phải sanh ra lời nói xấu ác làm cho những người chung quanh không vui. V́ lẽ đó chúng ta tập bao giờ lưỡi ḿnh đối với vị, vị nào cũng không cần phải quí trọng nó. Cốt làm sao cho ḿnh được an ổn tu hành là quí. C̣n tất cả cái ngon cái dở chẳng qua là tạm của cái lưỡi mà thôi. Như vậy chúng ta thắng được các thứ đó, tức là đă thắng cái miệng của chúng ta rồi. Tuy nói sáu căn chớ thật t́nh có năm căn là tối quan trọng, tức là mắt tai mũi lưỡi thân, năm cửa đón tiếp bên ngoài. C̣n ư là cái phụ họa trong năm căn ấy. Mỗi khi năm căn tiếp xúc với năm trần th́ ư theo đó mà phụ họa để thương ghét buồn giận. V́ vậy, ngay năm căn kia mà chúng ta đón nhận đúng pháp th́ cái căn thứ sáu (ư căn) không c̣n làm trở ngại nữa. Sở dĩ chúng ta nói rằng sáu căn đó là lục tặc, sáu tướng cướp v́ căn cứ trên phần ô nhiễm của chúng ta. Khi sáu căn đó tiếp xúc với sáu trần th́ chúng ta mắc kẹt, chúng ta nhiễm theo nên gọi là sáu đứa cướp, bởi v́ kho báu nhà ḿnh bị sáu chú đó cướp đi. Cướp bằng cách nào? Ví dụ lỗ tai ḿnh nghe tiếng rồi ḿnh phân biệt tiếng khen tiếng chê, sanh buồn sanh mừng. Và như vậy ḿnh có bị mất chưa? Khi có buồn có mừng là bị mất của. Nó lén ăn cướp hồi nào, nó mang ra đường nào? Giờ đây, chúng ta vui sướng lên khi nghe tiếng khen, bực bội, giận trong ḷng khi nghe tiếng chê, như vậy gọi là chúng ta mất của. Của đó giặc mang đi và lấy hồi nào? Quí vị nhớ coi. Nói suông th́ khó mà biết dấu vết của giặc. Nếu không biết dấu vết của giặc, th́ không biết của ḿnh để đâu luôn. Vậy cần biết của ḿnh ở đâu và dấu vết giặc mang đi đường nào, mới có thể giữ của được. Quí vị nên nhớ khi lỗ tai nghe người khen người chê mà ḿnh vui hoặc ḿnh bực tức, lúc đó gọi là mất của. Vậy th́ bọn giặc nó lén vô hồi nào và kho tàng của cải ḿnh ở đâu? Nó lấy bằng cách nào và mang đi bằng đường nào? Nhớ kỹ thử coi. Nó lấy bằng cách nào? Nó mang ra đường nào? Nó đem để đâu? Đó chỉ là một h́nh ảnh tượng trưng thôi. Chớ sự thật nó không mang đi đâu. Nếu nó mang đi th́ ḿnh hết rồi, mai mốt ḿnh có giữ th́ cũng không c̣n của đâu mà giữ. Nên nhớ như vậy đó. Nhưng chúng ta lại quen nghe thí dụ rồi mắc kẹt trên thí dụ. Ḿnh nghĩ khi có lấy tức là có mang đi. Nhưng không ngờ nếu thật t́nh nó mang đi th́ ngày mai ngày mốt đóng cửa sáu chú bé đó lại th́, dù có giữ cũng là giữ cái kho không. Phải vậy không? Đâu c̣n của cải ǵ, đă hết rồi. V́ vậy cho nên phải biết rơ ràng là tuy nói nó cướp của ḿnh, nhưng mà nó không cướp ǵ hết. Chỉ do tiếp xúc bên ngoài, chấp nhận qua năm căn của ḿnh rồi tâm ḿnh xao xuyến hoặc buồn hoặc giận. Đó là những đám mây đen nổi dậy che lấp mặt trời trí tuệ ḿnh rồi. Những đám mây đen nổi dậy che lấp mặt trời trí tuệ ḿnh, đó gọi là đă cướp. Khi nào ḿnh nghe những tiếng khen chê mà trong ḷng không xao động, những đám mây đen không nổi dậy, mặt trời trí tuệ của chúng ta vẫn sáng rực không bị mờ, không bị tối, như vậy là chúng ta giữ được tinh thần trí tuệ. Khi mà chúng ta có trí tuệ tức là ḿnh giàu, nếu ḿnh lúc nào bị cướp th́ lúc đó là mất trí tuệ, cũng như lúc nào thấy trong tay không có tiền gọi là nghèo. Khi nào có sẵn tiền mới gọi là giàu. Chúng ta cũng vậy, lúc nào trí tuệ chúng ta hằng sáng tỏ, lúc đó gọi là chúng ta giàu. C̣n nếu phút giây nào đó trí tuệ bị mờ tối không c̣n phát hiện nữa gọi là mất của báu, ta nghèo đi. Cái nghèo đó là cái nghèo tạm thời, phải vậy không? Nhưng cũng có thể là nghèo vĩnh viễn. Tạm thời với ai và vĩnh viễn với ai? Nếu chúng ta giờ phút này bị nó khuất nó che đi, chúng ta mất cái trí tuệ, nhưng rồi chúng ta có dẹp tan những đám mây đó, để cho mặt trời trí tuệ sáng trở lại. Người biết dẹp những đám mây đen cho mặt trời sáng trở lại gọi đó là người nghèo tạm thời. C̣n những người cứ nuôi dưỡng những đám mây đen đó, hết đám này tới đám khác, cứ luôn luôn như thế th́, dù có mặt trời trí tuệ mà cả đời họ vẫn sống trong đen tối. Như vậy đời này đen tối, đời sau đen tối, và cứ tiếp nối như thế măi th́, tự nhiên họ nghèo vĩnh viễn không bao giờ hết nghèo. V́ vậy cho nên đối với người biết tu và không biết tu là ở tại chỗ đó. Dù chúng ta cũng bị cướp của báu, chúng ta cũng bị mây đen che lấp mặt trời trí tuệ, nhưng chúng ta tin rằng chỉ có che trong một phút một giây, rồi chúng ta sáng lại. Chớ chúng ta không tối măi như bao nhiêu người bị tối đó. V́ vậy ư nghĩa Đương lai hạ sanh của đức Phật Di-lặc là một ư nghĩa hứa hẹn nơi ḷng của chúng ta, chúng ta sẽ sáng ra ở ngày mai hay là ở những phút sau này, chớ không tối măi. Cái hứa hẹn đó phải là cái hứa hẹn thật sự chớ không phải hứa hẹn suông hứa hẹn rỗng. Có người cũng hứa hẹn, hứa hẹn bằng miệng suông. Nghĩa là sao? Thấy họ cũng có h́nh thức người tu, đi chùa lễ Phật, nhưng mà cứ chất chớa bao nhiêu phiền năo ở trong tâm. Tai nghe tiếng th́ dồn vô, mũi ngửi mùi th́ dồn vô. Cứ như vậy mà dồn hết những cái nghịch vào trong ḷng ḿnh. Cả ngày cứ sống với cái xao xuyến lo buồn, lo kiếm những món ngon, lo chứa những mùi thơm, lo chứa những mùi hôi, lo chứa những h́nh tướng đẹp v.v... Như vậy những cái lo đó làm cho mất đi mặt trời trí tuệ sáng ngời của họ rồi. Cho nên họ phải chịu khổ đen tối. C̣n chúng ta biết tu khi có cái ǵ làm chúng ta bị che khuất một phút, một giây th́ hối hận, ăn năn cố làm cho tan đám mây mờ đó. Và nguyện làm sao đừng đem nó vô nữa, để cho mặt trời trí tuệ không bị che khuất lấp phút giây nào hết. Như vậy đó cái hứa hẹn thật. Hứa hẹn thật đó là hứa hẹn của người biết tu, chớ không phải hứa hẹn của người hứa suông, nói tu thành Phật, nhưng tự họ không biết huân tập không biết sửa chữa. Chúng tôi thấy rằng chính chỗ thiết yếu đó là cái chỗ mà đức Phật Di-lặc được gọi là con người hạnh phúc của ngày mai, cũng là con người hạnh phúc của hiện tại. Chúng ta thấy rằng con người hạnh phúc là con người mập mạp vui tươi. Ḿnh nh́n đức Phật Di-lặc lúc nào cũng mập mạp cũng vui tươi cho nên người ta tượng trưng Ngài là con người hạnh phúc của ngày mai. Cái mập mạp vui tươi đó là do cái ǵ? Nhờ trong ḷng không có những đám mây đen che lấp mặt trời trí tuệ, v́ vậy mà sáu đứa kia dù có móc tai, móc mũi v.v... mà Ngài vẫn thấy như không. C̣n chúng ta bởi thấy cái đó là cái chướng, cho nên trán chúng ta nhăn lại, mày cau mắt đỏ lên, mặt chúng ta th́ méo v.v... Cứ như vậy mà tạo ra bao nhiêu xấu xa. Nh́n vào gương thấy gương mặt ḿnh là gương mặt đau khổ. Cái khổ đó chính v́ ḷng ḿnh không cam chịu sáu đứa giặc nó phá phách. Nếu nó phá phách mà ḿnh không để cho nó làm chướng th́, cái phá đó không trở thành phá nữa, mà đó là cợt vui với nhau. C̣n nếu chúng ta thấy là phá th́ lúc đó chúng ta tự nhiên sanh ra bực dọc, sanh ra khó chịu. V́ vậy người tu không ai chẳng có sáu đứa giặc, sáu đứa cướp đó. Người nào cũng sẵn như vậy, nhưng nó thành giặc hay là bạn thân của ḿnh là chính tại ḿnh. Nếu khi nó cợt phá ḿnh mà ḿnh biết cho nó là tṛ chơi ảo mộng không nghĩa lư ǵ th́, ḿnh cho nó là một cuộc đùa chơi. C̣n nếu nó cợt phá mà ḿnh cho nó là sự trêu ghẹo thật sự th́ ḿnh bực tức lên. Đó là cái khổ đau của ḿnh. Thế nên biết tu nơi sáu căn rồi tự nhiên ḿnh biết được an lành tự tại. Dù chưa thành Phật, hiện đời ta cũng hạnh phúc tràn trề. Ngày nào tháng nào cũng đều là ngày tháng vui tươi, năm nào cũng là năm đẹp đẽ. V́ vậy mà chúng ta hay chúc nhau một mùa Xuân viên miễn. Đó là mùa Xuân Di-lặc, mùa Xuân mà trong ḷng không phiền muộn lo âu nào. Như vậy mới gọi là mùa Xuân hạnh phúc. C̣n có lo âu, có phiền muộn th́ chưa phải là hạnh phúc. Cho nên nhớ đến đức Phật Di-lặc, nhớ đến sáu đứa bé móc tai, móc mũi của Ngài, chúng ta nên hằng giờ hằng phút kiểm điểm lại ḿnh, thử xem giặc nó cướp của ḿnh hay không. Nếu chúng ta ở mọi trường hợp, đi đứng nằm ngồi, tiếp duyên đối cảnh, chúng ta đều sống đúng với tinh thần của đức Phật Di-lặc là không để cho sáu đứa giặc cướp của ḿnh. Được như thế, tôi tin rằng dù quí vị tu không muốn được an vui, tự nhiên cũng được an vui, quí vị không đ̣i thành Phật, tự nhiên rồi cũng thành Phật. C̣n chúng ta khao khát nguyện cầu thành Phật mà cứ nuôi dưỡng sáu đứa giặc đó, nó luôn cướp của ḿnh hằng ngày th́, dù cho cầu mấy đi nữa, cái quả Phật cũng c̣n xa lơ xa lắc, đối với ḿnh phải không? V́ vậy cái tu thiết yếu là chỗ biết trở về của ḿnh. Mà trở về ḿnh, chính là đừng có để cho sáu căn dẫn giặc vô, gọi là nghịch lưu. Nghịch lưu tức là trở về với tánh giác. C̣n nếu luôn bị sáu căn dẫn giặc về cướp mất của ḿnh th́ gọi đó là thuận lưu, tức là đi theo chiều sanh tử. Do đó, hôm nay nhân ngày vía đức Phật Di-lặc và cũng là ngày Tết Nguyên Đán tôi cầu chúc cho tất cả quí vị tăng ni, cư sĩ nam nữ đều trở về nguồn giác của ḿnh. Nói gọn hơn là nguyện cầu cho tất cả quí vị kể từ ngày mùng một Tết này cho đến trọn năm và cho đến suốt đời đều luôn luôn là “Bối trần hiệp giác”. Đó là ư nghĩa trở về nguồn giác của chúng ta. ]CON NGƯỜI HẠNH PHÚC, ĐỨC HỶ XẢ XUÂN MẬU NGỌ 1978 Con người hạnh phúc, có thân khỏe tâm an. Muốn được thân tâm đều khỏe th́ chúng ta phải làm sao? Sở dĩ chúng ta hay áo năo sầu bi là tại cái ǵ? Tại trong ḷng chúng ta có những điều không vui, bất như ư. Phải vậy không? Có điều không vui, bất như ư cho nên mặt mày chúng ta sầu thảm. Nếu có gặp ai muốn cười chơi để tỏ xă giao một chút th́ cười ra sao? - Nửa cười nửa mếu. Cái cười đó chưa phải là thật cười. Đức Phật Di-lặc cười một cách hỉ hả không có cái ǵ gượng gạo hết. C̣n chúng ta xă giao nhiều khi cười gượng gạo. Cái cười đó không phải là thật vui vẻ trong ḷng. V́ vậy chúng ta phải làm sao trong ḷng thật vui vẻ, gặp ai ḿnh cũng cười, lúc nào ḿnh cũng cười. Thấy trời mây đất nước ḿnh cũng cười được. Thấy tất cả cảnh, cảnh nào cũng vui tươi. Không có ǵ bận tâm rối loạn trong ḷng hết. Được như vậy chúng ta mới là hạnh phúc, dù buổi sáng chúng ta có vài củ khoai. Tâm hồn an vui, dù ở cảnh nào cũng an vui. Nếu tâm hồn chúng ta bực bội rối loạn, ray rứt, th́ ở cảnh nào chúng ta cũng sầu bi hết. V́ vậy nên mỗi năm, ngày đầu Xuân, chúng ta cần đến lễ đức Di-lặc. Lễ đức Di-lặc không phải là lễ suông để Ngài ban phước cho ḿnh, nhưng lạy Ngài với cả tâm hồn hướng về Ngài và học theo cái hạnh của Ngài. Làm sao chúng ta, mỗi năm và cả đời sống vui tươi và hạnh phúc như Ngài vậy. Chúng ta đừng để sống trong sầu năo bi thảm như vậy hoài. Chúng ta phải vui tươi, mà muốn vui tươi th́ điều kiện thiết yếu là phải thế nào? Tôi nhắc lại phải làm sao để tâm hồn chúng ta được vui tươi. Sở dĩ đức Di-lặc vui tươi v́ Ngài tu hạnh Hỷ Xả. Hỷ là vui. Xả là buông hết. Cái ǵ, ai động đến Ngài, Ngài cũng buông hết. Ngài cười chớ không giận. C̣n ḿnh? Ai nói với ḿnh một câu ǵ trái lỗ tai, thấy mặt người đó ḿnh có vui được không? Nếu có vui là vui gượng không thật vui. Do đó muốn vui trọn vẹn, đầy đủ th́ chúng ta phải buông hết trong ḷng. Lúc nào chúng ta cũng sống dường như ngây thơ, như đứa bé vậy. Đừng sống với nhiều nếp nhăn, mặt ủ rũ, mắt chớp lia lịa, không tỉnh táo sáng suốt. Cái sống đó không vui. Trong cuộc sống như vậy, chúng ta sẽ chết lần chết ṃn do lửa phiền năo thiêu đốt. Cho nên con người quí ở cuộc sống hạnh phúc. Muốn sống hạnh phúc phải có thân khỏe tâm an. Tâm an thân khỏe là điều thiết yếu. Muốn như vậy là phải tu theo hạnh hỷ xả của đức Di-lặc. Như vậy quí vị thấy, khi Ngài thị hiện ở Trung Quốc, chỉ làm thân ông Ḥa thượng mập mang cái đăy to, cho nên được gọi là Bố đại Ḥa thượng (Bố là vải, đại là cái đăy, tức là cái túi vải to). Ngài không có của tiền ǵ hết. Ngài đi ra chợ, ai cho ǵ đều bỏ vô túi, rồi lại xóm con nít móc túi ra có ǵ chia cho chúng nó ăn. Thầy tṛ ăn chơi, vui vẻ với nhau như vậy thôi. Hạnh Ngài là gặp ai Ngài cũng vui vẻ chớ không có niệm bi thảm như kẻ khác. Khi Ngài sắp tịch Ngài để lại một bài kệ. Nhờ vậy sau này mới biết là đức Di-lặc hóa sanh chớ không phải người thường. Cho nên trong chùa hay thờ Ngài bằng tượng một ông Ḥa thượng mập mạp mang cái túi to. Nói đến đức hỷ xả th́ quí vị nên nhớ thật kỹ. Tôi lập lại ư nghĩa hỷ xả một chút. Hỷ là vui, xả là buông. Buông mà vui chớ không phải buông mà bị bắt buộc. Thí dụ ḿnh không ưa, ghét người nào đó. Nhưng v́ một người thân ḿnh thương họ, bảo ráng vui với họ. Nên v́ t́nh người này mà ḿnh vui với người kia. Cái vui đó là cái vui gượng gạo, chớ không phải thật sự là vui. Bây giờ trong ḷng phải không có cái buồn phiền, tức tối bực bội ǵ hết, chỉ một niềm vui an ổn, gặp ai ḿnh cũng vui. Đó mới thật là vui. Muốn được vậy, chúng ta phải hỷ để mà xả, tức là vui để mà buông. Ở đời, chúng ta sống trên thế gian này, cũng như đám trẻ con đông năm, bảy chục đứa chạy loạn. Chạy một hồi, thế nào cũng va đầu, chạm trán với nhau. Đứa th́ u đầu, đứa th́ chảy máu, trặc chân, nhưng rồi thôi, bỏ qua vui vẻ với nhau. Nếu cố chấp, khi đụng ḿnh, ḿnh giận cả năm, cả đời, như vậy không bao giờ vui được. Một người đụng ḿnh giận, ôm ấp mối giận đó, hai người đụng ḿnh rồi tới trăm người, ngàn người đụng ḿnh, th́ cái giận chừng bao nhiêu? Cái khối giận chừng bao to? Quí vị