Ý Nghỉa Thọ
Giới
Bát Quan Trai
I .- Dẫn :
Hầu
hết chúng
ta ai cũng biết
nghĩa hai
chữ Hán Việt:
Bát là tám,
Quan là cửa,
còn Chữ
Trai hay Chay nguyên
chữ Phạn
là Posadha, có
nghĩa là
khi đã qua
giờ Ngọ ( 12
giờ trưa )
thì không ăn
nữa. Bát
quan trai cũng
còn gọi
là Bát trai
giới, bát chi
trai hay gọi
tắc là Bát
giới ( tám
giới ), có
nghĩa là tám
cửa ngăn
cản tội
lỗi và không
ăn quá
Ngọ của
người cư
sĩ, tập
tu trọn một
ngày một
đêm trong chùa. Ðức Phật chế
ra Bát Quan
Trai để
cho hàng cư
sĩ tại
gia thực hành hạnh
xuất gia.
II .- Tám giới:
Gồm
có
:
1.-
Không
giết hại.
2.- Không
trộm cướp.
3.- Không
tà dâm.
4.- Không
nói sai sự
thật.
5.- Không
được uống
rượu.
6.- Không
trang điểm, thoa dầu thơm, múa hát và xem
nghe múa hát.
7.- Không
được nằm
ngồi giường
cao, rộng
đẹp đẽ.
8.-Không được
ăn phi thời
Năm
giới
trên là
Ngũ giới của
cư sĩ
Tại Gia, ba giới
còn lại
như sau :
6.-
Không trang điểm,
xức dầu thơm, múa hát và xem nghe múa hát :
Chúng
ta biết rằng
những giác
quan của chúng ta đều
là những
cửa dễ
làm cho chúng
ta sa đọa
như tai thích
nghe hát xướng,
mắt ưa
nhìn cảnh
lạ đẹp,
mũi ưa
ngửi mùi thơm , do vậy
cần phải
sống giản
dị, năm
giác quan không
bị lôi
cuốn vào những điều
mà chúng ưa
thích, thân
tâm chúng ta
sẽ được
thanh tịnh.
7.-
Không được nằm, ngồi giường cao, rộng đẹp đẽ
:
Xác
thân của chúng
ta luôn luôn
ưa thích
hưởng thụ, thích ăn ngon,
thích mặc
đẹp, thích
sống tiện
nghi ... những
thích thú nầy
sẽ là
sợi dây ràng
buộc chúng
ta vào vòng
luân hồi
mà thôi, theo
thuyết
Trung ấm
thân , lúc
chúng ta gần
chết mà còn
ưa cái
nọ, thích
cái kia, chúng
ta sẽ
thác sinh vào
nơi chốn
mà kiếp sau
dễ đạt
được điều
ưa thích
đó, tức
nhiên chúng ta
không thể
giải thoát, do
vậy giới
thứ bảy
nầy tập
cho chúng ta
sống giản
dị, dễ
giải thoát
vòng luân hồi
sinh tử.
8.-
Không được ăn phi thời:
Chư
thiên ăn buổi
sáng, Phật
ăn vào buổi
trưa, súc
sanh ăn sau
giờ ngọ,
ngạ quỷ
ăn buổi
tối, chúng
ta tu tập
theo Phật,
nên chúng ta
ăn theo
Phật vã lại
ngạ quỷ
vì cổ họng
nhỏ, không
ăn được,
chúng luôn luôn
bị đói,
chúng ta ăn
vào buổi
tối làm cho
chúng thèm
thuồng, vì
lòng từ bi
nên chúng ta
tránh ăn
vào buổi tối.
III .- Thọ Bát Quan Trai Giới :
Vì là giới cho nên người cư sĩ thọ giới phải có Giới sư, vã lại Bát quan trai giới là tập cho người cư sĩ tu tập như tu sĩ, do vậy muốn thọ giới nầy, chúng ta phải đến chùa xin chư tăng truyền giới cho và chúng ta phải ở trong chùa, có như vậy công đức tu tập nầy mới tốt.
Trừ trường
hợp không
có chùa, không
có chư
tăng, người
cư sĩ
có thể tự
phát nguyện
thọ giới,
xả giới,
thọ trai nếu được
cũng phải
theo Nghi thức
thọ trai.
Nhiều
người
muốn cho việc Thọ
Bát quan trai
của mình
được thù
thắng hơn,họ còn Tịnh
Khẩu (không
nói), trừ
khi vào khóa
lễ họ
phải tụng
Kinh mà thôi.
Thọ
Bát
Quan Trai là
tu tập
trong 24 giờ, cũng
như tu sĩ
đã xuất
gia, mà xuất
gia thì có
nghĩa là
cắt ái ly
gia, xuất
phiền não
gia, xuất tam
giới gia (
cắt đứt
sự thương
mến gia đình,
ra khỏi
các sự phiền
não, ra khỏi
cõi dục
giới, sắc
giới và vô
sắc giới ),
cho nên trong
khi Thọ
Bát Quan Trai,
chúng ta chỉ chuyên
tâm tu tập,
không bận
bịu lo nghĩ
việc gia đình, công
ăn việc
làm, bán buôn
và nhất
là những chuyện chánh
trị, thời
sự mọi
chuyện đó
đều phải
bỏ lại
bên ngoài cổng
chùa thì tốt nhất,
tu tập sẽ
được thành
tựu viên mãn.
Trước
khi
Thọ Bát
Quan Trai, chúng
ta phải
chuẩn bị cho được
hoàn bị,
xếp đặt
công việc
nhà mọi thứ
xong xuôi
trong thời
gian 24 giờ
chúng ta Thọ
Bát, áo tràng,
quần áo
ngủ, Kinh
để nghiên
cứu, sổ
tay để
ghi chép, một
xâu chuỗi
tay hay chuỗi
tràng, để
lần chuỗi
niệm Phật
khi có lúc
rảnh vì
chương trình
không thể
đạt được
khít khao,
nhờ lần
chuỗi niệm
Phật sẽ
tránh được
sự xao lãng
tu tập.
Thọ Bát Quan
Trai Giới
thường có
Nội Quy và
Chương trình
tu học:
Nội Quy
1.-
Không
ra ngoài phạm vi đại giới (
trong vườn
chùa hoặc
vườn nhà )
2.- Phải theo
đúng chương
trình.
3.- Phải
gìn giữ cẩn
thận oai
nghi, cử chỉ.
4.- Không
nên nghĩ đến
việc nhà,
việc thế
gian.
5.- Không
nên đem việc
thế gian
ra mà nói.
6.- Phải
áp dụng Lục
hòa trong
đời sống
tu học :
a) Thân hòa
đồng trú:
Sống
chung phải
hòa đồng, san
sẻ với
nhau.
b) Khẩu hòa
đồng vô
trách :
Không
cãi lẫy, trách cứ với nhau.
c) Ý hòa
đồng duyệt :
Có ý kiến
nên cùng nhau
thảo luận.
d) Kiến hòa
đồng giải :
Hiểu điều
gì về tu
học nên
giảng giải
cho nhau biết.
e) Lợi hòa
đồng quân :
Có được
lộc gì nên
chia đều
với nhau.
g) Giới hòa
đồng tu :
Nên nhắc nhở cùng nhau tinh tấn
tu học
.