tưởng tượng bằng cái chùa này chưa? Như vậy, nếu chúng ta cứ cố chấp cái hờn, những cái buồn do người khác gây cho chúng ta, mà thế gian này chúng ta sống với mấy chục triệu người, chớ đâu phải với một người, th́ khối buồn phiền đó biết bao to? Trong mấy chục triệu người, chắc ǵ được một triệu người thương ḿnh. Trong đó cao lắm là vài trăm người thương ḿnh thôi, c̣n bao nhiêu người kia th́ xa lạ. Nếu những người xa lạ đó, họ có ở không phải đối với ḿnh một vài điều ǵ đó, rồi ḿnh cứ ôm ấp th́ chắc rằng ḿnh không bao giờ vui được. Cả một đời từ thuở bé cho tới già năm, sáu mươi tuổi, mỗi năm ít nhất cũng đụng nhau vài chục lần. Con số đó cộng lại tới già th́ chừng bao nhiêu? Bao nhiêu lần giận hờn, mỗi lần giận hờn đều giữ, như vậy theo danh từ chuyên môn, trong A-lại-da thức hay Tàng thức của ḿnh chứa toàn là giận. Trong kho chứa toàn là giận và thù, th́ chừng nhắm mắt sẽ ra sao? Tức là thù giận nó dẫn ḿnh đi. Trở lại gặp thù giận nữa. Đời này hận thù, đời sau hận thù, thù hận tiếp nối, th́ cuộc đời toàn là khổ đau với khổ đau thôi. Cho nên muốn được an vui th́ phải tập hỷ xả. Cái ǵ qua rồi tha thứ cho nhau, sống vui vẻ. Bảo tha thứ th́ dễ quá, nhưng làm sao tha thứ đây? Cứ nghĩ người đó hơn ḿnh người đó ăn hiếp ḿnh khinh ḿnh v.v... th́ không thể nào tha thứ được. Bây giờ, muốn biết v́ lư do ǵ chúng ta hỷ xả cho nhau được, đó là điều cần yếu nhất. Muốn tha thứ được, phải có phương pháp, có đường lối, chớ không phải nói suông được. Trong nhà Phật dạy rằng, muốn được hỷ xả chúng ta phải có từ bi. Có thương th́ mới có tha thứ. Người đó làm tức ḿnh, khổ ḿnh mà ḿnh không giận họ tại v́ ḿnh thương họ. Khi ḿnh thương, chuyện lớn cũng biến thành nhỏ. Khi ḿnh ghét, chuyện nhỏ cũng biến thành lớn. Do đó muốn xả phải biết thương người. Biết thương họ th́ mới tha thứ họ được. Nếu không biết thương th́ không bao giờ tha thứ. Có từ bi th́ có hỷ xả, có ḷng thương th́ mới có tha thứ được. Khi chúng ta không có ḷng thương mà nói tha thứ th́ không có tha thứ chân thật. Hiện giờ làm sao có ḷng thương? Nói ḷng thương suông không vậy được không? Thường nói tôi thương tất cả, khi tất cả người đó không chửi tôi, chớ họ chửi tôi là tôi hết thương họ. Phải vậy không? Làm sao khi họ chửi ḿnh mà ḿnh vẫn thương họ được, cái đó mới là khó. Nghĩ rằng tôi thương tất cả, khi gặp tôi, tất cả vui vẻ giúp đỡ th́ tôi thương họ. C̣n nếu họ gặp tôi, họ làm khó làm dễ, gặp tôi họ kiếm chuyện này chuyện kia, họ chửi bới họ nhục mạ làm sao tôi thương họ được. Muốn thương được th́ phải có phương pháp nữa. Như vậy muốn hỷ xả th́ phải có t́nh thương. Bảo hỷ xả suông th́ không bao giờ hỷ xả được, phải có ḷng thương mới hỷ xả được. Quí vị thấy rơ như ban ngày rồi. Giờ đây muốn có ḷng thương, làm sao mới có chứ? Không thể nói tôi thương hết là thương được. V́ vậy muốn có ḷng thương tất cả, tức là từ bi th́ phải có trí tuệ. Đó là đầu mối. Muốn có từ bi th́ phải có trí tuệ. Nhờ có trí tuệ rồi mới có ḷng thương rộng răi, tức là từ bi mới hỷ xả cho nhau được. Tóm lại cái manh mối ban đầu là trí tuệ, kế đó là từ bi, sau cùng là hỷ xả. Hỷ xả là kết quả của trí tuệ và từ bi. Nó không phải là cái có sẵn tự nó. Nó có từ bi, soi sáng nhờ trí tuệ. Như quí vị thấy rơ người dưng kẻ lạ làm khổ ḿnh một chút, ḿnh giận cả đời, c̣n con ruột ḿnh làm khổ ḿnh, ḿnh giận chừng bao lâu? Giận một lát thôi, phải vậy không? Rơ ràng ḿnh tha thứ cho nó v́ ḿnh thương nó. Nếu không thương th́ không bao giờ tha thứ cho nó được. V́ vậy cho nên từ bi là thực tế đi với hỷ xả. Vậy muốn có từ bi th́ chúng ta phải tập có trí tuệ mới có từ bi được. Có trí tuệ rồi phải làm thế nào để có từ bi? Trước hết tôi đề ra cái đầu tiên của trí tuệ là chúng ta phải quán xét cuộc đời là vô thường để chúng ta có ḷng thương nhau. Nhưng quán xét vô thường là quán cái nào? Quán sự nghiệp, quán của cải, quán cây cối, quán đất nước là vô thường rồi ḿnh có ḷng từ bi hay là quán cái ǵ? Ở đây muốn có từ bi chúng ta tập quán bằng cách này: Quán thẳng vào con người. Bởi v́ đức Phật ngày xưa, Ngài thấy rơ con người ai sanh ra đây rồi cũng đi đến già đến bệnh rồi chết. Bây giờ chúng ta cũng quán về cái lẽ đó, nhưng quán khác hơn. Chúng ta quán ai sanh ra đây đều là người bị kêu án tử h́nh hết. Quán mạnh như vậy đó. Tôi và quí vị đều có án tử h́nh hết, phải vậy không? Mà bản án đó không định ngày xử. Có thể lát nữa đây, hoặc mai, hoặc hai, ba mươi năm nữa xử cũng được, hoặc lâu hơn nữa bốn năm mươi năm. Bản án đó không định ngày xử. Quí vị thử tưởng tượng nếu có một người nào hoặc hai, ba người bị kêu án tử h́nh th́ ngày họ c̣n sống đó, họ có giành giựt, có tranh nhau hơn thua từ lời nói hay không? Hay là chỉ một bề nghĩ ngày mai ngày mốt ǵ đó ḿnh bị tử h́nh bằng súng bằng gươm. Cứ nhớ bao nhiêu đó thôi, nhớ cái án tử h́nh th́ có thể tha thứ cho nhau những cái nho nhỏ được hết. Như vậy chúng ta muốn thương nhau chúng ta nên nhớ rằng: Chúng ta sanh ra, ai nấy đều mang cái án tử h́nh rồi. Nói ra quí vị hơi sợ, chớ thật t́nh nếu không có án tử h́nh th́ làm sao có ngày chết. Nếu có sanh th́ phải có tử, nếu có tử th́ bản án sẵn rồi. Biết ḿnh sanh ra là phải có tử. Chẳng phải ḿnh mang bản án tử h́nh hay sao? Nhưng cái tử ấy hoặc gần hoặc xa, nghĩa là dài năm, sáu mươi năm, ba, bốn mươi năm ngắn nữa hai, ba mươi năm, ngắn nữa th́ mười mấy năm. Có sanh tự nhiên phải có tử. Chắc chắn như vậy. Chúng ta hằng nhớ rằng, mọi người ai ai cũng mang sẵn bản án tử h́nh, ngày xử không nhất định, mà không nhất định lại càng sợ hơn nữa. Phải vậy không? Nếu biết mười năm, hai mươi năm xử th́ khả dĩ c̣n lo giành giựt để dành được mười năm, hai mươi năm. Biết đâu ḿnh đang thở đang sống đây, lát nữa ngă ra chết. Như vậy án tử h́nh đó xử không có ngày nhất định. Mà không có ngày nhất định th́ lúc nào cũng hồi hộp như anh đao phủ lúc nào cũng ở bên cạnh. Nhớ h́nh ảnh đó, ai có chửi th́ chửi, mai mốt chết rồi th́ c̣n đâu hơn thua. Cái chết đang kề cận, hơn thua làm ǵ. Cái đáng lo nhất là làm sao cho khỏi chết. Giả sử có người căi lanh nói giỏi hơn thiên hạ, nhưng người đó căi để khỏi chết được không? Họ cũng không khỏi vậy. Hơn thua rồi cũng phải chết, hơn thua làm ǵ? Chi bằng chúng ta tha thứ nhau. Ai cũng đang ở cảnh khổ đang mang bản án tử h́nh, nên thương nhau, đùm bọc nhau, sống vui với nhau, làm khổ nhau chi nữa. Phải vậy không? Ḿnh là người sắp chết đây làm khổ nhau làm ǵ? Chúng ta v́ nghĩ đến cảnh khổ mà thương yêu đùm bọc nhau, nhờ nhớ tới cái khổ mà khởi ḷng thương xót. V́ cái án tử h́nh đó không kể người giàu kẻ nghèo, người có quyền thế, kẻ không quyền thế. Có người nào đáng giận đâu, dù có ai hơn ḿnh bao nhiêu đi nữa, ngày mai rồi cũng bị bản án tử h́nh, không thể nào thoát khỏi, v́ án tử h́nh đó b́nh đẳng cho tất cả mọi người. Nghĩ tới tất cả chúng ta đều sẽ chết, không ai thoát được, vậy ngày nào chúng ta c̣n sống nên đùm bọc nhau, thương yêu nhau để cùng ḥa vui mà sống. C̣n hay hơn nữa là vui ḥa cùng tiến tu để phá cái bản án đó. Như vậy chúng ta biết mọi người ai cũng có bản án tử h́nh. Nhưng người biết đạo lư th́ c̣n có cái cửa để xin xỏ thoát khỏi tử h́nh. Nghĩ đến cửa đó, chắc rằng năm nào tháng nào ngày nào chúng ta cũng chỉ lo làm sao giải quyết được bản án tử h́nh hơn là chuyện chửi bới hơn thua. Phải vậy không? Giả sử có ai chửi bới hơn thua với ḿnh, ḿnh nghĩ rằng mai mốt họ cũng chết, có ǵ mà hơn thua. Cái bận tâm nhất của chúng ta là bản án tử h́nh. Bản án chưa giải quyết có bị chửi chúng ta cũng làm thinh, chuyện kia mới là chuyện lớn. Quí vị nghĩ chúng ta đă bị án tử h́nh mà có người dạy chúng ta một lối để khiếu nại, hoặc là cách thoát khỏi bản án tử h́nh đó, chỉ phương pháp rành rẽ th́ chúng ta phải làm ǵ? Có phải ngồi đó giành từng miếng ăn ở trong khám, hay là tranh nhau từng lời nói trong khi huynh đệ đụng chạm nhau. Hay là tâm tâm niệm niệm lúc nào cũng t́m cách phá cái án tử h́nh. Người bị án tử h́nh mà được người chỉ dạy để được thoát khỏi án đó lại không chịu làm, cứ lo hơn thua phải quấy với nhau, quí vị nghĩ người đó là sao? Kẻ khờ khạo hay người khôn ngoan. Nếu nói theo thế gian th́ người đó là người ngu. Cái quan trọng thiết yếu mà ḿnh ngó lơ, c̣n cái tầm thường mà ḿnh cố chấp, không phải ngu là ǵ? Biết rằng ḿnh có phương pháp thoát khỏi bản án tử h́nh, tức nhiên chúng ta phải cố gắng làm sao đem hết khả năng của ḿnh lo giải quyết bản án. Đó là điều trên hết. Cho nên cái tu để thoát khỏi sanh tử là điều hết sức cần đối với người biết đạo. Nếu chưa khỏi sanh tử th́ ít ra chúng ta cũng tha thứ cho nhau, v́ tất cả chúng ta đều đau khổ như nhau, đều là người mang án tử h́nh hết. Đă b́nh đẳng mang án tử h́nh th́ nên thương yêu nhau giúp đỡ nhau. Ngày nào c̣n sống trên thế gian này là ngày an ổn, đừng làm khổ cho nhau thêm nữa. Như vậy mới là người có ḷng từ bi. Từ bi có là do chúng ta biết chúng ta cùng đau khổ như nhau. Do nghĩ đến cái đau khổ chung, mới thương xót nhau. Đó là điểm thứ nhất. Điểm thứ hai là chúng ta phải dùng trí tuệ xét cho thật cẩn thận về con người. Tôi thí dụ cho quí vị thấy, có người nào đó cuồng loạn lên, những cái ǵ của nhà người ta, đồ đạc của người, mới vô mượn mang ra tới sân là nói cái này của tôi. Mượn người ta thấy rơ ràng mà cái ǵ cũng nói của tôi hết, th́ lúc đó quí vị kết luận người đó là người khôn hay người khờ. Chắc ai cũng nói đó là chú cuồng si. Chú điên cuồng nên đồ của người ta mà nói là đồ của ḿnh, nói lộn lạo không đúng sự thật. Hiện nay quí vị có thấy ḿnh là kẻ cuồng si hay không? Tôi hỏi kỹ lại tất cả quí vị: Thân quí vị đây là thật hay là giả? Ḿnh như vầy mà nói giả th́ không ai bằng ḷng hết, phải vậy không? Thân này nói giả th́ trăm người như một không thể chấp nhận được. Như vậy mà trong kinh Phật nói thân này là giả. Quí vị thấy đức Phật nói thiếu sự thật phải vậy không? Tôi hỏi tất cả quí vị: Chúng ta đang thật sống đây, chúng ta đang sống hay đang vay mượn. Nếu thật t́nh ḿnh sống, th́ cái ǵ cũng của ḿnh hết, cần ǵ phải vay mượn bên ngoài. Nếu có vay mượn bên ngoài th́ không phải thật ḿnh đang sống, mà ḿnh đang mượn: mượn cái ở ngoài để sống. Trong nhà Phật nói thân này là do gốc tứ đại: đất, nước, gió, lửa kết hợp mà thành. Tứ lúc ra khỏi bào thai mẹ rồi th́ có một cuộc sống. Mà cuộc sống đó là cuộc sống vay mượn chớ không phải thật là ḿnh. Tại sao vậy? Như quí vị thấy từ đứa bé cho đến người lớn, ai cũng như ai, cái lỗ mũi có lúc nào nghỉ không? Vậy cái lỗ mũi đang làm ǵ đây? Có nhiều người nghĩ ḿnh đang sống trong cái này cái kia mà quên ḿnh đang mượn hơi ở ngoài, đem vô rồi trả nó ra. Tự ḿnh không có hơi, mượn ở ngoài hít vô rồi trả ra, trả ra rồi hít vô. Làm cả ngày như vậy. Cái hít vô thở ra đó là sự sống chớ ǵ? Mà sự sống đó do vay mượn mà có. Khi hơi ở ngoài chúng gọi là không khí của trời đất, hít vô lỗ mũi rồi, liền nói là hơi của tôi. Như vậy rơ ràng chúng ta là kẻ cuồng si, v́ ở ngoài cho là của trời đất, mà vừa vô mũi là nói của tôi. Khi thở khí trả ra cũng nói là của tôi nữa. Ra tới ngoài rồi thành của ai? Là của đất trời. Vậy cái ǵ là của ḿnh? Quí vị thấy trăm người như trăm người đều nói ḿnh đang sống, nhưng không ngờ ḿnh đang vay mượn. Cứ mượn trả mượn trả. Có giờ phút nào không vay mượn đâu. Đó là nói lỗ mũi mượn không khí, mượn gió. Đến cái miệng mượn cái ǵ? Như từ sáng tới giờ hơi khô cổ th́ làm sao? Xin một tách nước. Khi c̣n ở ngoài nói là nước trà hoặc nước lạnh, hay nước ǵ đó. Khi vô khỏi cổ rồi nói của ai. Ắt nói của tôi. Như vậy, ở ngoài là nói của trời đất, của cái này của cái nọ. Vừa vô khỏi cổ th́ nói của tôi. Tối chiều cho nó ra, thành của ai? Mượn vô ở miệng, xuống thân trả ra, chỉ đi có một đường quanh, như vậy mà cũng nói là của tôi. Cái ǵ đem vô là của tôi. Mượn hơi gió, mượn nước, rồi tới mượn đất, lửa nữa. Tức là ăn uống cái có chất bột để nuôi dưỡng phần thân, cái có chất nóng nuôi dưỡng phần lửa. Ḿnh mượn tất cả những cái đó, mượn rồi trả, mượn rồi trả. Nếu một phút giây nào không mượn th́ phút giây đó c̣n sống hay không? Nếu thật là ḿnh th́ cần ǵ phải mượn. Thật là tôi rồi cần ǵ mượn bên ngoài. Nếu mượn bên ngoài th́ không phải là tôi rồi. Như quí vị thấy, ḿnh thật hay giả? Nói giả th́ ngán quá không dám nói. Nhưng chân lư nó là như vậy. Không lúc nào ḿnh chịu nói ḿnh giả. Quí vị thấy con người có những cái chấp lạ, cái chấp si mê. Ḿnh không bao giờ chịu thấy lẽ thật. Một cái thật một trăm phần trăm, mà nghe qua ḿnh sẽ nổi giận liền. Thí dụ: Như sáng dậy mắc chuyện này chuyện nọ, lại có khách, chưa kịp súc miệng rửa mặt ǵ hết. Khách tới buộc ḷng nói chuyện với người. Khi đó vô t́nh hơi bay vô lỗ mũi người khách. Nếu người đó thật thà ngay thẳng họ sẽ nói: Chà chị nói sao hơi hôi quá. Nghe nói như vậy là ḿnh giận liền. Quí vị nghĩ xem cái đó là cái ǵ? Tại sao sự thật một trăm phần trăm, ḿnh cũng biết nó mà người ta nói hôi ḿnh lại giận người ta là sao? Như vậy có phải là kẻ luôn luôn chạy trốn sự thật. Phải vậy không? Không dám thấy sự thật, không dám nghe sự thật. Người không dám nghe sự thật th́ người đó là người ǵ? Phải chăng là kẻ cuồng si. Lúc nào cũng nói tôi t́m chân lư, tôi t́m sự thật mà sự thật tới th́ chạy trốn nó. Cái thật hiện tiền mà lúc nào chúng ta cũng trốn chạy nó. Ngay thân này quí vị thấy rơ là thân vay mượn. Chính nó vay mượn mà lúc nào chúng ta cũng nói là thân thật. Bởi nói của ḿnh thân ḿnh thật cho nên ḿnh quan trọng nó. Bởi quan trọng nó, nên cái ǵ để nuôi dưỡng nó, cái ǵ khen ngợi nó ḿnh đều quan trọng theo. Bởi ḿnh quan trọng thân này là thật, lỡ ai nói động nó một chút là ḿnh giận lên. Thân tôi là trọng, món đồ tôi dùng là quí, cho nên ai đụng chạm đến nó, chê nó làm nó hư th́ tôi nổi tức lên. Sở dĩ chúng ta buồn thương giận ghét đủ thứ hết, là tại ta thấy thân thật, nên thấy cái khen cái chê cũng thật luôn. Phải vậy không? Nếu ta thấy thân này là giả, tạm bợ, th́ cái khen chê đối với thân này quan trọng không? Nếu biết nó giả, có khen chê cũng bằng thừa, mà có chê nó cũng không đáng kể. Như vậy chúng ta thấy, nếu dùng trí tuệ thấy thân này rơ ràng là vay mượn, giả dối th́ chúng ta không c̣n quan trọng khen chê đối với thân này nữa. Khi sự khen chê không c̣n quan trọng nữa, chúng ta sẽ tha thứ những ǵ đụng chạm đến chúng ta dễ ợt. Hỷ xả không c̣n khó khăn nữa. Giờ đây chúng ta biết thân này là giả cho nên sự khen chê thân này chúng ta coi nó là như thường. Nếu ai chấp thân này là thật, ta thấy người đó rất đáng thương. Ḿnh tỉnh mà thấy người mê th́ ḿnh phải thương. Cũng như ḿnh tỉnh, thấy người điên th́ thương v́ họ không biết lẽ thật như ḿnh. V́ vậy nên tha thứ những cái lầm của họ sai lầm sái quấy. Giả sử có người điên họ chửi ḿnh, ḿnh có giận họ không? Có ôm ḷng giận năm, bảy năm không? Có bị họ đánh hai, ba bạt tai, ḿnh chạy không giận họ. V́ sao chúng ta không giận? V́ chúng ta nghĩ họ là kẻ điên. Họ đă điên th́ ḿnh phải thương họ, đâu nỡ giận họ. Ḿnh biết thân là giả, họ chấp thân là thật, nếu họ lỡ xúc phạm đến chúng ta, chúng ta sẵn sàng tha thứ. V́ sao? V́ ta biết họ si mê. Người si mê là người đáng thương không đáng giận. Nghĩ như vậy chúng ta thương được tất cả. Bị ai đụng chạm, chúng ta chỉ thương mà không giận. Đó là cái thứ hai. Quí vị thấy hai điểm then chốt để chúng ta có ḷng từ bi là do trí tuệ quán chiếu tất cả là vô thường. Chúng ta là những người mang án tử h́nh sớm muộn ǵ rồi ai cũng chết. Nghĩ đến cái chết th́ chúng ta không nỡ làm khổ thêm cho nhau, mà lúc nào cũng đùm bọc nhau, thương yêu giúp đỡ nhau cho bớt khổ. Đó là điểm thứ nhất do ḷng từ bi mà ra. Điểm thứ hai nghĩ thân này là giả tạm. Đă là giả tạm, vay mượn, th́ đối với cái thân giả tạm đó có hơn có thua, có khen, có chê chỉ là chuyện thường. Không có ǵ phải buồn phải giận, chúng ta có thể tha thứ, có thể hỷ xả hết, không có ǵ quan trọng nữa. Muốn có ḷng từ bi, chúng ta phải có trí tuệ là vậy. Tôi dẫn trong kinh A-hàm để quí vị nhận rơ hơn. Ngày xưa, khi đức Phật Thích-ca đắc đạo rồi, một hôm Ngài đi hoằng hóa chỗ ngoại đạo. Khi Ngài đi khất thực, có một người Bà-la-môn ghét Ngài, tới trước mặt Ngài phỉ báng mạ nhục nói nhiều lời nặng nề. Đức Phật vẫn tỉnh bơ không chối căi. Nói một hồi người Bà-la-môn hỏi: “Cù-đàm có nghe không?” Phật nói: Ta nghe. Hỏi: Tôi nói như vậy sao ông không trả lời? Đức Phật nói: Giả sử ở nhà ngươi có một buổi lễ mời bà con thân quyến tới. Sau khi dự lễ xong họ ra về, ngươi đem quà bánh tặng cho họ. Khi tặng những người đó không nhận th́ quà bánh về ai? Người đó nói: Về tôi. Phật nói: Cũng vậy, ngươi mắng chửi ta mà ta không nhận, có dính dáng ǵ đến ta đâu? Như vậy tại sao? –V́ Ngài biết thân này là giả, ngôn ngữ khen chê có ǵ quan trọng đâu mà hơn thua. Một lần nữa đức Phật đi khất thực ở một vùng khác. Có một ông Bà-la-môn c̣n quá hơn ông trên. Đức Phật đi trước, ông đi theo sau chửi hoài. Phật cũng từ từ đi. Đến lúc tới ngă ba đường, Phật trải tọa cụ ngồi đàng hoàng, ông chạy lại trước mặt hỏi: “Cù-đàm thua tôi chưa?” Đức Phật thong thả đáp bằng bốn câu kệ: Kẻ hơn th́ thêm oán Người thua ngủ chẳng yên Hơn thua hai đều xả Ấy được an ổn ngủ Quí vị hơn người ta th́ người ta oán ḿnh, c̣n nghĩ ḿnh thua th́ trằn trọc ngủ không yên. Một bên thêm oán, một bên ngủ không yên. Chỉ có một cái, hơn thua hai bên đều bỏ hết, th́ người đó ngủ kḥ không ǵ bận tâm hết. Như vậy hơn thua cả hai đều xả th́ người đó an ổn nhất trên trần gian. Đó là người hạnh phúc. Người cần ăn th́ ăn cần ngủ th́ ngủ, không có bận bịu ưu tư ǵ hết. Người đó mới an ổn. Quí vị thấy đức Phật đối với cảnh người ta khinh bỉ hạ nhục mà Ngài vẫn tự tại không rối rắm không bực bội. Tại sao? Tại Ngài đă giác ngộ rồi. V́ Ngài rủ ḷng thương mà hỷ xả, đầy đủ ḷng từ bi nên Ngài hỷ xả không khó khăn ǵ hết. Chúng ta thấy rơ thực hiện được cái hạnh hỷ xả cho tới cùng tột là do trước có trí tuệ, kế đó có ḷng từ bi, rồi sau đạt được hỷ xả cùng tột. Nếu ḿnh không có trí tuệ, thiếu từ bi th́ hỷ xả không bao giờ có. Nghe là chấp liền. Quí vị thấy ở thế gian này người ta sống hăng say là do sự hơn thua. Người ngồi trong ṣng bạc ngồi hoài không biết mỏi lưng là sao? Tại nghĩ hơn thua. V́ nghĩ ăn thua đó mà ngồi ngoài không biết mỏi. Chúng ta đi xem đá bóng. Hai bên đá nhau ḿnh xem mỏi mắt không biết chán cũng tại nghĩ ăn thua, muốn biết kết quả ăn thua. V́ chờ xem ăn thua đó mà người ta say mê trong cuộc sống. Càng say th́ càng giành giựt để được ăn thua. C̣n người nào biết ăn thua không có ǵ quan trọng, th́ người đó không có bận bịu giành giựt ǵ hết. Người đó vẫn b́nh tĩnh điềm đạm trước mọi cảnh không có ǵ nóng bỏng lo sợ. V́ nghĩ được mất hơn thua mà ḷng chúng ta lúc nào cũng hồi hộp lo âu. Nếu hơn thua không c̣n th́ mọi vấn đề không c̣n quan trọng nữa, lo âu hồi hộp hết liền. Như vậy cuộc khổ của tất cả chúng sanh gốc từ tranh hơn tranh thua. Chính v́ tranh hơn tranh thua chúng ta mới cố chấp để rồi hại nhau thù địch v.v... Nếu chúng ta coi thường cái hơn thua th́ chúng ta là người an ổn nhất và chúng ta hỷ xả hết. Đối với người khác không có buồn không có giận, không có oán ǵ, đó là cái gốc tự biết ḿnh không phải là thật. Biết ḿnh cùng mọi người ở trong cảnh khổ, cho nên chúng ta thương nhau và tha thứ cho nhau. Thương nhau tha thứ cho nhau gốc từ trí. Biết ḿnh đồng khổ, biết ḿnh không thật cho nên chúng ta mới làm được điều đó. Như vậy phải thấy rơ rằng trí tuệ đi đâu, th́ có từ bi theo đó. Có từ bi mới hỷ xả được. Sở dĩ đức Di-lặc, Ngài hạnh phúc vui cười hoài là v́ Ngài có trí tuệ, đầy đủ từ bi, hỷ xả nên mới vui vẻ như vậy. Ngày nay là ngày đầu năm, tôi nhắc lại cho quí vị nhớ. Một năm hạnh phúc của chúng ta là sao? Là phải có trí tuệ, thấy được lẽ thật để thương yêu nhau và đùm bọc nhau. Tóm lại, muốn đầy đủ hạnh phúc, chúng ta phải thương yêu nhau. Muốn thương yêu nhau chúng ta phải sáng suốt, có trí tuệ. Như vậy khả dĩ chúng ta sẽ hưởng đầy đủ một năm hạnh phúc. C̣n chúng ta câu mâu hơn thiệt, th́ trong năm này chúng ta chưa chắc có bao nhiêu lần vui mà có thể buồn nhiều, v́ thế gian lúc nào cũng là lúc đụng chạm. Kẻ chạm ít người chạm nhiều. Có đụng chạm th́ phải có đau có rát. Cho nên chúng ta phải biết rơ làm sao trong cuộc đời chúng ta lúc nào cũng được an ổn vui tươi. Đó là khôn ngoan của ḿnh. Chính cái an ổn vui tươi đó là tự ḿnh cứu ḿnh hết khổ mà cũng là làm cho những người xung quanh hết khổ nữa. Nếu ở trong gia đ́nh mà quí vị vui vẻ, an ổn th́ những người xung quanh cũng vui theo. C̣n nếu quí vị bực la hoài th́ những người xung quanh cũng rối đầu luôn. Như vậy chính ḿnh đă khổ rồi làm khổ lây cho những người chung quanh ḿnh nữa. Người tu theo đạo Phật là tự lợi, lợi tha là tự cứu và cứu người. Vậy chúng ta phải nỗ lực làm sao một năm cho ḿnh được vui tươi hạnh phúc, để rồi cái vui tươi đó lan đến người thân và những người chung quanh chúng ta. Đó là điều lợi ḿnh lợi người. Vậy tôi mong rằng năm mới cầu nguyện Tam Bảo gia hộ cho quí vị một năm đầy đủ hạnh phúc như tôi nói năy giờ. Đó là lời cầu chúc của chúng tôi. Quí vị cố gắng thực hiện cho được cái đó là quí vị đă tu theo Phật. NAM-MÔ BỔN SƯ THÍCH-CA MÂU-NI PHẬT. ]H̉N NGỌC HỌ H̉ATẤT NIÊN 1979 Năm nay, trước hết tôi xin kể một câu chuyện thế gian. Thuở xưa ở Trung Hoa đời nhà Sở, trên ngọn Kinh Sơn có một người t́m ngọc tên là Biện Ḥa. Anh vô núi t́m ngọc, t́m được một ḥn ngọc bích. Anh đem về dâng lên cho vua Sở. Vua Sở lúc đó là Sở Lệ Vương. Vua Sở mới đưa cho thợ ngọc xem. Họ trả lời đó là đá chớ không phải ngọc. Vua Sở nổi giận bắt chàng họ Ḥa chặt một chân, bảo là khi quân nói dối. Bị chặt một chân, chàng ta mang ngọc về. Thời gian sau Sở Lệ Vương thăng hà. Sở Vơ Vương lên ngôi, chàng họ Ḥa c̣n một chân, nhưng cũng mang ngọc tới dâng. Sở Vơ Vương bảo thợ ngọc xem. Họ trả lời bảo đó là đá chớ không phải ngọc. Vua nổi giận bắt chàng họ Ḥa chặt một chân nữa. Bị chặt hết hai chân chàng họ Ḥa mang ḥn ngọc trở về. Sau Sở Vơ Vương tới Sở Văn Vương lên ngôi. Chàng họ Ḥa không c̣n chân đem dâng ngọc nữa. Anh chàng đành ôm ḥn ngọc ở Kinh Sơn mà khóc. Khóc năm, bảy ngày đêm máu ra nước mắt. Sở Văn Vương nghe vậy cảm động cho người tới hỏi và đ̣i y về triều. Vua Sở hỏi: Tại sao mà ngươi khóc lắm vậy? Có phải v́ chặt chân mà ngươi khóc hay chăng? Ông ấy trả lời: -Không phải đau khổ v́ bị chặt hai chân mà tôi khóc. Tôi khóc đây v́ ngọc mà nói là đá. Khóc v́ nói thật mà cho là nói dối. Vua Sở Văn Vương bảo thợ ngọc xét lại cho kỹ t́m xem cẩn thận coi phải thật là ngọc hay không? Rốt cuộc đó là ngọc bích rất đẹp. Từ đó về sau mới đặt tên là “Ngọc Bích họ Ḥa”. Qua câu chuyện đó quí vị thấy cái ǵ? Thiện chí của chàng họ Ḥa đưa đến kết quả cụt hai chân. Chàng đau khổ không phải v́ cụt hai chân. Đau khổ v́ ngọc mà nói là đá. Đau khổ v́ nói thật mà cho là nói dối. Quí vị nghĩ sao về tâm trạng của chàng họ Ḥa. Ḥn ngọc bích của chàng họ Ḥa có quí thật hay không? Nếu theo thế gian th́ ḥn ngọc ấy rất là quí. Nhưng giả sử có người có ḥn ngọc quí hơn đem đi tặng th́ quí vị nghĩ sao? Người đó có thể lên ngọn Kinh Sơn mà khóc hay không? Tôi nhắc lại như trường hợp trong kinh Pháp Hoa, ngài Bồ-tát Thường Bất Khinh đi tới đâu cũng bái bái nói: “Tôi không dám khinh các ngài, các ngài đều sẽ thành Phật.” Như vậy phải chăng Thường Bất Khinh Bồ-tát đă tặng cho chúng ta một ḥn ngọc. Khi đó có kẻ th́ rầy la có kẻ vác đá chọi chẳng hạn. Nhưng dù muốn dù không ḥn ngọc ấy cũng được trở về với mọi người. Đó là tôi nói đại khái nhắc ở trong kinh. Bây giờ chúng ta thực tế mà nh́n. Giả sử nếu có người tặng cho quí vị một ḥn ngọc quí bằng trăm ngàn lần ḥn ngọc ở Kinh Sơn, quí vị có ưng nhận hay không? Nếu ưng nhận quí vị có chịu giữ hay không? Hay là quí vị nhận rồi mà không chịu giữ, quăng lang lệ ở ngoài đường. Như vậy người tặng ngọc có buồn không? Chúng ta thử tưởng tượng một việc tầm thường: Ngọc mà mắt của người không chuyên môn, hoặc chuyên môn mà không đúng mức, c̣n cho là đá. Khi một người biết quả tang là ngọc mà cứ bị coi là đá hoài th́ người đó có đau khổ hay không? Nói thật mà cứ bị nói là dối th́ có đau khổ hay không? Đau khổ chặt chân vẫn chưa đau khổ bằng ngọc mà cho là đá, chưa đau khổ bằng nói thật mà cho là nói dối. Đó là chuyện xưa mà cũng là t́nh trạng hiện giờ. Có người tặng cho quí vị những ḥn ngọc mà tôi tin rằng những ḥn ngọc này quí bằng trăm ngàn lần ḥn ngọc Kinh Sơn của họ Ḥa. Thế mà có nhiều người xem thường nó hoặc không chấp nhận, hoặc chấp nhận rồi cũng bỏ rơi không ǵn giữ. Quí vị có tội nghiệp cho người tặng ngọc đó không? Bây giờ ḥn ngọc đó ở đâu và ai tặng cho quí vị? Quí vị có tâm trạng như hai ông vua Sở trước hay không? Mỗi người có ḥn ngọc mà không biết giữ. Bây giờ tôi nói thêm giá trị của ḥn ngọc. Ḥn ngọc bích có quí chăng chỉ là lóng lánh đẹp đẽ trong việc trang sức thôi. C̣n có ḥn ngọc quí không biết bao nhiêu lần. Ḥn ngọc đó làm cho ta an lành tự tại. Có người tặng ngọc tặng một trăm một ngàn người, trăm ngàn người có ngọc mà ngọc tặng không mất. Vậy ḥn ngọc của họ chắc nó quí hơn nhiều. Ḥn ngọc này nó chẳng những làm cho quí vị no ấm an lành tự tại và bảo đảm cho quí vị kiếp kiếp đời đời không bao giờ mất, không bao giờ khổ. Đó là ḥn ngọc tối quí hay là quí tối thượng. Đó là ḥn ngọc trong kinh Pháp Hoa, hạt minh châu ở trong búi tóc của nhà vua, tặng cho người thắng trận sau khi trở về hoặc là của người bạn thân tặng cho người bạn cũ đang lang thang, cột trong chéo áo chẳng hạn. Đức Phật đă nói rất nhiều về ḥn ngọc đó. Hôm nay là ngày cuối năm, tôi nói trong việc tặng ngọc của họ Ḥa để quí vị thấy tâm trạng của người tặng ngọc. Bây giờ cũng có người tặng ngọc cho quí vị, quí vị nhớ ráng nhận mà giữ cho người tặng khỏi tủi khỏi buồn mới thật là không hoài công và cũng không phụ ḷng người sẵn sàng tặng cho ḿnh. Hạt minh châu như thế nào? Tôi sẽ dẫn các Thiền sư để chỉ cho quí vị hạt minh châu có sẵn nơi quí vị. Có một vị tăng đến hỏi Thiền sư Thạch Cựu: Thế nào là hạt châu trong tay Địa Tạng? (Đức Địa Tạng một tay cầm tích trượng, một tay cầm hạt minh châu.) Thiền sư Thạch Cựu trả lời: Trong tay ông lại có chăng? Ông tăng thưa: Con chẳng hội (con chẳng hiểu). Nghĩa là con chẳng biết có hay không? Thiền sư Thạch Cựu nói: Chớ dối đại chúng. Như vậy xác nhận cái ǵ? Quả tang trong tay ông có ḥn ngọc mà ông không biết có hay không? Nếu ông nói không có là ông nói dối đại chúng. Kế đó Ngài làm bài kệ: Bất thức tự gia bảo Tùy tha nhận ngoại trần Nhật trung đào ảnh chất Cảnh lư thất đầu nhân Tạm dịch: Báu nhà ḿnh chẳng biết Theo người nhận ngoại trần Giữa trưa chạy trốn bóng Người nh́n gương mất đầu Bất thức tự gia bảo: nghĩa là không biết được của báu chính nhà ḿnh. Tùy tha nhận ngoại trần: tức là theo kẻ khác mà đi nhận bụi bặm bên ngoài. Của báu nhà th́ bỏ quên. Nhật trung đào ảnh chất: Chẳng khác nào như người ở giữa trưa mà chạy trốn bóng. Chạy ngoài nắng trốn bóng, chạy đến bao giờ khỏi bóng. Cảnh lư thất đầu nhân: Nh́n vô gương thấy cái đầu ḿnh, mặt ḿnh trong gương, quên mất đầu thật ḿnh ở bên ngoài. Xoay gương lại không thấy đầu kêu lên tôi mất đầu rồi. Đó là h́nh ảnh của chàng Diễn- nhă-đạt-đa trong kinh Lăng Nghiêm. Quí vị thấy chúng ta có giống như chàng ấy hay không? Mỗi người có sẵn hạt minh châu ở trong tay, không chịu nhận mà chạy đi nhận những cái ǵ loanh quanh tầm phào bên ngoài. Những người như vậy chẳng khác nào tự chối ḿnh không có hạt minh châu. Họ giống như người trốn bóng chạy ngoài trời lúc trưa nắng hay là người nh́n gương xoay gương lại cho ḿnh là không có đầu. Đó là cái cuồng vọng. Đó là h́nh ảnh mà Thiền sư nhắc cho chúng ta biết mỗi người có ḥn ngọc như vậy. Sau đây là câu chuyện của đức Phật: Một hôm năm vị Thiên vương đến hỏi đạo đức Thế Tôn. Ngài để hạt châu ở giữa, năm vị đứng năm góc. Ngài hỏi hạt châu này màu ǵ? Mỗi vị nói mỗi màu khác nhau. Ông ở phương đông thấy phản ánh màu trắng, nói màu trắng. Ông ở phương tây thấy phản ánh màu đỏ, nói hạt châu màu đỏ. Cả năm ông nói năm màu khác nhau hết. Thế Tôn cất hạt châu đưa tay lên hỏi: Hạt châu này màu ǵ? Mấy vị Thiên vương thưa: Trong tay Phật không có châu chỗ nào có màu? Đức Phật quở: - Tại sao các ông mê điên đảo lắm vậy? Ta đem thế châu chỉ cho liền nói có màu xanh vàng đỏ trắng. Ta đem chân châu chỉ cho thảy đều không biết. Tại sao Phật đưa tay không lại nói là chân châu, hạt châu thậät? Quí vị có thấy hạt châu đó không? Ai thấy? Vậy mà năm vị Thiên vương đều ngộ đạo thấy hạt châu hết. Quí vị thấy hay không? Như vậy quí vị có thấy thời thấy chớ tôi không giải thích. Đó là chỉ châu cho quí vị. Một câu chuyện khác cũng nói về châu. Có vị tăng hỏi Thiền sư Pháp Đăng: Đầu sào trăm trượng làm sao tiến bước? Thiền sư Pháp Đăng đáp: Câm. Ngài Út Sơn Chủ khán câu đó do một vị Hóa Sĩ ở Lô Sơn dạy. Ngài khán câu đó như câu thoại đầu trải qua ba năm. Một hôm Ngài cởi ngựa đi qua cầu ván, bất thần con ngựa đạp nhằm chỗ mục lọt chân xuống dưới. Ngài té nhào xuống ngựa. Bỗng nhiên Ngài đại ngộ bèn làm bài tụng: Ngă hữu minh châu nhất khỏa Cữu bị trần lao quan tỏa Kim triêu trần tận quang sanh Chiếu phá sơn hà vạn đóaTạm dịch: Ta có một viên minh châu Đă lâu bị bụi vùi sâu Hôm nay bụi sạch sáng sanh Soi thấu núi sông vạn cảnh Như vậy Ngài lượm được hạt châu ở đâu? Quí vị thấy chỉ cần khán câu đó bất thần thấy hạt châu của ḿnh. Nghĩa là ḿnh có viên minh châu lâu rồi chôn vùi dưới bụi, cho nên hôm nay bất thần bụi tan ánh sáng phát hiện. Nó sáng chiếu khắp sơn hà đại địa. Đó là diệu dụng của hạt minh châu. Như vậy quí vị thấy nó quí vô cùng vô tận. Tôi đă nói về hạt minh châu, bây giờ nói qua danh từ hơi khác hơn không c̣n là hạt minh châu. Tên nó khác mà thể không khác. Đây là Thiền sư Thọ ở Hưng Giáo. Một hôm ở trong hội Quốc sư Đức Thiều, Ngài bửa củi. Khi củi Ngài bửa tét ra liền ngộ đạo và làm bài kệ: Phóc lạc phi tha vật Tung hoành bất thị trần Sơn hà cập đại địa Toàn lộ Pháp vương thân Tạm dịch: Bửa tét không vật khác Dọc ngang chẳng phải trần Núi sông và quả đấtToàn bày thân pháp vương Bửa củi tét ra th́ bày thân Pháp vương chớ không ở đâu xa lạ. Như vậy người tu thiền ngộ đạo không phải ở trong giờ phút yên lặng mà ngộ đạo. Có thể trong lúc đi đường bất chợt gặp cái ǵ đó cũng có thể ngộ được. Trong khi làm công tác bửa củi tét ra ḿnh cũng ngộ đạo. Đó là tinh thần Thiền Tông thấy đạo bất cứ lúc nào. Lúc Ngài bửa củi Ngài có tu hành không? Cũng như ngài Úc Sơn Chủ lúc cởi ngựa có tu hay không? Nếu không tu tại sao bất thần Ngài ngộ đạo. Như vậy để thấy người xưa, đi đứng nằm ngồi, bất cứ một hoạt động nào của các Ngài cũng không bỏ quên tâm niệm tu hành của các Ngài. Chính ôm ấp như vậy, mài dũa như vậy nên mới có cơ phát hiện ra. C̣n chúng ta, đi th́ lo nói chuyện thế gian, bửa củi th́ nói ǵ cho vui để quên mệt. V́ vậy mà chúng ta không thấy đạo ở chỗ đó. Bây giờ không nói chuyện châu, mà chuyện khác thâm thúy hơn. Thiền sư Thạch Thê, cháu ngài Nam Tuyền gọi Nam Tuyền bằng Sư ông. Một hôm, chú thị giả mời Ngài đi tắm. Ngài bảo: Đă chẳng rửa bụi cũng chẳng rửa bợn tắm làm ǵ? (V́ trong bài kệ tắm Phật có câu: Nước không có rửa bụi không có rửa bợn.) Chú thị giả thưa: Ḥa thượng đi trước con đem xà pḥng đến sau. Sư cười. Như vậy chú thị giả lạc đề nên Ngài cười phải vậy không? Một hôm Ngài hỏi chú thị giả: Đi đâu? Thị giả thưa: Con lên trai đường. Sư bảo: Ta đâu không biết người lên trai đường. Thị giả thưa: Trừ ngoài việc này, riêng nói cái ǵ? Sư bảo: Ta chỉ hỏi việc bổn phận của ngươi. Chú thị giả thưa: Nếu hỏi việc bổn phận, con thật là đi lên trai đường. Sư bảo: Quả thật là thị giả của ta. Quí vị thấy chú thị giả ăn nói ǵ mà lệch lạc vậy. Mời Ngài đi tắm, Ngài bảo: Nước không phải rửa bụi cũng không phải rửa bợn, tắm làm ǵ? Thị giả không trả lời câu đó mà nói: Ḥa thượng đi trước con đem xà pḥng theo sau. Sao lạ vậy? Đoạn sau thấy ông thị giả bưng bát lên trai đường, Ngài hỏi đi đâu? Ông thị giả thưa: Con đi lên trai đường. Ngài nói ta đă biết ông đi lên trai đường, chính Ngài muốn hỏi cái ǵ đó. Thị giả thưa: Ngoài việc đi lên trai đường, Ḥa thượng bảo con nói cái ǵ bây giờ? Ngài đáp: Ta hỏi việc bổn phận của ngươi. Khi nghe, ông thị giả thưa: Nếu Ḥa thượng hỏi việc bổn phận của con th́ quả thật là con đi lên trai đường. Ngài liền khen ông mới thật là thị giả của ta. Quí vị thấy ông thị giả đó đáng là thị giả chưa? Tôi nhắc thêm một Thiền sư nữa. Ngài Bổn Nhân ở huyện Bạch Thủy, đệ tử của ngài Động Sơn. Một hôm Ngài thượng đường nói với chúng: Trong con mắt dính cát chẳng được, trong lỗ tai dính nước chẳng được. Một hôm vị Tăng bước ra hỏi: Tại sao trong con mắt dính cát chẳng được? Ngài đáp: Hợp chân không sánh. Tăng hỏi: Tại sao trong lỗ tai dính nước chẳng được? Ngài đáp: Trắng sạch không nhơ. Quí vị thấy trả lời sao mà lệch lạc vậy? Trong con mắt dính cát không được, điều đó ai cũng nhận rơ. Trong lỗ tai dính nước không được, đó cũng chẳng khó hiểu. Nhưng tại sao con mắt dính cát không được? Ngài đáp: Hợp chân không sánh. Tức là hợp với cái chân không có ǵ so sánh cả. Hỏi: Tại sao lỗ tai dính nước không được? Ngài đáp: Trắng sạch không nhơ. Như vậy, Ngài nói chuyện ǵ? Ngài có chỉ hạt châu cho quí vị hay không? Ngài nói có giống đức Phật đưa tay lên cho năm vị Thiên vương đó chăng? Đó là lối diễn tả khác mà cùng một nghĩa. Đó là đạo vị thâm thúy mà người đọc hơi đau đầu. Không biết đức Phật nói cái ǵ? Thiền sư nói cái ǵ? Chẳng lẽ mỗi cái tôi giải thích hết, không hay. Bây giờ tôi kể chuyện một bà ni. Bà Viên Ấn đến tham vấn Thiền sư Chân Diễn ở Trúc Am. Thiền sư hỏi bà Ni: Thế Tôn đưa cành hoa, ngài Ca-diếp cười chúm chím, là cười cái ǵ? Quí vị thử trả lời thế bà Ni ấy thử coi. Bà Ni này hét một tiếng. Hét một tiếng thôi không trả lời câu nào nữa hết. Thiền sư bảo: Tiếng hét này rơi vào chỗ nào? Bà Ni thưa: Chẳng cần nghĩ đến. Tức chẳng cần nghe đến nó rơi vào chỗ nào? Thiền sư dựng phất tử hỏi: Cái này là ǵ? Bà Ni thưa: Chẳng được vọng thông tin tức. Tức là không được dối thông tin tức. Thiền sư hỏi: Vừa rồi Sơn tăng nói ǵ? Bà Ni thưa: Lời trước đâu c̣n. Thiền sư bảo: Sơn tăng tuổi già. Bà Ni thưa: Tuổi già th́ được, liền lễ bái. Quí vị thấy trả lời có lạc đề không? Đưa cây phất tử lên hỏi cái này là cái ǵ? Mà nói không được dối thông tin tức. Bà Ni đó ở đời nhà Thanh niên hiệu Khương Hi. Bà gần chúng ta nhất ở Trung Hoa. Trả lời như vậy, quí vị thấy bà Ni ấy ra sao? Tiếc rằng câu chuyện này kể cho quí vị nghe hơi đau lỗ tai, nhưng tôi cứ kể v́ muốn hiến châu cho quí vị. Đây là câu chuyện Thiền sư Huyền Thiết Dung, Ngài thượng đường nói chuyện với đại chúng. Ngài đăng pháp ṭa chúng nhóm họp đầy đủ th́ Ngài bước xuống ṭa. Ông trị sự tức quá chạy lại nắm đứng Ngài lại hỏi: “Tại sao không dạy một lời liền bước xuống ṭa.” Ngài trả lời: “Sơn tăng sáng ăn hai chén cháo nguội trong bụng có chút bất an, đợi đi cầu một chút, hăy v́ các ông nói.” Chúng ngơ ngác không biết ǵ. Ngài về phương trượng không ra nữa. Tại sao kỳ vậy? Quí vị thấy câu chuyện này có lạ không? Như vậy Ngài làm cái ǵ? Ngài có nói pháp cho chúng ta nghe chưa? Thật t́nh Ngài có đau bụng hay không? Đó là một câu chuyện đặc biệt. Một hôm khác Ngài cũng thượng đường nói: Sơn tăng hôm qua đi thọ trai trong xóm, nhai nhằm một hạt cát hắc quang, cho đến sáng nay răng vẫn c̣n đau không thể cùng chư huynh đệ nói vàng nói trắng. Nói xong Ngài bước xuống ṭa và trở về phương trượng luôn. Sao lạ vậy. Như vậy Ngài có thuyết pháp câu nào chưa? Một hôm nọ, Ngài hỏi một vị tăng: Người xưa nói: Ăn cháo xong rửa bát đi là thế nào? (Đó là Ngài dẫn câu ngài Triệu Châu hỏi Thiền khách: Ăn cháo chưa? Thiền khách đáp: Ăn cháo rồi. Ngài Triệu Châu bảo: Rửa bát đi. Vị Thiền khách liền ngộ đạo.) Quí vị nên lắng nghe vị tăng trả lời: Khi hôm trong mộng có người hỏi con câu này, v́ lúc đó con mê ngủ nên không đáp cho y. Sư bèn thôi, và gật đầu. Ông Tăng có lạc đề hay không? Quí vị thấy câu chuyện này có hơi lư thú và là lạ. Tôi không giải thích mỗi người tự hiểu. Qua một Thiền sư khác, Thiền sư Quảng Thanh. Đầu mùa Xuân năm Canh Thân đời Khương Hi tức là đời nhà Thanh, Ngài mang bệnh ba tháng trời. Hôm nọ đệ tử là Viên Tịnh dẫn chúng vào phương trượng để hỏi thăm và cầu thầy chỉ dạy. Sư bảo: Sơn tăng xưa nay không dính mê ngộ. Bị bệnh kiết ba tháng khiến thân gầy bày xương. Nếu người hiểu đạo như thế bảo đảm siêu Phật vượt Tổ. Nói xong Ngài nằm nghiêng bên mặt mà tịch. Như vậy Ngài dạy cái ǵ? Ngài dạy làm sao? Tôi nhắc lại câu chuyện tổ Hoàng Bá mà tôi đă kể năm nào. Dưới Mă Tổ có tám mươi ba Thiện tri thức nhưng chỉ có ngài Qui Tông là ỉa chảy đầy đất. Ở trong nhà Thiền có những câu chuyện tương tợ như vậy. Ngài Quảng Thanh nói Ngài bị bệnh kiết ba tháng. Bây giờ sạch hết thân gầy bày xương. Nếu người nào hiểu được việc đó, th́ siêu Phật vượt Tổ. Như vậy Ngài dạy chúng ta cái ǵ? Đó là câu chuyện kết thúc buổi nói chuyện của tôi. Khi đọc qua câu chuyện đó chúng ta cảm thấy như Ngài tả bệnh trạng của Ngài. Bệnh hoành hành làm cho Ngài đi tiêu chảy, không c̣n ǵ trong bụng hết. Ốm gầy c̣n da bọc xương. Có phải vậy không? Thiền sư nói nửa thật nửa hư. Mượn bệnh của ḿnh để chỉ cái khác. Thật t́nh nếu chúng ta là người biết tu Thiền hay là tu theo đạo Phật, chỉ có một chuyện là uống thuốc xổ thôi, là chúng ta hết bệnh. Chúng ta tích lũy cái độc đă nhiều năm, chất độc chứa lâu quá rồi thành ra sanh chứng bá bệnh. Bây giờ muốn hết chỉ c̣n phương thuốc là xổ. Xổ sạch rồi là chúng ta lành bệnh. Đó là phương pháp duy nhất, mà khổ nỗi thiên hạ ở đây không chịu xổ hết. Đă tích độc rồi mà muốn tích thêm hoài, ngày nào cũng thêm mà không chịu xổ. Quí vị xem có phải vậy không? Đi ra ngoài chợ nghe người ta nói câu ǵ bất như ư về nhà nằm thở ra thở vô rồi tức. Như vậy là biết xổ chưa? Những cái ǵ hay, những cái ǵ dở năm trên năm dưới ǵ đó, nếu rảnh ngồi lại th́ ôn nó trong đầu. Ôn tới ôn lui hoặc cười hoặc tức. Chúng ta tích lũy những thứ đó từ ngàn đời mà không chịu xổ. Do không chịu xổ, rồi gầy xanh mét. Hơn nữa, c̣n biến ra đủ thứ bệnh trạng. Rồi cứ kêu tôi đau quá, tôi khổ quá không ai cứu dùm. Khi đó Phật bảo xổ không chịu xổ. Đó là bệnh không thể cứu được, nếu không chịu xổ. Phải vậy không? Thành thử cuối năm tôi nhắc lại câu chuyện của chúng ta. Không có ǵ hơn là cuối năm chúng ta xổ hết cái ǵ trọn năm chúng ta dồn vô làm cho ḿnh bận bịu làm cho ḿnh khó khăn khổ sở. Hôm nay là ngày cuối năm, quí vị nên xổ hết để rồi sang năm tới chúng ta sạch bong như Ngài, chỉ c̣n thân gầy bụng trống. Không th́ cứ ấm ách trong bụng và chúng ta sẽ đau khổ dài dài không biết đến bao giờ hết. Như tôi đă nói, chúng ta đă có sẵn viên ngọc quí trong tay, quí vô giá không ǵ b́ được, mà lại vùi nó trong bụi. Bây giờ muốn cho viên ngọc nó bày ra th́ phải phủi cho sạch bụi. Bụi sạch th́ viên ngọc mới bày. Ở đây chúng ta xổ hết cái độc đó th́ tức nhiên trắng sạch, cái chân thật cũng hiện ra. Tu là biết buông tất cả những ǵ đă nắm. Nếu càng tích lũy th́ càng khổ đau. Cho nên người biết tu chỉ cần xả hết cái tích lũy đó, th́ an lành tự tại. Thiền sư không muốn nói danh từ chuyên môn đó, mà nói là tiêu chảy. Bao nhiêu phiền năo tích lũy mà ḿnh xổ được ra rồi th́ sẽ nhẹ nhàng. Khi chúng ta sạch hết trần lao th́ viên ngọc phát ánh sáng. Hết phiền năo là Bồ-đề hiện ra. Đó là chủ yếu của sự tu hành. Tất cả chúng ta cùng tu, nguyện một đời đi tới chỗ an lành tự tại. Nói theo đây là nắm được ḥn ngọc của ḿnh, lúc nào cũng sẵn sàng trong tay. Lau nó sạch, không c̣n để dính tí bụi bặm nào, th́ tất cả diệu dụng của nó sẽ hiện tiền. Đó là việc thiết yếu của người tu. Nếu được như vậy rồi th́ bao nhiêu đau khổ sẽ theo đó mà hết. Cũng như kẻ nghèo, đói khát lang thang mà được của quí rồi th́ sẽ hết nghèo mà trở thành sang cả. Bao nhiêu cái đau khổ của chúng ta theo cái xả đó, tức là theo cái lau sạch tất cả phiền năo trần lao đó mà chúng ta sẽ được an lành tự tại. Đó là đường lối tu đơn giản để tiến đến chỗ giải thoát. Như vậy mong rằng sang năm tới tất cả chúng ta đều xổ hết những cái cũ để tâm hồn trong trắng hầu hưởng một mùa Xuân Di-lặc hoàn toàn. ]MỘT MÙA XUÂN HẠNH PHÚCHôm nay là ngày Tết Nguyên Đán, cũng là ngày vía đức Phật Di-lặc. Chúng ta là hàng Phật tử xuất gia và tại gia không quên được ngày quan trọng này. Đứng về mặt dân tộc ngày lễ Nguyên Đán là ngày tối quan trọng của dân chúng. Đứng về Phật pháp, ngày vía đức Phật Di-lặc là ngày rất thiết yếu với người xuất gia. Bởi v́ bao nhiêu người tu hành chúng ta đều có một nguyện vọng là tương lai phải đạt đến kết quả viên măn giác ngộ. Đó là quan niệm chung của toàn thể người xuất gia cũng như hy vọng của người tại gia. Ngày vía đức Phật Di-lặc đúng là ngày mùng một Tết, tức là ngày bước vào năm mới, ngày bắt đầu của năm sắp đến. Có thể nói thời gian tương lai thời gian hy vọng của tất cả chúng ta. Hy vọng chúng ta là hy vọng ǵ? Hy vọng chúng ta là hy vọng đạt đạo, kết quả viên măn công phu tu hành của ḿnh. Nên nhớ đến ngày vía đức Phật Di-lặc, tức là nhớ đến cái ǵ hứa hẹn, ở ngày mai của chúng ta. Ngày mai đối với chúng ta không phải là những ngày nguyện suông, những cầu mong hăo huyền, mà chính là chúng ta phải làm thế nào cũng được thọ kư như đức Phật Di-lặc. Ngài sẽ giáng trần thành Phật trong hội Long Hoa. Cho nên, tới ngày đầu năm, ở chùa cũng như hàng Phật tử với nhau thường hay chúc Xuân bằng những lời chúc tụng: Chúc quí thầy quí cô được hưởng một mùa XUÂN DI-LẶC. Chúc hưởng một mùa Xuân Di-lặc là ư nghĩa ǵ? Hoặc giả, có những thiệp chúc Xuân ở nhà chùa chúc rằng: Chúc cho quí vị được hưởng một mùa “Xuân bất diệt” hoặc chúc cho quí vị hưởng được một mùa “Xuân miên viễn”. Lời chúc tụng đó là để nhắc nhở nhau trong đầu năm. Hôm nay, lời chúc tụng đó được giải thích từng phần để nói chuyện ngày đầu năm, cũng là ngày vía đức Phật Di-lặc. Trước hết là chúc một mùa XUÂN DI-LẶC. Trong chùa này chúng ta không có thờ tượng Ngài. Trong các chùa xưa chắc rằng hầu hết tăng ni cũng như Phật tử đều có thấy tượng Ngài. Tượng này có nhiều h́nh ảnh lắm, nhưng cái h́nh ảnh chúng ta dễ nhận nhất là cái miệng và gương mặt Ngài. Miệng Ngài cười, gương mặt Ngài vui vẻ. Lúc nào nh́n lên tượng Ngài cũng thấy cười. Có bao giờ thấy tượng Ngài buồn hay không? Đức Di-lặc là vui cười. Như vậy chúc một mùa Xuân Di-lặc là chúc một mùa Xuân vui cười, một mùa Xuân hạnh phúc. Mà hạnh phúc là ǵ? Là an vui. Mỗi gia đ́nh hay một người nào, trọn ngày, trọn tháng, trọn năm đều được an vui, gọi đó là gia đ́nh hạnh phúc. Bất an và không vui gọi đó là hạnh phúc được không? Tôi nói mùa Xuân gần tức là mùa Xuân hạnh phúc. Như vậy ta chúc nhau được mùa Xuân hạnh phúc đó là nghĩa gần dễ thấy. Nhưng làm sao được hạnh phúc, tức là chúng ta phải được an vui. Mà làm sao được an? An và vui cái ǵ? An là tâm không lo không buồn không sợ hăi. Nếu chúng ta muốn được an, th́ niệm vui buồn sợ hăi chúng ta phải dẹp qua một bên. Chúng ta không lo buồn sợ hăi th́ tự nhiên tâm chúng ta an. Làm sao được vui? Sở dĩ chúng ta không vui là tại sao? Tại chúng ta giận hờn bực tức. Nếu trong gia đ́nh có ai làm ḿnh giận hờn bực tức th́ mặt chúng ta vui hay quạu? Cho nên khi nào vui là không có giận, khi nào giận th́ không có vui. Chúng ta sở dĩ không được an vui là v́ trong ḷng chúng ta lo sợ buồn rầu nên không an. Chúng ta bực tức giận hờn nên không vui. Chúng ta muốn được an vui chỉ có cách là không lo buồn tự nhiên tâm an. Không giận hờn bực tức th́ tâm chúng ta vui. Muốn hưởng một mùa Xuân Di-lặc với tánh cách cạn gần là một mùa Xuân hạnh phúc th́, chúng ta gạt ra ngoài cái buồn hờn, giận tự nhiên chúng ta hưởng được một mùa Xuân Di-lặc. Nếu không th́, dù ngày nay là ngày mùng một cũng không thấy Xuân chút nào hết. Đă lỡ lo sợ th́ làm sao cho hết đây? Bảo suông làm sao hết được. Đang giận hờn bực tức th́ làm sao bảo đừng cho được? Đó là cái tu của ḿnh? Nếu nói suông tức là không có tu. Muốn hết lo rầu sợ hăi, trong nhà Phật có nói nhiều phương pháp. Ở đây chỉ nói phương pháp gần để cho quí vị ứng dụng. Khi mà quí vị lo buồn sợ hăi th́ quí vị liền đặt câu hỏi: - Khi lo, lo cho cái ǵ? Rồi tự trả lời: Cái ǵ lo? - Cái lăng xăng. Cái đó nh́n lại coi nó là cái ǵ? Sẽ thấy nó mất tiêu, nó không có nữa. Như vậy cái lo là cái không thật. Lo cho cái ǵ, lo cho ḿnh, lo cho gia đ́nh ḿnh, lo cho cái ǵ chung quanh ḿnh. Ḿnh là cái ǵ? Ḿnh là cái thân tứ đại giả hợp v.v... Ḿnh phân chia ḿnh phân tích xét nét rồi, cái lo nó mất tiêu, v́ nó không thật, th́ c̣n cái ǵ nữa để mà lo. Cái buồn cái sợ hăi cũng vậy. Phần nhiều chúng ta gặp cảnh đâm ra sợ. Cứ tưởng tượng rồi sợ. Không t́m coi cái sợ là cái ǵ? Tại sao ḿnh sợ? Thí dụ: Khi gặp con rắn ḿnh run lên. Như vậy ḿnh sợ rắn. Thử hỏi cái ǵ sợ đó? Khi đặt câu hỏi th́ ḿnh hơi tỉnh lại bớt sợ. V́ cái ǵ mà sợ. Sợ nó cắn ḿnh. Xét cái ḿnh này thật hay không? Xét một hồi rồi quên mất cái ḿnh cũng không thật nữa. Cho nên các Tổ hồi xưa, cảnh hăi hùng trước mặt mà các Ngài không sợ là v́ các Ngài biết cái tâm sợ nó không thật và cái chủ đích để mà sợ cũng không thật luôn. Hai cái đều không thật nên các Ngài không sợ. Đức Phật, khi ngồi dưới cội bồ-đề, có con rồng chín đầu đến, nó đưa cái đầu trước mặt đức Phật phun lửa, ph́ ph́. Giả sử như ḿnh th́ sao? Tức là ḿnh kinh hoàng sợ hăi. Khi kinh hoàng sợ hăi, th́ tâm đâu b́nh tĩnh sáng suốt để mà giác ngộ. Sở dĩ đức Phật Ngài điềm nhiên, Ngài không sợ, v́ Ngài đă thấy rơ cái sợ là không thật và cái chủ đích của sợ nó cũng không thật luôn. Như vậy ngay cái làm ḿnh sợ cũng không thật. Con rồng hay con rắn cũng là không thật. Cho nên khi chúng ta gặp cảnh kinh hoàng hoảng sợ, dùng trí tuệ phân tích một lát th́ hết sợ hết lo. Nếu ḿnh không dùng để quán xét, cứ theo t́nh cảm lo cho ngày mai. Cái lo sẽ tăng măi rồi mất ăn, mất ngủ, sanh bệnh hoạn. Rốt cuộc rồi đâu không tới đâu cả. Như vậy chính v́ không dùng trí tuệ quán xét cho nên đau khổ dài dài. Giờ đây nếu gặp cảnh phải lo phải buồn phải sợ, chịu khó xét lại những phương tiện chỉ dạy trong kinh, nào là kinh Bát Đại Nhân Giác, kinh Bát-nhă. Cứ lấy đó mà ứng dụng. Hỏi một hồi th́ nó hết lo hết sợ. Đó là nói đến cái lo rầu sợ hăi để tâm ḿnh an. Muốn tâm ḿnh an phải nh́n lại nó. Nó là cái đang lăng xăng lộn xộn đó. Nó ở đâu? Nó là cái ǵ? Nh́n nó măi tự nhiên nó tan hoang không c̣n nữa. Tức khắc ḿnh thấy an ổn. C̣n không nh́n lại nó, nó lồng lộn lên kế ḿnh hoảng hốt, đó là cái gốc ḿnh nuôi dưỡng vọng tưởng. Nếu ḿnh t́m lại nó th́ nó mất đi, vọng tưởng hết, lo sợ theo đó đâu c̣n. Đó là phương pháp thiết yếu. Tôi nghĩ rằng chỉ có người biết ứng dụng th́ mới thấy kết quả tốt. Đến bực tức giận hờn làm sao cho hết? Bực tức giận hờn đố kỵ làm người ta không vui. Bao giờ dấy lên niệm tật đố, giận hờn, th́ không sao vui được hết. Hạnh đức Di-lặc là hỷ xả nên Ngài cười hoài. Cái ǵ tới Ngài cười, Ngài buông hết, không bận trong ḷng. Cũng như chúng ta học uống “thuốc xổ”. Cứ mỗi ba tháng xổ luôn th́ bụng sẽ sạch trơn. Biết buông xả th́ ḷng mới không bực bội. Ở đời có ai làm vừa ư ḿnh hết đâu. Một trăm người th́ tám chục người làm cho ḿnh không vui rồi. Chừng hai mươi người ḿnh hơi chịu một chút, chớ chưa chắc ḿnh chịu hoàn toàn. Chỉ có một người có lẽ ḿnh chịu hoàn toàn. Đó là ai? Là ḿnh. Có nhiều khi muốn rầy nó nữa chứ. Phải vậy không? Ở thế gian này có lúc nào ḿnh vui hoàn toàn đâu? Nếu ḿnh cứ ôm ấp, người này làm ḿnh bực, người kia làm ḿnh bực, cứ dồn vô chứa cả một kho “sân” kho “lửa”, động đến là nó cháy. Chúng ta để ư, người nào đang bực ḿnh, mà ḿnh hỏi họ một câu, dù là câu không quan trọng, không đụng chạm ǵ hết, mới mở miệng hỏi là họ muốn căi với ḿnh rồi. Họ muốn cự với ḿnh, v́ lửa sân có sẵn bên trong rồi. Động một cái là muốn nháng lên. Cho nên chúng ta phải biết rơ chủ yếu của bất an, không vui là tại tâm niệm ta chứa chấp cả một kho nào là tật đố, giận hờn, sân hận. Gặp ai cũng cảm thấy hơi tức tối, bực bội. Muốn an vui chúng ta phải ứng dụng bằng hai cách: 1. Tùy hỷ để bớt tâm tật đố. Muốn tùy hỷ phải làm sao? Thí dụ: Có những người thân thích ḿnh mến nhất, nghe người đó phát tài ḿnh vui lây. Trái lại có người ḿnh ghét nhất, nghe họ phát tài ḿnh làm sao? Th́ bực liền. Tại sao ḿnh bực, chuyện ǵ họ làm th́ họ làm, tại sao ḿnh bực? Đó là người ḿnh không ưa mà họ được hơn ḿnh là sanh tâm đố kỵ. Đó là ghét, là tật đố. Giả sử người ḿnh ưa đi nữa, người bạn thân của ḿnh, ḿnh làm nghề đó, bạn ḿnh cũng làm nghề đó, mà cấp trên cứ khen bạn ḿnh hoài ḿnh có vui hay không? Dù người đó là bạn thân của ḿnh, mà ḿnh có vui hay không? Hồi năy người thù của ḿnh được khen chắc là ḿnh không vui rồi. C̣n người này là người thân của ḿnh, họ được khen tốt mà ḿnh cũng không vui nữa. Như vậy chỉ có người nào được khen tốt là ḿnh vui? - Chỉ có ḿnh được khen tốt cái ǵ th́ ḿnh vui. Chớ những người chung quanh khi họ ở xa xa được ít ít ḿnh cũng c̣n vui, chớ họ được nhiều quá đụng tới quyền lợi của ḿnh th́ lúc đó ḿnh cũng không c̣n vui nữa. Nh́n cho thật kỹ th́ quí vị thấy khó mà t́m được cái vui. Bởi v́, cái ǵ ḿnh cũng muốn hơn thiên hạ hết. Cho nên khi thấy có người nào được khen, tán thưởng th́ ḿnh buồn rồi. Như vậy ḷng buồn hận nó xảy ra luôn luôn. Đó là điều khó tránh được. Gần như hầu hết một trăm phần trăm mang cái bệnh đó. Có người nào cùng bạn đồng học một nghề ǵ mà người ta khen bạn ḿnh nức nở, c̣n ḿnh bị chê đè mà ḿnh vui được. Có ai được như vậy không? Khó có quá. Như vậy mà đức Phật dạy muốn được vui th́ phải phát tâm tùy hỷ. Tùy hỷ là vui theo người, coi người được như ḿnh được. Người ta phát tài coi như ḿnh phát tài. Người ta được khen coi như ḿnh được khen. Cái vui của họ xem như chính cái vui của ḿnh. Lúc đó ḿnh mới hết cái tâm tức tối bực bội. Thí dụ, người bạn thân được cấp trên khen, c̣n ḿnh bị chê. Người đó được thưởng được phát tài. Ḿnh là bạn thân, có được ảnh hưởng không? Người đó được hưởng mười cục kẹo, ít ra ḿnh cũng được một cục chứ, phải vậy không? Tại sao ḿnh không vui? V́ lát nữa ḿnh cũng được một cục kẹo. Tại sao ḿnh giận họ làm chi để họ ghét, lát nữa họ không cho ḿnh cục nào hết. Nghĩ hai cái, cái nào lợi. Cái ḿnh vui với họ là lợi hay là thấy họ được khen thưởng ḿnh giận là lợi. Sở dĩ người ta chê ḿnh là tự ḿnh dở. C̣n người ta khen người đó là tại họ hay. Họ hay người ta khen, ḿnh vui dùm họ. Nếu ḿnh nói với họ: Thật huynh hay quá tôi mừng dùm huynh đó. Huynh được khen như tôi được khen. Chắc chắn người đó chia ḿnh ít nhất cũng ba bốn cục. Như vậy người đó sẽ vui không thấy bực bội đố kỵ chi hết. C̣n ḿnh thấy người đó được khen mà ḿnh hầm hầm lên. Một lát nữa giả sử có chia nhau, thấy ḿnh tức quá muốn hết chia. Đó là cái nhỏ tí thôi mà quí vị thấy là chuyện thường xảy ra. Như ở thế gian th́ luôn luôn chịu đố kỵ hơn là chịu tùy hỷ. Thấy người ta hơn ḿnh là ḿnh tức không bao giờ chịu chấp nhận, không bao giờ vui, vui với cái vui của người ta. Cho nên trong kinh đức Phật nói: Người nào phát tâm tùy hỷ th́ công đức vô lượng vô biên. Người làm việc tốt được bao nhiêu công đức, ḿnh tùy hỷ công đức cũng bằng với họ không thua chút nào hết. Người làm được việc tốt là họ đă có ḷng tốt, ḿnh tùy hỷ là phá tâm tật đố th́ ḿnh cũng tốt luôn. Hai người công đức cũng như nhau. Cũng như cây đuốc này mồi qua cây đuốc kia. Hai cây đều sáng mà không cây nào mất ánh sáng hết. Chúng ta tùy hỷ cũng vậy. Ai được cái ǵ tốt ḿnh phát tâm vui mừng: Huynh được cái đó tốt quá, huynh sung sướng phát tài, tôi mừng tôi sung sướng như tôi phát tài vậy. Như vậy chắc chắn đời ḿnh không nghèo. Ai sung sướng ḿnh cũng mừng như ḿnh được th́, thế nào họ cũng không bỏ ḿnh. Khổ là, người ta được ḿnh lại ghét, cho nên ḿnh kiếm chuyện châm biếm, móc nghéo làm cho họ tức, do đó ai cũng muốn đập ḿnh hết. V́ vậy ḿnh khổ suốt đời. Quí vị thấy cái mầm an vui nó phát từ cái biết tùy hỷ, tức là biết nh́n thấy và nhận cái vui của người làm cái vui của ḿnh. C̣n thấy người ta vui ḿnh sanh tâm bực tức th́ chắc cả ngày mặt ḿnh nhăn hoài, không thể nào tươi được hết. V́ thiên hạ thiếu ǵ người được, mà ai được cũng bực tức th́ ḿnh sẽ thấy đau khổ cả ngày. Cho nên Phật dạy: Phải phát tâm tùy hỷ, vui theo cái vui của những người chung quanh chúng ta. Người đó dù thân hay sơ, họ được vui ḿnh cũng vui theo hết. Bởi v́ chúng ta đă thấy trong kinh đức Phật nói: Chư Bồ-tát thấy một chúng sanh đau khổ, coi như ḿnh đau khổ. Thấy một chúng sanh an vui coi như ḿnh an vui. Chúng ta chưa bằng Bồ-tát ít ra cũng tập cái hạnh đó. Được cái hạnh đó rồi th́ chúng ta thấy tự ḿnh mang hạnh phúc đến cho ḿnh. Nếu không tập hạnh đó, ngược lại, ḿnh c̣n nuôi dưỡng tật đố bực bội sân hận th́ ḿnh khổ hoài. Ḿnh tự chuốc khổ mà chuốc khổ đời đời, chớ không phải một ngày một tháng một năm. Yếu tố tu hành nằm trong đó. Quí vị thấy, lối tu tập đó không tốn công bao nhiêu mà được vui hết cả làng. C̣n ḿnh bực th́ họ thấy mặt ḿnh họ đă tức rồi, và thầm nghĩ người đó tại sao xấu vậy, thấy người được th́ ganh ghét. Đó là tự ḿnh chuốc thêm tai họa có ích lợi ǵ đâu. Cho nên, là người tu, chúng ta cần gột bỏ hết những cái gây đau khổ để đem lại an lành vui vẻ cho ḿnh. Đó là điều thiết yếu. Phải buông hết, đừng cố chấp th́ ḷng người mới nhẹ, tức là không sân không hờn và phải tùy hỷ khi thấy cái ǵ vui. Được như vậy th́ chúng ta mới là con người vui cười luôn luôn. Nếu chúng ta không làm như vậy th́ tự nhiên chúng ta phải đau khổ hoài. Nói tùy hỷ là chúng ta phá được tâm tật đố. 2. Làm sao phá được tâm sân hận? Sân hận là cái tâm bệnh hoạn nhất. Động tới là nổi quạu lên la om ṣm, tay chân muốn lay động. Đó là chuốc họa không nhỏ. Đây tôi dẫn một Thiền sư, Thiền sư Đạo Thông đời nhà Tống. Hôm đó tướng công Vu Địch tới hỏi đạo. Vu Công thường tụng kinh Phổ Môn nên ông hỏi rằng: Thế nào là gió đen thổi thuyền trôi vào nước quỉ La-sát? (Như hà thị hắc phong suy kỳ thuyền phưởng phiêu đọa La-sát quỉ quốc?) Thiền sư trả lời: Kẻ khách Vu Địch hỏi việc ấy làm ǵ? Vu Địch liền đổi sắc. Ngài bèn nói: Cái đó là gió đen thổi thuyền trôi vào nước quỉ La-sát. Vu Địch liền hết nổi nóng. Chỗ đó thật là tối quan trọng. Ḿnh đọc trong kinh nghe Phật nói dài dài, ḿnh không biết cái ǵ. Giả sử gặp luồng gió đen (mây khói đen) chiếc thuyền bị trôi vào trong nước quỉ La-sát. Lúc đó ở trong thuyền có người niệm Nam-mô Quán Thế Âm Bồ-tát th́ bọn quỉ không dám lại gần ḿnh. Những người đọc câu chuyện đó th́ thấy linh nghiệm vô cùng. Ḿnh nghĩ có tai họa khi nào đi biển đi sông mà gặp gió to sóng lớn th́ cứ niệm Quán Thế Âm Bồ-tát tức là qua hết. Quỉ mà không dám ngó đến ḿnh huống nữa là cái ǵ. Nếu hiểu như vậy th́ rất tội nghiệp cho kinh điển Đại thừa. Hắc phong ở đây Thiền sư chỉ không phải là gió lớn ở bên ngoài. Hắc phong tức là ǵ? Tức là luồng gió đen tự trong ḷng ḿnh dấy lên, nó thổi chiếc thuyền người tới cơi nước quỉ liền. Nghe một lời nói trái tai, nổi giận lên tức là miệng phải nói lời ác, tay chân ḿnh phải làm việc ác th́ nó đưa ḿnh tới đâu? Đưa vào cơi La-sát phải ở tù phải khổ. Như vậy hắc phong là từ chỗ đó. Cho nên chúng ta nghe những lời nói ác những lời trái tai, vừa có cơn giận dấy lên th́ biết đó là hắc phong thổi. Phải dừng nó lại th́ nhất định nó không trôi lăn đến nước quỉ, mà quỉ cũng không dám hại. Nếu lỡ nó thổi trôi đến nước quỉ, th́ phải nhớ niệm Quán Thế Âm quỉ không dám ngó đến ḿnh. Vậy th́ niệm Quán Thế Âm bằng cách nào? Sở dĩ chúng ta giận v́ do mắt thấy tai nghe, mà phần lớn là tai nghe những lời trái nên mới giận. Khi tai nghe những lời trái nổi giận lên đó th́ miệng tay muốn làm dữ rồi, ḿnh nhớ niệm Quán Thế Âm Bồ-tát tức là nhĩ căn viên thông, nhớ lại tánh nghe của ḿnh. Bao nhiêu lời trái tai đều tan hết. Cơn giận cũng ch́m luôn. Nó đâu c̣n cái ǵ đưa đến nước quỉ, La-sát đâu dám ngó tới ḿnh. Chớ ḿnh nghe người ta nói trái tai, chụp đó mà nổi giận tức là hắc phong nó thổi. Nếu nó thổi, đánh đập, chửi bới một hồi th́ bị mời vô khám. Như vậy không phải là bị đưa tới nước quỉ La-sát nó hành hạ là ǵ? Rơ ràng như vậy. Nên biết, ḿnh nhớ niệm Quán Thế Âm, th́ tức nhiên quỉ không dám ngó đến ḿnh. Giả sử gió lớn có nổi lên như trong kinh thường nói “Bất phạ sân tâm khởi, duy khủng tự giác tŕ”. Nghĩa là chẳng sợ cái tâm sân nổi lên, chỉ sợ ḿnh giác chậm thôi. Bây giờ lỡ hắc phong thổi lên nó thổi ḿnh, lúc đó niệm Quán Thế Âm tức là ḿnh giác. Nh́n lại tánh nghe th́ đâu c̣n theo tiếng nữa. Đó là giác. Ḿnh giác th́ cái nổi giận hồi năy liền mất. Như vậy, trước hết ḿnh ráng đề pḥng gió dữ. Lỡ bị gió dữ rồi th́ phải nhớ niệm Quán Thế Âm. Đó là ư nghĩa thâm trầm trong kinh. Nhiều khi chúng ta chờ tai nạn xảy ra mới niệm, mà không nhớ niệm hằng ngày như vậy. Chúng ta tu mà muốn hết sân, hết hận, chúng ta phải nhớ như vậy. Chúng ta hằng ngày, hằng đêm biết dừng bao nhiêu cái làm trái tai gai mắt, khi những trận giông đen dấy lên, ta biết đó là ǵ rồi. Nó thổi chúng ta th́ chúng ta liền niệm Quán Thế Âm. Đó là chúng ta tỉnh giác. Tỉnh giác kịp rồi th́ tai nạn không đến với chúng ta. C̣n không tỉnh giác kịp cứ để vậy mà chịu th́ thế nào rồi cũng bị quỉ nó xé thây. Chắc chắn như vậy không nghi. Đường lối rơ ràng như thế. Cho nên muốn được vui, luôn luôn không có buồn bực tức tối th́ chúng ta phải nhớ dừng lại cơn gió dữ đừng cho nó động. Lỡ động phải giác ngộ cho sớm. Được như vậy th́ chắc chắn ḿnh không có tai họa, không bị khổ đau. Đó là ư nghĩa một mùa Xuân hạnh phúc. Năm nay chúng ta bắt đầu qua năm thứ ba, tôi chúc quí vị một điều gần nhất là hưởng một mùa Xuân hạnh phúc. Như thế mới là ư nghĩa của mùa Xuân Di-lặc cạn thôi. Đến ư nghĩa mùa Xuân Di-lặc sâu hơn, tức là một mùa Xuân bất diệt, một mùa XUÂN MIÊN VIỄN. Nói đến đức Di-lặc là nói đến đức Phật sẽ thành. Trong kinh Phật thường nói: Ta là Phật đă thành, các ngươi là Phật sẽ thành. Như vậy đức Phật Thích-ca xác nhận rằng Ngài là Phật đă thành c̣n tất cả chúng ta là Phật sẽ thành. Sẽ thành là việc tương lai cũng như đức Phật Di-lặc vậy. Ông Phật sẽ thành là ông Phật nào? Ở đâu? Ông ở chính nơi chúng ta nhưng v́ chúng ta bỏ quên ông. Ḿnh có ḥn ngọc mà không nhận, cứ lo hỏi ngọc của đức Di-lặc hay đức Địa Tạng cầm trong tay mà không nhớ ḿnh có ḥn ngọc. Có mà không chịu nhận là dối gạt thiên hạ. Cho nên chúng ta nên biết rằng tự ḿnh cũng có ông Phật như chư Phật vậy. V́ ḿnh c̣n quá lầm mê, không tự tỉnh tự giác được rồi bỏ quên ông Phật của chính ḿnh. V́ vậy phải lăn lộn trong sanh tử. Mà đă lăn lộn trong sanh tử th́ đó là khổ đau v́ sanh tử là cái mầm của biến chuyển của sanh diệt. Biến chuyển sanh diệt, là vô thường gốc của khổ. V́ vậy đức Phật nói: “Luân hồi là khổ đau.” C̣n ở trong luân hồi tức là c̣n ở trong sanh diệt là đau khổ. Nếu muốn ra khỏi ṿng sanh diệt th́ phải thoát khỏi luân hồi. Thoát khỏi luân hồi mới là miên viễn, gọi là bất diệt được. Đó mới là cái an vui cứu cánh của con người. V́ chúng ta đang sống trong cảnh vô thường sanh diệt cho nên nó luôn luôn bức bách thúc đẩy ép ngặt chúng ta tới đau khổ. Bây giờ chúng ta thoát khỏi cái vô thường bức bách đó th́ tự nhiên chúng ta an vui. Vô thường bức bách đó là sanh tử luân hồi. Ra khỏi vô thường bức bách đó là giải thoát. Cho nên nói mùa Xuân Di-lặc mà được bất diệt miên viễn đó, là chỉ cho mùa Xuân do tự chúng ta thoát khỏi cảnh vô thường bức bách sanh diệt. Nói một cách khác là thoát khỏi luân hồi sanh tử, sống với cái vô sanh an lạc. Bởi v́ vô sanh nên đâu bị cái ǵ làm cho động, v́ vậy là an. Bởi vô sanh nên không có khi buồn khi vui mà hằng tỉnh táo an ổn, gọi đó là cái vui chân thật. Như vậy khi nói tới mùa Xuân Di-lặc tức là nói đến mùa Xuân bất diệt, mùa Xuân của bản tâm thanh tịnh ở mỗi người. Chúng ta không c̣n bị lôi cuốn trong sanh diệt nữa. Như vậy mới là sống được mùa Xuân miên viễn. Chính cái chỗ này là chỗ khao khát, chỗ ước mơ của người tu chúng ta. Chỗ này chúng ta dùng chữ mùa Xuân, nơi khác trong kinh gọi là Niết-bàn, tức là an lạc tịch tĩnh. Như đă nói mùa Xuân là cái ǵ ấm áp tươi đẹp an ổn, cho nên mùa Xuân ấy cũng tượng trưng là Niết-bàn tức là hằng sống trong cảnh an lạc vui vẻ luôn luôn. C̣n hiện tại mùa Xuân của chúng ta chỉ là một mùa Xuân của ba tháng. Trong đó những ngày qua là mất, mất rồi lâu lâu nó đáo lại một lần. Đó là mùa Xuân của sanh diệt. Giờ đây làm sao hưởng được một mùa Xuân không c̣n sanh diệt nữa. Đó là mùa Xuân cứu kính mà người tu mong ước. Được cái Xuân đó mới thật là cái Xuân của chính ḿnh mong muốn. Năy giờ là nói sự chúc tụng trong mơ ước thôi. Bây giờ làm sao hưởng mùa Xuân bất diệt đó? Muốn hưởng mùa Xuân bất diệt đó chúng ta phải có tâm bất diệt. Có tâm bất diệt th́ mới hưởng mùa Xuân bất diệt. C̣n mang tâm sanh diệt th́ không bao giờ hưởng được mùa Xuân bất diệt. V́ vậy trong kinh Kim Cang đức Phật dạy: “Chúng ta phải nh́n lại tâm quá khứ bất khả đắc, tâm hiện tại bất khả đắc, tâm vị lai bất khả đắc.” Ba cái tâm đó: “Tâm quá khứ không thể được, tâm hiện tại không thể được, tâm vị lai không thể được”. Tâm chạy theo quá khứ, hiện tại, vị lai đó là tâm ǵ? - Là tâm sanh diệt. Đức Phật nói tâm đó không thể được v́ nó không thật. Chúng ta hằng sống với cái tâm nào? Chúng ta đang sống với tâm quá khứ hiện tại vị lai. Tại sao tâm quá khứ không thể được? Chúng ta trước giờ nằm ngủ, vừa nằm xuống gác tay lên trán th́ làm sao? Nhớ chuyện năm ngoái năm xưa, tháng rồi tháng trước đă làm cái ǵ? Một hồi con mắt muốn nóng lên nhắm mắt không ngủ được. Nói tại sao tôi mất ngủ. Tại làm sao vậy? Cái ǵ thuộc về quá khứ chúng ta có ưng cởi bỏ hết hay không? Tôi thấy có nhiều cuốn nhật kư đầy ăm ắp, bút tích kỷ niệm nữa. Như vậy bỏ hay là không bỏ? Nếu bỏ th́ đừng ghi, nếu ghi th́ đâu chịu bỏ. V́ sợ kư ức nhớ không hết nên phải ghi thêm ngoài nhật kư để mai mốt có quên lật lại. Như vậy đâu có ưng bỏ cái ǵ đâu? Cái đó thuộc về quá khứ, mà quá khứ có t́m lại được hay không. Tất cả qua rồi t́m lại đâu có được. Ḿnh cứ nghĩ lui về quá khứ. Càng nghĩ lại càng rối cho ḿnh thôi. Nó đâu có thật mà nghĩ. Thành ra hết một phần ba đời người chúng ta sống về quá khứ. Những cái ǵ oai hùng của thuở xưa cũ nhớ măi không thôi. C̣n mấy chú trẻ th́ sao? Sống với vị lai. Nghĩ bây giờ ḿnh nhỏ quá, không làm ǵ đáng kể rồi, nghĩ vị lai sẽ là ông thần ông thánh ǵ đó đủ thứ. V́ vậy cả ngày ngồi lại nói tôi sẽ như thế này như thế kia. Cũng mất hết phần ba cuộc đời sống về vị lai. Rồi một phần ba cuộc đời về sống về hiện tại. Hiện tại đây nói tạm mà không hiện tại ǵ hết. Nghĩa là hiện tại với niệm suy nghĩ tính toán đây là khen ḿnh, đây là chê ḿnh, việc này là phải việc kia là quấy. Cứ lo bao nhiêu đó, suy nghĩ hoài như vậy, hiện tại mà không có hiện tại. Niệm này hết th́ niệm kia nó sanh. Cứ như vậy mà liên miên sanh diệt th́ hiện tại đâu có. V́ vậy nghĩ đến quá khứ th́ quá khứ không thể được. Tâm ḿnh cứ nhớ lui về quá khứ, mà quá khứ là chuyện đă qua rồi, nghĩ lui lại cái không có, cái nghĩ đó cũng là không. Cho nên cái quá khứ không thể được. Rồi hiện tại nghĩ cái này tới cái khác, trong một ngày nghĩ không biết bao nhiêu thứ. Như vậy cũng không được luôn. V́ đó là cảnh sanh diệt. Vị lai chưa đến cứ phóng đại cái này cái nọ. Ngồi đó mà tưởng tượng đủ thứ. Cái chưa đến mà tưởng cũng là không tưởng, nên không được luôn. Như vậy quá khứ hiện tại vị lai, ba thời đều không được cả. Vậy ḿnh sống với cái ǵ? Hiện tại ḿnh đang sống ba thời của tâm như chúng ta đă thấy ba thời đó đều không thể được. Nếu ḿnh sống với ba cái đó là ḿnh sống với cái hăo huyền. Vậy mà người tu cho là thực tế. Nhớ chuyện đă qua cho là thực tế. Tưởng tượng cái ǵ chưa đến gọi là thực tế. Mà cái thực tế nhất lại không thấy. Thấy toàn cái sanh diệt viển vông thôi. Quí vị thử kiểm lại một ngày xem quí vị sống với quá khứ hiện tại vị lai là bao nhiêu? Quí vị có bỏ tâm của ba thời đó hay không? Nếu cả ngày mà sống với tâm chạy theo ba thời đó th́ chúng ta đă mất tâm rồi. Gọi là tâm mà thật sự tâm đă mất. Sống với cái tâm sanh diệt th́ tâm đâu có thật. Như vậy sống với tâm không thật mà tưởng là thật rồi un đúc tưởng tượng v.v... có phải là chúng ta đang sống trong cái ảo huyền mà lầm cho ḿnh là thật. Như vậy hằng ngày nói sống cho ḿnh, thật đă mất ḿnh. Thật là đáng thương chúng ta sống với ba cái tâm chết. C̣n hiện tại th́ theo cái sanh diệt không dừng cũng là cái không có luôn. Ba cái không có đó mà ráp lại thành cái có để sống. Như vậy tuy nói sống dường như không sống ǵ hết. Vậy mà ḿnh hănh diện xưng là ḿnh đang sống. Như vậy phải làm sao? Sống trong quá khứ, trong hiện tại, trong vị lai, trong cái sanh diệt đó th́ tâm ḿnh có an hay không? Ḿnh có hưởng được một mùa Xuân miên viễn bất diệt hay không? V́ muốn hưởng một mùa Xuân miên viễn bất diệt th́ nơi tâm ḿnh cũng phải bất diệt. Mà muốn bất diệt th́ phải bất sanh, tức không chạy theo cái sanh diệt. Không chạy theo sanh diệt th́ tâm ḿnh lặng lẽ thanh tịnh. Như vậy mới sống được một mùa Xuân bất diệt. Một Thiền sư Việt Nam diễn tả điều đó qua vài câu thơ nói rơ như ban ngày. Đó là Thiền Lăo Thiền sư khi vua Lư Nhân Tông vào núi gặp Ngài, mới hỏi: Ḥa thượng bao nhiêu tuổi? Ngài đáp: Đản tri kim nhật nguyệt Thùy thức cựu xuân thu Nghĩa là: Chỉ có biết ngày nay thôi, c̣n bao nhiêu năm trước ai đâu nhớ. Như vậy Ngài đâu có sống với tâm quá khứ, Ngài chỉ biết có ngày nay. Sống với ngày nay đó là sống với tâm lặng lẽ của hiện nay. Vua Lư Nhân Tông hỏi tiếp: Ḥa thượng ở đây làm ǵ? Ngài trả lời: Thúy trúc hoàng hoa phi ngoại cảnh Bạch vân minh nguyệt lộ toàn chân Nghĩa là: Thấy trúc biếc thấy hoa vàng đều là cảnh chân thật, đều là mùa Xuân hết. Thấy trăng trong thấy mây bạc, cũng đều hiện cái chân thể hoàn toàn. Như vậy cái ǵ hiện ra trước mắt Ngài đều là một mùa Xuân miên viễn. Sống như vậy mới thật là sống. C̣n ḿnh bây giờ sống mà không thật sống. Khi nào hiện tại không chạy theo cái suy tính phân biệt, chỉ sống với tâm thanh tịnh thản nhiên của hiện tại th́ mới gọi là sống với ngày nay. Biết ngày nay là biết như vậy. Với tâm thanh thản lặng lẽ, nh́n tất cả cái ǵ hiện có trước mắt đây đều là một màu chân thật, như như, không có cái ǵ là sanh diệt hết. Đó mới gọi là mùa Xuân miên viễn, mùa Xuân bất diệt. Mùa Xuân mà nh́n đâu cũng nên thơ hết, chớ không thấy cái ḷ lửa cái địa ngục, cái than trách như ḿnh bây giờ. Nh́n đâu cũng thấy nên thơ. Thấy hoa cúc, thấy trăng, thấy mây, thấy cái ǵ cũng là nên thơ. Thấy cái ǵ cũng đều là Xuân rạng rỡ, không thấy cái ǵ là đen tối xấu xa hết. Muốn sống với cái đó th́ trước hết tâm ḿnh phải Xuân miên viễn th́ ngoại cảnh mới theo đó mà Xuân. Chớ tâm ḿnh là cái tâm sanh diệt đau khổ, ngoài muốn có Xuân th́ cũng gượng gạo Xuân mà thôi. Đem cái hoa mai hoa cúc chưng rồi cũng héo, cũng phải vứt đi. Nó không c̣n Xuân hoài. Chỉ có cái tâm thanh tịnh nhẹ nhàng thư thới đó, nh́n cái ǵ cũng là Xuân hết. Cho nên các Thiền sư nh́n đâu cũng thấy một mùa Xuân tràn trề, không cần đi t́m kiếm, không cần chờ đến tháng giêng mới có một mùa Xuân. Đó là mùa Xuân Miên Viễn. Như vậy chúng ta tu hành cốt làm sao hưởng được một Xuân như thế. Đó là một mùa Xuân cứu kính. Ráng hưởng mùa Xuân thú vị nhất, đẹp đẽ nhất mà người xưa đă hưởng. Đức Di-lặc đă hưởng mùa Xuân đó rồi, cho nên Ngài cười hoài. Mặt chúng ta nhăn năm, bảy nếp nhăn là v́ chúng ta chưa hưởng được mùa Xuân đó. Cho nên trán chúng ta th́ nhăn, mặt th́ méo, mắt th́ đỏ. Đó là cái đau khổ hiện ra ở mặt chúng ta. Chính v́ chúng ta không hưởng được mùa Xuân như vậy. Để kết thúc mùa Xuân miên viễn hôm nay, tôi dẫn thêm Thiền sư Thiên Tùng. Ngày đầu năm Ngài làm thơ tặng chúng lấy tên là: Tuế Triêu (là ngày đầu năm). Kim tiêu tận đạo thiêm nhất tuế Ngô đạo như kim giảm nhất niên Tăng giảm khứ lai vô định số Duy năng tiêu tận thế gian duyên Tất tu thức đắc duyên trung chủ Bách thiên vạn kiếp thường như nhiên Vô tăng vô giảm như hà đạo Nhất cú hà tu dụng khẩu truyền Tạm dịch: Sáng nay đều bảo thêm một tuổi Tôi nói hôm nay bớt một năm Thêm bớt lại qua số khôn tính Chỉ hay dứt sạch duyên thế gian Cốt là biết được trong duyên chủ Trăm ngàn ức kiếp thường an nhiên Không bớt không thêm làm sao nói Một câu nào thiết dùng miệng truyền Giải thích của ngài Thiên Tùng quá rơ ràng. Đến ngày mùng một chúng ta đều ùa nhau nói: Chúc thầy cô thêm một tuổi thọ, chớ có ai chúc thầy cô mất một tuổi thọ. Phải vậy không? Quả tang là ḿnh mất một năm rồi. Nếu sống sáu mươi tuổi, năm rồi năm mươi ba tuổi năm nay năm mươi bốn tuổi, th́ năm nay chúng ta đă bớt đi một tuổi để sống rồi. Sống sáu mươi tuổi, nếu năm mươi ba tuổi th́ chúng ta c̣n được bảy năm. Năm nay năm mươi bốn tuổi, rút lại c̣n sáu năm thôi. Rút một năm là bớt tại sao lại nói thêm. Thành thử thế gian tưởng theo chiều thêm mà quên nghĩa bớt. V́ vậy mà Ngài nói: Sáng nay đều bảo thêm một tuổi, với Ngài th́ Ngài nói: Hôm nay bớt một năm. Quả tang năm nay bớt một năm sống rồi. Rơ ràng như vậy. Nhưng có ai gan dạ thấy như vậy đâu. “Tăng giảm khứ lai vô định số” là thêm bớt qua lại cái số không nhất định. Nói thêm cũng được, nói bớt cũng được. Nói về cái chiều sáu mươi để trừ lại th́ thấy ḿnh đă bớt. Nếu thấy chiều năm mươi mấy cộng lại th́ thêm một năm. Như vậy v́ có cộng có trừ nên có thêm có bớt. Thật ra không biết nói thế nào cho đúng. V́ vậy Ngài nói con số không nhất định. Chỉ có điều này là quan trọng. “Duy năng tiêu tận thế gian duyên” tức là chỉ người tiêu sạch cái duyên thế gian tức tiêu chảy ba tháng, tiêu chảy sạch hết, bụng trống rỗng tức là tiêu sạch, duyên thế gian, nhưng chưa đủ c̣n phải thêm: “Tất tu thức đắc duyên trung chủ” tức là cần phải biết được ông chủ trong các duyên đó. Biết ông chủ mới là cái tối thiết yếu. Trước hết là phải tiêu sạch hết cái duyên thế gian, rồi kế đó biết được ông chủ, cắt hết các duyên đó. “Bách thiên vạn kiếp thường như nhiên” tức biết được ông chủ rồi th́ trăm ngàn muôn kiếp đều như vậy. Chính đó là mùa Xuân bất diệt. Tất cả quá khứ hiện tại vị lai đều không biến chuyển. “Vô tăng vô giảm như hà đạo”. Ông chủ đó trăm ngàn muôn kiếp vẫn như nhiên. Ông không có thêm cũng không có giảm. Không thêm không bớt, bảo tôi nói ǵ mới được đây? Thế gian có thêm có bớt c̣n nói được. C̣n cái chỗ không thêm không bớt nói cái ǵ? “Nhất cú hà tu dụng khẩu truyền” thành ra cái câu duy nhất đó đâu cần dùng miệng nói với nhau. Chỉ mọi người nhận được sống được, thấy được th́ người đó hưởng một mùa Xuân bất diệt. Chớ c̣n nói, nói nó không hết, v́ vậy tôi không biết chúc tụng quí vị cái ǵ vào đầu năm này. V́ cái đó không dùng miệng mà nói với nhau được. Chỉ mỗi người nhận và thấy được cái đó th́ quí vị hưởng một mùa Xuân như vậy. Tôi tạm chúc quí vị một mùa Xuân Di-lặc tùy theo cạn sâu của mỗi người. Ráng hưởng cho được đừng để ba tháng Xuân mất rồi tới Thu tới Đông, lại trông Xuân đến nữa, cực lắm. Phải luôn luôn hưởng cái Xuân Di-lặc. Lúc nào cũng là Xuân hết. Gặp nhau chúng ta cười hoài. Dù sống trong cảnh nào cũng cười hoài như vậy là hạnh phúc ngay ở trần gian. ]TẤT NIÊN: CÁI G̀ RỒI CŨNG ĐẾN ĐẾN RỒI QUA, QUA RỒI MẤT Ngày Tất niên năm nay, tôi nói một đề tài hết sức là b́nh dân: Cái ǵ rồi cũng đến, đến rồi qua, qua rồi mất. Tất cả chúng ta ai cũng như ai, khi sáng sớm thức dậy, nhớ đây là sáng, nghĩ đến chiều thấy như nó xa. Nhưng rồi lụi đụi qua một vài công tác là đến trưa. Sau bữa cơm trưa loanh quanh đến chiều, rồi tối. Như vậy nh́n sáng đến chiều dường như là xa, cái xa đó rồi cũng đến, đến rồi qua. Sáng hôm sau t́m lại ngày hôm qua đă mất. Mùng một chúng ta thấy cuối tháng dường như xa, nhưng rồi loanh quanh tới rằm rồi tới ba mươi. Như vậy, ngày ba mươi thấy xa, nhưng rồi cũng đến, đến rồi qua, qua rồi mất. Ngày mùng một Tết chúng ta nói đến cuối năm thấy thời gian dường như rất dài, rồi ngày qua ngày cũng đến cuối năm. Ngày cuối năm rồi sẽ qua, qua rồi mất. Đó là nói về thời gian. Như vậy, một ngày sáng trưa chiều tối, khi đă qua rồi không c̣n trở lại với chúng ta nữa. Nhưng mà trong ngày đó, nếu chúng ta đóng một cái bàn, trồng một luống rau, hoặc viết một trang sách, cái chúng ta đă làm vẫn c̣n, nó hiện c̣n với chúng ta. Một ngày qua đó, chúng ta đă làm cho nhiều người buồn, láng giềng tức giận, dù ngày đó qua mất rồi, hôm sau ta gặp lại những người ta làm buồn, họ có hết buồn chưa? Như vậy thời gian qua rồi mất không bao giờ trở lại, nhưng những cái ǵ chúng ta đă làm chưa mất hẳn, nó c̣n có mặt với chúng ta ở ngày mai. Nếu chúng ta muốn ngày mai ai gặp chúng ta cũng đều vui, đều thân mật, th́ hôm nay chúng ta phải làm sao? Nếu gặp người nào chúng ta cũng thách đố, cũng mắng chửi, làm những chuyện bực bội cho họ, th́ ngày mai chúng ta sẽ thế nào khi gặp lại họ? Chúng ta có cần hỏi xem ngày mai ta tốt hay xấu, có được nhiều người thương hay không? Cần hỏi điều đó chăng? - Đâu cần việc đó. Chỉ cần nhớ hôm qua ta đă làm ǵ cho người ta, th́ ngày nay những cái đó tự nhiên sẽ có với chúng ta. Đó là một lẽ thật mà thế gian không chịu nhớ. Ngày hôm qua chửi người ta, mà ngày nay muốn gặp ai cũng vui hết, ai cũng tán thán ḿnh hết. Điều đó thật không bao giờ có. Đó là tôi nói chuyện một ngày, chuyện một năm cũng vậy. Nếu một năm chúng ta làm toàn những điều dở, những điều xấu, rồi đến đầu năm nhất là từ mùng một đến mùng chín đem ít chục đồng bạc, vài bó nhang, một vài dĩa bánh tới chùa, cúng sao cúng hạn để cho năm tới được b́nh an, sung sướng. Quí vị nghĩ sao? Tại sao chúng ta không làm cái ǵ đem lại sự an vui cho ḿnh cho người, mà lại làm những điều xấu xa rồi hoảng sợ, rồi cầu cạnh mong mỏi không muốn có những điều đau khổ. Khi chúng ta không cố tránh nhân đau khổ lại mong khỏi cái quả đau khổ, như thế có thể được hay không? Như vậy chúng ta có thể nói một năm qua nếu ngày nào chúng ta cũng làm cho những người xung quanh được vui vẻ, ngày nào chúng ta cũng giúp đỡ mọi người, đem lại sự an ổn cho mọi người th́ năm tới những người xung quanh chúng ta có thể nào trở nên thù địch muốn hại chúng ta hay không? Đương nhiên không bao giờ có điều đó. Nếu qua một năm chúng ta làm cái ǵ được cảm t́nh, được thương mến th́ năm tới chúng ta sẽ gặp được điều tốt. Giả sử chúng ta bị bệnh hoặc bất thần một bất hạnh nào đến chúng ta, th́ những người có cảm t́nh với chúng ta truớc kia đă được chúng ta giúp đỡ, họ sẽ đối với chúng ta ra sao? Có thể người th́ lo thuốc men, kẻ th́ mách bảo thầy, hoặc giúp đỡ gia quyến chúng ta trong lúc khó khăn, gánh vác những ǵ nặng nhọc giúp chúng ta. Những cái không may cho bản thân chúng ta không phải là không đến, nhưng khi được mọi người mến yêu, th́ những cái ǵ đến đó cũng được sự che chở và giúp đỡ để làm cho chúng ta nhẹ đi được đôi phần. Ngược lại, nếu trong một năm chúng ta gây toàn thù hận, gây ác cảm mang phiền toái phức tạp với mọi người chung quanh th́, năm tới chúng ta nghĩ thế nào nếu chúng ta gặp lại những người đó. Tự nhiên dù không nói ai cũng biết, chỉ thấy, thấy khổ đau và những việc bực bội. Như vậy quí vị nghĩ sao? Mỗi người chúng ta phải làm ǵ? Để rồi sang năm mới chúng ta gặp những điều tốt đẹp? Hay là mặc t́nh chúng ta làm ǵ th́ làm, đợi đến đầu năm đi cúng sao cúng hạn để được một năm b́nh an. Chúng ta là những người biết đạo nghĩa là biết lẽ thật, tự nhiên chúng ta không chấp nhận những ǵ không đâu huyền hoặc. Phải thấy rơ lẽ thật của cuộc đời. Nếu năm rồi chúng ta làm cái ǵ đẹp hay xấu th́ năm tới chúng ta có một phần ảnh hưởng chớ không thể nào tránh khỏi. Đó là một điều mà chúng tôi thấy mọi người chúng ta đều ư thức được. Nếu chúng ta muốn năm tới là một năm đẹp đẽ an b́nh, th́ trong năm nay đối với mọi người bất cứ lúc nào, chúng ta cũng phải làm sao đem lại sự an lành cho họ. Không lúc nào là lúc chúng ta làm buồn người chung quanh, th́ năm tới chúng ta được an lành không có nghi ngờ ǵ nữa. Đó là tôi nói một năm, cho đến một đời cũng thế. Lẽ thật của một ngày, của một năm, đến kết thúc của một đời không khác nhau. Chúng ta biết được một ngày th́ chúng ta có thể biết được một năm. Biết được một năm th́ chúng ta có thể biết được một đời. Nếu một đời chúng ta tạo toàn những điều tốt điều lành, th́ đời sau nếu chưa được giải thoát, chúng ta c̣n gặp lại,, cũng trong hoàn cảnh tốt và lành. Nếu một đời chúng ta làm toàn là đau khổ, toàn là điều phiền hận, khi gặp lại nhau sau này, khổ đau phiền hận tránh đâu cho khỏi. Cho nên thực tế là chúng ta phải lợi dụng thời gian. Mỗi thời gian qua phải là thời gian tốt đẹp cho ḿnh và cho người. Chúng ta tạo được những điều an ổn vui vẻ cho ḿnh, cho người, đó chính là sự bảo đảm an ổn vui vẻ cho chúng ta trong năm tới, và cho cả đời sau nữa. Ngược lại, chúng ta không khéo vận dụng thời gian để làm những điều tốt đẹp, th́ sau này chúng ta sẽ hối hận để cuộc đời trôi qua một cách vô ích. Tóm lại ngày qua là mất, nhưng những ǵ ta đă làm chưa mất hẳn. Nói đến thời gian trôi qua rồi mất, tôi có thể tượng trưng thời gian là một xâu chuỗi. Một ngày qua là một hạt chuỗi chúng ta lần qua. Cứ hạt này qua đến hạt khác. Tay c̣n lần chuỗi th́ không hạt nào dừng lại mà luôn luôn là phải qua. Giờ đây chúng tôi có thể nói rằng các tràng chuỗi này không phải là một trăm lẻ tám mà nó là ba trăm sáu mươi lăm hạt. Như vậy năm này ngày này chúng ta đă lần hết ba trăm sáu mươi lăm hạt rồi. Cứ như vậy lần hết một tràng qua là một năm. Hoặc giả chúng ta mang một xâu chuỗi hạt to có mười hai hạt cứ một một hạt là một tháng. Để quí vị nhận rơ hơn tôi kể lại những trường hợp của những người gần gũi tôi nhất. Như mẹ tôi chỉ lần được năm mươi sáu tràng rồi buông tay, chuỗi biến mất mà người cũng mất luôn. Cha tôi chỉ lần được bảy mươi chín tràng rồi buông tay, chuỗi mất người cũng mất luôn. Thầy tôi chỉ lần được năm mươi lăm tràng rồi buông tay, chuỗi mất người cũng mất luôn. Sư ông tôi chỉ lần được sáu mươi mốt tràng rồi buông tay, chuỗi mất người cũng mất luôn. Rồi đến tôi, tôi không biết lần được mấy chục tràng, để rồi buông tay và mất luôn. Chuỗi và người t́m lại không được nữa. Quí vị có lần như vậy hay không? Mỗi xâu chuỗi lần qua rồi mất, mất cả chuỗi lẫn người lần chuỗi. Xâu chuỗi đó chúng ta gọi nó là xâu chuỗi mộng. Người lần chuỗi cũng là người mộng. Chuỗi mộng mất người mộng không c̣n. Như vậy, tất cả mọi người ở đây đang sống trong mộng và không ai biết ḿnh đang sống trong mộng. Cứ tưởng là thật, nên tranh nhau từ lời nói, từ hành động, từ miếng ăn, từ cái mặc, rồi dồn đau khổ trên đầu nhau. Đă là một cuộc đời mộng, ở trong đó không đánh thức cảnh tỉnh nhau, mà lại làm cho nhau thêm đau khổ. Tự ḿnh đă khổ, c̣n làm khổ cho người, đây là một điều đáng thương. Thương cho ḿnh và thương cho mọi người. Nếu chúng ta thấy rơ thời gian là mộng ảo th́ chính cuộc đời của chúng ta cũng là mộng ảo. Quí vị nhớ lại những người trước chúng ta, những người đồng thời với chúng ta và cả bản thân chúng ta đều là mộng. Tại sao chúng ta không thức giấc mộng đó. Hết mộng này tạo mộng khác, hết mộng khác tạo mộng khác nữa. Mộng chập chồng mộng. Thí dụ người nằm mộng khi họ tỉnh, họ biết cái ḿnh thấy khi năy: h́nh ảnh, con người, sự vật đă thấy chỉ là mộng. Khi họ biết như vậy rồi, giấc mộng có c̣n với họ hay không? Đă mất rồi. Cho nên một khi đă tỉnh mộng th́ mộng không c̣n. Nhưng mà có người tỉnh mà c̣n mộng th́ sao? Thí dụ: Quí vị đang ngủ, nằm mơ giật ḿnh thức dậy biết hồi năy là mộng, nhưng rồi cứ nằm ỳ nhắm mắt ngủ nữa. Mộng thứ nhất mất, th́ mộng thứ hai tiếp, rồi mộng thứ ba và nhiều mộng nữa. Nếu chúng ta không gan dạ, một khi biết mộng liền trỗi dậy đốt đèn lên, thức hẳn hoi, hoặc tọa thiền hoặc đi đứng làm công kia việc nọ, th́ tự nhiên không c̣n mộng nào tiếp. Nếu chúng ta biết là mộng mà cứ nằm dài nhắm mắt th́ hết mộng này đến mộng kia không phải tỉnh một cơn mộng là hết mộng. Có phải vậy không? Chúng ta xét lại: Biết mộng rồi thức luôn hay biết mộng rồi nằm dài ngủ nữa? Đó là câu hỏi tôi đặt ra cho quí vị. Nếu chúng ta thật t́nh là người biết không muốn mộng nữa, th́ phải gan dạ trỗi dậy, thắp đèn lên, mộng sẽ không c̣n cơ hội tiếp diễn nữa. Như thế mới hết mộng được. Chúng ta phải gan dạ trỗi dậy, đừng v́ mệt mỏi, đừng v́ mê ngủ mà cứ nằm dài nhắm mắt th́ làm sao hết mộng được. Cũng như vậy, chúng ta nhận thức rơ ràng cuộc đời là ảo mộng, v́ như tôi đă nói, đầu năm thấy cuối năm là xa, nhưng rồi cuối năm cũng sẽ đến. Rồi ngày mai nó qua, qua rồi mất. Đến cuối năm khác cũng qua rồi mất. Chúng ta thấy ông bà, cha mẹ chúng ta sanh đó rồi mất đó, tức là sanh rồi tử, một khi mất đi chúng ta không thấy h́nh bóng thân yêu đó trở lại. Đến lượt chúng ta, hiện có đây, nhưng rồi cái ngày đó sẽ đến với chúng ta. Nó đâu c̣n xa nữa. Đến rồi qua, qua rồi mất. Sự hiện hữu của chúng ta ngày nay cũng là mộng thôi. Nếu nó là thật th́ nó đâu bị qua, đâu bị mất. Mà nó phải qua rồi sẽ mất, th́ tự nhiên nó không phải là thật rồi. Vậy th́, trong khi chúng ta c̣n ở đây, coi như ḿnh đang sống trong mộng. Trong mộng phải làm sao thấy là mộng. Biết mộng tức là chúng ta đă tỉnh rồi. Biết mộng rồi phải hẳn hoi thức dậy thắp đèn lên cho sáng, trỗi dậy rửa mặt rửa tay tới lui tỉnh táo. Đừng nằm dài, đừng để cho cơn mộng thứ hai tiếp nữa. Đó là ư nghĩa thiết yếu trong khi chúng ta biết mộng. Nếu không được như vậy th́ mộng này hết sẽ nối tiếp mộng khác và không biết nối tiếp đến bao nhiêu lần nữa mới hết mộng. Cho nên khi chúng ta biết rơ là ḿnh sống trong mộng, phải tỉnh ngay khi biết chớ đừng để cho nó kéo dài cái mê. Đó là điều thiết yếu của cuộc đời mà cũng chính là cái then chốt trong sự tu hành. Cho nên người xưa, đă nói trong một bài kệ rằng: Tại mộng na tri mộng thị hư Tỉnh lai phương giác mộng trung vô Mê thời khắp tợ mộng trung sự Giác liễu hoàn đồng thùy khởi phu Đang trong mộng ai có biết mộng là dối là giả. Như chúng ta bây giờ làm sao nói là hư là dối cho được. Khi c̣n trong mộng th́ không biết mộng là giả là dối. Khi tỉnh rồi chừng đó mới biết rơ trong mộng là không thật, là không. Chúng ta đang ở trong mê thấy thân là thật thấy cảnh là thật, cũng như trong mộng thấy mọi sự vật đều thật. Khi chúng ta giác ngộ rồi th́ cũng giống hệt như người ngủ đă thức giấc vậy thôi. Như vậy người xưa đă cảnh tỉnh, nhắc nhở chúng ta biết rơ là ḿnh đang sống trong mộng. Nếu biết rơ ḿnh đang sống trong mộng th́ đó là tỉnh cơn mộng. Nếu ḿnh c̣n cho cảnh và người trong đó là thật, đó là ḿnh đang say, đang mê trong mộng. Như vậy biết rơ là mộng là hư, mộng là không thật, biết rơ như vậy, hoàn toàn thức tỉnh, th́ tự nhiên chúng ta thoát khỏi cơn mộng. C̣n nếu chúng ta chưa biết đó là mộng, thấy nó là thật, đó là mê. Như vậy cái mê và cái giác không có xa. Chẳng khác nào người ngủ mộng và người thức cơn mộng. Nghĩa là khi c̣n mê th́ c̣n cảnh mộng khi thức giấc th́ cảnh mộng mất. Chúng ta cũng vậy, đang ở trong mê, th́ chúng ta thấy cảnh này là thật, khi giác rồi th́ mới thấy là giả dối. Thấy giả tức nhiên chúng ta không c̣n mê nữa. Vậy chúng ta nên mê hay nên tỉnh? Nếu thực tỉnh chúng ta học đạo giác ngộ th́ mỗi người chúng ta, mỗi ngày, mỗi năm, mỗi lúc đều phải tỉnh giác, đừng để cơn mộng lôi chúng ta nữa. Đừng để kéo dài măi trong giấc mê để rồi phải khổ đau, phải chịu mọi điều phiền muộn. Đó là lời Cổ đức đă nhắc như vậy. Sau đây là lời Thiền sư Thiệu Long, hiệu là Hổ Khưu là g̣ cọp. Ngài cũng nói về mộng: Thoát thân dĩ hiểu Nam Kha mộng Thử giác nhân gian vạn sự không Xuy khứ hoàn hương vô khổng địch Tịch dương tà chiếu bích vân hồng Câu đầu Ngài nói, khi ḿnh thoát thân, tức là thoát khỏi cái mê chấp về thân, th́ chừng đó ḿnh mới hiểu rằng cuộc đời này là một giấc mộng. Một giấc Nam Kha mà thôi, không có ǵ hết. Ḿnh giải tỏa lầm chấp thân là thật th́ biết rơ cuộc đời như giấc Nam Kha, không có ǵ thật. Câu kế Ngài nói tất cả nhân gian này muôn việc trở về không. Cái này có đó rồi sẽ mất đó, không có ǵ lâu dài không có ǵ bền chắc. Có rồi mất, mất rồi thành không. Biết rơ nhân gian vạn sự không, th́ chúng ta làm ǵ đây? Chúng ta thành không luôn sao? Không phải như vậy. Ngài nói tiếp: “Xuy khứ hoàn hương vô khổng địch.” Thổi lên một khúc sáo khúc nhạc hoàn hương bằng một ống sáo không lỗ. Câu đó nghe lạ lùng quá. Sáo không lỗ làm sao mà thổi, mà Ngài nói thổi lên một khúc nhạc hoàn hương bằng ống sáo không lỗ. Tức là chúng ta đă biết cuộc đời là mộng là không th́ chúng ta nên trở về quê, tức là trở về cố hương mà muôn đời chúng ta đă bỏ quên đó. Trở về bằng cách nào? Bằng những tiếng sáo vi vu, thổi lên mà không có lỗ, âm ba vang dội mà vẫn không có tiếng nào thật hết. Đó là tiếng sáo của nhà Thiền, như bao nhiêu lời bao nhiêu tiếng hét, bao nhiêu câu nói của Thiền sư chẳng khác nào như sáo không lỗ. Nói mà không ư nghĩa, nói mà không chấp nê. Đó là ví dụ như sáo không lỗ. Khi chúng ta thổi lên một bản nhạc hoàn hương th́ sẽ thấy cái ǵ? Cũng như những chú mục đồng cỡi trâu về xóm trời chiều ngồi trên lưng trâu thổi sáo th́ mấy chú mục đồng thấy ǵ? “Tịch dương tà chiếu bích vân hồng!” Mặt trời chiếu xuyên qua những đám mây xanh nó biến thành ráng đỏ, một cảnh trời chiều đẹp vô cùng. Nếu ngồi trên lưng trâu chúng ta biết thổi một bản nhạc hoàn hương, th́ sẽ được ngắm cảnh mặt trời xuyên qua đám mây ráng đỏ ở chân trời. Đó là h́nh ảnh tươi đẹp của người biết trở về quê. Qua bốn câu thơ đó, chúng ta thấy Thiền sư muốn nói ǵ với chúng ta? Trước hết chúng ta phải thấy cuộc đời là giấc mộng Nam Kha. Sau đó chúng ta thấy thế gian muôn sự đều trở về không. Thấy được thế gian muôn sự trở về không rồi, đó là bước đầu để chúng ta trở về quê hương cũ. Nếu chúng ta biết trở về quê hương cũ, là một khúc nhạc êm đềm, là một buổi trời chiều tươi đẹp hạnh phúc an lành đến với chúng ta, không c̣n nghi ngờ ǵ nữa. ]NHỮNG CÁI VUI TRONG ĐẠO PHẬT XUÂN CANH THÂN 1980 Trong nhà Phật ngày mùng một là ngày vía đức Di-lặc. Đức Di-lặc hiện tại là một vị Bồ-tát, nhưng mà tương lai sẽ là Phật. Cho nên khi năy chúng ta lễ Ngài là “Đương lai hạ sanh Di-lặc Tôn Phật”. Chúng tôi gọi Ngài là Phật, v́ là một vị Phật sẽ đến, sẽ thành, c̣n gọi Ngài là Bồ-tát v́ là vị Bồ-tát hiện tại. Phần nhiều ở chùa đến ngày này đều cử lễ vía Ngài. Đó là một thông lệ nhưng mang nhiều ư nghĩa quan trọng. Người thế gian ai cũng quan trọng ngày đầu năm, cho đó là ngày chứa đựng đầy đủ ư nghĩa trong một năm. V́ vậy mọi hành động, ngôn ngữ ư niệm đều được dè dặt, dè dặt từ cử chỉ lời nói, việc làm, để giữ ǵn một năm đầy tốt đẹp. Ở đây trong nhà Phật, chúng ta gọi ngày đầu năm là ngày vía đức Di-lặc. Ngài là h́nh ảnh đẹp đẽ vui tươi mà ai cũng đều nhớ đều thấy. Nh́n gương mặt của Ngài, bao giờ cũng thấy Ngài nở một nụ cười, gọi là nụ cười Di-lặc. Nụ cười đó không bị thời gian giới hạn. Lúc nào quí vị nh́n thấy tượng Ngài đều là cười. Thuở bé quí vị thấy Ngài cười, đến già cũng thấy Ngài cười, cho đến chúng ta tắt thở cũng thấy Ngài cười. Nụ cười đó là nụ cười Di-lặc. Đáng lư đề tài chúng tôi nói chuyện hôm nay lấy tên là “Nụ cười Di-lặc”, nhưng nói như vậy th́ sợ e nó khuôn trong một h́nh thức nhỏ. Cho nên chúng tôi chọn đề tài tương xứng với ngày đầu Xuân, tức là ngày vui của dân tộc, của mọi cá nhân, cũng là ngày vui trong đạo, tức là ngày đón mừng một vị Bồ-tát sắp thành Phật ở mai sau. Đón mừng Bồ-tát Di-lặc, một vị sẽ thành Phật, đó là h́nh ảnh bên ngoài. C̣n h́nh ảnh bên trong tức là đón mừng những người Phật tử, những người con Phật mai kia cũng sẽ thành Phật. Đó là hy vọng tràn trề chứa đựng bao nhiêu cái đẹp đẽ của tương lai. Cho nên ngày đầu Xuân cũng là ngày vui của chúng ta, cũng là một ngày hứa hẹn chúng ta sẽ toàn giác thành Phật. V́ vậy đề tài hôm nay là “Những cái vui trong đạo Phật”. Nó hơi tầm thường một chút, nhưng nó rộng răi để quí vị nghe cho rơ. Người đời có quan niệm rằng đạo Phật chán đời yếm thế làm ǵ có cái vui. Không ngờ trong đạo Phật chứa tràn trề niềm vui, những niềm vui đó phát xuất từ cạn đến sâu. 1- Cái vui của người Phật tử đến chùa là tập cái vui “tùy hỷ”, hỷ là mừng, tùy là theo. Khi chúng ta nh́n thấy một người bạn hay một kẻ thân làm một điều lành, một việc phải th́ chúng ta phát tâm vui theo. Người làm vui năm, chúng ta cũng vui được năm. Người làm vui mười chúng ta cũng vui mười. Vui theo việc làm lành làm phải của người bạn người thân, cho đến những người đồng đạo của chúng ta. Chúng ta phát được niềm vui đó, th́ công đức cũng bằng của người làm việc phải, việc thiện. Nói như vậy quí vị không khỏi nghi ngờ. Thí dụ: Người ta đem mười đồng bạc tới chùa cúng tăng hay cúng Tam Bảo, ḿnh không có đồng xu nào hết, thấy người ta cúng Tam Bảo họ vui, ḿnh cũng vui theo, th́ công đức của người cúng mười đồng với công đức của người vui theo bằng nhau. Mới nghe qua như bất công bằng v́ ḿnh không tốn một xu nào mà lại công đức bằng. Nhưng đức Phật nói công đức bằng nhau. Có người hỏi: Bạch Thế Tôn, tại sao công đức tùy hỷ và công đức bố thí lại bằng nhau? Phật trả lời: Như một ngọn đèn, hay một cây đuốc đang cháy, có người cầm cây đuốc đến mồi. Khi mồi xong, cây đuốc này cháy, cây đuốc kia cháy, thử hỏi ánh sáng hai cây đuốc có thua nhau không? Cây đuốc bị mồi có mất ánh sáng không? Phật nói: Cũng vậy, người làm việc lành việc thiện, chính họ đă có công đức rồi. Người kia phát tâm tùy hỷ vui theo việc lành, việc thiện đó, công đức cũng ngang bằng với người làm lành làm thiện. Như vậy tốt quá, nhẹ nhàng quá, lựa là chúng ta có nhiều tiền mới làm việc công đức. Ai làm việc công đức chúng ta tùy hỷ tán dương th́ chúng ta có công đức ngang bằng rồi. Tại sao tùy hỷ có công đức lớn như vậy? Người có của đem ra bố thí hay là có công đem ra giúp người, đó là họ xả được cái tâm ích kỷ, tham lam của họ để làm việc bố thí, làm việc cúng dường, làm việc cứu giúp. C̣n người phát tâm tùy hỷ th́ xả được cái tâm tật đố, v́ thông thường thế gian thấy người ta làm cái ǵ hơn ḿnh th́ sanh tật đố. Thí dụ hai huynh đệ đi chùa, người kia có mười đồng cúng, ḿnh không có, th́ cảm thấy buồn, rồi nói móc nói ngoéo, chớ không bao giờ có tâm tùy hỷ vui theo. Thấy người ta làm, ḿnh làm không được th́ có cái đố kỵ. Đó là tâm xấu. Bây giờ chúng ta phát tâm tùy hỷ là dẹp được cái tâm tật đố. Người bố thí xả được cái tâm tham lam ích kỷ, người tùy hỷ xả được cái tâm tật đố, th́ hai người công đức bằng nhau. Nhưng ở thế gian, chúng ta hằng thấy, cho đến em ruột trong nhà, khi thấy người anh làm được nhiều của giàu, c̣n ḿnh không có của nghèo, th́ tự nhiên có mặc cảm đố kỵ với anh rồi. V́ vậy t́nh anh em có hơi xa cách. V́ sao? Bởi cái tâm tật đố không muốn ai hơn ḿnh. Thấy người hơn ḿnh là sanh tâm đố kỵ. Đó là thông bệnh của con người. Cho nên ở đây chúng ta học đạo phải tập cái tâm tùy hỷ. Không phải đợi làm việc công đức mới tùy hỷ, mà thấy ai làm được cái ǵ an vui, hạnh phúc tốt đẹp, chúng ta đều tùy hỷ hết. Một thí dụ nữa. Chúng ta nghèo ăn cơm hẩm với muối hột, người bạn chúng ta giàu, ăn cơm gạo lúa thơm, thịt cá đầy bàn. Thấy như vậy chúng ta vẫn tùy hỷ bảo: “Anh sung s |